Phân tích sâu hơn vấn đề này, trong sách chuyên khảo “Một số vấn đề cấp bách của khoa học pháp lý Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền”, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội năm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐINH HOÀNG QUANG
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ TẠI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐINH HOÀNG QUANG
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ TẠI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.Các kết quả nêu trong Luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trìnhnào khác Các số liệu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận án này
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Đinh Hoàng Quang
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1 Tình hình Viện kiểm sát trực tiếp kiểm sát THAPT
Bảng 2.2 Tình hình Viện kiểm sát gián tiếp kiểm sát THAPT
Bảng 2.3 Tình hình Viện kiểm sát đề nghị Tòa án xét miễn chấp hành ánphạt tù
Bảng 2.4 Tình hình Viện kiểm sát đề nghị Tòa án xét hoãn chấp hành ánphạt tù
Bảng 2.5 Tình hình Viện kiểm sát đề nghị Tòa án xét giảm thời hạn chấphành án phạt tù
Bảng 2.6 Tình hình Viện kiểm sát đề nghị Tòa án xét tha tù trước thời hạn
2.11 Tình hình Viện kiểm sát kiến nghị Tòa án khắc phục vi phạm Bảng 2.12 Tình hình Viện kiểm sát kháng nghị các quyết định của Tòa án
Bảng 2.13 Tình hình Viện kiểm sát kiến nghị Cơ quan THAHS, Cơ quanđược giao một số nhiệm vụ THAHS khắc phục vi phạm
Bảng 2.14 Tình hình Viện kiểm sát kháng nghị các quyết định của Cơ quanTHAHS, Cơ quan được giao một số nhiệm vụ THAHS
Bảng 2.15 Tình hình Viện kiểm sát yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, ra quyếtđịnh trả tự do ngay cho người đang chấp hành án phạt tù không có căn cứ và tráipháp luật trong THAPT
Biểu đổ 2.1 Tình hình Viện kiểm sát đề nghị Tòa án xét tạm đình chỉ chấphành án phạt tù
Trang 7tổ chức giáo dục, cải tạo và tôn trọng, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự,nhân phẩm, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của người chấp hành án Do đó,việc thường xuyên kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, cánhân có thẩm quyền trong THAPT là hết sức cần thiết1.
Ở Việt Nam, cơ chế để giám sát trực tiếp, thường xuyên, có tính chuyênnghiệp cao đối với THAPT là hoạt động kiểm sát THAPT của Viện kiểm sát nhândân (VKSND)2 Hoạt động kiểm sát THAPT ở Việt Nam góp phần bảo đảm thựchiện đúng và thống nhất các quy định của pháp luật về THAPT trên thực tế; pháthiện, xử lý và khắc phục những vi phạm của các cá nhân, cơ quan có thẩm quyềnTHAPT để từ đó nâng cao trách nhiệm của các cá nhân và cơ quan này Bên cạnh
đó, kiểm sát THAPT góp phần bảo đảm quyền con người, công bằng xã hội, nângcao hiệu quả giáo dục ý thức pháp luật và phòng ngừa tội phạm Do đó, các quyđịnh về kiểm sát THAPT cần phải đáp ứng tiêu chí về bảo đảm hiệu quả của việcTHAPT, tôn trọng và bảo vệ quyền con người và mọi vi phạm pháp luật trongTHAPT được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh
Việc nghiên cứu cho thấy về cơ bản các quy định về kiểm sát THAPT đượcpháp luật Việt Nam ghi nhận và bảo đảm thực hiện trên thực tế Trước đây, trongcác Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 1988, 2003, Luật Tổ chức VKSNDnăm 1960, 1981, 1992, 2002, Luật Thi hành án hình sự (THAHS) năm 2010 và các
1 Trường Cao đẳng kiểm sát Hà Nội (1996), Giáo trình Công tác kiểm sát (Tập VII): Công tác kiểm sát việc
giam giữ và cải tạo, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 4-5.
2 VKSND tối cao (2010), Bàn về chức năng giám sát việc thực hiện quyền lực Nhà nước và chức năng kiểm
sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát ở nước ta, Kỷ yếu đề tài cấp bộ, Hà Nội, tr 21.
Trang 8văn bản hướng dẫn thi hành đã có quy định về kiểm sát THAPT nhưng chưa đầy đủ,thiếu tính cụ thể và hệ thống Trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy định về kiểmsát THAPT, Luật Tổ chức VKSND năm 2014, BLTTHS năm 2015 và Luật THAHSnăm 2019 đã có những quy định khá chi tiết, cụ thể và hợp lý hơn Tuy nhiên, thựctiễn thực hiện các quy định kiểm sát THAPT còn cho thấy các quy định cũng bộc lộnhững hạn chế nhất định, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra Thực tế vẫn còn không
ít vi phạm của Tòa án và cơ sở giam giữ; một số quy định pháp luật về kiểm sátTHAPT còn có những sự mâu thuẫn, chồng chéo, chưa phù hợp với thực tiễn kiểmsát THAPT, Viện kiểm sát các cấp còn thiếu biên chế, chưa đủ cán bộ có chức danh
tư pháp; cơ sở vật chất, phương tiện, điều kiện làm việc trong thời gian qua đã đượcquan tâm đầu tư nhưng chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cũng như ảnh hưởngkhông nhỏ đến chất lượng hoạt động; chế độ chính sách đãi ngộ đối với cán bộ,Kiểm sát viên chưa phù hợp với tính chất đặc thù của hoạt động kiểm sát THAPT Việc nghiên cứu về kiểm sát THAPT, chỉ ra những khó khăn, vướng mắc, tồn tại vềpháp luật và thực tiễn thi hành để từ đó đưa ra các giải pháp sẽ góp phần nâng caochất lượng kiểm sát THAPT trên thực tế
Tuy nhiên, nghiên cứu kiểm sát THAPT cần phải nằm trong tổng thể thựchiện chiến lược cải cách tư pháp, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật ViệtNam, thực hiện các Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ươngĐảng khoá VII, Hội nghị lần thứ ba và lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ươngĐảng khoá VIII, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX và Nghị quyết Đại hội Đảnglần thứ X và đặc biệt là các Chỉ thị, Nghị quyết của của Đảng như: Chỉ thị số
53/CT-TW ngày 21/3/2000 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ cấp bách của các
cơ quan tư pháp”, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị về
“Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020”; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” Do đó, kiểm sát THAPT phải có những định hướng mới cho
Trang 9và tổng thể về kiểm sát THAPT dưới cả góc độ lý luận, pháp luật và thực tiễn thựchiện, đặc biệt là những quy định mới về kiểm sát THAPT trong Luật THAHS năm
2019 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2020), cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành
Với những lý do nêu trên, việc lựa chọn đề tài “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về kiểm sát thi hành án phạt tù tại Việt Nam” ở cấp độ luận án tiến sĩ
luật học nhằm làm rõ những vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật và thựctiễn thực hiện để đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng kiểm sát THAPT làcấp thiết, có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn
2 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là từ việc nghiên cứu lí luận, pháp luật vàthực tiễn thi hành pháp luật, luận án đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chấtlượng kiểm sát THAPT tại Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nói trên, cần giải quyết các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, làm rõ khái niệm, đặc điểm, nội dung của kiểm sát THAPT tại Việt
Nam; phân biệt kiểm sát THAPT với các hình thức kiểm tra, giám sát THAPT khác;đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm sát THAPT
Thứ hai, phân tích, đánh giá quy định của pháp luật Việt Nam về kiểm sát
THAPT; làm rõ thực trạng thực hiện pháp luật Việt Nam về kiểm sát THAPT vàđưa ra nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại trong kiểm sát THAPT
Thứ ba, đánh giá yêu cầu nâng cao chất lượng kiểm sát THAPT và đề xuất
các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm sát THAPT tại Việt Nam
Trang 102.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là lí luận, pháp luật và thực tiễn thi hànhpháp luật Việt Nam về kiểm sát THAPT
2.4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án là hoạt động kiểm sát THAPT của VKSNDđược thực hiện từ khi bản án, quyết định của Tòa án về hình phạt tù có hiệu lựcpháp luật cho đến khi chấm dứt hoạt động THAPT
Về phương diện lí luận, phạm vi nghiên cứu của luận án là những vấn đề lí
luận trong khoa học pháp lí Việt Nam và khoa học pháp lí của một số nước trên Thếgiới có thành lập mô hình Viện kiểm sát tương đồng với Việt Nam về kiểm sátTHAPT
Về phương diện pháp luật, đề tài luận án được nghiên cứu dưới góc độ
chuyên ngành luật hình sự và tố tụng hình sự Tuy nhiên, kiểm sát THAPT là mộthoạt động đặc biệt nên ngoài quy định của pháp luật tố tụng hình sự thì cần nghiêncứu cả quy định của Bộ luật hình sự (BLHS), Luật Tổ chức VKSND, Luật THAHS
và các văn bản hướng dẫn thi hành
Về phương diện thực tiễn, phạm vi nghiên cứu của luận án là thực tiễn thi
hành pháp luật Việt Nam về kiểm sát THAPT Các số liệu thống kê về thực trạnghoạt động kiểm sát THAPT của VKSND được lấy trên phạm vi toàn quốc trongkhoảng thời gian 10 năm (từ năm 2010 đến năm 2019)
Luận án không nghiên cứu kiểm sát THAPT nhưng cho hưởng án treo; khôngnghiên cứu kiểm sát THAPT có yếu tố nước ngoài; không nghiên cứu kiểm sát việcđặc xá, hưởng thời hiệu chấp hành án phạt tù, xóa án tích Luận án tập trung nghiêncứu kiểm sát THAPT ngoài quân đội
3 Cơ sở lý thuyết, câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu; cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu
3.1 Cơ sở lý thuyết
Cơ sở lý thuyết của luận án là lí luận về kiểm soát quyền lực nhà nước vàcách thức tổ chức, hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước; theo đó, ở
Trang 11Việt Nam, THAPT là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước đòi hỏi phải có cơchế kiểm tra, giám sát thường xuyên và cơ quan thực hiện việc giám sát trực tiếp,thường xuyên, có tính chuyên nghiệp cao đối với hoạt động THAPT đó chính làhoạt động kiểm sát THAPT của VKSND.
