1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề thi hành án phạt tù

27 330 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 334 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm: Điều 1 Pháp lệnh Thi hành án phạt tù quy định: “Thi hành án phạt tù là buộcngười bị kết án tù có thời hạn, tù chung thân chấp hành hình phạt tại trại giamnhằm giáo dục họ trở

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

Hoạt động thi hành án phạt tù là một hình thức thực hiện pháp luật, trong

đó Nhà nước thông qua các cơ quan thi hành án để bắt buộc người bị kết án phải chấp hành bản án hình sự Việc bắt buộc người bị kết án phải chấp hành bản án, nhằm đảm bảo hiệu lực và tính hiện thực của bản án do Toà án nhân danh Nhà nước đã quyết định Trong các loại hình phạt thì hình phạt tù là một loại hình phạt nghiêm khắc và phổ biến thường được áp dụng hiện nay.

Thi hành án phạt tù tức là buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt ở các trại giam, phải lao động cải tạo để trở thành người có ích cho xã hội Họ bị tước quyền tự do trong những khoảng thời gian nhất định hoặc vĩnh viễn và bị hạn chế các quyền công dân khác, hay nói cách khác hoạt động này ảnh hưởng trực tiếp đến nhân quyền và các mặt khác của xã hội Bởi vậy, thi hành án phạt tù là một hoạt động áp dụng luật rất khó khăn và phức tạp Để đảm bảo thực hiện tốt công tác thi hành án phạt tù và nâng cao hiệu quả việc giáo dục cải tạo người chấp hành hình phạt tù, ngày 20.3.1993 Chủ tịch Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký lệnh công bố Pháp lệnh Thi hành án phạt tù đã được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá IX thông qua ngày 08.3.1993 và đã sửa đổi, bổ sung năm 2007.

Chương XXVII, XXVIII Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về Thi hành hình phạt tù, các hình phạt khác và Giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt (gồm 10 điều, từ điều 260 đến điều 269) cùng với pháp lệnh thi hành án phạt

tù năm 1993 đã sửa đổi, bổ sung năm 2007 Nghị định 60/CP ngày 16.9.1993 của Chính phủ ban hành “Quy chế trại giam” và các văn bản hướng dẫn thi hành pháp lệnh nói trên, đã phát huy tác dụng tốt trong việc thi hành án phạt tù ở các Trại giam.

Trong phạm vi đề tài này tôi chỉ đi sâu nghiên cứu, phân tích một số vấn đề liên quan đến Thi hành án phạt tù theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Nhằm mục đích tìm hiểu rõ hơn về công tác thi hành án phạt tù, nên tôi chọn đề tài “vấn

đề thi hành án phạt tù”.

Hy vọng qua đề tài này, bản thân có thêm kinh nghiệm và kiến thức về pháp luật tố tụng hình sự, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Ngành Công an nói chung và lực lượng Cảnh sát trại giam nói riêng đã giao.

Trang 2

PHẦN NỘI DUNG:

Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác đề thi hành án phạt tù.

1 Mục đích, ý nghĩa và sự cần thiết của đề tài:

1.1 Mục đích:

Bắt buộc người bị kết án tù phải chấp hành hình phạt tù, chính là nhằm giáodục cải tạo họ trở thành người lương thiện Giúp họ nhận thấy lỗi lầm của mình vàthấm thía với hình phạt tù mà Nhà nước đã áp dụng đối với họ

Việc giáo dục người chấp hành hình phạt tù là một vấn đề phức tạp, khókhăn Đòi hỏi phải đề cao trách nhiệm của các cơ quan tổ chức thi hành án và các

cá nhân khác có liên quan trên cơ sở những quy định của pháp luật

án phạt tù Do đó đã đề cao trách nhiệm của họ, giúp cho việc giáo dục cải tạophạm nhân có hiệu quả hơn

1.3 Sự cần thiết:

Hình phạt tù là một hình phạt phổ biến, có tác dụng trừng trị, giáo dục ngườichấp hành hình phạt tù Đây là một hình phạt nghiêm khắc, tước bỏ quyền tự docủa người chấp hành hình phạt trong một khoảng thời gian nhất định hoặc suốt đờinên cần phải có những quy định cụ thể, thống nhất, trong một văn bản có hiệu lựcpháp lý cao quy định trách nhiệm, nghĩa vụ và các thủ tục thi hành án phạt tù đểlàm cơ sở pháp lý cho công tác thi hành án phạt tù

Mặt khác mục đích thi hành án phạt tù là nhằm giáo dục, cải tạo người phạmtội yên tâm cải tạo tiến bộ, để sớm được trở về đoàn tụ với gia đình Đây là mộthoạt động rất khó khăn, bền bỉ cần phải có sự phối hợp phát huy trách nhiệm củacác cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân

* So sách hình phạt tù đối với các hình phạt khác:

Hình phạt tù bao gồm tù có thời hạn và tù không có thời hạn (tù chung thân)

là những loại hình phạt nghiêm khắc nhất (sau hình phạt tử hình) vì đó là hình phạttước quyền tự do của người bị kết án, buộc họ phải cách ly khỏi xã hội trong mộtthời gian nhất định hoặc không hạn định

So với các hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc cáchình phạt bổ sung khác thì hình phạt tù nghiêm khắc hơn, nó tác động đến quyềnlợi thiết thực của người bị kết án, đó là quyền tự do của họ Họ phải bị chấp hànhhình phạt trong nhà giam, nơi có những quy định chặt chẽ và nghiêm ngặt Trong

Trang 3

thời gian chấp hành hình phạt tù người bị kết án phải lao động, phải học tập để tựcải tạo mình trở thành người lương thiện.

