Đối tượng và phạm vi nghiên cứu a Đối tượng nghiên cứu Với chủ đề đảm bảo quyền con người trong thi hành án phạt tù từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa thì đối tượng nghiên cứu của luận văn ba
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ NGUYỆT
§¶M B¶O QUYÒN CON NG¦êI TRONG THI HµNH ¸N PH¹T Tï
Tõ THùC TIÔN TØNH THANH HãA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ NGUYỆT
§¶M B¶O QUYÒN CON NG¦êI TRONG THI HµNH ¸N PH¹T Tï
Tõ THùC TIÔN TØNH THANH HãA
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Mã số: 8380101.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS PHAN THỊ LAN PHƯƠNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn không trùng lắp với các công trình có liên quan đã công bố Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất
cả các môn học và đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy, tôi viết bản cam đoan này đề nghị Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Nguyễn Thị Nguyệt
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI TRONG THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ 7
1.1 Khái niệm đảm bảo quyền con người trong thi hành án phạt tù 7
1.1.1 Khái niệm về quyền con người 7
1.1.2 Khái niệm về đảm bảo quyền con người 8
1.1.3 Khái niệm về đảm bảo quyền con người trong thi hành án phạt tù 9
1.2 Đặc điểm, vai trò và ý nghĩa của đảm bảo quyền con người trong thi hành án phạt tù 11
1.3 Các yếu tố tác động đến việc đảm bảo quyền con người trong thi hành án phạt tù 16
1.3.1 Yếu tố về chính trị 16
1.3.2 Yếu tố về kinh tế 18
1.3.3 Yếu tố về xã hội 19
1.3.4 Yếu tố về pháp luật 21
1.4 Nội dung đảm bảo quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù 22
1.4.1 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của quy định pháp luật về đảm bảo quyền con người trong thi hành án phạt tù 22
1.4.2 Nội dung cơ bản của quyền con người trong thi hành án phạt tù 24
1.4.3 Quyền được tiếp cận thông tin liên lạc với bên ngoài của phạm nhân 29
Kết luận chương 1 30
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI
TRONG THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ QUA THỰC TIỄN TẠI TỈNH THANH HÓA 31 2.1 Thực trạng pháp luật về đảm bảo quyền con người trong thi
hành án phạt tù 32
2.1.1 Thực trạng các quy định pháp luật về đảm bảo quyền con người
trong thi hành án phạt tù trong Hiến pháp 2013 32 2.1.2 Thực trạng các quy định pháp luật về đảm bảo quyền con người
trong thi hành án phạt tù trong luật các văn bản dưới luật 34 2.1.3 Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về đảm bảo quyền
con người trong thi hành án phạt tù 37
2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về đảm bảo quyền con người
trong thi hành án phạt tù tại tỉnh Thanh Hóa 48
2.2.1 Tình hình phạm nhân chấp hành hình phạt tù tại các trại giam ở
tỉnh Thanh Hóa 48 2.2.2 Những kết quả đạt được trong công tác đảm bảo quyền con
người trong thi hành án phạt tù tại các trại giam tỉnh Thanh Hóa 54 2.2.3 Một số tồn tại, hạn chế trong việc đảm bảo quyền con người của
phạm nhân trong các trại giam tỉnh Thanh Hóa và nguyên nhân 66
Kết luận chương 2 74 CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ CỦA ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI TRONG THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ Ở TỈNH THANH HÓA 75 3.1 Quan điểm, yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả đảm bảo
quyền con người trong thi hành án phạt tù 75 3.2 Một số giải pháp nhằm tăng cường đảm bảo quyền con người
của phạm nhân tại các trại giam ở Thanh Hóa hiện nay 78
3.2.1 Giải pháp về hoàn thiện pháp luật Thi hành án hình sự 78 3.2.2 Các nhóm giải pháp khác 81
Trang 63.2.3 Xây dựng cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị, nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực cán bộ phục vụ cho công tác giam giữ, quản lý, giáo dục ở trại giam và tuyên truyền pháp luật về
quyền con người 89
3.2.4 Hợp tác quốc tế, nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài trong đảm bảo quyền con người của phạm nhân tại Việt Nam 95
Kết luận chương 3 98
KẾT LUẬN 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thống kê số lượng phạm nhân ở một số trại giam ở tỉnh Thanh
Bảng 2.2 Thống kê số lương phạm nhân tăng giảm theo các năm ở các
Bảng 2.3 Trình độ văn hóa của phạm nhân ở trại giam Thanh Phong
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế [13] Ở Việt Nam, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân luôn được tôn trọng và đảm bảo Với việc đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của công cuộc phát triển, đường lối đổi mới kể trên không chỉ tác động đến kinh tế, xã hội mà đồng thời chi phối mạnh mẽ nhận thức và thực tế đảm bảo quyền con người ở nước ta
Chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân Một nhà nước mà ở đó, quyền con người được tôn trọng và bảo vệ không chỉ dừng lại ở các tuyên bố chính trị, ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật mà còn được bảo vệ trong thực tế Quyền con người là một giá trị thiêng liêng bất khả tước đoạt
Nó hiện hữu trong nhiều lĩnh vực của đời sống trong đó có lĩnh vực tố tụng hình sự Không phổ biến, không rộng lớn, không diễn ra hàng ngày hàng giờ như các lĩnh vực hành chính, kinh tế, môi trường , nhưng có thể nói, quyền con người trong tố tụng hình sự lại quyền dễ bị xâm phạm và bị tổn thương nhất và hậu quả để lại cũng nghiêm trọng nhất khi nó động chạm đến quyền được sống, quyền tự do và sinh mệnh chính trị của một cá nhân Bởi lẽ, tố tụng hình sự với tư cách là quá trình nhà nước đưa một người ra xử lý trước pháp luật khi họ bị coi là tội phạm luôn thể hiện đậm đặc tính quyền lực nhà nước với sức mạnh cưỡng chế nhà nước, với sự thiếu quân bình về thế và lực của các bên tham gia qua hệ TTHS mà sự yếu thế luôn thuộc về những người bị buộc tội Chính vì vậy, hoạt động tố tụng hình sự, trong bất cứ nhà nước nào đều được xếp vào “nhóm nguy cơ cao” khi người ta nói đến vấn đề bảo vệ quyền con người
Thực hiện các quy phạm pháp luật thi hành án hình sự, nhất là thực hiện các quy phạm pháp luật thi hành án phạt tù đảm bảo quyền con người đang đứng trước những khó khăn nhất định: tình hình người phải chấp hành án phạt tù ngày càng tăng, hệ thống trại giam đang quá tải, cơ sở vật chất nhiều trại giam bị xuống cấp
Trang 10Hơn nữa, khi nói đến hình phạt tù và phạm nhân, xã hội thường có tâm lý xa lánh,
kỳ thị và xem hành động trừng phạt họ là đương nhiên Thế nhưng con người càng văn minh thì càng nhận thức được quyền lợi của mình, không chỉ quyền cho người sống bình thường, lương thiện mà còn quyền cho những phạm nhân Phạm nhân cũng phải được tôn trọng phẩm giá, phải được đối xử như một con người Hành vi phạm tội của họ đến đâu thì họ bị ở tù, bị mất tự do đến đó, không ai được phép tra tấn, bỏ đói, nhục mạ họ Chính vì vậy, yêu cầu của xã hội đối với hoạt động thi hành án phạt tù ngày càng cao
Hiện nay số lượng trại giam ở tỉnh Thanh Hóa chiếm tỷ lệ 4/53 [41] trại giam, là cơ sở trực tiếp thi hành án phạt tù với số lượng phạm nhân khá đông Vì vậy việc nghiên cứu vấn đề thi hành án phát tù tại các trại giam của tỉnh Thanh Hóa giúp cho ta có cái nhìn một cách rõ nét về tình hình đảm bảo quyền con người trong thi hành án phạt tù Do đó trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, tác giả xin phép được