3.2 Câu hỏi nghiên cứu
Để luận án đánh giá toàn diện và chuyên sâu về kiểm sát THAPT, luận ánđứng trước một số câu hỏi nghiên cứu quan trọng cần phải giải mã sau:
1 Nhận thức như thế nào về kiểm sát THAPT? Hoạt động kiểm sát THAPTcủa VKSND có đặc điểm gì? Kiểm sát THAPT gồm những nội dung nào?
2 Kiểm sát THAPT của VKSND có điểm gì khác biệt với các hoạt độngkiểm tra, giám sát THAPT của các cơ quan khác?
3 Những yếu tố nào ảnh hưởng đến chất lượng kiểm sát THAPT?
4 Kiểm sát THAPT được biểu hiện về mặt pháp lý và thực tiễn thi hành nhưthế nào?
5 Các giải pháp để nâng cao chất lượng kiểm sát THAPT ở Việt Nam? Cầntriển khai ra sao? Lộ trình và vấn đề xây dựng các điều kiện đảm bảo?
3.3 Giả thuyết nghiên cứu
Với kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và hướng
tiếp cận nghiên cứu, luận án đặt ra giả thuyết nghiên cứu như sau: “Kiểm sát thi hành án phạt tù ở Việt Nam đã được định hình nhưng hiện nay đang bộc lộ những bất cập, hạn chế trên cả phương diện nhận thức và thực tiễn quy định, thi hành Yêu cầu nhận thức đầy đủ và nâng cao chất lượng kiểm sát thi hành án phạt tù đang đặt
ra một cách cấp bách, là một trong những yếu tố bảo đảm việc thi hành án phạt tù được thực hiện đúng pháp luật; tôn trọng và bảo vệ quyền con người; mọi vi phạm pháp luật trong thi hành án phạt tù được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh Việc hoàn thiện pháp luật và thực hiện các giải pháp đồng bộ khác sẽ góp phần nâng cao chất lượng kiểm sát thi hành án phạt tù”.
3.4 Cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu
Thứ nhất, Luận án tiếp cận với cơ sở lý thuyết về kiểm soát quyền lực nhà
Trang 12nước và tổ chức, hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước.
Thứ hai, Luận án tiếp cận theo hướng trên cơ sở tập hợp, hệ thống hóa các
công trình nghiên cứu có liên quan đến chủ đề luận án; đồng thời, luận án sẽ kế thừa
có chọn lọc, phát triển các luận điểm nghiên cứu và phát hiện vấn đề nghiên cứumới, xây dựng các luận điểm khoa học thuộc nội dung nghiên cứu luận án
Thứ ba, Luận án tiếp cận giải quyết vấn đề nghiên cứu từ khái niệm của hoạt
động kiểm sát THAPT; nội dung kiểm sát THAPT ở Việt Nam; các yếu tố ảnhhưởng đến chất lượng hoạt động kiểm sát THAPT Nội hàm về lý luận được luận ángiải quyết toàn diện
Thứ tư, Luận án nghiên cứu pháp luật thực định và thực tiễn thi hành pháp
luật Góc độ nghiên cứu ứng dụng được luận án đặc biệt chú ý
3.5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở vận dụng phương pháp luận là học thuyết Mác – Lênin về mốiliên hệ phổ biến, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm củaĐảng Cộng sản Việt Nam về quyền con người, về chiến lược cải cách tư pháp, vềxây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và các giá trị pháp luật quốc tế vềgiám sát THAPT, tác giả luận án tập trung sử dụng các phương pháp nghiên cứu sauđây:
- Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp được sử dụng trong tất cảcác chương của luận án để làm rõ các vấn đề về lý luận, thực trạng và giải pháp
- Phương pháp so sánh được sử dụng để đánh giá tổng quan tình hình nghiêncứu trong và ngoài nước; đánh giá lịch sử quy định của pháp luật Việt Nam về kiểmsát THAPT; so sánh, đối chiếu thực trạng quy định của pháp luật với thực trạng thihành
- Phương pháp lịch sử được sử dụng để nghiên cứu về quá trình hình thành vàphát triển các quy định kiểm sát THAPT ở Việt Nam
- Phương pháp thống kê được sử dụng để tổng hợp các số liệu có liên quanđến kiểm sát THAPT
- Phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng bằng cách phát phiếu khảo
Trang 13sát để thu thập ý kiến của cán bộ, Kiểm sát viên về thực tiễn thi hành quy định củapháp luật và các giải pháp nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc trên thực tiễnkiểm sát THAPT.
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
4.1 Ý nghĩa khoa học của luận án
Luận án là công trình khoa học ở cấp độ luận án tiến sĩ đầu tiên sau khiBLTTHS năm 2015 và Luật THAHS năm 2019 có hiệu lực, nghiên cứu trực tiếp và
có hệ thống về kiểm sát THAPT Trong đó, luận án có điểm mới khi làm rõ nhữngvấn đề lý luận về kiểm sát THAPT; đặc biệt là khái niệm, đặc điểm, nội dung kiểmsát THAPT, phân biệt hoạt động kiểm sát THAPT với các hoạt động kiểm tra, giámsát THAPT của cơ quan khác và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượngkiểm sát THAPT
Các luận điểm khoa học về khái niệm, đặc điểm, nội dung kiểm sát THAPT
và các kết quả nghiên cứu khác của luận án góp phần bổ sung, hoàn thiện lí luậnkhoa học về kiểm sát THAPT
4.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Các luận điểm khoa học trong việc phân tích pháp luật, yêu cầu và giải phápnhằm nâng cao chất lượng kiểm sát THAPT được đề cập trong luận án đóng góp vềmặt thực tiễn, giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong việc xây dựng, thi hànhpháp luật Việt Nam trong chiến lược cải cách tư pháp, cụ thể hóa quy định của Hiếnpháp, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật Việt Nam
về kiểm sát THAPT
Luận án là tài liệu tham khảo thiết thực trong nghiên cứu, giảng dạy, xâydựng và thi hành pháp luật Việt Nam về kiểm sát THAPT
5 Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu, phần tổng quan tình hình nghiên cứu, phần kết luận vàdanh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận án được kết cấu gồm 03chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về kiểm sát thi hành án phạt tù
Trang 14Chương 2 Pháp luật Việt Nam về kiểm sát thi hành án phạt tù và thực tiễn thiChương 3 Yêu cầu và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm sát thihành án phạt tù tại Việt Nam
Trang 15B TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Cùng với nhiệm vụ thực hiện yêu cầu về cải cách tư pháp, hoạt động nghiêncứu hướng tới tìm kiếm mô hình tổ chức và hoạt động một cách hợp lý, có hiệu quảcủa các cơ quan tư pháp trong việc kiểm tra, giám sát THAPT mà trong đó có hoạtđộng kiểm sát THAPT của VKSND đã được thực hiện ở nước ta trong những nămgần đây Số lượng các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề phong phú, đadạng; những sản phẩm của hoạt động nghiên cứu được công bố dưới nhiều hìnhthức ấn phẩm khác nhau như: đề tài nghiên cứu các cấp, sách chuyên khảo, các kỷyếu hội thảo khoa học, các luận án và các bài báo khoa học trong các lĩnh vựcchuyên ngành khác nhau Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện,đầy đủ cả về phương diện lý luận, thực tiễn về kiểm sát THAPT Các công trìnhnghiên cứu trong nước chỉ làm sáng tỏ một phần những vấn đề lý luận; đánh giáphần nào thực tiễn kiểm sát THAPT tại Việt Nam
1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu có liên quan đến lý luận về kiểm sát thi hành án phạt tù
Để làm rõ nội hàm kiểm sát THAPT ở Việt Nam, các công trình nghiên cứukhoa học ở các cấp độ hướng đến làm rõ bản chất THAPT, quan điểm về hoạt động
tư pháp ở Việt Nam
* Các công trình nghiên cứu về bản chất THAPT:
Nghiên cứu về bản chất THAHS nói chung và THAPT nói riêng, các côngtrình khoa học đưa ra các quan điểm khác nhau để luận giải THAPT có là một giaiđoạn của tố tụng hình sự hay không? là hoạt động tư pháp hay mang tính hànhchính - tư pháp? Các công trình khoa học chính nghiên cứu về bản chất THAPT cóthể kể đến như: đề tài Khoa học cấp Nhà nước độc lập của Viện Khoa học pháp lý
Bộ Tư pháp “Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới” (Mã số đề tài: 2000-58-198) do tác
Trang 16giả Nguyễn Đình Lộc chủ nhiệm năm 2003; Sách chuyên khảo “Pháp luật thi hành
án hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” do các tác giả Võ Khánh
Vinh, Nguyễn Mạnh Kháng biên soạn năm 2006, Nxb Tư pháp, Hà Nội; Đề tài
khoa học cấp Bộ của Học viện Cảnh sát nhân dân Bộ Công an, “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật thi hành án hình sự ở Việt Nam” (Mã số:
BX.2013.T32.17) do tác giả Nguyễn Đức Phúc chủ nhiệm năm 2016 và Luận án
tiến sĩ luật học “Thi hành án phạt tù ở Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp”
của tác giả Nguyễn Văn Nam (năm 2016) Trong các công trình khoa học này, cáctác giả có các cách tiếp cận khác nhau để luận giải Trong đó các tác giả chỉ ra, dướigóc độ mục đích của quá trình tố tụng là khôi phục lại trật tự ban đầu do hành vi viphạm pháp luật bị xâm hại nên thi hành án là một giai đoạn của tố tụng tư pháp; còndưới góc độ đặc điểm chung, thi hành án là hoạt động chấp hành với căn cứ để thihành là các bản án, quyết định của Tòa án; đây là dạng hoạt động quản lý vì trongquá trình thi hành, các cơ quan thi hành án phải tác động trực tiếp tới đối tượng phảithi hành nên thi hành án là một hoạt động hành chính – tư pháp Tuy nhiên, cácquan điểm chưa làm rõ được bản chất của THAPT mà trong đó hoạt động nào làhành chính? Hoạt động nào là tư pháp? Việc làm rõ nội dung này rất quan trọng màluận án cần thực hiện để làm rõ đối tượng kiểm sát THAPT; đây là một định hướngphù hợp và cần thiết
* Các công trình nghiên cứu về hoạt động tư pháp
Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp là chức năng Hiến định của VKSND ởViệt Nam; chính vì vậy, việc nghiên cứu hoạt động tư pháp là một nội dung bắtbuộc, là nền tảng lý luận quan trọng để giải quyết các vấn đề về kiểm sát hoạt động
tư pháp và kiểm sát THAPT; đây là cơ sở quan trọng để xác định đúng nhiệm vụ,quyền hạn của VKSND khi kiểm sát THAPT Trong khoa học pháp lí Việt Nam,giải nghĩa về hoạt động tư pháp có thể kể đến các công trình khoa học như:
Đề tài khoa học cấp bộ của Viện Khoa học kiểm sát VKSND tối cao “Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động
tư pháp” năm 2003 do tác giả Lê Hữu Thể chủ nhiệm; trong đó, các tác giả phân
Trang 17tích và đưa ra quan điểm: Hoạt động tư pháp là hoạt động của các cơ quan, tổ chức
và cá nhân tham gia vào việc giải quyết các tranh chấp pháp lý, các vi phạm phápluật thuộc thẩm quyền phán quyết của Tòa án và thi hành các phán quyết đó theothủ tục tố tụng mà pháp luật quy định3 Do đó, hoạt động tư pháp là hoạt động củacác cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan thi hành án và các cơ quan, tổ chứcliên quan hoặc bổ trợ cho công tác xét xử của Tòa án4
Tiếp cận dưới góc độ hoạt động tư pháp là đối tượng kiểm sát của Viện kiểm
sát, Sách chuyên khảo “Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra” Nxb Tư pháp, Hà Nội năm 2008 của các tác giả Lê Hữu
Thể, Đỗ Văn Đương, Nông Xuân Trường chỉ ra rằng: hoạt động tư pháp hình sựvốn được coi là đối tượng kiểm sát của Viện kiểm sát là những công việc cụ thể,trực tiếp chỉ do các cơ quan tư pháp, các cơ quan được giao một số thẩm quyền tưpháp, như Hải quan, Kiểm lâm, Bộ đội biên phòng, lực lượng Cảnh sát biển, các cơquan khác của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt độngđiều tra và các Ủy ban nhân dân xã, phường được giao thực hiện một số hoạt độngthi hành án chịu trách nhiệm thực hiện, trên cơ sở các quy định của pháp luật tốtụng hình sự nhằm giải quyết một vụ án hình sự cụ thể và thi hành bản án, quyếtđịnh đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án5
Phân tích sâu hơn vấn đề này, trong sách chuyên khảo “Một số vấn đề cấp bách của khoa học pháp lý Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền”, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội năm 2012 của tác giả Lê Cảm đưa ra quan
điểm: hoạt động tư pháp gồm năm dạng tương ứng với năm chức năng của quyền tưpháp; trong đó, hoạt động thi hành án của các cơ quan thi hành án là hoạt động gầnvới hoạt động tư pháp trong Nhà nước pháp quyền (hoạt động của các cơ quan bảo
vệ pháp luật thuộc nhánh quyền hành pháp nhằm hỗ trợ cho việc nâng cao hiệu quả
3 Viện Khoa học kiểm sát VKSND tối cao (2003), Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, Kỷ yếu đề tài cấp bộ, Hà Nội, tr 27-18.