2 Những quy định chung về thi hành án phạt tù:

2.1 Khái niệm, căn cứ, yêu cầu:

2.1.1 Khái niệm:

Điều 1 Pháp lệnh Thi hành án phạt tù quy định: “Thi hành án phạt tù là buộcngười bị kết án tù có thời hạn, tù chung thân chấp hành hình phạt tại trại giamnhằm giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý nghĩa tuân theo pháp luật

và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới”

Từ quy định trên thì thi hành án phạt tù là một hoạt động áp dụng luật trongtrường hợp người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự cần áp dụng các chế tàihình sự do Nhà nước quyết định mang tính chất cưỡng chế bắt buộc

Đối tượng thi hành án phạt tù là những người bị kết án tù có thời hạn và tùchung thân Họ là người phải chấp hành bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật.Người chấp hành hình phạt tù có thể là công dân Việt Nam, người nước ngoài,người không quốc tịch bị Toà án Việt Nam kết án tù thì phải chấp hành hình phạttheo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc các điều ước quốc tế mà Nhà nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia không quy địnhkhác

Địa điểm chấp hành hình phạt tù là ở các trại giam Tuy nhiên căn cứ yêucầu quản lý đối với việc giam giữ người bị tạm giam, tạm giữ, Bộ trưởng Bộ Công

an, Bộ trưởng Bộ quốc phòng có thể quyết định người bị kết án tù có thời hạn từ 5năm trở xuống chấp hành hình phạt tù tại trại tạm giam Số lượng người chấp hànhhình phạt tù tại trại tạm giam được tính theo tỷ lệ trên tổng số người bị tạm giam,tạm giữ nhưng tối đa không vượt quá mười lăm phần trăm

Người chấp hành hình phạt tù tại trại tạm giam có nghĩa vụ và quyền lợi nhưngười chấp hành hình phạt tù tại trại giam Giám thị trại tạm giam chịu trách nhiệm

về việc quản lý, giam giữ, giáo dục người chấp hành hình phạt tù tại trại tạm giamtheo quy định của pháp luật về thi hành án phạt tù

Mục đích của thi hành án phạt tù là nhằm giáo dục người bị kết án tù có thờihạn, tù chung thân trở thành người lương thiện

2.1.2 Căn cứ thi hành án phạt tù: Để thi hành án phạt tù với một đối tượng

cụ thể, cần phải dựa vào hai căn cứ sau đây:

Căn cứ vào bản án hoặc quyết định phạt tù đã có hiệu lực pháp luật

Đối tượng phải chấp hành hình phạt tù là người đã thực hiện hành vi phạmtội Họ đã bị khởi tố để điều tra, đã bị truy tố, đã bị đưa ra xét xử và Toà án đã rabản án hay quyết định phạt tù đối với họ Bản án này đã có hiệu lực pháp luật nêncần phải buộc họ chấp hành hình phạt tù

Căn cứ vào quyết định thi hành bản án hoặc quyết định đó của Toà án Theoquy định của Pháp luật tố tụng hình sự, sau khi bản án hoặc quyết định phạt tù có

Trang 4

hiệu lực pháp luật, Chánh án Toà án sơ thẩm phải ra quyết định thi hành bản ánhoặc quyết định phạt tù.

2.1.3 Yêu cầu của thi hành án phạt tù:

Trong thời gian chấp hành hình phạt tù, người bị kết án tù phải bị giam giữ,lao động và học tập theo quy định của pháp luật (Điều 3 Pháp lệnh Thi hành ánphạt tù)

Việc thi hành án phạt tù là buộc người bị kết án tù chấp hành hình phạt tạicác trại giam do Bộ Công an quản lý (V26) hoặc các trại giam do Bộ Quốc phòngquản lý, hay trong một số trường hợp có thể được chấp hành hình phạt tù tại cáctrại tạm giam

Người bị kết án phải lao động, học tập theo quy định của pháp luật Chẳnghạn Thông tư liên Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) - Bộ Quốc phòng - Bộ Tài chính– Bộ Giáo dục và Đào tạo – Bộ Lao động thương binh và xã hội số 11/TTLB ngày20.12.1993 hướng dẫn việc giáo dục pháp luật, giáo dục công dân, dạy văn hoá,dạy nghề, chế độ sinh hoạt giải trí cho phạm nhân

Nghiêm cấm mọi hình thức nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm đốivới người đang chấp hành hình phạt tù (Điều 4 Pháp lệnh Thi hành án phạt tù) Thihành án phạt tù là buộc người bị kết án tù phải chấp hành hình phạt tại trại giamnhằm giáo dục họ trở thành người lương thiện Mục đích giáo dục họ là chủ yếu,

cơ bản chứ không chỉ là trừng trị họ Họ vẫn là những công dân và được hưởng cácquyền công dân theo luật định, cho nên không được dùng các hình thức nhục hìnhđối với họ, đồng thời không được xúc phạm danh dự, nhân phẩm của họ Đó là thểhiện tính chất nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong pháp luật hình sự và pháp luật tốtụng hình sự ở nước ta