trình bày đề tài: “Đảm bảo quyền con người trong thi hành án phạt tù từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa”
2 Tình hình nghiên cứu
Trên bình diện khoa học đây là nhóm đề tài được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu Trong những năm gần đây, đã có nhiều nghiên cứu ở các mức độ khác nhau, các khía cạnh và bình diện khác nhau Nó là vấn đề cũ mà luôn mới và có khá nhiều bài viết liên quan, có thể chia thành hai nhóm như:
Nhóm thứ nhất, bao gồm các công trình nghiên cứu là luận văn, luận án và
các bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành như:
Luận văn thạc sĩ: “Một số vấn đề chủ yếu về pháp luật Thi hạnh án hình sự Việt Nam trong việc bảo vệ cá quyền con người” của Thạc sĩ Hứa Thị Thơ năm
2013 Luận văn trình bày những vấn đề lý luận về quyền con người và bảo vệ các quyền con người trong pháp luật thi hành án hình sự Nghiên cứu các quy định của pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam trong việc bảo vệ các quyền con người Từ
đó chỉ ra những điểm thiếu sót trong các quy định của pháp luật về bảo vệ các quyền con người Đưa ra một số đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam trong việc bảo vệ các quyền con người
Trang 11Luận án tiến sĩ: “Thực hiện pháp luật về quyền con người của phạm nhân trong thi hành án phạt tù ở Việt Nam” của tiến sĩ Nguyễn Đức Phúc năm 2012
Luận án trình bày rõ quan điểm đảm bảo thực hiện pháp luật về quyền con người của phạm nhân trong thi hành án phạt tù cũng như các giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện pháp luật về quyền con người của nhóm người này
“Dạy nghề cho phạm nhân và đảm bảo việc làm cho người mãn hạn tù”
của Thượng tá Ths Nguyễn Văn Cừ đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 01- 02/2011
“Thực trạng về pháp luật thi hạnh án phạt tù và phương hướng hoàn thiện”
của Thượng tá Ths Nguyễn Văn Lợi đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số
tư pháp hình sự và khoa học về nhân quyền; kế thừa giáo trình và công trình nghiên cứu; các ấn phẩm trong nước và trên thế giới, đặc biệt là kết quả nghiên cứu, kết quả đào tạo ở các lĩnh vực liên quan đến quyền con người do Trung tâm nghiên cứu quyền con người thuộc Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội thực hiện
Sách chuyên khảo về “Bình luận khoa học Thi hành án phạt tù từ thực tiễn đến khoa học giáo dục” của PGS.TS Nguyễn Hữu Duyên, Nhà xuất bản Công an
nhân dân, năm 2010 Trên cơ sở khoa học và thực tiễn thi hành án phạt tù ở Việt Nam, cuốn sách đã phân tích, nhận xét, đánh giá và rút ra những giá trị giáo dục thông qua thực tiễn thi hành án phạt tù
Sách chuyên khảo về “Pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam - Những vấn
đề lý luận và thực tiễn” của PGS.TS Võ Khánh Vinh, Nguyễn Mạnh Kháng đồng
Trang 12chủ biên, Nhà xuất bản Tư pháp năm 2006 Cuốn sách đã hệ thống hóa cơ sở lý luận cũng như phân tích thực trạng của pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam trên tình hình đánh giá và nghiên cứu các kết quả đạt được cũng như các tồn tại, hạn chế, bất cập, nguyên nhân
Sách chuyên khảo về: “Lực lượng cảnh sát 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành” của Tổng cục thi hành án hình sự và hỗ trợ Tư pháp
Qua quá trình nghiên cứu của các công trình nêu trên tác giả nhận thấy rằng các công trình khoa học, các bài báo, sách chuyên khảo và luận văn luận án đã góp phần làm rõ nét một số vấn đề lý luận và thực tiễn về việc đảm bảo quyền công dân trong công tác thi hành án phạt tù Tuy nhiên, cho tới giờ chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, toàn diện, chuyên sâu về công tác đảm bảo quyền con người trong thi hành án phạt tù tại các trại giam trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Chính vì vậy, luận văn là công trình nghiên cứu khoa học toàn diện nhất về “Đảm bảo quyền con người trong thi hành án phạt tù từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa”
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
a) Mục đích
Mục đích nghiên cứu của luận văn là, trên cơ sở phân tích thực tiễn tại các trại giam tỉnh Thanh Hóa để làm rõ thực trạng vấn đề đảm bảo quyền con người của hoạt động thi hành án phạt tù tại đây Chỉ ra được những mặt tồn tại và hạn chế cần phải khắc phục, phân tích những nguyên nhân dẫn tới mặt tồn tại và hạn chế Từ đó đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm tăng cường bảo vệ quyền công dân, quyền con người trong các trại giam trên cả nước nói chung và các trại giam tại tỉnh Thanh Hóa nói riêng
b) Nhiệm vụ
Để đạt được các mục đích đề ra, luận văn đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Thứ nhất, xây dựng cơ sở lý luận về đảm bảo quyền con người trong thi hành
án phạt tù tại các trại giam Từ đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự để đảm bảo các nguyên tắc hiến định về quyền con người
Thứ hai, nghiên cứu và làm rõ thực trạng việc đảm bảo quyền con người tại
các trại giam tỉnh Thanh Hóa, những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động Thi
Trang 13hành án phạt tù, đồng thời xác định nguyên nhân để trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp khắc phục phù hợp
Thứ ba, đề xuất các giải pháp xây dựng, hoàn thiện pháp luật về Thi hành án
phạt tù cũng như cá giải pháp nâng cao hiệu quả Thi hành án phạt tù trước yêu cầu cải cách tư pháp
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên các phương pháp sau đây:
- Phương pháp phân tích: thể hiện trong phần nghiên cứu lý luận tại Chương
1 về đảm bảo quyền con người trong thi hành án phạt tù
- Phương pháp tổng hợp: thể hiện trong phần các giải pháp tại Chương 3, bao gồm tổng hợp các nội dung, phương hướng, các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả đảm bảo quyền con người tại các trại giam ở tỉnh Thanh Hóa nói riêng và trên cả nước nói chung
- Phương pháp thống kê: thể hiện trong phần thực trạng tại Chương 2, trên
cơ sở các kết quả nghiên cứu, tập hợp và xử lý thông tin, số liệu thực tiễn về đảm bảo quyền con người trong thi hành án phạt tù ở các trại giam tỉnh Thanh Hóa
- Phương pháp so sánh: để tăng cường tính thuyết phục cho các luận điểm được đưa ra, luận văn có sử dụng phương pháp so sánh trong đối chiếu quy định, quy tắc của pháp luật Việt Nam với một số quy định của pháp luật quốc tế
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a) Đối tượng nghiên cứu
Với chủ đề đảm bảo quyền con người trong thi hành án phạt tù từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa thì đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm:
+ Các quy định của pháp luật hiện hành, cụ thể là các quy định của Luật Hình sự, Luật Tố tụng hình sự và Luật Thi hành án hình sự dưới góc độ bổ trợ cho Luật hình sự và Tố tụng hình sự, bao gồm các căn cứ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền, điều kiện… Ngoài ra còn có các quy chế, tiêu chuẩn pháp lý về đảm bảo quyền con người của các trại giam trên cả nước nói chung và tỉnh Thanh Hóa nói riêng