4 Viện Khoa học kiểm sát VKSND tối cao (2003), Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, Kỷ yếu đề tài cấp bộ, Hà Nội, tr 14-15.
5 Lê Hữu Thể, Đỗ Văn Đương, Nông Xuân Trường (2008), Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr 82.
Trang 18xét xử của Tòa án) 6.
Ngoài ra trong Luận án tiến sĩ Luật học “Giám sát xã hội đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của tác giả Nguyễn Huy Phượng (năm 2012) đã chỉ ra: hoạt động
tư pháp phải có các đặc trưng như phải do cơ quan tư pháp thực hiện trong quá trình
tố tụng và phải được điều chỉnh bởi pháp luật tố tụng, phải là những hoạt động trựctiếp liên quan tới quá trình giải quyết vụ án và có mục đích nhằm giải quyết các vụ
Trong quá trình nghiên cứu về bản chất kiểm sát THAPT thì việc tham khảonhững tài liệu này để đưa ra những lập luận vững chắc về hoạt động tư pháp trongTHAPT là một định hướng phù hợp và cần thiết
* Các công trình nghiên cứu về kiểm sát hoạt động tư pháp và kiểm sát THAPT:
Công trình khoa học đầu tiên phân tích tổng thể và chuyên sâu về VKSND
mà trong đó có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật có thể kể đến như: Luận
án phó Tiến sĩ luật học “Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của tác giả Khuất Văn Nga, Viện Nhà nước và
pháp luật (năm 1993) đã đề cập cơ sở thành lập VKSND ở Việt Nam và cơ sở quyđịnh quyền hạn của VKSND khi thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo phápluật Tác giả đã dựa trên luận đề của Lênin về Nhà nước Xã hội chủ nghĩa và đưa rakhẳng định: trong nhà nước kiểu mới với chức năng chủ yếu là tổ chức và xây dựng
6 Lê Cảm (2012), Một số vấn đề cấp bách của khoa học pháp lý Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà
nước pháp quyền, (Sách chuyên khảo), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr 188.
7 Nguyễn Huy Phượng (2012), Giám sát xã hội đối với hoạt động của các cơ qiuan tư pháp theo yêu cầu xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Luận án tiến sĩ Luật học, Hà Nội, tr 55.
Trang 19xã hội mới lại càng đòi hỏi cần có sự giám sát thực hiện quyền lực Nhà nước hơnbao giờ hết, trong đó có hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểmsát Tác giả cho rằng hoạt động kiểm sát THAPT là một trong những hoạt động thựchiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp củaVKSND; do đó, cơ sở hoạt động kiểm sát THAPT không nằm ngoài cơ sở chứcnăng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND – giám sát thực hiện quyền lựcNhà nước.
Bên cạnh đó, sách chuyên khảo “Pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” do tác giả Võ Khánh Vinh và Nguyễn Mạnh
Kháng chủ biên, Nxb Tư pháp, Hà Nội, năm 2006 cũng đã phân tích cơ sở của hoạtđộng kiểm sát THAHS; trong đó, các tác giả cho rằng hoạt động kiểm sát thi hành
án có cơ sở lý luận và thực tiễn xuất phát từ chức năng kiểm sát tư pháp và thựchành quyền công tố của Viện kiểm sát Cơ sở lý luận và thực tiễn về thành lậpVKSND ở Việt Nam còn là thể hiện sự kế thừa quan điểm của Lê-nin về bảo vệ tínhthống nhất của pháp chế và sự ra đời của hệ thống VKSND ở Liên Xô thời bấy giờ8
Trong khoảng 10 năm gần đây, cùng với yêu cầu thực hiện chủ trươngnghiên cứu chuyển Viện kiểm sát thành Viện Công tố theo Nghị quyết số 49-NQ/TƯ ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020, rất nhiều các công trình khoa học đã tập trung nghiên cứu để xây dựng môhình tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát ở Việt Nam Trong đó, đã có các côngtrình luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn thành lập VKSND với chức năng kiểm sátviệc tuân theo pháp luật/ kiểm sát hoạt động tư pháp, mà trong đó có kiểm sátTHAPT, có thể kể đến như:
Đề tài khoa học cấp Bộ của VKSND tối cao “Nghiên cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát
ở Việt Nam theo yêu cầu cải cách tư pháp” do tác giả Lê Hữu Thể chủ nhiệm, năm
2008 Dựa vào lý thuyết về giám sát thực hiện quyền lực nhà nước, các tác giả đã
8 Võ Khánh Vinh, Nguyễn Mạnh Kháng (2006), Pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr 162.
Trang 20phân tích và cho rằng THAPT liên quan trực tiếp đến quyền cơ bản và trách nhiệmcủa công dân, liên quan đến tính ưu việt của chế độ xã hội nên không có cơ chế nàobảo đảm sự giám sát tốt hơn là củng cố và tăng cường công tác kiểm sát tuân theopháp luật của Viện kiểm sát đối với các hoạt động của tổ chức và cá nhân liên quanđến lĩnh vực này9 Qua nghiên cứu cơ quan công tố/ cơ quan kiểm sát của một sốnước trên thế giới, các tác giả nhận định ở hầu hết các quốc gia, ngoài chức năngthực hành quyền công tố, Viện Công tố còn tham gia ở mức độ nhất định trong hoạtđộng thi hành án và giam, giữ, cải tạo Nhiều quốc gia theo chế độ tam quyền phânlập vẫn giao cho Viện Công tố chức năng giám sát việc tuân theo pháp luật, ngoàichức năng thực hành quyền công tố10.
Kế thừa quan điểm trên, đề tài khoa học cấp Bộ của VKSND tối cao “Bàn về chức năng giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát ở nước ta” do tác giả Lê Hữu Thể làm chủ
nhiệm, năm 2010 tiếp tục phân tích, làm rõ lý luận về chức năng kiểm sát việc tuântheo pháp luật của VKSND và cho rằng hoạt động kiểm sát tư pháp của Viện kiểmsát thực chất là việc sử dụng tổ chức nhà nước để hạn chế sự lạm quyền từ phía Nhànước và mục đích của kiểm sát hoạt động tư pháp là nhằm bảo đảm cho pháp luậtđược áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vàthi hành án11
Đánh giá sự cần thiết giao chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp cho Viện
kiểm sát, đề tài khoa học cấp Bộ của VKSND tối cao “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sửa đổi Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” do tác giả Đỗ Văn Đương làm chủ nhiệm, năm 2011 đã nhấn mạnh việc giao
chức năng kiểm tra, giám sát nội tại trong quá trình tư pháp cho Viện kiểm sát ởViệt Nam đối với hoạt động tư pháp là phù hợp, vì Viện kiểm sát không điều tra,
9 VKSND tối cao (2008), Nghiên cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng mô hình tổ chức và
hoạt động của Viện kiểm sát ở Việt Nam theo yêu cầu cải cách tư pháp, Kỷ yếu đề tài cấp Bộ, Hà Nội, tr 112.
10 VKSND tối cao (2010), Bàn về chức năng giám sát việc thực hiện quyền lực Nhà nước và chức năng kiểm
sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát ở nước ta, Kỷ yếu đề tài cấp Bộ, Hà Nội, tr 110.
11 VKSND tối cao (2011), Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sửa đổi Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, Phần Tổng thuật Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội, tr 34.