2.2 Trách nhiệm thi hành án phạt tù:

Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về công tác thi hành án phạt tùtrong phạm vi cả nước Đồng thời ban hành quy chế trại giam kem theo Nghị định60/CP ngày 16.9.1993 và Quyết định các chế độ, kinh phí và các vấn đề khác cóliên quan đến việc thi hành án phạt tù nhằm đảm bảo bản án, quyết định phạt tù đã

có hiệu lực pháp luật phải được thi hành kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật

Bộ Công an - Bộ quốc phòng giúp Chính phủ quản lý công tác thi hành ánphạt tù Về việc quản lý Nhà nước về công tác thi hành án phạt tù trong lực lượngCông an nhân dân đã có quyết định số 458/BNV (V19) ngày 13.12.1993 của Bộtrưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) giao cho Cục quản lý trại giam, Cơ sở giáodục, Trường giáo dưỡng (V26) giúp Bộ trưởng thực hiện việc quản lý Nhà nước, tổchức công tác thi hành án phạt tù

Toà án, Viện kiểm sát có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý và thihành án phạt tù trong công tác thi hành án Kịp thời ra những quyết định có liênquan đến việc thi hành án theo quy định của pháp luật như ra quyết định thi hành

án phạt tù của Toà án…Viện kiểm sát, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong côngtác thi hành án phạt tù, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh vàthống nhất

Trang 5

Điều 8 Pháp lệnh Thi hành án phạt tù quy định trách nhiệm của cơ quan Nhànước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, gia đình người bịkết án tù và công dân phải có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thi hành án phạt tùtrong công tác thi hành án và giúp đỡ người đã chấp hành xong hình phạt tù tạo lậpcuộc sống bình thường Chẳng hạn như: quan tâm, động viên, giúp đỡ công ăn việclàm để họ tạo lập cuộc sống bình thường.

3 Cơ quan quản lý công tác thi hành án phạt tù và tổ chức thi hành án phạttù

3.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý công tác thi hành án phạt tù: Theo quy định ở điều 5 Pháp lệnh Thi hành án phạt tù, Bộ Công an và Bộquốc phòng giúp Chính phủ quản lý công tác thi hành án phạt tù Cụ thể ở điều 9Pháp lệnh thi hành án phạt tù quy định như sau:

Giúp Chính phủ chuẩn bị các dự án luật, dự án Pháp lệnh và các dự án khác

về công tác thi hành án phạt tù Các cơ quan quản lý công tác thi hành án phạt tù

có nhiệm vụ chuẩn bị các dự án về các văn bản pháp luật (như luật, pháp lệnh, vănbản khác) về công tác thi hành án phạt tù trình Chính phủ quyết định Để thực hiệntốt nhiệm vụ này, đòi hỏi các cơ quan quản lý công tác thi hành án phạt tù cần điềuchỉnh bằng pháp luật để chuẩn bị các dự án luật, pháp lệnh hoặc các dự án khácgiúp Chính phủ

Chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện công tác thi hành án phạt tù; trực tiếpquản lý hệ thống trại giam; quyết định việc thành lập, giải thể các trại giam

Hướng dẫn Giám thị trại giam thực hiện các quy định pháp luật về quản lý,giam giữ, giáo dục, lao động và học tập đối với người đang chấp hành hình phạt tù

Thực hiện thanh tra Nhà nước về công tác thi hành án phạt tù

Quản lý công tác đào tạo cán bộ và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán

bộ, chiến sĩ làm công tác thi hành án phạt tù

Quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật và trang bị, thiết bị cần thiết cho việc thihành án phạt tù

3.2 Tổ chức thi hành án phạt tù:

Theo quy định trong Pháp lệnh Thi hành án phạt tù thì tổ chức trại giam với

bộ máy, cấu trúc trại giam theo quy định của pháp luật

3.2.1 Trại giam là nơi chấp hành hình phạt của người bị kết án tù Tổ chức

bộ máy quản lý của trại giam gồm có: Giám thị, Phó giám thị, quản giáo, chuyênviên, nhân viên, kỹ thuật viên và sĩ quan, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang bảo vệ.Giám thị trại giam chỉ huy cán bộ, chiến sĩ và chịu trách nhiệm về việc quản lý,giam giữ, giáo dục người chấp hành hình phạt tù ở trại giam theo quy định củapháp luật; Phó giám thị: chịu trách nhiệm về các phần việc do Giám thị phâncông.; Quản giáo: người trực tiếp làm nhiệm vụ quản lý và giáo dục phạm nhân

3.2.2 Cấu trúc của trại giam được quy định tại điều 14 Pháp lệnh Thi hành

án phạt tù gồm: “Trại giam có các nhà giam Trại giam có buồng kỷ luật …” Như

Trang 6

vậy, các nhà giam (quy chế trại giam gọi là buồng giam) buồng giam là nơi giamgiữ phạm nhân trong quá trình chấp hành hình phạt tù Nhà giam phải bảo đảm antoàn và vệ sinh môi trường theo quy định của Chính phủ