+ Luận văn còn nghiên cứu các yêu cầu cải cách tư pháp của Việt Nam đối với Thi hành án phạt tù
Trang 14+ Nghiên cứu về thực tế về cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, các hình thức hoạt động của các trại giam liên quan đến vấn đề đảm bảo quyền con người Trong
đó, bên cạnh tổ chức, hoạt động nội tại của các trại giam, Luận văn cũng đồng thời nghiên cứu công tác kết hợp, phối hợp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trong việc đảm bảo quyền con người
b) Phạm vi nghiên cứu
Tác giả tập trung nghiên cứu vào những vấn đề sau đây:
- Về không gian luận văn nghiên cứu về việc đảm bảo quyền con người của các phạm nhân tại 04 trại giam đóng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, bao gồm:
+ Trại giam số 5 (gồm 6 phân trại), thuộc Tổng cục 8, ở Yên Định, Thanh Hóa + Trại giam Thanh Cẩm (gồm 2 phân trại) Thuộc tổng cục 8, ở Cẩm Thuỷ, Thanh Hóa
+ Trại giam Thanh Lâm (gồm 6 phân trại), Thuộc tổng cục 8, đóng trên địa bàn thị trấn Yên Cát, Như Xuân, Thanh Hóa
+ Trại giam Thanh Phong (gồm 5 phân trại), thuộc Tổng cục 8, đóng trên địa bàn xã Minh Thọ, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa
- Về thời gian luận văn tập trung nghiên cứu về pháp luật thi hành án phạt tù (thi hành án phạt tù có thời hạn và tù chung thân) trong thời gian từ năm 2015 đến năm
2020 Đây là một khoảng thời gian thích hợp với mục tiêu và giới hạn khuôn khổ của luận văn bởi là khoảng thời gian Hiến pháp năm 2013 được thi hành và là năm các bộ luật Hình sự, Tố tụng hình sự 2015 được ban hành mới thay thế các bộ luật đã cũ
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở dầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn được chia làm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về đảm bảo quyền con người trong thi hành
án phạt tù
Chương 2: Thực trạng đảm bảo quyền con người trong hoạt động thi hành án
phạt tù qua thực tiễn tại tỉnh Thanh Hóa
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của đảm bảo quyền
con người trong thi hành án phạt tù ở tỉnh Thanh Hóa
Trang 15CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI
TRONG THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ
1.1 Khái niệm đảm bảo quyền con người trong thi hành án phạt tù
1.1.1 Khái niệm về quyền con người
Quyền con người được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Nhân quyền
(hay quyền con người; tiếng Anh: human rights) là những quyền tự nhiên của con
người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào [48] Dưới góc độ lịch sử, từ thời kỳ cổ đại nhân loại đã có sự bàn luận về quyền con người Đó là các quyền như tự do ngôn luận, quyền bình đẳng của mọi người trước pháp luật Đến thế kỷ thứ XVII, XVIII quyền con người mới được phát triển thành học thuyết với những quan điểm khác nhau
Quan điểm thứ nhất cho rằng quyền con người mang tính tự nhiên, là những
gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng chỉ đơn giản bởi họ là thành viên của gia đình nhân loại [13] Bởi quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng… Các quyền con người không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa hay ý thức của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, cộng đồng hay Nhà nước nào
Quan điểm thứ hai cho rằng, quyền con người được đặt trong tổng hòa các mỗi quan hệ xã hội, do các nhà nước xác định và pháp điển hóa thành các quy phạm pháp luật hoặc xuất phát từ truyền thống văn hóa [13] Quan điểm này cho rằng quyền con người chỉ có trong xã hội có đấu tranh chống áp bức bóc lột, chống bất công trong xã hội; gắn với trình độ phát triển và tiến bộ xã hội; chịu sự hạn định của chế độ kinh tế, đặc biệt của chế độ chính trị – Nhà nước
Ở cấp độ quốc tế, Văn phòng cao ủy Liên Hợp Quốc cho rằng: “Quyền con người là những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người” [56] Như vậy, quan điểm này
Trang 16đã nhấn mạnh chỉ có pháp luật và pháp luật phải ghi nhận, đảm bảo quyền con người như những đảm bảo toàn cầu
Còn ở Việt Nam trong lần sửa đổi Hiến pháp năm 2013, Hiến pháp mới thông qua đã dành riêng một chương về quyền con người tại Việt Nam (Chương II) Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, quyền con người được Nhà nước Việt Nam quy định riêng trong một chương của Hiến pháp Bên cạnh đó, việc đặt vấn đề nhân quyền ngay ở chương thứ hai, sau chương I về chế độ chính trị đã cho thấy việc công nhận, tôn trọng, đảm bảo, bảo vệ quyền con người được Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm
Tại buổi quán triệt Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa XI) của Đảng ủy Tòa án nhân dân tối cao ngày 26/02/2014 khi nói về những điểm mới về quyền con người, quyền công dân được quy định trong Hiến pháp năm 2013, Phó giáo sư, Tiến sỹ Trần Văn Độ - Chánh án Tòa án Quân sự Trung ương, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao khái quát: quyền con người là quyền của cá nhân mà khi sinh ra vốn dĩ
là đã có, còn quyền công dân là quyền được quy định cụ thể trong Hiến pháp và pháp luật của nhà nước nó gắn liền với quốc tịch của mỗi công dân Đây là cách khái quát dể hiểu và cơ bản nhất về quyền con người
Do đó, quyền của con người được định nghĩa là các đặc quyền của con người được pháp luật ghi nhận, điều chỉnh do cá nhân con người nắm giữ trong mối liên hệ với nhà nước và với những cá nhân con người khác hay nói cách
khác quyền con người được định nghĩa là “ Những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn
có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” [55, p.8]
1.1.2 Khái niệm về đảm bảo quyền con người
Theo quan niệm chung, “Đảm bảo” là “làm cho chắc chắn, thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ những gì cần thiết” [49, tr.38], “Đảm bảo” ở đây còn được hiểu như một trong các nghĩa vụ của Nhà nước mà song hành với nó là việc
“công nhận”, “tôn trọng”, “bảo vệ” [45] quyền con người Vì vậy “đảm bảo quyền con người được hiểu là sự đảm bảo bằng chính các điều kiện cần và đủ để thực
Trang 17hiện quyền con người đạt kết quả cao nhất như: ổn định về chế độ chính trị, xã hội, một nền dân chủ rộng rãi, một nền kinh tế phát triển và ổn định, các quyền con người được quy định đầy đủ về số lượng, chất lượng…” [34]
Đảm bảo quyền con người, đặt con người ở trung tâm của mọi chính sách phát triển, thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên Đó là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam Đặc biệt, với việc thông qua Hiến pháp 2013 đã thể hiện một thay đổi lớn trong nhận thức về quyền con người và việc đảm bảo quyền con người ở Việt Nam Hiến pháp năm
2013 đã tạo cơ sở pháp lý và là tiền đề quan trọng để Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan khác tiếp tục việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về quyền con người nói riêng