Trang 21không xét xử và không thi hành án, từ đó có thể ngăn ngừa một cách có hiệu quảnhững vi phạm pháp luật trong các hoạt động tư pháp và phạm vi kiểm sát các hoạtđộng tư pháp bao gồm việc kiểm sát phần “tư pháp” trong thi hành án12.
Đặc biệt, nghiên cứu về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND
phải kể đến đề án: “Nghiên cứu việc chuyển Viện kiểm sát thành Viện Công tố” do
Ban cán sự Đảng VKSND tối cao thực hiện, năm 2012 Đề án đã đề cập cơ sở choviệc hình thành, tồn tại và phát triển của Viện kiểm sát và các chức năng của Việnkiểm sát, trong đó có hoạt động kiểm sát THAPT13 Đề án tham khảo mô hình Việncông tố, Viện kiểm sát các nước trên thế giới, đưa ra nhận định ở mô hình Việnkiểm sát, trong tố tụng hình sự, Viện kiểm sát được kiểm sát thi hành án; ngoài ra,Viện Công tố ở nhiều nước được giao trách nhiệm giám sát việc thi hành án – hoạtđộng trực tiếp liên quan đến các quyền cơ bản của con người Bên cạnh đó, đề ánphân tích và cho rằng phải thiết lập cho được cơ chế giám sát trực tiếp, thườngxuyên, có tính chuyên nghiệp cao Trong điều kiện cụ thể của Nhà nước ta, cơ chế
đó chính là hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát Nội dung đề án có liên quan mậtthiết đến phần lý luận và được luận án kế thừa, phát triển khi phân tích cơ sở quyđịnh kiểm sát THAPT
Để làm rõ nội hàm về quyền tư pháp, hoạt động tư pháp, kiểm sát hoạt động
tư pháp, Đề án của VKSND tối cao “Nghiên cứu về quyền tư pháp, hoạt động tư pháp, cơ quan tư pháp và kiểm sát các hoạt động tư pháp” năm 2013 và các đề tài khoa học cấp Bộ của VKSND tối cao: “Kiểm sát các hoạt động tư pháp ở Việt Nam theo yêu cầu cải cách tư pháp – Những vấn đề đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật” năm 2014 và “Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn mới – nhận thức và thực tiễn” năm 2018 cùng do tác giả Lê
Hữu Thể chủ nhiệm đề tài đã có luận giải rõ về quyền tư pháp, hoạt động tư pháp,
cơ quan tư pháp và giám sát tư pháp theo quan điểm trên Thế giới và cơ sở khoa
12 VKSND tối cao (2010), Bàn về chức năng giám sát việc thực hiện quyền lực Nhà nước và chức năng kiểm
sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát ở nước ta, Kỷ yếu đề tài cấp Bộ, Hà Nội, tr 24.
13 Ban Cán sự Đảng VKSND tối cao (2012), Tờ trình Đề án “Nghiên cứu việc chuyển Viện kiểm sát thành Viện Công tố”, tr.13.
Trang 22học của kiểm sát hoạt động tư pháp ở Việt Nam Đặc biệt, các công trình khoa học
đã chỉ ra ở Việt Nam, cơ sở khoa học của kiểm sát hoạt động tư pháp là tư tưởngcủa V.I.Lênin về kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm bảo đảm pháp chế thốngnhất, nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam, tính đặc thù củahoạt động tư pháp và sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp nói chung, tổchức và hoạt động của VKSND nói riêng Đây là nội dung cần thiết để luận án kếthừa khi phân tích về cơ sở kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung và cơ sở kiểm sátTHAPT nói riêng ở Việt Nam
Nhìn chung, những vấn đề liên quan đến kiểm sát THAPT trong các côngtrình nghiên cứu kể trên dù có khác nhau về cách tiếp cận và giải thích nhưng đều
có chung một số luận điểm đã được thừa nhận rộng rãi Vì thế, kết quả nghiên cứutrong các công trình khoa học nói trên sẽ được tác giả luận án kế thừa, đồng thờitiếp tục phát triển để đưa ra những nhận định mới phù hợp hơn với điều kiện khoahọc pháp lý trong bối cảnh hiện nay Ngoài ra, tác giả luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu
để có những đánh giá toàn diện về cơ sở, đặc điểm kiểm sát THAPT ở Việt Nam để
từ đó xây dựng khái niệm kiểm sát THAPT một cách hoàn chỉnh, phù hợp về lýluận và thực tiễn
1.1.2 Nhóm các công trình trong nước nghiên cứu các quy định của pháp luật về kiểm sát thi hành án phạt tù
Ở Việt Nam, ngành Kiểm sát nhân dân ra đời sau khi Nhà nước ban hànhHiến pháp năm 1959 và Luật Tổ chức VKSND năm 1960; trước đó, tiền thân củangành Kiểm sát là tổ chức của những Biện lý và Phú Biện lý làm việc ở các Tòa đệnhị cấp và Tòa thượng thẩm Nghiên cứu về pháp luật giai đoạn này có thể kể đến
sách chuyên khảo “Nhiệm vụ của Công tố Viện” của các tác giả Lê Tài Triển,
Nguyễn Văn Lượng và Trần Thúc Linh năm 1971; trong đó các tác giả đã phân tích
cụ thể về tổ chức và quyền hạn của cơ quan công tố Viện và chỉ ra: trách nhiệm thihành án phạt giam (do Tòa vi cảnh hay Tòa tiểu hình tuyên xử) thuộc về Biện lý;
Trang 23(do tòa thượng thẩm tuyên xử) thuộc về Chưởng lý14 Để làm tròn nhiệm vụ kiểmsoát việc thi hành các án phạt giam, Biện lý phải năng kiểm soát lao thất mục đích
là để không có bị can nào bị giữ ngoài hạn phạt giam, hay trái lại, được thả trướckhi hết hạn Hằng tháng, Biện lý phải xét sổ ký giam của nhà lao, cũng như sổ thihành án phạt giam của chính Biện lý cuộc15
Ở giai đoạn tiếp theo, phân tích về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi
kiểm sát THAPT có thể kể đến các tập I, V, VII Giáo trình Công tác kiểm sát của
Trường Cao đẳng kiểm sát Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, năm 1996 đềcập đến quy định của pháp luật về kiểm sát THAPT Trong Tập I - Lý luận chung
về công tác kiểm sát, các tác giả cung cấp hệ thống các tri thức về VKSND màtrong đó đề cập về các quyền hạn của VKSND16 Căn cứ vào mục đích thực hiện,các tác giả phân loại các quyền hạn của VKSND gồm: các thẩm quyền nhằm pháthiện vi phạm và các thẩm quyền nhằm khắc phục xử lý vi phạm; Căn cứ vào tínhchất, các tác giả phân loại các quyền hạn thành: các thẩm quyền mang tính chấthướng dẫn và các quyền mang tính chất mệnh lệnh Về hiệu lực các quyền hạn củaVKSND, các tác giả phân loại gồm: thẩm quyền với hiệu lực bắt buộc, phải chấphành ngay, không quy định thời gian và thẩm quyền có hiệu lực trong thời gian nhấtđịnh Trong Tập V – Công tác kiểm sát thi hành án, các tác giả phân tích các nộidung về khái niệm, đối tượng, phạm vi của công tác kiểm sát thi hành án; nhiệm vụ,quyền hạn của VKSND trong công tác kiểm sát thi hành án, phương pháp tiến hànhcông tác kiểm sát thi hành án, các nội dung kiểm sát thi hành án Và trong tập VII –Công tác kiểm sát giam giữ và cải tạo, các tác giả phân tích về khái niệm, đối tượng
và phạm vi của công tác kiểm sát việc giam, giữ và cải tạo; Nhiệm vụ, quyền hạncủa VKSND trong công tác kiểm sát việc giam, giữ và cải tạo; Nội dung công táckiểm sát việc giam, giữ và cải tạo; Phương pháp công tác kiểm sát việc giam – giữ
14 Lê Tài Triển, Nguyễn Văn Lượng và Trần Thúc Linh (1971), Nhiệm vụ của công tố Viện, Nhóm nghiên
cứu và dự hoạch Lê Tài Triển chủ trương, Sài Gòn, tr 471.
15 Lê Tài Triển, Nguyễn Văn Lượng và Trần Thúc Linh (1971), Nhiệm vụ của công tố Viện, Nhóm nghiên
cứu và dự hoạch Lê Tài Triển chủ trương, Sài Gòn, tr 475.
16 Xem: Trường Cao đẳng kiểm sát Hà Nội (1996), Giáo trình Công tác kiểm sát (Tập VII): Công tác kiểm sát việc giam giữ và cải tạo, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 17-19.
Trang 24và cải tạo.
Mặc dù các tập của giáo trình phân tích các quy định trước khi Luật Tổ chứcVKSND năm 2002 được ban hành; nhưng những phân tích về nhiệm vụ, quyền hạncủa VKSND trong THAPT có liên quan mật thiết đến nội dung phân tích về quyđịnh pháp luật về kiểm sát THAPT ở Việt Nam Việc dựa vào các tiêu chí khácnhau, các tác giả phân loại nhóm các quyền VKSND đã đưa ra cái nhìn tổng quát,
có hệ thống về thẩm quyền của VKSND Tuy nhiên, tác giả luận án cho rằng quanđiểm của các tác giả phân loại thẩm quyền của VKSND gồm: nhằm phát hiện viphạm, khắc phục xử lý vi phạm chưa thực sự chính xác; đây chỉ là cách thức để đạtđược mục đích kiểm sát THAPT Mục đích kiểm sát THAPT cần được phân tíchdựa trên cơ sở kiểm sát THAPT
Sau khi Luật Tổ chức VKSND năm 2002 được ban hành, VKSND không cònchức năng kiểm sát chung (Kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các văn bảnpháp quy của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ vàcác cơ quan chính quyền địa phương; kiểm sát việc chấp hành pháp luật của các cơquan Nhà nước nói trên, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và côngdân) mà tập trung kiểm sát hoạt động tư pháp Công trình khoa học nghiên cứu trựctiếp đến quy định của pháp luật về kiểm sát THAPT có thể kể đến đề tài khoa học
cấp Bộ của VKSND tối cao “Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù theo yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay” do tác giả Ngô Quang Liễn chủ nhiệm đề tài,
năm 2007 Trong đề tài, tác giả đã tiếp cận xem xét tổng thể vị trí, chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND theo yêu cầu cải cách tư pháp Mặc dù đề tàiphân tích, đánh giá đề cập một phần hoạt động kiểm sát THAPT (quản lý và giáodục người chấp hành án phạt tù), được phân tích trước thời điểm Luật THAHS năm
2010 và Luật Tổ chức VKSND năm 2014 được ban hành nhưng một số hạn chếtrong hoạt động kiểm sát việc quản lý, giáo dục người chấp hành án phạt tù mà đềtài đề cập hiện nay vẫn chưa được giải quyết và do đó, một số giải pháp, kiến nghịnhằm nâng cao chất lượng của hoạt động kiểm sát quản lý và giáo dục người chấp
Trang 25hành án phạt tù của VKSND sẽ là những nội dung cần được luận án tiếp thu, thamkhảo và tiếp tục hoàn thiện.