Buồng kỷ luật: là nơi giam người đang chấp hành hình phạt tù vi phạm nộiquy, quy chế trại giam Khoản 1 Điều 32 Quy chế trại giam của Chính phủ quyđịnh: “trong thời gian ở trại nếu phạm nhân vi phạm quy chế, nội quy trại giam, laođông chây lười, Giám thị trại giam xét và quyết định kỷ luật theo các hình thứcsau: …- Bị giam tại buồng kỷ luật đến 7 ngày và có thể bị gia hạn đến 15 năm…”

Căn cứ tính chất tội phạm, mức án của người chấp hành hình phạt tù, trạigiam tổ chức giam giữ như sau:

+ Khu giam giữ đối với người bị kết án tù từ 15 năm, tù chung thân, người

bị kết án tù thuộc loại tái phạm nguy hiểm

+ Khu giam giữ đối với người bị kết án tù từ 15 năm trở xuống

+ Người chấp hành hình phạt tù là nữ, người chưa thành niên được giamriêng trong trại giam theo chế độ quản lý, giáo dục, lao động và sinh hoạt phù hợpvới giới tính, lứa tuổi

4 Thủ tục thi hành án phạt tù:

4.1 Thủ tục đưa người bị kết án tù vào trại giam:

Theo Điều 15 Pháp lệnh Thi hành án phạt tù quy định: Khi đưa người bị kết

án tù vào trại giam để chấp hành hình phạt, cơ quan thi hành án phạt tù phải đảmbảo các giấy tờ sau: Bản sao bản án đã có hiệu lực pháp luật; trường hợp xét xửphúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm thì có bản án sơ thẩm kèm theo; Quyết địnhthi hành án; Danh bản xác định căn cước của người bị kết án tù; Bản sao hộ chiếuhoặc giấy tờ khác chứng minh quốc tịch đối với người bị kết án tù là người nướcngoài; Quyết định của cơ quan quản lý trại giam đưa người bị kết án tù vào trạigiam

Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày tiếp nhận người bị kết án tù vào trại giam,Giám thị trại giam phải thông báo bằng văn bản cho Toà án đã ra quyết định thihành án, cơ quan quản lý trại giam và thân nhân người bị kết án Trường hợp người

bị kết án là người nước ngoài thị Giám thị trại giam phải gửi thông báo bằng vănbản cho cơ quan lãnh sự của Bộ ngoại giao Việt Nam để thông báo cho cơ quan đạidiện của nước mà người bị kết án mang quốc tịch

4.1.1 Trình tự, thủ tục đưa người bị kết án phạt tù chấp hành bản án tại trạigiam

Trong thời hạn 15 ngày kể từ khi bản án hoặc quyết định của Toà án có hiệulực pháp luật, Chánh án Toà án đã xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành án hoặc

uỷ thác cho Toà án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án Pháp luật giao choChánh án nơi đã xử sơ thẩm vụ án ra quyết định thi hành án vì nơi đó thường là nơithường trú, làm việc, nơi người bị kết án tạm giam hoặc nơi người đó có tài sản.Nếu người bị kết án không thường trú, làm việc ở địa phương đã xử sơ thẩm thìChánh án của Toà án đã xử sơ thẩm uỷ thác cho Chánh án Toà án cùng cấp nơi

Trang 7

thường trú, nơi làm việc mới của người bị kết án ra quyết định thi hành án Trongtrường hợp Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xử sơ thẩm thì Chánh án Toà ánnhân dân tối cao uỷ thác cho Chánh án Toà án nơi người bị kết án thường trú, làmviệc hoặc đang bị tạm giam ra quyết định thi hành án.

Như vậy, khi cơ quan Công an nhận được quyết định thi hành án phạt tù thì

đó là căn cứ để thi hành bản án phạt tù Do đó để cơ quan thi hành án phạt tù đảmbảo có đủ các giấy tờ nói trên, chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày bản án hoặc quyếtđịnh phạt tù có hiệu lực pháp luật, Chánh án Toà án sơ thẩm phải gửi cho cơ quanCông an cùng cấp bản sao bản án, quyết định phạt tù đã có hiệu lực pháp luật vàquyết định thi hành bản án, quyết định đó của Toà án

4.1.2 Cơ quan quản lý thi hành án phạt tù ra quyết định đưa người bị kết án

tù vào một trại giam

Khi bản án quyết định phạt tù của Toà án đã có hiệu lực pháp luật và Toà án

đã ra quyết định thi hành bản án và quyết định đó: Trưởng công an cấp huyện (Đốivới bản án do Toà án cấp huyện xét xử) hoặc Thủ trưởng cơ quan cảnh sát điều traCông an cấp tỉnh (Đối với bản án do Toà án cấp tỉnh hoặc Toà án phúc thẩm Toà

án nhân dân Tối cao xét xử) phải báo ngay cho Cục quản lý trại giam biết trước khi

ra lệnh đưa đến trại giam Trong vòng 24 giờ kể từ khi nhận được báo cáo này, Cụctrưởng Cục quản lý Trại giam, Cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng phải ra quyếtđịnh đưa người bị kết án tù vào một trại giam để chấp hành án

4.1.3 Tổ chức đưa người bị kết án tù đến trại giam chấp hành án, Quyếtđịnh 458/BNV ngày 13.12.1993 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) quyđịnh