Hệ thống thiết chế và thể chế đảm bảo quyền con người từng bước được xây dựng theo hướng hoàn thiện đã tạo tiền đề để các cá nhân, tổ chức triển khai hiệu quả công tác đảm bảo quyền con người Không chỉ đảm bảo quyền con người trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam, Đảng và Nhà nước còn chú trọng đảm bảo tốt quyền con người Việt Nam ở nước ngoài cũng Theo đó, Việt Nam đã chú trọng hỗ trợ, tạo điều kiện cho kiều bào ổn định địa vị pháp lý, hội nhập vào sở tại, tập trung hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài duy trì tiếng Việt, gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc, thực hiện tốt công tác bảo hộ công dân ở nước ngoài…
1.1.3 Khái niệm về đảm bảo quyền con người trong thi hành án phạt tù
Để hiểu được khái niệm đảm bảo quyền con người trong thi hành án phạt tù thì ta cần xem xét một số khái niệm chung có liên quan
Đầu tiên cần phải thấy rằng khái niệm “Đảm quyền con người trong tố tụng hình sự là sự vận hành của các yếu tố khách quan nhằm mục đích công bố, ghi nhận về m t pháp l các quyền con người trong tố tụng hình sự và bảo vệ và thực thi các quyền đó trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nhằm đảm bảo quyền con người trước hành vi phạm tội, đảm bảo quyền con người của những người yếu thế khi tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng hình sự đúng pháp luật”
Xét riêng ở phương diện quyền con người trong tố tụng hình sự cho thấy,
Trang 18đây là nơi quyền con người chịu sự tác động rất lớn từ các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng khi giải quyết VAHS, trong đó trọng tâm là xét xử VAHS Do vậy, đây cũng là nơi quyền con người rất dễ bị xâm phạm và hậu quả của việc quyền con người bị xâm phạm thường để lại hậu quả rất lớn cho xã hội Quyền con người trong tố tụng hình sự được thể hiện ở hai khía cạnh: một là, xử lý người phạm tội trước pháp luật, qua đó bảo vệ quyền con người nói chung; hai là, khi tiến hành tố tụng các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải đảm bảo được quyền của không chỉ người phạm tội mà còn của những người tham gia tố tụng khác, đồng thời ngăn ngừa nguy cơ lạm dụng từ phía những người tiến hành tố tụng, xử lý nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật đối với những tội phạm xâm phạm quyền con người và đảm bảo không làm ảnh hưởng tới quyền con người khi tiến hành tố tụng
Bên cạnh đó còn một khía cạnh nữa cần được làm rõ là hoạt động Thi hành
án hình sự “là hoạt động thực hiện bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật của các cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành án theo một trình tự thủ tục do pháp luật quy định, thể hiện qua việc quản lý, tổ chức các biện pháp tác động đối với người bị kết án hình sự buộc họ phải thi hành đầy đủ, nghiêm chỉnh những nghĩa vụ pháp lý mà pháp luật đã quy định cụ thể đối với hình phạt mà họ bị Tòa án tuyên, nhằm mục đích quản lý, giáo dục, cải tạo họ thành người lương thiện
có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới ” [51]
Còn ở phương diện quyền con người trong thi hành án phạt tù thì được ghi nhận tại hàng loạt văn kiện pháp lý quan trọng về nhân quyền Các văn kiện pháp lý quốc tế về quyền con người là tiêu chí, chuẩn mực để các quốc gia thành viên xây dựng hệ thống pháp luật của mình Hệ thống các chuẩn mực tối thiểu về quyền con người trong thi hành hình phạt tù được quy định trong nhiều văn kiện, như: Tuyên ngôn nhân quyền thế giới 1948; Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) năm 1966; Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu về đối xử với tù nhân năm 1955; Công ước chống tra tấn và sử dụng các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người năm 1984; …
Trang 19Từ các khái niệm đã được tìm hiểu và các văn kiện pháp lý nêu trên ta có thể
định nghĩa đảm bảo quyền con người trong thi hành án phạt tù như sau: “Đảm bảo quyền con người trong thi hành án phạt tù là sự điều chỉnh, ghi nhận đầy đủ trong quá trình lập pháp, sự đảm bảo thực thi chính xác trong hành pháp, tư pháp của Nhà nước tạo ra các điều kiện pháp lý về kinh tế, xã hội, cũng như sự tham gia của các tổ chức, cá nhân một cách có hiệu quả trên thực tế nhằm đảm bảo các quyền của người đang chấp hành án phạt tù”
1.2 Đặc điểm, vai trò và ý nghĩa của đảm bảo quyền con người trong thi hành án phạt tù
Từ những định nghĩa trên cho chúng ta hình dung về một số đặc điểm của
đảm bảo quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở trại giam như sau:
Đầu tiên, hình phạt tù với tính chất là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của
nhà nước nhưng vẫn phải đảm bảo quyền của con người, quyền công dân một cách tốt nhất Cụ thể tại điều 27 Luật thi hành án hình sự năm 2019 bổ sung thêm nhiều quyền và nghĩa vụ của phạm nhân Tại khoản 1, Điều 27 Luật quy định 10 nhóm quyền cơ bản của phạm nhân: Được bảo hộ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tôn trọng danh dự, nhân phẩm; được phổ biến quyền và nghĩa vụ của mình, nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân; Được đảm bảo chế độ ăn, ở, mặc, đồ dùng sinh hoạt cá nhân, chăm sóc y tế theo quy định; gửi, nhận thư, nhận quà, tiền; đọc sách, báo, nghe đài, xem truyền hình phù hợp với điều kiện của nơi chấp hành án; Được tham gia hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ; Được lao động, học tập, học nghề; Được gặp, liên lạc với thân nhân, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân; đối với phạm nhân là người nước ngoài được thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự; Được tự mình hoặc thông qua người đại diện để thực hiện giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật; Được đảm bảo quyền khiếu nại, tố cáo; được đề nghị xét đặc xá, bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật; Được tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, hưởng chế độ, chính sách về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật; Được sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật; Được khen thưởng khi có thành tích trong quá trình chấp hành án
Trang 20Thứ hai, việc đảm bảo quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở
trại giam là nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước Bởi thi hành án phạt tù là một hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, là hình thức thực hiện các thẩm quyền tương ứng của hệ thống các cơ quan chuyên trách thuộc nhánh quyền hành pháp nhằm thực hiện bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trong thực tiễn Nhiệm vụ của giai đoạn này nhằm mục đích cảm hóa tư tưởng, giáo dục nhân cách, văn hóa, kỹ năng lao động và làm cho người thụ án trở thành một công dân tốt cho
xã hội, góp phần răn đe và ngăn ngừa chung Với ý nghĩa là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng hình sự thì giai đoạn thi hành án có mối quan hệ hữu cơ với các giai đoạn trước là điều tra, truy tố và xét xử, giai đoạn này được xem như là mục đích cuối cùng của quá trình giải quyết một vụ án hình sự và nếu như mục đích không đạt được thì quá trình trước đó cũng trở nên vô nghĩa, kỷ cương trật tự nhà nước bị vi phạm, quyền lực nhà nước bị coi thường Tiếp đó là tính cưỡng chế nghiêm khắc của việc thi hành án là cách ly hoàn toàn người phạm tội ra khỏi xã hội, sống trong một môi trường bị kiểm sát chặt chẽ, cũng như tước đi quyền công dân của họ Điều này phản ánh việc nhà nước phải có “nghĩa vụ chủ động” đối với