Bên cạnh đó, khái quát quá trình hình thành và phát triển các quy định quyđịnh kiểm sát THAPT có thể kể đến sách do VKSND tối cao biên soạn gồm: sách
“Tổng kết 50 năm thành lập và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân 1960 – 2010”, Nxb Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội năm 2010 và sách “Tổng kết một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác của Viện kiểm sát nhân dân qua 55 năm
tổ chức và hoạt động (26/7/1960 – 26/7/2015)”, Nxb Chính trị quốc gia – sự thật,
Hà Nội năm 2015 Trong nội dung hai cuốn sách trên, các tác giả khái quát quátrình phát triển của VKSND và quy định của các Luật Tổ chức VKSND qua cácthời kỳ; đánh giá thực trạng hoạt động kiểm sát THAPT từ khi ngành Kiểm sát nhândân được thành lập cho đến năm 2015 (qua công tác kiểm sát thi hành án và côngtác kiểm sát quản lý, giáo dục người chấp hành án phạt tù); chỉ ra hạn chế, nguyênnhân của hạn chế và đưa ra một số biện pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả côngtác kiểm sát Nội dung trên có liên quan mật thiết đến nội dung quy định pháp luật
về kiểm sát THAPT
Các công trình đề cập đến nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong THAPT
sau khi Luật THAHS năm 2010 được ban hành có thể kể đến giáo trình: “Kỹ năng giải quyết vụ án hình sự” do Học viện tư pháp biên soạn, Nxb Lao động, Hà Nội năm 2014 và giáo trình Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự (dành cho hệ Đại học) do Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội biên soạn, Nxb Chính
trị Quốc gia sự thật, Hà Nội năm 2018 Trong đó, các tác giả đề cập đến kỹ năngcủa Kiểm sát viên khi kiểm sát THAPT17 và phân tích nhiệm vụ, quyền hạn củaVKSND trong kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và THAHS, các nội dung kiểm sát.Các nội dung được đề cập trong các giáo trình được phân tích theo quy định củaLuật THAHS năm 2010 Đây là những nội dung có ý nghĩa quan trọng về nội dungphân tích, đánh giá những quy định của pháp luật về kiểm sát THAPT mà tác giảluận án cần tiếp thu
17 Học viện tư pháp (2014), Giáo trình kỹ năng giải quyết vụ án hình sự, Nxb Lao Động, Hà Nội, tr 536 –
540.
Trang 26Ngoài ra, trên các kỷ yếu hội thảo khoa học và tạp chí khoa học pháp lý, cácbài viết xung quanh các vấn đề về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong THAPTđược rất nhiều tác giả luận giải ở các góc độ khác nhau, có thể kể đến như: bài viết
“Kiểm sát thi hành án hình sự và các bảo đảm điều kiện cho hoạt động thi hành án hình sự” của tác giả Lê Cảm trong Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2012): “Xây dựng nội dung và phương pháp giảng dạy môn Luật thi hành án hình sự” do tác giả Đỗ Thị Phượng chủ nhiệm Trong bài
viết, tác giả có phân tích nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong kiểm sát THAHStheo quy định của Luật THAHS năm 2010; vấn đề kiểm sát việc tuân theo pháp luậttrong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và việc giải quyết kiến nghị, kháng nghị, yêucầu, thi hành quyết định của Viện kiểm sát về THAHS Các nội dung của bài viết cóliên hệ trực tiếp đến các nội dung, phân tích và đánh giá thực trạng quy định phápluật về kiểm sát THAPT trong luận án
Phân tích quy định của pháp luật Việt Nam về kiểm sát THAPT ở từng nộidung quyền năng pháp lý của VKSND có thể kể đến các bài viết như: bài viết
“Thực hiện Điều 26 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 về công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù” của tác giả Lê Hữu Phúc, tạp chí Kiểm sát số 05/2005; bài viết “Về quyền kháng nghị của Viện kiểm sát trong công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù” của tác giả Nguyễn Nông, tạp chí Kiểm sát
số 7 (4-2005); bài viết “Bàn về hoạt động kiểm sát việc đảm bảo an toàn nơi giam giữ” của tác giả Nguyễn Hữu Hậu, tạp chí Kiểm sát số 5 (2/2006); bài viết “Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù có phải là trách nhiệm của Viện kiểm sát không?” của tác giả Phạm Quốc Huy, Tạp chí kiểm sát số 22/2010; bài viết “Bàn về vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án hình sự” của tác
giả Bùi Đức Long, Tạp chí kiểm sát số 23/2010
Ở góc độ khác, đề cập, phân tích đến chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát/Viện Công tố một số nước trên thế giới để từ đó tham khảo cho Việt Nam, có thể kể
Trang 27đến các bài viết trong Hội thảo của VKSND tối cao về sửa đổi Luật tổ chức
VKSND được tổ chức tại Hà Nội năm 2012 bao gồm: bài viết “So sánh vị trí, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát Việt Nam với cơ quan công tố của các nước chuyển đổi” của tác giả Nông Xuân Trường; bài viết “So sánh vị trí, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát Việt Nam với Viện công
tố của Nhật Bản và Hàn Quốc” của tác giả Hoàng Anh Tuyên; bài viết “So sánh vị trí, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát Việt Nam với Cơ quan công tố của các nước theo truyền thống pháp luật án lệ (Anh, Hoa Kỳ)” của tác giả Ngô Thị Quỳnh Anh; bài viết “So sánh vị trí, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát Việt Nam với cơ quan công tố của các nước theo truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa (Pháp, Đức)” của tác giả Lại Thị Thu Hà.
Ngoài ra, còn có các bài viết trong tạp chí Thông tin Khoa học Kiểm sát – Việnkhoa học kiểm sát VKSND tối cao số chuyên đề về Viện kiểm sát/ Công tố ViệtNam và một số nước trên thế giới, số 1 + 2/2008 đã nghiên cứu về vị trí, chức năng,
tổ chức bộ máy, cán bộ của cơ quan Viện kiểm sát ở một số nước có nền kinh tếchuyển đổi (nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa; Liên Bang Nga); Cơ quan công tố
ở một số nước theo truyền thống Luật án lệ (cơ quan công tố Hoàng gia Anh; cơquan công tố Hoa Kỳ); Cơ quan công tố ở một số nước theo truyền thống Pháp luậtChâu Âu lục địa (Viện công tố Cộng hòa Pháp; Viện công tố Cộng hòa Liên BangĐức); Cơ quan công tố ở một số nước Châu Á (Viện công tố Nhật Bản, Viện công
tố Hàn Quốc; Văn phòng Tổng công tố Thái Lan, Cơ quan công tố Indonesia) Cácbài viết được các tác giả đề cập trên sự so sánh của các nước và trong đó có đề cậpđến hoạt động kiểm sát / giám sát THAPT của Viện kiểm sát / Viện công tố của cácnước và có nhận xét, so với Việt Nam
Mặc dù các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, đặc biệt theo LuậtTHAHS năm 2019 chưa được các công trình nghiên cứu phân tích chuyên sâu; việcphân loại các quyền hạn của VKSND trong THAPT chưa thực sự chính xác nhưngkết quả nghiên cứu của các công trình giúp tác giả luận án tham khảo để phân tíchquá trình hình thành và phát triển các quy định của pháp luật Việt Nam về kiểm sát
Trang 282004 Trong đó, các tác giả phân tích, đánh giá về kháng nghị của Viện kiểm sátliên quan đến một phần hoạt động kiểm sát THAPT (quản lý và giáo dục ngườichấp hành án phạt tù); phân tích về thực trạng kháng nghị của VKSND (trước thờiđiểm Luật THAHS năm 2010 và Luật Tổ chức VKSND năm 2014 có hiệu lực thihành) nhưng những nội dung đề tài đã giải quyết có liên quan mật thiết đến quyềnkháng nghị của VKSND trong kiểm sát THAPT cần được đề cập trong luận án.Những khuyết điểm, tồn tại trong kháng nghị của VKSND về quản lý, giáo dụcngười chấp hành án phạt tù mà các tác giả đã đề cập còn chưa được giải quyết vàmột số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kháng nghị của VKSND vẫn còn phùhợp trong giai đoạn hiện nay.
- Bài viết “Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong công tác thi hành án phạt tù”
của tác giả Đỗ Văn Đương trong Hội thảo khoa học “Công tác thi hành án phạt tù”
do Học viện Cảnh sát nhân dân Bộ Công an tổ chức, tháng 11 năm 2005 Trên cơ sởphân tích các nội dung kiểm sát: việc Tòa án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định thihành án; việc cơ quan Công an áp giải người bị kết án tù tại ngoại; việc Tòa án raquyết định hoãn chấp hành hình phạt tù; quyết định tạm đình chỉ chấp hành hìnhphạt tù; việc miễn chấp hành hình phạt, tác giả đề xuất để nâng cao chất lượng côngtác THAPT như: Viện kiểm sát trực tiếp ra quyết định THAPT thay cho Tòa án;việc kiểm tra, giám sát chế độ giam giữ, cải tạo phải được tiến hành thường xuyên vàtheo trình tự chặt chẽ, sâu sát nơi quản lý phạm nhân; kiểm sát chặt chẽ việc xétmiễn, hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với mọi trường hợp Nhữnggiải pháp
Trang 29nâng cao chất lượng kiểm sát sẽ có ý nghĩa quan trọng và được tác giả luận án kếthừa khi đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm sát THAPT.