Đối với Công an cấp huyện: nếu trại giam gần Công an huyện thì TrưởngCông an cấp huyện tổ chức đưa ngay những đối tượng bị kết án tù phải chấp hànhhình phạt thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện tới trại giamtheo quyết định của Cục trưởng Cục quản lý trại giam Nếu trại giam ở xa Công anhuyện thì Trưởng Công an huyện tổ chức đưa những đối tượng trên đến trại tạmgiam Công an cấp tỉnh để Trưởng trại tạm giam tổ chức đưa ngay người bị kết án

tù đang bị tạm giam tới trại giam theo quyết định của Cục trưởng Cục quản lý trạigiam

Đối với Công an cấp tỉnh: Phòng cảnh sát bảo vệ Công an cấp tỉnh tiến hànhviệc đưa ngay những đối tượng nói trên thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhândân cấp tình đến trại giam theo quyết định của Cục trưởng Cục quản lý trại giam.Giám đốc Công an cấp tỉnh chỉ đạo lực lượng cảnh sát hình sự, cảnh sát điều tra vàcác lực lượng khác tham gia việc bắt và đưa người bị kết án tù vào trại giam

Đối với các trại tạm giam: Trưởng trại tạm giam có trách nhiệm tổ chức đưangay người bị kết án tù giam đang bị tạm giam, tới trại giam theo quyết định củaCục trưởng Cục quản lý trại giam Trong trường hợp người bị kết án đang bị tạmgiam thì theo yêu cầu của thân nhân người bị kết án, cơ quan Công an phải chophép người bị kết án gặp thân nhân trước khi thi hành án

Trang 8

4.1.4 Nhiệm vụ của Giám thị trại giam trong việc tiếp nhận người bị kết án

tù vào trại giam

Giám thị trại giam có trách nhiệm tiếp nhận người bị kết án tù vào trại giam

để giam giữ và giáo dục cải tạo họ Căn cứ vào đặc điểm nhân thân, tội trạng củaphạm nhân, Giám thị trại giam ra quyết định giao phạm nhân về từng đội trong trạigiam Trong Thời hạn 7 ngày, Giám thị trại giam phải thông báo bằng văn bản chocác cơ quan và cá nhân sau đây biết việc đã tiếp nhân người bị kết án tù vào trạigiam

+ Toà án đã ra quyết định thi hành án

+ Cơ quan quản lý thi hành án

+ Thân nhân của người bị kết án tù biết nơi người đó chấp hành hình phạt.4.2 Thủ tục cho người đang chấp hành hình phạt tù ra khỏi trại giam hoặcchuyển trại

4.2.1 Việc trích xuất phạm nhân ra khỏi trại giam:

Việc trích xuất phạm nhân ra khỏi trại giam phục vụ cho công tác điều tra,truy tố, xét xử hoặc trong những trường hợp đặc biệt khác thi được thực hiện theolệnh trích xuất của cơ quan có thẩm quyền

Người có quyền ký lệnh trích xuất phạm nhân ra khỏi trại giam là Cụctrưởng Cục quản lý trại giam (Bộ Công an) và Cục trưởng Cục điều tra hình sự (Bộquốc phòng)

Lệnh trích xuất phạm nhân phải ghi rõ mục đích và thời hạn trích xuất, phảiđưa phạm nhân về trại cũ đúng thời gian đã ghi trong lệnh trích xuất Nơi nhậnphạm nhân có trách nhiệm đưa phạm nhân đi theo lệnh trích xuất và giao trả lại trạigiam cũ, phải lập biên bản giao nhận phạm nhân Thời hạn trích xuất phạm nhânđược tính vào thời hạn chấp hành hình phạt tù

4.2.2 Thủ tục chuyển trại giam:

Căn cứ vào tình chất, mức độ của tội phạm và hình phạt tù đã tuyên đối vớingười bị kết án tù mà cơ qua quan quản lý thi hành án phạt tù có thẩm quyền quyếtđịnh phạm nhân được giáo dục cải tạo ở trại giam nào, ở đâu Tuy nhiên trongtrường hợp cần thiết phải chuyển trại giam khác phải tuân thủ các quy định củapháp luật về thủ tục trích xuất phạm nhân ra khỏi trại giam, tức là đều phải có lệnhcủa cán bộ quản lý thi hành án có thẩm quyền Cụ thể là có lệnh của Cục trưởngCục quản lý trại giam (Bộ Công an) hoặc Cục trưởng Cục điều tra hình sự (Bộquốc phòng)

4.3 Thủ tục hoãn thi hành án phạt tù, giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù

và tạm đình chỉ thi hành án phạt tù:

4.3.1 Hoãn thi hành án phạt tù:

4.3.1.1 Điều kiện hoãn thi hành án phạt tù:

Trang 9

Việc hoãn chấp hành hình phạt tù phải theo quy định tại điều 61 của Bộ luậthình sự và điều 261 của Bộ luật tố tụng hình sự Chánh án Toà án đã cho hoãnchấp hành hình phạt tù phải ra quyết định thi hành án để khi hết thời hạn đượchoãn, người bị kết án tù phải vào ngay trại giam để chấp hành hình phạt tù.