quyền con người Đảm bảo thể hiện việc nhà nước phải thi hành nghĩa vụ của mình
một cách tích cực hơn so với “công nhận”, “tôn trọng”, “bảo vệ”
Thứ ba, của đảm bảo quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở
trại giam gắn với một đối tượng và hoàn cảnh đặc thù, đó là người chấp hành án (tội phạm) và trong môi trường đặc thù là trại giam
Chúng ta biết rằng, thi hành án phạt tù thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể quản lý là lực lượng chức năng và đối tượng chịu sự quản lý là phạm nhân- một đối tượng có đặc điểm tâm lý rất phức tạp (Trạng thái tâm lý pha trộn với nhiều cảm xúc tiêu cực: bi quan, tuyệt vọng, buồn, ức chế, tư duy bị hạn chế, đơn giản hóa, thiếu độc lập, thiếu định hướng,v.v).Điều đó không chỉ xuất phát từ môi trường nơi
họ phải chấp hành án mà còn là ở quá khứ, hành vi, tội lỗi của họ nữa Đây là mối quan hệ bất bình đẳng, trong đó phạm nhân là đối tượng yếu thế, chịu sự quản lý giam giữ, giáo dục, cải tạo của chủ thể quản lý Hơn nữa, môi trường trại giam là
Trang 21môi trường rất phức tạp với những quy định chặt chẽ và nghiêm ngặt, bao gồm những con người đã từng vi phạm pháp luật hình sự, nhiều người trong số họ vốn là người côn đồ hung hãn, ngoan cố chống đối, tái phạm, tái phạm nguy hiểm, bất tuân pháp luật Do đó, trong trại giam rất dễ xảy ra những hành vi xâm phạm về thân thể, sức khỏe, danh dự, thậm chí là tính mạng của phạm nhân Điều 20 Hiến pháp năm
2013 đã trân trọng ghi nhận nguyên tắc “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm” Cụ thể hóa quy định này của
Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm
2017 đã có một chương (Chương XIV) quy định về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người Bộ luật Tố tụng Hình sự (TTHS) năm
2015 đã đưa ra các quy định có tính nguyên tắc trong TTHS: “Đảm bảo quyền bất khả xâm phạm về thân thể” (Điều 10), “Bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân” (Điều 11) Do
đó việc đảm bảo quyền con người trong trường hợp này sẽ gắn với một số quyền nhất định chứ không bao hàm tất cả các quyền con người nói chung
Thứ tư, việc của đảm bảo quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù
ở trại giam mang tính định hướng, chính là việc thể hiện quan điểm, chính sách, đường lối của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác cải tạo giáo dục người phạm tội Ngoài mục đích trừng trị người bị kết án, người chấp hành án phạt tù tại trại giam còn được học tập, lao động nhằm giáo dục họ trở thành người tốt, ngăn chặn người đó phạm tội mới và giúp đỡ họ tái hòa nhập cộng đồng sau khi ra tù [36, tr.71]
Giáo dục người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội là quá trình làm thay đổi những quan điểm, nhận thức, suy nghĩ không đúng đắn của phạm nhân, giúp cải tạo các thói quen, hành động của họ do các yếu tố không lành mạnh tác động đến họ như môi trường, gia đình… đề cao tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội và những nhận thức, thói quen xấu đó hoàn toàn có thể cải tạo được nếu việc giáo dục được tổ chức một cách đúng đắn Ngoài ra việc của đảm bảo
Trang 22quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở trại giam còn phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn xã hội, kế thừa truyền thống pháp lý của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với điều kiện trong nước
Cuối cùng, hoạt động thi hành án phạt tù thuộc về các lực lượng chuyên
trách của Nhà nước đảm nhiệm bao gồm: Cơ quan quản lý thi hành án hình sự, bao gồm Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an và Cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng Cụ thể: Cơ quan thi hành án phạt tù là cơ quan chuyên trách được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành bản án phạt tù của Tòa án
đã có hiệu lực pháp luật đó là: Trại giam thuộc Bộ Công an, trại giam thuộc Bộ Quốc phòng, trại giam thuộc quân khu Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Cơ quan thi hành án hình sự quân khu và tương đương
Qua đó cần thấy rằng, việc đảm bảo quyền của phạm nhân là điều hết sức cần thiết và phải được thực hiện một cách phù hợp với đặc điểm tâm lý, môi trường của họ.Việc đảm bảo quyền của phạm nhân được thực hiện thông qua các chế độ sống, làm việc, sinh hoạt nhưng phải đảm bảo sự tương xứng cần thiết với mục đích răn đe và giáo dục của hình phạt tù
Đảm bảo quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở trại giam có
ý nghĩa và vai trò rất quan trọng, xuất phát từ quan điểm quyền con người là những
“nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người” [13, tr.38]:
Thứ nhất, việc đảm bảo quyền của người đang chấp hành bản án có ý nghĩa
trong việc mang tính đặc thù về yếu tố chính trị, pháp lý, xã hội trước mắt và lâu dài đối với công dân, với tính chất là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước nhưng vẫn phải đảm bảo quyền của công dân một cách tốt nhất nhằm đảm bảo sự dân chủ, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người chấp hành án Đồng thời, tạo cơ sở pháp lý cho người phải chấp hành án phạt tù tự bảo vệ được các quyền và lợi ích hợp pháp cho mình
Trang 23Bên cạnh đó, nó còn có ý nghĩa cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự nói chung và vấn đề đảm bảo quyền con người trong thi hành án phạt tù nói riêng trong việc áp dụng các thống nhất các quy định về thi hành án phạt tù Như vậy việc đảm bảo quyền con người trong thi hành án hình phạt
tù có ý nghĩa rất quan trọng trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thể hiện tính ưu việt của Nhà nước
Thứ hai, việc đảm bảo quyền con người của người chấp hành án còn có vai
trò rất quan trọng trong việc giúp họ sửa chữ lỗi lầm, tái hòa nhập cộng đồng Hàng chục nghìn người đã chấp hành xong hình phạt tù, được trở về với gia đình và cộng đồng nhiều người trong số họ đã có nhiều đóng góp cho xã hội sau khi mãn hạn tù Chính vì vậy việc đảm bảo các chính sách, cũng như đảm bảo tốt quyền con người đối với các phạm nhân đóng vai trò hết sức to lớn Nó không chỉ nhằm đảm bảo sự chặt chẽ trong quản lý, giáo dục người phạm tội mà còn giúp họ sớm tìm lại giá trị con người của mình trong đời sống xã hội
Thứ ba, việc đảm bảo quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở
trại giam có vai trò quan trọng thể hiện trách nhiệm, góp phần nâng cao uy tín của Đảng và Nhà nước ta trong việc chăm lo, bảo vệ, đảm bảo quyền con người Nó giúp phản ánh về trình độ năng lực, sự quan tâm của nhà nước, xã hội đối với những người lầm lỗi; thể hiện thái độ của nhà nước về các quyền của con người
Tóm lại, việc đảm bảo quyền con người trong thi hành án phạt tù là một vấn
đề mang ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn Một mặt nó định hướng cho các vấn đề về quyền con người nói chung Mặt khác nó định hướng cho các vấn đề việc đảm bảo quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự
và đảm bảo quyền con người của người chấp hành án trong thực tế nhằm giúp họ tự bảo vệ tốt nhất quyền của mình, giúp họ trở về với bản tính lương thiện vốn có Đồng thời, nó cũng là một động thái thể hiện sự tận tâm trong việc thực hiện các chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người bị áp dụng hình phạt tù trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và tham gia
Trang 241.3 Các yếu tố tác động đến việc đảm bảo quyền con người trong thi hành án phạt tù
Như đã trình bày, việc đảm bảo quyền con người trong hoạt động thi hành án
tù ở các trại giam là một vấn đề liên quan tới nhiều khía cạnh mà nhà nước phải thực hiện để người thi hành án được thụ hưởng quyền của mình Tuy nhiên, bên cạnh đó có nhiều yếu tố tác động đến việc đảm bảo quyền con người của phạm nhân Và sau đây là 4 yếu tố chính tác động tới nhân quyền của phạm nhân đó là:
Ngày 2/6/2005, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Nghị quyết đề ra mục tiêu tổng quát là xây dựng nền tư
pháp “trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại phục vụ nhân dân, phụng sự tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” Cải cách
tư pháp ở nước ta được tiến hành trong xu thế hội nhập quốc tế và với bối cảnh địa chính trị thế giới có nhiều biến đổi sâu sắc Do đó, một trong những quan điểm chỉ
Trang 25đạo quan trọng của quá trình cải cách tư pháp là cải cách tư pháp phải kế thừa truyền thống pháp lý dân tộc, kế thừa những thành tựu đã đạt được của nền tư pháp XHCN Việt Nam; tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với hoàn cảnh nước ta và yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế, đáp ứng xu thế phát triển của xã hội trong tương lai
THA phạt tù và đảm bảo quyền con người trong THA phạt tù là một vấn đề quan trọng nằm trong chiến lược cải cách tư pháp của nước ta đến năm 2020 và quá trình tổ chức THA phạt tù không tách khỏi quá trình cải cách tư pháp Nó thể hiện quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước ta đối với công tác cải tạo, giáo dục những người lầm lỗi và từ đó, họ tự giác cải tạo, sửa chữa lỗi lầm, xây dựng
ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của đời sống xã hội, ngăn ngừa hành vi tái phạm tội và hơn nữa là giúp họ sớm hoàn lương để trở về với cộng đồng xã hội
Trên cơ sở lập trường của chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta qua các giai đoạn cách mạng đã tiếp cận vấn đề quyền con người từ quyền của người dân mất nước và quyền của người lao động, từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh
và Đảng ta khẳng định: Chủ nghĩa xã hội là chế độ tốt nhất đảm bảo quyền con người cho nhân dân Việt Nam Sự vận dụng, phát triển sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta là không quên quyền lợi của bất kỳ một giai tầng xã hội nào,
từ nhi đồng, thiếu niên, đến thanh niên, phụ nữ, phụ lão, công nhân, nông dân, bộ đội, trí thức, đồng bào dân tộc thiểu số và tôn giáo, người khuyết tật, người dân mất nước, Tóm lại, xét trên phương diện chính trị, quan điểm của Đảng về cả vấn đề thi hành án lẫn vấn đề quyền con người đều đã khá đầy đủ và rõ ràng Đặc biệt, một
số định hướng lớn và quan trọng đã được Nghị quyết 49 nêu ra như:
- Hoàn thiện thể chế về thủ tục tư pháp
- Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp
- Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp
- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp Tiếp tục củng cố, mở rộng hợp tác quốc tế về pháp luật và tư pháp theo đường lối đối ngoại của Đảng, quy định của pháp luật
Trang 26Những định hướng này góp phần hoàn thiện hệ thống các cơ quan tư pháp, đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước trong bối cảnh chính trị mới và như đã trình bày nó còn góp phần nâng cao hiệu quả của công tác đảm bảo quyền con người trong THA phạt tù trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể của đất nước
1.3.2 Yếu tố về kinh tế
Yếu tố kinh tế hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tổng thể các điều kiện, hoàn cảnh về kinh tế xã hội, hệ thống chính sách kinh tế, chính sách xã hội và việc triển khai thực hiện, áp dụng chúng trong lĩnh vực xã hội Nền kinh tế xã hội phát triển năng động, bền vững sẽ là điều kiện thuận lợi cho hoạt động thực hiện pháp luật, tác đồng tích cực tới việc nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức pháp luật của tầng lớp xã hội Ngược lại, nền kinh tế xã hội chậm phát triển, kém năng động và kém hiệu quả sẽ có thể ảnh hưởng tiêu cực tới việc thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật Yếu tố kinh tế là nền tảng của sự nhận thức hiểu biết pháp luật và thực hiện pháp luật nên có tác động mạnh mẽ tới hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật
Có thể thấy, những điều kiện về kinh tế có tác động rất lớn tới thực tiễn đảm bảo quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở trại giam Hiện nay, nguồn kinh phí cho hoạt động thi hành án do ngân sách nhà nước chi trả [35] Ngoài
ra, để tạo nguồn thu nhập, tái đầu tư vào việc sửa chữa các trường, trại giam, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho phạm nhân… thì một phần kết quả lao động của phạm nhân cũng sẽ được chi cho trại giam, đó cũng là một hình thức tiết kiệm, giảm nhẹ gánh nặng kinh phí cho Nhà nước
Tuy nhiên chúng ta cũng có thể thấy về vấn đề kinh phí cho hoạt động thi hành án hình sự mà đặc biệt là về hình thức tử hình từ xử bắn sang tiêm thuốc độc, kinh phí mua thuốc tiêm phục vụ cho thi hành án tử hình và đảm bảo cho thi hành
án tử hình do ngân sách Nhà nước cấp trong dự toán ngân sách hằng năm của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cơ quan thi hành án hình sự quân khu và tương đương theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước Mà mỗi trường hợp bị án tử hình phải đưa từ các tỉnh thành xa tới nơi có
Trang 27nhà thi hành án để tiêm thuốc độc chi phí khoảng 200-300 triệu đồng, thực sự rất tốn kém Theo Bộ Tư pháp, hiện còn tới hàng trăm tử tù đang xếp hàng để chờ được thi hành án Có người chờ tới 14 năm mà vẫn chưa đến ngày ra pháp trường [52]
Từ đó, chúng ta có thể thấy tầm quan trọng của kinh tế đối với hoạt động thi hành án Và đối với hoạt động thi hành án phạt tù cũng vậy, yếu tố kinh tế đóng vai trò rất quan trọng, việc thiếu thốn về mặt kinh tế dẫn đến việc cơ sở vật chất, trang thiết bị và cơ sở giam giữ chưa được thực hiện tốt dẫn đến nhiều kết quả không tốt trong công tác cải tạo và giáo dục phạm nhân
Nói chung, nếu phải so sánh với các cơ sở giam giữ ở nhiều nước tiên tiến thì Việt Nam vẫn còn thô sơ chưa phù hợp với trình độ phát triển của kinh tế - xã hội nhưng chưa được đầu tư thay đổi Và trong công cuộc hiện đại hóa đất nước thì việc thực hiện cải cách tư pháp nói chung và thực hiện cải cách trong thi hành án phạt tù nói riêng cũng không nằm ngoài công cuộc cải cách, đặc biệt là việc nhà nước quan tâm dành một nguồn kinh phí lớn hơn cho công tác thi hành án phạt tù là điều cần thiết nếu chúng ta không muốn tụt hậu so với các nước trên thế giới Nếu kinh tế phát triển, mức sống của con người cao, trật tự kinh tế ổn định sẽ hạn chế phát sinh được các vi phạm, tạo ra những điều kiện vật chất để quyền con người được thực hiện trên thực tế và con người cũng có thêm khả năng thực hiện quyền của mình
1.3.3 Yếu tố về xã hội