Ngoài ra, phân tích thực trạng hoạt động kiểm sát THAPT và đề xuất nhữnggiải pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm sát THAPT có thể kể đến các bài viết
như: Bài viết “Nâng cao chất lượng kháng nghị trong công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù” của tác giả Hương Nhung, tạp chí Kiểm sát số 09/2005; Bài viết “Xác định rõ mối quan hệ giữa kiểm sát thi hành án với kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù để nâng cao chất lượng kiểm sát thi hành án” của tác giả Nguyễn Nông, tạp chí Kiểm sát số 10/2005; Bài viết “Kết quả và bài học kinh nghiệm qua
10 năm công tác kiểm sát thi hành án hình sự” của tác giả Bùi Đức Long, tạp chí
kiểm sát số 03/2006; Các bài viết trong tạp chí kiểm sát số 8/2008 (gồm bài viết
“Kinh nghiệm và đề xuất nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội” của tác giả Phạm Chương Dương; “Kết quả và kinh nghiệm công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh” của tác giả Phạm Xuân Thùy;
“Kinh nghiệm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản
lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh” của tác giả Trương Công Khoa); các bài viết trong tạp chí kiểm sát số 10/2008 (gồm: bài viết “Kết quả và những vấn đề đặt ra trong công tác kiểm sát thi hành án của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội” của tác giả Nguyễn Trịnh Hà; bài viết “Công tác kiểm sát thi hành án ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” của tác giả Đặng Song Hoàn; bài viết “Nâng cao chất lượng hiệu quả công tác kiểm sát thi hành án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân” của tác giả Vũ Đức Chấp); Bài viết “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành hoạt động kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý
và giáo dục người chấp hành án phạt tù” của tác giả Nguyễn Hải Phùng, tạp chí kiểm sát số 8 (tháng 4/2010); bài viết “Cần nâng cao trình độ và kỹ năng cho cán
Trang 30bộ, kiểm sát viên làm công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù” của tác giả Hoàng Mạnh Thường, tạp chí kiểm sát số 21/2010; bài viết “Cần phối hợp chặt chẽ trong các khâu nghiệp vụ kiểm sát thi hành án và kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành
án phạt tù” của tác giả Mai Thị Nam, tạp chí Kiểm sát số 01/2011; bài viết “Một số vấn đề rút ra từ công tác kiểm tra hoạt động kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản
lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù của Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố” của tác giả Hoàng Mạnh Thường, tạp chí Kiểm sát số 06/2011; các bài
viết trong tạp chí kiểm sát trong chuyên đề “Công tác kiểm sát thi hành án hình sự”
số 18 (tháng 9/2014) (gồm: bài viết “Kết quả và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát thi hành án hình sự” của tác giả Huy Vũ; bài viết “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù” của tác giả Triệu Quang Định; bài viết “Thực trạng và giải pháp công tác kiểm sát việc hoãn, miễn, tạm đình chỉ, giảm thời hạn chấp hành án phạt tù” của tác giả Vũ Văn Minh; bài viết “Kết quả và một số kiến nghị nâng cao chất lượng công tác kiểm sát thi hành án hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Phạm Văn Gòn; bài viết “Đôi điều rút ra từ thực tiễn công tác kiểm sát thi hành án phạt tù của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội” của tác giả Ngô Thị Ngân Nguyệt; bài viết “Trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc ủy thác và nhận ủy thác thi hành án hình sự” của tác giả Phạm Văn Tuấn); bài viết “Những kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát thi hành án phạt tù” của tác giả Trần Thị Bích Thủy, Tạp chí Kiểm sát số
21 năm 2014; bài viết “Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về kiểm sát thi hành án phạt tù” của tác giả Đỗ Thị Phượng, Tạp chí Kiểm sát số 08 năm 2015; bài viết “Kỹ năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quản lý, giáo dục và thực hiện các chế độ đối với phạm nhân” của tác giả Vũ Văn Minh và “Kỹ năng kiểm sát việc hoãn, tạm đình chỉ, miễn, giảm thời hạn chấp hành án phạt tù” của tác giả Bùi Thị Tú Oanh trên Tạp chí Kiểm sát số 18 năm 2018; bài viết “Kỹ năng kiểm sát việc tha tù trước
Trang 31thời hạn có điều kiện” của tác giả Nguyễn Cao Cường trên Tạp chí Kiểm sát số 10
năm 2019 Trong đó, các tác giả phân tích về thực trạng hoạt động kiểm sát THAPT
và đề xuất một số kiến nghị, giải pháp để nâng cao chất lượng kiểm sát THAPTnhư: hoàn thiện hệ thống pháp luật; cơ sở vật chất, phương tiện; biên chế, tổ chức;nâng cao chất lượng trực tiếp kiểm sát trại giam; tăng cường sự phối hợp giữaVKSND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các trại giam; Tăng cườngkiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ; Bổ sung nguồn kinh phí phụ cấp đối với cán bộkiểm sát
Như vậy, các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến thực trạng thựchiện nhiệm vụ, quyền hạn trước đây của VKSND trong THAPT nhưng thực trạngthực hiện các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về kiểm sát THAPT chưađược các công trình nghiên cứu phân tích chuyên sâu và đánh giá một cách tổngthể Hầu hết các công trình mới chỉ đề cập đến một phần thực trạng hoạt động thựchiện nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong THAPT có khó khăn, vướng mắc đểđưa ra giải pháp hoàn thiện Kết quả nghiên cứu của các công trình trên được luận
án kế thừa và phát triển khi phân tích thực trạng thực hiện quy định của pháp luậtViệt Nam về kiểm sát THAPT và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm sátTHAPT
Qua phân tích và xem xét tình hình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tàiluận án có thể kết luận: Trong khoa học luật tố tụng hình sự và ngành luật khác ởViệt Nam hiện nay chưa có công trình nghiên cứu trực tiếp chuyên sâu và toàn diện
về kiểm sát THAPT Một số khía cạnh pháp lí liên quan đến kiểm sát THAPT mớiđược đề cập khái quát trong một số công trình nghiên cứu về THAPT nói chung.Những đóng góp khoa học của các công trình nghiên cứu về kiểm sát THAPT đượcluận án kế thừa và tiếp tục phát triển
1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Hiện nay, chưa có công trình nghiên cứu nào ở ngoài nước đề cập đến kiểmsát THAPT tại Việt Nam Những công trình nghiên cứu trực tiếp đến kiểm sátTHAPT ở các nước không nhiều, chủ yếu tập trung ở các nước có thành lập Viện
Trang 32kiểm sát là một hệ thống riêng biệt, trực thuộc Quốc hội hoặc trực thuộc nguyên thủquốc gia, có chức năng kiểm sát THAPT gần giống với Việt Nam (như: TrungQuốc, Liên Bang Nga ) Tham khảo các công trình nước ngoài, tác giả luận án chútrọng phân tích các nghiên cứu liên quan lý luận và quy định về kiểm sát THAPT.
(Hoạt động kiểm tra, giám sát của Viện Kiểm sát Liên bang Nga) của tác giả
Aleksandr Iakovlevich Sukharev, Nxb Norma-Infra, Moskva, 2001 Nội dung củacuốn giáo trình này bao gồm 20 chương, trong đó Chương 19 “Hoạt động kiểm tra,giám sát việc tuân thủ pháp luật khi thi hành án và khi áp dụng các biện pháp cưỡngchế do tòa án chỉ định” có sự liên hệ tương đối gần gũi với đề tài mà nghiên cứusinh đã lựa chọn nghiên cứu Chương 19 đề cập 4 nhóm vấn đề: Đối tượng, kháchthể và nhiệm vụ của hoạt động kiểm tra, giám sát; Các quy định của pháp luật vềmối quan hệ pháp lý trong các cơ quan, đơn vị thi hành án; Thẩm quyền của Kiểmsát viên trong kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật khi thi hành án và áp dụngcác biện pháp cưỡng chế do tòa án chỉ định; Tổ chức hoạt động kiểm tra, giám sátcủa Viện Kiểm sát trong lĩnh vực thi hành án
Giáo trình “检检检检” (Công tác kiểm sát) của Học viện cán bộ kiểm sátquốc gia Trung Quốc, Nxb Pháp luật Bắc Kinh ấn hành năm 2002 (do Trường Caođẳng kiểm sát Hà Nội biên dịch và hiệu đính) Trong giáo trình, các tác giả đề cậpđến quá trình hình thành, phát triển và chức năng, nhiệm vụ của VKSND TrungQuốc Giáo trình là nguồn tài liệu quan trọng để luận án tham khảo khi phân tích cơ
sở hình thành VKSND mà trong đó có hoạt động kiểm sát THAPT; đồng thời thamkhảo về quyền của VKSND Trung Quốc khi kiểm sát THAPT, so sánh với nước tahiện nay
Sách “Курс прокурорского надзора”- Б.В Коробейников, В.И Басков,
Trang 33М.: Зерцало” (Hoạt động kiểm tra giám sát của Viện kiểm sát) của tác giả Boris
Vasilievich Korobeynikov và Vladimir Ivanovich Baskov, Nxb Zertsalo Moskvanăm 2000 Trong đó tác giả phân tích về Hoạt động kiểm tra giám sát của Việnkiểm sát nói chung và ở từng giai đoạn cụ thể trong trình tự tố tụng hình sự, với bốcục gồm 11 chương Trong đó, liên quan trực tiếp đến đề tài luận án là Chương VII
“Hoạt động kiểm tra giám sát của Viện kiểm sát đối với việc thi hành pháp luậttrong giai đoạn thi hành án” Trong chương này, cuốn sách tập trung nghiên cứulàm rõ năm nhóm vấn đề: Bản chất và nhiệm vụ của hoạt động kiểm tra giám sátcủa Viện kiểm sát đối với việc thi hành pháp luật trong giai đoạn thi hành án; Hoạtđộng kiểm tra giám sát việc thi hành pháp chế trong khi thi hành án; Hoạt độngkiểm tra giám sát việc thi hành pháp chế khi THAPT; Hoạt động kiểm tra giám sátviệc thi hành pháp chế khi thi hành án phạt lao động cải tạo; Hoạt động kiểm tragiám sát việc thi hành pháp chế khi miễn chấp hành hình phạt tù trước thời hạn chophạm nhân Ngoài ra, vấn đề thứ hai trong chương bảy của cuốn sách “Hoạt độngkiểm tra giám sát việc thi hành pháp chế khi THAPT”, tác giả đã chỉ ra rằng, đây lànội dung khó nhất, phức tạp nhất trong hoạt động của kiểm sát viên do số lượng cácphạm nhân quá đông, đa dạng về đặc điểm nhân thân; trong đó, các phạm nhân làngười chưa thành niên lại theo chế độ riêng; cùng với sự đa dạng của các kiểu trạigiam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng Nội dung cuốn sách có liên quan mật thiếtđến phần lý luận của đề tài luận án; đồng thời một số khó khăn, vướng mắc trongquá trình kiểm sát THAPT có những điểm tương đồng với điều kiện hiện nay củanước ta