Căn cứ vào các quy định nói trên, Người bị xử phạt tù có thể được hoãnchấp hành hình phạt tù trong các trường hợp sau đây:

+ Bị bệnh nặng được hoãn cho đến khi sức khoẻ được hồi phục

Theo thông tư liên ngành số 03/TTLN ngày 30.6.1993 của Toà án nhân dântối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn: Đó là trường hợp người bị kết

án ốm tới mức không thể đi chấp hành hình phạt tù, nếu chấp hành hình phạt tù rấtnguy hiểm đến tính mạng của họ, cần phải cho hoãn để có điều kiện chữa bệnh.Căn cứ để xác định sức khoẻ của người bị kết án được phục hồi là khi sức khoẻ của

họ được ổn định, có thể lao động nhẹ và tự phục vụ trong sinh hoạt hàng ngày.Việc xác định người bị kết án ốm nặng hay sức khoẻ được phục hồi phải dựa vàokết luận của Hội đồng giám định y khoa, vì vậy tuỳ từng trường hợp cụ thể màGiám thị trại giam, cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Toà án tổ chức giám định sứckhoẻ của người bị kết án

+ Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì được hoãn chođến con đủ 36 tháng tuổi

Không phải tất cả các trường hợp người bị kết án là phụ nữ có thai đều đượchoãn chấp hành hình phạt tù mà thông thường là phụ nữ có thai từ 7 tháng trở lênhoặc tuy mới có thai nhưng sức khoẻ kém Đối với trường hợp này, phải căn cứvào giấy chứng nhận của cơ quan y tế Trong trường hợp người bị kết án là phụ nữmới sinh đẻ thì được hoãn chấp hành hình phạt tù để nuôi con đến 36 tháng tuổi.Tuỳ vào từng trường hợp cụ thể mà các cơ quan chức năng căn cứ theo quy địnhquy định pháp luật thực hiện

+ Là người lao động duy nhất trong gia đình nếu phải chấp hành hình phạt

tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt, được hoãn đến 1 năm, trừ trường hợpngười đó bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tộirất nghiêm trọng

Người bị kết án là người lao động duy nhất trong gia đình, trong khi đó họphải nuôi những người thân thích ruột thịt khác như: nuôi vợ, nuôi chồng đang ốmnặng, nuôi con cái chưa thành niên, nuôi vợ chồng là thương binh nặng… cho nênnếu buộc họ chấp hành hình phạt tù sẽ làm gia đình họ đặc biệt khó khăn, bởi vậycần cho họ được hoãn chấp hành hình phạt tù Tuy nhiên đối với phần tử nguyhiểm hoặc bị kết án về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội rấtnghiêm trọng thì dù họ có là người lao động duy nhất trong gia đình cũng khôngcho hoãn thi hành án phạt tù

+ Bị kết án về tội ít nghiêm trọng, do nhu cầu công vụ thì được hoãn đếnmột năm

4.3.1.2 Thủ tục hoãn thi hành án phạt tù:

Trang 10

Đối tượng được hoãn thi hành án phạt tù áp dụng đối với người bị kết án tùđang tại ngoại Chánh án Toà án có thể tự mình hoặc theo đề nghị của Viện kiểmsát, Cơ quan Công an hoặc người bị kết án, cho hoãn chấp hành hình phạt tù trongcác trường hợp nêu trên (Khoản 1Điều 261 Bộ luật TTHS)

Chánh án Toà án nói trên có thể là Chánh án Toà án đã xử sơ thẩm vụ ánhoặc Toà án được uỷ thác ra quyết định thi hành án Nếu vụ án được xét xử sơthẩm đồng thời là chung thẩm thì tuỳ trường hợp Chánh toà hình sự, Toà án nhândân tối cao hoặc Chánh án toà án quân sự cấp cao xét và quyết định cho hoãn thihành án phạt tù

Chậm nhất là bảy ngày trước khi hết thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù,Chánh án toà án đã cho hoãn chấp hành hình phạt tù phải trả quyết định thi hành án

và phải gửi ngay quyết định thi hành án cùng bản án, quyết định phạt tù đã có hiệulực pháp luật cho cơ quan Công an cùng cấp và người bị kết án trước khi hết thờihạn hoãn chấp hành hình phạt tù Nếu quá thời hạn bảy ngày, kể từ ngày hết thờihạn hoãn chấp hành hình phạt tù, người bị kết án không có mặt tại cơ quan Công

an để đi chấp hành hình phạt tù mà không có lý do chính đáng, thì cơ quan Công

an phải áp giải người bị kết án đi chấp hành hình phạt tù (Khoản 2 Điều 261Bộ luậtTTHS)

4.3.2 Tạm đình chỉ thi hành án phạt tù:

Tạm đình chỉ thi hành án phạt tù là việc người đang chấp hành án phạt tùđược Toà án có thẩm quyền cho tạm ngừng chấp hành án trong một thời gian nhấtđịnh khi có căn cứ theo quy định của pháp luật Khoản 2 Điều 17 Pháp lệnh Thihành án phạt tù quy định: “Việc tạm đình chỉ thi hành án phạt tù phải theo quyđịnh tại Điều 62 Bộ luật hình sự và Điều 262 Bộ luật TTHS…”

4.3.2.1 Các trường hợp tạm đình chỉ thi hành án phạt tù:

Người bị kết án đang chấp hành hình phạt nhưng có một lý do quy định ởtrường hợp hoãn thi hành án phạt tù (Điều 262 Bộ luật tố tụng hình sự đã nêu ởmục 5.1.1 trên)