Các yếu tố xã hội bao gồm những yếu tố văn hóa, đạo đức, tôn giáo bao giờ cũng là một trong các nhân tố có động và ảnh hưởng trực tiếp tới việc đảm bảo quyền con người nói chung và đảm bảo quyền con người của phạm nhân nói riêng
Đó là, tinh thần đoàn kết trong xã hội, mối quan hệ và lợi ích cộng đồng, ý thức pháp luật, trình độ dân trí, thói quen, phong tục tập quán… Những yếu tố này được coi như là tiền đề tác động mạnh mẽ đến quyền con người Đó là lý giải tại sao ở mỗi quốc gia thì việc đảm bảo quyền con người lại có những điểm khác biệt, nhất là đối với các quốc gia đang phát triển
Ở Việt Nam, đầu tiên phải nói đến các phương tiện thông tin đại chúng thường xuyên đăng tải các thông tin về các sự kiện pháp luật xảy ra trong xã hội,
Trang 28hoạt động thực hiện pháp luật của các tầng lớp xã hội và các cơ quan chức năng Phương tiện truyền thông còn đưa nhân dân tiếp cận gần hơn với vấn đề quyền con người không chỉ được đảm bảo ở mọi mặt của pháp luật mà còn được đảm bảo khi một con người đã phạm sai lầm và bị quản thúc trong môi trường trại giam … Và những thông tin ấy ở những chừng mực và khía cạnh khác nhau đã tác động đến nhận thức và hành vi của mỗi con người, khiến cho họ thực hiện pháp luật tốt hơn cũng như hiểu rõ hơn về việc đảm bảo quyền con người của các phạm nhân
Thứ hai, dư luận xã hội tác động mạnh mẽ tới hoạt động đảm bảo QCN, nhất
là hoạt động đảm bảo quyền con người của các phạm nhân trong trại giam Dư luận
xã hội gắn liền với ý chí của cộng đồng, của nhóm xã hội, nó có tác động mạnh mẽ đến suy nghĩ và hành động của các cá nhân Nó là một loại chế tài mạnh mẽ, uốn nắn, điều chỉnh ý thức cá nhân Người dân thường nghĩ, khi một các nhân phạm tội
và vào tù thì sẽ bị quản lý và chịu những hình phạt thích đáng, họ không thể được hưởng bất cứ quyền nào, từ quyền con người đến quyền công dân như những người bình thường được Từ phản ứng của một cá nhân sẽ nhanh chóng lan truyền, tạo hiệu ứng đối với các cá nhân khác trong cộng đồng Thái độ gay gắt phản ứng, thờ ơ hay trung lập với các quy định ban hành trong việc đảm bảo quyền con người cho những kẻ phạm tội đều là những biểu hiện đa dạng nhạy cảm về tâm lý pháp luật của các cá nhân Vì vậy để tạo dựng dư luận xã hội tốt có ý nghĩa đặc biệt trong việc đảm bảo đến các quyền con người của phạm nhân, nó vừa là “thước đo ý thức pháp luật, trình độ văn hóa pháp luật của các chủ thể một cách cụ thể” [17, tr.28]
Thứ ba là ý thức trách nhiệm đạo đức đối với con người Con người luôn là cốt lõi trong mọi vấn đề và đạo đức là một trong những lĩnh vực đặc biệt mà chỉ có con người mới cần đến vấn đề đạo đức Quyền con người được đặt ra là để chuẩn hóa quan hệ về mặt đạo đức giữa người với người, đòi hỏi các cá nhân tổ chức, cộng đồng phải tuân thủ Trong lĩnh vực đảm bảo quyền con người của phạm nhân thì quyền con người đơn giản là những thứ con người được hưởng, những điều kiện phải đảm bảo cho con người sống đúng với tư cách người Mà nhiệm vụ đảm bảo quyền con người ở đây thuộc về những cán bộ trại giam, họ phải có trách nhiệm đạo đức khi thực nhiệm vụ của mình
Trang 29Tóm lại, có nhiều yếu tố để đảm bảo quyền con người nói chung và bảo vệ quyền con người của các phạm nhân trong thi hành án hình sự nói riêng Và trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do dân vì dân ở nước
ta hiện nay thì các đảm bảo pháp lý đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tạo điều kiện để tổ chức, thiết lập cơ chế, bộ máy chuyên trách để đảm bảo quyền con người, quyền công dân
1.3.4 Yếu tố về pháp luật
Khi lựa chọn định hướng phát triển theo xu hướng tiến bộ, các quốc gia đều
cố gắng phấn đấu vì hạnh phúc của con người, vì thế bảo vệ các quyền của con người là một tất yếu khách quan Bảo vệ, đảm bảo pháp lý gồm một hệ thống thống nhất về mặt pháp lý các yếu tố sau: cơ chế pháp lý thực hiện quyền và nghĩa
vụ pháp lý; hệ thống các quyền và nghĩa vụ pháp lý; hành vi hợp pháp và trình độ văn hóa của mỗi cá nhân công dân [18, tr.112] Ở Việt Nam, nhất quán với nguyên tắc tất cả vì tự do và hạnh phúc nhân dân, Ðảng và Nhà nước ta vừa không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo tiền đề pháp lý đảm bảo quyền con người, vừa luôn xây dựng các chính sách cụ thể để từng bước cải thiện, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, có không ít các chính sách trong các lĩnh vực khác nhau, thậm chí trong cùng một lĩnh vực (chính sách xã hội chẳng hạn) còn chồng chéo, mâu thuẫn khi điều chỉnh cùng một vấn đề có liên quan đến quyền con người Bên cạnh đó, vẫn còn những khoảng trống trong việc quy định chính thức các quyền con người cơ bản thành quyền công dân (quyền lập hội, quyền được trưng cầu ý dân, quyền phúc quyết…) Mặt khác, vì nhiều lý do khác nhau, việc chuyển hóa các chính sách hiện có thành các quy định cụ thể của pháp luật còn khá chậm (Luật về Hội, Luật Biểu tình…) Đồng thời, không thể không kể đến những hạn chế của chúng ta trong quá trình nội luật hóa những điều ước quốc tế
có liên quan đến quyền con người trong thời gian qua, đặc biệt là trong các lĩnh vực: kinh tế, thương mại, môi trường Những hạn chế trên đã và đang thật sự trở thành những thách thức không nhỏ với Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế
và khu vực, nhất là từ khi chúng ta gia nhập Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO)
Trang 30và trong tiến trình chuẩn bị gia nhập Hiệp định Chiến lược kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) Nhưng điều quan trọng hơn buộc chúng ta phải nhận thấy và khắc phục là những hạn chế đó đang ảnh hưởng không thuận lợi tới việc đảm bảo các quyền con người nói chung và quyền con người trong thi hành án phạt tù nói riêng ở nước ta hiện nay
Và trong pháp luật nói chung và Luật Thi hành án hình sự nói riêng thì quyền con người luôn là một trong những vấn đề trọng tâm Luật thi hành án hình
sự năm 2010 được Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17/6/2010, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2011, Luật gồm có 15 chương, 182 Điều, quy định
cụ thể trình tự, thủ tục trong thi hành bản án, quyết định về thi hành án; quyền, nghĩa vụ của của người chấp hành án; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan trong thi hành án hình sự và biện pháp tư pháp Luật thi hành án hình sự
ra đời là sự pháp điển hóa Pháp lệnh thi hành án phạt tù, Nghị định 60, 61 về thi hành án treo, cải tạo không giam giữ, là sự tiến bộ của pháp luật đối với công tác thi hành án hình sự, đưa hoạt động thi hành án hình sự đi vào quy củ, thống nhất.Sau 9 năm đi vào thực hiện, đến nay Luật thi hành án hình sự năm 2010 đã bộc lộ một số điểm hạn chế cần sửa đổi, bổ sung [53] Tuy nhiên, sự thiếu vắng những quy định cần thiết, đặc biệt là sau khi nước ta đã có bản Hiến pháp 2013 và phê chuẩn Công ước chống tra tấn
Nói chung, những yếu tố về pháp luật là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay Tuy còn những bất cập nhất định nhưng những bước đi tới của pháp luật thi hành án hình sự đã hướng theo mục tiêu đảm bảo hơn nữa quyền con người Đây là định hướng đúng đắn và có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù ở trại giam