- Sách “检检检检检检” (Cải cách tư pháp tại Trung Quốc) do Văn phòng
thông tin Hội đồng Nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa xuất bản tháng 10 năm
2012 tại Bắc Kinh Nội dung cuốn sách gồm năm phần: Phần I – Quy trình cải cách
hệ thống tư pháp; Phần II – Tư pháp và duy trì sự công bằng xã hội; Phần III – Tăngcường bảo vệ quyền con người; Phần IV – Tăng cường khả năng tư pháp và phần V– Quyền tư pháp phục vụ nhân dân Tại phần II của cuốn sách, các tác giả đề cậpđến việc tăng cường giám sát pháp lý đối với hoạt động tư pháp của VKSND, trong
Trang 34đó có đề cập đến việc tăng cường giám sát pháp luật về thi hành án Đề xuất các giảipháp nhằm bảo đảm quyền hợp pháp của phạm nhân trong đó có giải pháp liên quanđến hoạt động kiểm sát THAPT của VKSND Nội dung của cuốn sách có mối quan
hệ trực tiếp đến nội dung mà luận án cần đề cập; đặc biệt là các giải pháp nhằmnâng cao chất lượng kiểm sát THAPT
Trong các công trình nghiên cứu nói trên, vấn đề kiểm sát THAPT được đềcập trực tiếp trong một phần của công trình nghiên cứu với vị trí là một chức năngcủa VKSND trong giai đoạn thi hành bản án, quyết định của Tòa án Các công trìnhphân tích cơ sở hình thành Viện kiểm sát với các chức năng cụ thể và phân tíchpháp luật thực định về kiểm sát THAPT
Trong luận án Tiến sĩ “Формирование правовых основ контроля и
kỳ thuộc Liên bang Nga và Liên bang Xô Viết Chương hai “Vị trí của các cơ quan,đơn vị giáo dục cải tạo phạm nhân của nước Cộng hòa Kưrgưstan trong hệ thốngquản lý nhà nước”, tác giả đề cập bốn nội dung: Một số vấn đề về việc cải tổ lại hệthống các cơ quan, đơn vị giáo dục, cải tạo phạm nhân; Vấn đề nhân đạo hóa cáchình phạt hình sự và nâng cao hiệu quả các hình phạt mà không phải là hình phạt tù;
Cơ sở tâm lý học và tổ chức nghiệp vụ đối với hoạt động cá thể của hệ thống các cơquan, đơn vị giáo dục, cải tạo phạm nhân; Một số vấn đề về ấn định và thi hànhhình phạt hình sự theo pháp luật hình sự hiện hành ở nước Cộng hòa Kưrgưstan.Chương ba “Cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm tra và giám sát tại những nơiTHAPT” nghiên cứu bảy vấn đề: Ý nghĩa của sự phát triển và hoàn thiện cơ sở pháp
lý cho hoạt động kiểm tra và giám sát tại những nơi THAPT và phân loại chúng;Hoạt động kiểm tra, giám sát tư pháp với việc THAPT; Hoạt động kiểm tra liên bộ
Trang 35ngành tại những nơi THAPT; Hoạt động giám sát việc thực thi pháp luật tại nhữngnơi THAPT; Hoạt động kiểm tra các cơ quan hành pháp và các cơ quan chínhquyền địa phương tại những nơi THAPT; Hoạt động kiểm tra của Nghị viện (quốchội) và Hoạt động kiểm tra xã hội (bao gồm cả kiểm tra quốc tế) và Chương 4
“Hoạt động kiểm tra, giám sát trong quá trình thức hiện các quyền sinh nở và tìnhdục tại những nơi THAPT” Luận án phân tích làm rõ lịch sử hình thành, phát triển,thực trạng và phương hướng tiếp tục hoàn thiện hoạt động kiểm tra, giám sát tạinhững nơi THAPT của nước Cộng hòa Kưrgưstan Cụ thể, Luận án đã nghiên cứulịch sử hình thành và phát triển hệ thống các cơ quan, đơn vị giáo dục, cải tạo phạmnhân, cơ chế thực hiện hoạt động kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nàynhằm làm rõ những ưu nhược điểm, những điểm mạnh, điểm hạn chế, những thayđổi đang diễn ra, tìm kiếm khả năng áp dụng những yếu tố tích cực trong tương lai
và tránh khỏi những sai lầm, thiếu sót đã xảy ra Trong đó, tác giả xác định đốitượng và phạm vi của hoạt động kiểm tra, giám sát tại những nơi tù giam; Phát hiện
và làm rõ những nét đặc trưng và điểm khác biệt giữa các loại hoạt động kiểm tra,giám sát tùy theo chủ thể áp dụng; Soạn thảo các khuyến nghị có cơ sở khoa họcxác định không chỉ đối với các cơ quan lập pháp mà cả đối với cơ quan tư pháp vàhành pháp; Xác định hiệu quả của pháp luật hiện hành về vấn đề kiểm tra, giám sáttại những nơi tù giam Các nội dung được tác giả đề cập có mối liên hệ chặt chẽ vớicác nội dung mà luận án cần đề cập; đặc biệt là nội dung về cơ sở của hoạt độngkiểm sát THAPT của VKSND
Ngoài ra, kiểm sát THAPT được đề cập trong các công trình khoa học dướidạng các bài viết Cụ thể như:
Bài viết: “Прокурорский надзор за исполнением законов в местах лишения свободы” (Hoạt động kiểm tra, giám sát của Viện Kiểm sát đối với việc
thực thi pháp luật tại những nơi thi hành án phạt tù)18 Trong bài viết, tác giả phântích về mục đích của hoạt động kiểm tra, giám sát của Viện kiểm sát đối với việcthực thi pháp luật tại nơi THAPT; phân tích đối tượng kiểm sát và các quyền của
18 Website: h tt p :// t e x t -book s ru / pr a vo / p ro s e cu t or / 269 h t m l, n gày truy cập 15/5/2019.
Trang 36Kiểm sát viên khi kiểm sát THAPT Trong đó, tác giả cho rằng hoạt động kiểm tra,giám sát của Viện kiểm sát đối với việc thực thi pháp luật tại những nơi THAPT làhoạt động nhằm giữ gìn pháp chế và trật tự pháp luật trong các cơ quan chịu tráchnhiệm về việc thi hành các hình phạt và các biện pháp cưỡng chế Tác giả phân tíchquy định tại Điều 32 của Luật Liên bang về Viện Kiểm sát Liên bang Nga; phântích đối tượng kiểm sát của Viện Kiểm sát bao gồm: Tính hợp pháp của sự hiện diệnnhững người tại nơi giam giữ, tạm giam, tạm giữ, các cơ sở giáo dục, lao động, cảitạo và các cơ quan tổ chức khác có trách nhiệm trong việc THAHS và các biện phápcưỡng chế do tòa án chỉ định; Việc tuân thủ các quyền và nghĩa vụ của những phạmnhân và những người đang chịu các biện pháp cưỡng chế, trật tự và điều kiện giamgiữ họ do pháp luật quy định; Tính hợp pháp của hoạt động thi hành án.
Tác giả đưa ra phân tích quy định trong quá trình làm việc, Kiểm sát viên cóthể: Ghé thăm bất kỳ lúc nào các cơ quan, tổ chức được nêu ở Điều 32 của LuậtLiên bang về Viện Kiểm sát Liên bang Nga; Phỏng vấn những người đang bị giamgiữ và những người đang chịu các biện pháp cưỡng chế; Tiếp cận, làm quen với cáctài liệu làm cơ sở để giam giữ hoặc ấn định các biện pháp cưỡng chế và với các tàiliệu nghiệp vụ; Yêu cầu bộ phận quản lý hành chính tạo điều kiện bảo đảm cácquyền của người bị giam giữ và người chịu các biện pháp cưỡng chế; kiểm tra sựphù hợp của các lệnh, mệnh lệnh, quyết định của bộ phận quản lý hành chính củacác cơ quan, tổ chức được nêu ở Điều 32 của Luật Liên bang về Viện Kiểm sát Liênbang Nga; yêu cầu sự giải thích từ những nhà chức trách, tiếp nhận những khángnghị, phản hồi; Tiến hành xử lý các vi phạm hành chính; Hủy bỏ các biện pháptrừng phạt kỷ luật do vi phạm pháp luật đối với những người bị giam giữ, ra quyếtđịnh phóng thích họ ngay khỏi những nơi như buồng phạt cách ly, buồng có cameratheo dõi, xà lim, buồng giam cá nhân hay buồng giam kỷ luật… Những nội dungđược đề cập trong bài viết có liên hệ mật thiết đến phần giải pháp hoàn thiện phápluật mà luận án cần đề cập
Bài viết “Decision of the Supreme People's Procuratorate on Strengthening and Improving the Procuratorial Supervision Work at Prisons and Reformatories”
Trang 37(Tăng cường và cải thiện công tác kiểm sát tại nhà tù và các trường giáo dưỡng)19.Bài viết được trích từ tài liệu của VKSND tối cao Trung Quốc số 3 (2007) Trong
đó các tác giả tập trung các giải pháp nhằm tăng cường và cải thiện công tác kiểmsát của VKSND khi kiểm sát nhà tù và các trường giáo dưỡng Nội dung bài viết có
đề cập đến các quyền của Viện kiểm sát khi kiểm sát THAPT - đây là nội dungquan trọng để Luận án tham khảo khi đề xuất các quyền của Viện kiểm sát khi kiểmsát THAPT
Bài viết “Human Rights for Detainees in Prisons and Detention Centers”
(Quyền con người cho người bị giam giữ trong nhà tù và trung tâm giam giữ)20 củatác giả Baiquanmin (VKSND tối cao Trung Quốc) Trong đó, tác giả phân tích việcbảo vệ quyền con người của người bị giam giữ trong toàn bộ quá trình của hệ thống
tư pháp, từ khi làm luật, thi hành công lý, thực thi pháp luật và giám sát pháp lý; đềcập đến quyền của Viện kiểm sát Trung Quốc trong việc bảo vệ quyền của người,quyền dân chủ và các quyền khác của công dân bị giam giữ trong nhà tù
Ngoài ra, trong các báo cáo nghiên cứu tổ chức và hoạt động của hệ thống tưpháp ở năm nước chọn lọc (Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Cộng hòa Hàn Quốc
và Liên Bang Nga) theo Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc về tổ chức vàchức năng của hệ thống tư pháp ở năm nước chọn lọc, năm 2010 (do VKSND tốicao Việt Nam dịch) gồm:
- Báo cáo về Cộng hòa nhân dân Trung Hoa của do tác giả Vivienne Bath,Đại học Tổng hợp Sydney và tác giả Sarah Biddulph, Đại học Tổng hợp Melbournethực hiện Theo đó, các tác giả nhận thấy VKSND Trung Hoa có quyền giám sátviệc thi hành hình phạt được thực hiện tạm thời ngoài trại giam và giám sát cácquyết định giảm hình phạt hoặc trả tự do có điều kiện cho phạm nhân; có quyềnkiểm sát các cơ sở giam giữ và nhà tù21