Những trường hợp bản án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủtục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đã được người có quyền kháng nghị quyết địnhđình chỉ thi hành án đối với người bị kết án

4.3.2.2 Thủ tục tạm đình chỉ thi hành án phạt tù:

Thời gian được tạm đình chỉ thi hành án phạt tù không được tính vào thờigian chấp hành án Người có quyền đề nghị đình chỉ thi hành án phạt tù có thể làViện kiểm sát hoặc Ban giám thị trại giam, trại tạm giam, người có quyền quyếtđịnh là Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án

Việc tạm đình chỉ thi hành án để xét xử theo thủ tục giám độc thẩm hoặc táithẩm phải do người đã kháng nghị hoặc do Toà án cấp giám đốc thẩm hoặc táithẩm quyết định

Trường hợp phạm nhân nhiễm HIV chuyển giai đoạn AIDS đang có nhiễmtrùng cơ hội và có tiên lượng xấu thì Ban giám thị trại giam, trại tạm giam lập hồ

Trang 11

sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù rồi chuyển cho Toà án cấp tỉnh nơingười bị kết án đang chấp hành hình phạt tù xem xét, quyết định, không phải xin ýkiến thẩm định của cơ quan quản lý thi hành án phạt tù.

4.3.2.3 Quản lý người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù: Điều 263

Bộ luật tố tụng hình sự quy định:

Người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù được giao cho chính quyền

xã, phương, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ cư trú hoặc làm việc quản lý Họkhông được tự ý đi nơi khác, nếu không được phép của chính quyền xã, phương,thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ cư trú hoặc làm việc quản lý

Nếu trong thời gian được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù mà người bịkết án có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có căn cứ cho rằng người

đó bỏ trốn thì Chánh án Toà án đã cho tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù hủy bỏquyết định đó và ra quyết định thi hành án để bắt họ đi chấp hành hình phạt tù

4.3.3 Giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù:

Giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù là một chế định được quy định tại cácĐiều 58, 59 và Điều 76 Bộ luật hình sự, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhànước ta nhằm khuyến khích phạm nhân cải tạo tiến bộ để sớm được trở về đoàn tụvới gia đình và tái hoà nhập cộng đồng

Giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù cho phạm nhân là hoạt động xét quyếtđịnh rút ngắn thời gian chấp hành hình phạt tù so với mức án đã được Toà án ghitrong bản án, được áp dụng với phạm nhân đã chấp hành hình phạt tù ở trại giamđược một thời hạn nhất định

4.3.3.1 Điều kiện xét giảm thời gian chấp hành hình phạt tù:

Đã chấp hành án được 1/3 thời hạn tù đối với tù có thời hạn Nếu bị phạt tùchung thân thì phải chấp hành án được 10 năm (phạm tội trước 0 giờ 00 ngày01.7.2000), 12 năm (phạm tội sau 0 giờ 00 ngày 01.7.2000) và đã chứng tỏ quyếttâm cải tạo, thành thật hối lỗi, tích cực lao động, học tập, nghiêm chỉnh chấp hànhquy chế, nội quy trại giam

4.3.3.2 Mức giảm:

Theo Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02.10.2007 của Hội đồngthậm phán Toà án nhân dân tối cao quy định, người bị phạt tù từ 30 năm trở xuốngthì mỗi lần có thể giảm được từ 3 tháng đến 3 năm

Mỗi người có thể được giảm nhiều lần, nhưng phải bảo đảm thời gian thực

sự chấp hành hình phạt tù là 1/2 hình phạt đã tuyên

Người bị chung thân lần đầu giảm xuống 20 năm và dù được giảm nhiều lầncũng phải đảm bảo thời gian thực sự chấp hành hình phạt là 15 năm (nếu phạm tộitrước 0 giờ 00 ngày 01.7.2000)

Người bị kết án tù chung thân, lần đầu được giảm xuống 30 năm tù và dùđược giảm nhiều lần cũng phải bảo đảm thời hạn chấp hành hình phạt tù là 20 năm(nếu phạm tội sau 0 giờ 00 ngày 01.7.2000)

Trang 12

Trường hợp đặc biệt: Đối với người bị kết án mà có lý do đáng được khoanhồng như đã lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo thì Toà án có thểxét giảm vào thời gian sớm hơn hoặc với mức cao hơn so với thời gian và mứcgiảm đã nêu trên (Đã quy định ở Điều 58, 59 Bộ luật hình sự).

4.3.3.2 Thủ tục xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù:

Ban giám thị trại giam lập hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạtcho những người đang chấp hành bản án và báo cáo với Cục quản lý trại giam - BộCông an Trong hồ sơ đề nghị phải có đơn xin xét giảm chấp hành hình phạt tù,phần sao quyết định hoặc bản án, nhận xét đề nghị của cơ quan thi hành án

Hồ sơ xét giảm được Ban giám thị trại chuyển cho Viện kiểm sát cấp tỉnh(hoặc Viện kiểm sát Quân sự cấp quân khu) để Viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ, đềxuất ý kiến của mình rồi chuyển cho Toà án nhân dân cấp tỉnh (hoặc Toà án Quân

sự cấp quân khu) quyết định

Khi Toà án xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, một thành viên củaToà án trình bày vấn đề cần được xem xét, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiên,Toà ra quyết định chấp nhận hoặc bác đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạttù

Đối với người đã được giảm một phần thời hạn chấp hành hình phạt tù màlại phạm tội mới nghiêm trọng thì Toà án chỉ xét giảm lần sau khi người đó đãchấp hành được 2/3 thời hạn hình phạt tổng hợp đã tuyên hoặc 15 năm nếu là tùchung thân

4.4 Thủ tục đối với phạm nhân chấp hành xong hình phạt tù:

4.4.1 Trả tự do đối với phạm nhân:

Khi người bị kết án tù đã chấp hành xong hình phạt thì đúng ngày đó Giámthị trại giam phải trả tự do cho họ Thời gian chấp hành hình phạt tù là thời hạn đãđược ghi trong bản án hoặc quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật

Thời hạn chấp hành xong hình phạt tù là thời hạn cuối cùng của bản án hoặcquyết định của Toà án và cũng có thể là thời hạn được ghi trong lệnh ân xá, ângiảm của cơ quan có thẩm quyền

4.4.2 Quy định của pháp luật khi phạm nhân chấp hành xong hình phạt tù:Giám thị trại giam cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong hình phạt tù vàgiới thiệu họ về Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú Trại giam phảigiao giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù cho người chấp hành hình phạt

tù để đưa về Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi họ sẽ về cư trú

Theo quy chế trại giam, hai tháng trước khi phạm nhân hết hạn chấp hànhhình phạt tù, Giám thị trại giam thông báo trước (bằng văn bản hoặc cử cán bộ làmviệc trực tiếp) về kết quả thi hành án, những hình phạt bổ sung phải được chấphành (nếu có) và những thông tin cần thiết khác về phạm nhân cho chính quyền địaphương hoặc đơn vị nơi phạm nhân trở về sinh sống để có điều kiện sắp xếp tạolập cuộc sống bình thường của họ

Trang 13

Trường hợp người chấp hành xong hình phạt tù không rõ quê quán, khôngcòn người thân thích hoặc cơ quan, đơn vị cũ không tiếp nhận và bản thân họ cũngkhông có chỗ ở khác thì Giám thị liên hệ với Chính quyền địa phương, cơ quanNhà nước, tổ chức xã hội… hoặc trại có thể tiếp nhận họ sống và lao động theonguyện vọng.

Người chấp hành xong hình phạt tù được cấp tiền tàu xe, tiền đi đường vàmột bộ quần áo thường (nếu người chấp hành xong hình phạt không có) để họ trở

về nơi cư trú Đồng thời họ nhận lại đầy đủ những đồ vật, tiền đã gửi lưu ký tại trại

và tiền thưởng lao động trong thời gan chấp hành án (nếu có)

Báo cáo bằng văn bản cho cơ quan quản lý trại giam (Cục V26) và thôngbáo cho Toà án đã ra quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự nơi người

đó cư trú hoặc làm việc trong trường hợp người đó phải chấp hành hình phạt tiền,nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định của Toà án về hình sự

Trường hợp người nước ngoài đã chấp hành xong hình phạt tù được lưu trútại cơ sở lưu trú do Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quản lý trong thời gian làm thủtục xuất cảnh

5 Một số chính sách chế độ của Nhà nước ta đối với người bị kết án tù:5.1 Chính sách về ăn, mặc, ở, sinh hoạt, khám chữa bệnh

5.1.1 Quy định về ăn: (Điều 20 Pháp lệnh Thi hành án phạt tù, Điều 16 Nộiquy, Quy chế trại giam)

Tiêu chuẩn ăn tối thiểu của phạm nhân trong một tháng qui định như sau: 15

kg gạo, thịt 300 gam, cá 500 gam, đường 300 gam, nuối 800 gam, rau xanh 15 kg,nước chấm 1/2 lít, chất đốt 15 kg

Các ngày lễ tết phạm nhân được ăn thêm như: Tết nguyên đán được ăn thêmvới số tiền không quá 5 lần tiêu chuẩn ngày thường; Tết dương lịch, quốc khánh2/9, quốc tế 1/5 được ăn thêm với số tiền gấp 3 ngày thường; Phạm nhân lao độngnặng nhọc, độc hại được ăn thêm 1,2 >2 lần so với định lượng chung

Phạm nhân ăn thêm từ tiền gửi đến và tiền thưởng do vượt chi tiêu, kếhoạch, tăng năng xuất lao động không được quá 3 lần tiêu chuẩn ăn ngày thường

Con của nữ phạm nhân dưới 2 tuổi (nếu có) dược cấp tiêu chuẩn hàng thángtương đương tiêu chuẩn ăn của người mẹ Ngoài ra vào các ngày lễ, tết được ănthêm bằng1/2 tiêu chuẩn của người mẹ, tết trung thu, ngày 1/6 được chi gấp 2 lầnngày thường

5.1.2 Quy định về ở: (Điều 20 Pháp lệnh Thi hành án phạt tù, Điều 15 Quychế trại giam)

Trừ phạm nhân bị phạt giam ở buồng kỷ luật, các phạm nhân khác đều ởbuồng tập thể, chỗ ở phải đảm bảo thoáng mát hợp vệ sinh và môi trường Phạmnhân nằm giường tập thể bằng gỗ hoặc lát gạch, cách mặt đất ít nhất 40 cm và

Ngày đăng: 19/04/2016, 21:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w