19 Website: h tt p ://e n pku law c n / d i s p la y as px ? cg i d = 96 8 97 & li b =law n gày truy cập 15/5/2019.
20 Website: h tt p :// w w w c h i n a h um a n r i gh t s org /zt/ m a g a zi n e / 200 4 0 20 0 74 1 21 0 3 4 5 2 h t m , n gày truy cập 15/5/2019
21 VKSND tối cao dịch (2010), “Báo cáo nghiên cứu tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp ở năm nước chọn lọc (Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Cộng hòa Hàn Quốc và Liên Bang Nga) theo Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc về tổ chức và chức năng của hệ thống tư pháp ở năm nước chọn lọc, tr 82.
Trang 38- Báo cáo về tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp Indonesia do tác giảSimon Butt, Đại học Sydney thực hiện; trong đó, tác giả chỉ ra: Viện kiểm sát thihành lệnh của thẩm phán và quyết định của Tòa án có hiệu lực bắt buộc; giám sátviệc thi hành các quyết định hình sự có điều kiện, các quyết định giám sát và và tha
tù có điều kiện22
- Báo cáo về tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp Hàn Quốc do tác giảByung-Sun Cho, Trường Cao đẳng Luật, Đại học Tổng hợp Chongju Hàn Quốc vàtác giả Tom Ginsburg, Trường Luật, Đại học Tổng hợp Chicago thực hiện; trong
đó, các tác giả cho rằng Tòa án Hàn Quốc không tham gia vào quá trình thi hành án,việc THAHS được đặt dưới sự chỉ đạo của Công tố viên được phân công thuộc vănphòng công tố tương ứng trong khu vực thuộc thẩm quyền của Tòa án ra phánquyết23
- Báo cáo về tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp Liên Bang Nga do tácgiả William E Butler, Trường Đại học tổng hợp quốc gia Pennsylvania thực hiện;trong đó, tác giả cho rằng kiểm sát viên có trách nhiệm bảo đảm pháp luật về chế độgiam giữ được tuân thủ thông qua việc thị sát một cách có hệ thống các cơ sở giamgiữ và tại bất kỳ thời điểm nào cũng có quyền tiếp cận xem xét các tài liệu có liênquan; yêu cầu thả ngay lập tức những người bị giam giữ bất hợp pháp; thẩm vấnnhững người đang bị giam giữ và thẩm tra xem các mệnh lệnh, quyết định, quy chế
do cơ quan quản lý cơ sở giam giữ ban hành có phù hợp với quy định của pháp luậtkhông24 Những nội dung trong các báo cáo có liên hệ và là nguồn tài liệu quan trọng
để Luận án kế thừa và phát triển khi phân tích về quyền hạn của Viện kiểm sát khikiểm sát THAPT
Qua phân tích và xem xét tình hình nghiên cứu ngoài nước liên quan đến đề
22 VKSND tối cao dịch (2010), “Báo cáo nghiên cứu tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp ở năm nước chọn lọc (Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Cộng hòa Hàn Quốc và Liên Bang Nga) theo Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc về tổ chức và chức năng của hệ thống tư pháp ở năm nước chọn lọc, tr 288.
23 VKSND tối cao dịch (2010), “Báo cáo nghiên cứu tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp ở năm nước chọn lọc (Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Cộng hòa Hàn Quốc và Liên Bang Nga) theo Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc về tổ chức và chức năng của hệ thống tư pháp ở năm nước chọn lọc, tr 777.
24 VKSND tối cao dịch (2010), “Báo cáo nghiên cứu tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp ở năm nước chọn lọc (Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Cộng hòa Hàn Quốc và Liên Bang Nga) theo Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc về tổ chức và chức năng của hệ thống tư pháp ở năm nước chọn lọc, tr 864.
Trang 39tài luận án có thể kết luận: ở một số nước, Viện kiểm sát khi kiểm sát THAPT cónhiệm vụ, quyền hạn để phát hiện vi phạm của cơ sở giam giữ (trực tiếp kiểm sát,phỏng vấn người bị giam giữ, kiểm tra hồ sơ, tài liệu, kiểm tra sự phù hợp các lệnh,yêu cầu cơ sở giam giữ giải thích ) và để khắc phục, xử lý vi phạm (tiến hành xử lý
vi phạm hành chính, hủy bỏ các biện pháp trừng phạt kỷ luật, ra quyết định trả tự docho phạm nhân khỏi buồng cách ly, buồng có camera theo dõi, buồng kỷ luật ),đây là những điểm tương đồng với pháp luật Việt Nam Một số công trình đã xácđịnh được cơ sở, nội dung kiểm sát THAPT và đưa ra những khó khăn, vướng mắctrong hoạt động kiểm sát THAPT Tuy nhiên, tùy thuộc vào từng điều kiện của quốcgia mà nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Viện kiểm sát trong kiểm sát THAPT cònnhững điểm khác biệt Những nội dung này được tác giả luận án kế thừa khi phântích cơ sở kiểm sát THAPT và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng kiểm sátTHAPT tại Việt Nam trong thời gian tới
2 Đánh giá kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học liên quan đến
đề tài luận
án
Căn cứ tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước, có thể nhận thấy một sốnội dung liên quan đến đề tài luận án đã được giải quyết, đạt được sự thống nhất cao
và luận án có thể tiếp thu mà không cần trở lại để phân tích, làm sáng tỏ thêm
Trên phương diện khoa học (lý luận): trong các công trình đã công bố, nhiều
vấn đề liên quan tới kiểm sát THAPT như quyền tư pháp, hoạt động tư pháp, kiểmsát hoạt động tư pháp, về nhu cầu tổ chức, kiểm soát quyền lực nhà nước đã đượcnghiên cứu một cách sâu sắc, là nền tảng vững chắc cho việc tiếp tục nghiên cứu vềkiểm sát THAPT trong luận án Một số vấn đề liên quan trực tiếp đến kiểm sátTHAPT cũng đã được đề cập song phần lớn không nghiên cứu trực diện về kiểm sátTHAPT thông qua nghiên cứu về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, về sự cầnthiết phải có cơ chế kiểm tra, giám sát thường xuyên và chuyên nghiệp hoạt độngTHAPT ở Việt Nam
Từ góc độ nghiên cứu so sánh, các công trình nghiên cứu đã công bố, đặc biệt
là nghiên cứu ở nước ngoài, đã đề cập tới vấn đề kiểm tra, giám sát THAPT chủ yếu
Trang 40nghiên cứu về tổ chức cơ quan trong bộ máy Nhà nước, giám sát quyền lực Nhànước và chức năng của Viện kiểm sát trong giám sát THAPT Những nghiên cứutrong và ngoài nước có ý nghĩa quan trọng để tác giả luận án tiếp tục tìm hiểu,nghiên cứu, tham khảo cho việc hoàn thiện các vấn đề lý luận của luận án và địnhhướng cho việc đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng kiểm sát THAPT.
Trên phương diện thực tiễn: thực trạng quy định của pháp luật và thực tiễn
kiểm sát THAPT đã được các công trình đề cập, phân tích Các công trình nghiêncứu đã tổng kết quá trình hình thành, phát triển quy định của pháp luật và thực trạnghoạt động kiểm sát THAPT của VKSND; vấn đề này đã được phân tích thấu đáovới những giai đoạn khác nhau Phần lớn các công trình nghiên cứu hướng sự quantâm đến tìm kiếm các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm sát THAPT (như:các giải pháp về pháp luật, cán bộ, cơ sở vật chất và các giải pháp khác nhằm tạolập các điều kiện nâng cao chất lượng hoạt động kiểm sát THAPT) Các giải phápđược đề cấp trong những công trình nghiên cứu đã công bố có những điểm phù hợpvới giải pháp mà tác giả luận án dự định đề xuất Tuy nhiên, do phần lớn nghiêncứu đều được thực hiện trước khi ban hành BLTTHS năm 2015 và Luật THAHSnăm 2019 nên một số điểm không còn phù hợp; một số giải pháp mà các công trình
đã công bố chưa phân tích sâu sắc từ góc độ kiểm sát THAPT mà phân tích từ góc
độ chức năng của VKSND theo quy định của luật thực định nên cần được phân tích,luận giải sâu sắc hơn
Những quan điểm, luận điểm đã được thừa nhận rộng rãi: THAPT là hoạt
động đặc biệt, liên quan trực tiếp đến quyền con người của người bị kết án do đócần có cơ chế đảm bảo sự giám sát và ở Việt Nam không có cơ chế nào bảo đảm sựgiám sát tốt hơn là củng cố và tăng cường công tác kiểm sát THAPT của Viện kiểmsát đối với các hoạt động của tổ chức và cá nhân liên quan đến lĩnh vực này
Cơ sở lý thuyết đã được sử dụng trong những công trình nghiên cứu: đa số
các công trình nghiên cứu dựa trên cơ sở lí luận về giám sát việc thực hiện quyềnlực nhà nước; theo đó, THAPT là một dạng thực hiện quyền lực nhà nước đòi hỏiphải được giám sát việc THAPT của các chủ thể có thẩm quyền Một số các công