1.4 Nội dung đảm bảo quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù
1.4.1 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của quy định pháp luật về đảm bảo quyền con người trong thi hành án phạt tù
Cho đến thời điểm hiện nay, xét từ các góc độ tính toàn vẹn, nguyên bản, nội
Trang 31dung và niên đại, Bộ luật Hammurabi có thể coi là văn bản pháp luật thành văn đầu tiên của nhân loại nói đến quyền con người (mặc dù quan điểm này không phải được tất cả các học giả ủng hộ) Ngoài Bộ luật Hammurabi, vấn đề quyền con người còn sớm được đề cập trong nhiều văn bản pháp luật cổ khác của thế giới, trong đó tiêu biểu như Bộ luật của vua Cyrus Đại đế ban hành vào khoảng các năm 576 -529 TCN; Bộ luật do nhà vua Ashoka (Ashoka’s Edicts) ban hành vào khoảng các năm 272-231; Hiến pháp Medina (The Constitution of Medina) do nhà tiên tri Muhammad sáng lập vào năm 622; Đại Hiến chương Magna Carta (1215) và Bộ luật về quyền (1689) của nước Anh; Tuyên ngôn về các quyền của con người và của công dân(1789) của nước Pháp; Tuyên ngôn độc lập (1776) và Bộ luật về các quyền (1789) của nước Mỹ
Trong vấn đề này, mặc dù ít được nhắc tới trong các công trình nghiên cứu ở tầm quốc tế, song xét về mặt nội dung, bộ luật Hồng Đức (Quốc triều Hình Luật (1470-1497) là một bộ luật hình chính thống và quan trọng nhất của triều đại nhà Lê
và của cả Việt Nam thời kỳ phong kiến Nói đến bộ luật này người ta thường nghĩ ngay đó là một bộ luật tiến bộ, có kỹ thuật lập pháp cao, nội dung phong phú, toàn diện, quan tâm bảo vệ quyền lợi của con người Những quy định về bảo vệ quyền lợi của con người của phụ nữ, trẻ em, người già … của Luật Hồng Đức có giá trị kế thừa trong pháp luật và đời sống xã hội Việt Nam đương đại Bộ luật Hồng Đức xứng đáng được xếp vào danh sách những bộ luật cổ tiêu biểu của thế giới về quyền con người, bởi lẽ, nó đã chứa đựng nhiều quy định có tính nhân văn sâu sắc, trong
đó bao gồm cả các quy định cụ thể về quyền của phụ nữ, trẻ em, v.v mà được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đánh giá rất cao
Đất nước ta đã trải qua lịch sử đấu tranh, xây dựng và phát triển đất nước cùng các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013 Trong mỗi giai đoạn lịch
sử, các bản Hiến pháp trên đã ghi dấu lại sự tôn trọng và bảo vệ quyền con người
Từ khi thành lập nước (1945) đến nay, qua các giai đoạn phát triển và nhu cầu xã hội, Nhà nước và các cơ quan tương ứng của Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh hoạt động giáo dục và cải tạo những người bị
Trang 32kết án và những hoạt động khác liên quan chặt chẽ đến nội dung giáo dục và cải tạo người bị kết án Những văn bản đó được ban hành dưới những hình thức khác nhau
và mức độ điều chỉnh cũng khác nhau Cũng trong các bộ luật hình sự năm 1985,
1999, 2015 cũng đã từng bước cụ thể hóa các quy định về quyền con người trong thi hành án phạt tù để phù hợp với tinh thần của các bản Hiến pháp
Ngay từ khi cách mạng tháng 8 thành công, quy định về hình phạt tù trong giai đoạn này nằm rải rác ở các văn bản pháp luật hình sự mang tính chất đơn lẻ Bộ luật hình sự năm 1985 và bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đã đánh dấu bước phát triển của luật hình sự ở nước ta, là sự kế thừa và phát triển của luật hình sự sau Cách mạng Tháng 8, lần đầu tiên các loại tội phạm và hình phạt được tập hợp và quy định thống nhất trong một văn bản Công tác thi hành án nói chung và thi hành án phạt tù nói riêng có những bước phát triển đáng kể về quy định giam giữ, giáo dục, cải tạo phạm nhân Tiếp đó, công tác này càng được củng cố và phát triển đặc biệt là từ khi nhà nước ban hành các văn bản về công tác thi hành án hình sự như: Pháp lệnh thi hành án phạt tù (1993); Bộ luật hình sự (1999); Bộ luật tố tụng hình sự (2003); Quy chế trại giam; Pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của pháp lệnh thi hành án phạt
tù (2007) … và trong các văn bản pháp luật từ trước đến nay đều kế thừa và nêu cao việc đảm bảo quyền con người của người chấp hành án như quyền của trẻ vị thành niên, của phụ nữ, của người là lao động duy nhất trong gia đình…Trong thực tiễn công tác tổ chức thi hành hình phạt tù, việc hiểu rõ người đang chấp hành hình phạt
tù có những quyền gì, những quyền gì của con người họ bị tước bỏ hoặc bị hạn chế
và nghĩa vụ thế nào có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với cơ quan thi hành án Điều quan trọng được thể hiện ở chỗ, nó không chỉ dừng lại ở mức độ nhận thức, mà còn thể hiện trong việc vận dụng các quy định của pháp luật trong công tác quản lý, giáo dục người phạm tội hướng tới mục đích trả về cho xã hội những con người hoàn lương Đồng thời trên cơ sở đó tiến hành các biện pháp quản lý, giáo dục, ngăn chặn
và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật
1.4.2 Nội dung cơ bản của quyền con người trong thi hành án phạt tù
Có thể khái quát các quyền cơ bản của phạm nhân cần được bảo vệ thành 5 nhóm quyền sau:
Trang 33Quyền được đảm bảo mức sống tiêu chuẩn đầy đủ (điều kiện sống): bao gồm nơi ở, lương thực, thực phẩm, chỗ ngủ;
Quyền về y tế: bao gồm quyền của phạm nhân tiếp cận dịch vụ y tế; điều kiện vệ sinh;
Sử dụng thời gian trong trại giam hữu ích nhất: việc lao động, giáo dục, văn hóa, tôn giáo, học nghề, chuẩn bị cho việc tái hòa nhập;
Quyền liên lạc với bên ngoài, vấn đề giam kín và biệt giam;
Quyền khiếu nại;
1.4.2.1 Quyền được đảm bảo mức sống tiêu chuẩn đầy đủ
- Về nơi ở: Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên Hợp quốc có quy định về việc nơi ở: Ở nơi nào mà chỗ ngủ là buồng hoặc phòng cá nhân thì vào buổi tối, mỗi
tù nhân phải được ở trong một buồng hay phòng của chính người đó Nếu vì những
lý do đặc biệt, chẳng hạn như tạm thời có quá đông tù nhân, thì việc ban quản lý trung ương của nhà tù thực hiện một ngoại lệ đối với quy tắc này là cần thiết Không nên có hai tù nhân trong một phòng hay một buồng Ở nơi nào sử dụng phòng tập thể thì tù nhân phải được lựa chọn cẩn thận để phù hợp cho việc kết giao giữa họ với nhau trong những điều kiện đó Phải có sự giám sát thường xuyên vào buổi tối theo đúng bản chất của loại nhà tù này (đoạn 9)
Mọi nơi ăn chốn ở cho tù nhân và đặc biệt là nơi ngủ phải đáp ứng được các yêu cầu về y tế, có chú ý đúng mức đến các điều kiện khí hậu và đặc biệt là các điều kiện về dung tích không khí, diện tích sàn tối thiểu, ánh sáng, sưởi ấm và thông hơi (đoạn 10) Cửa sổ phải đủ lớn để tù nhân có thể đọc hoặc lao động được dưới ánh sáng tự nhiên, phải được xây sao cho không khí trong lành có thể vào được, dù có đường thông hơi nhân tạo hay không Phải cung cấp đủ ánh sáng nhân tạo để tù nhân có thể đọc và làm việc mà không hại đến thị lực Cán bộ y tế phải thường xuyên kiểm tra và kiến nghị giám đốc nhà tù về: Điều kiện vệ sinh, sưởi ấm, ánh sáng và thông gió của nhà tù (đoạn 11 và 12)
- Lương thực, thực phẩm và nước sạch: Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu còn đòi hỏi về sự sẵn có của nước uống cho mọi tù nhân bất cứ khi nào họ cần và việc cung
Trang 34cấp thức ăn theo thời gian, hình thức phù hợp Cụ thể, vào những giờ thường lệ, mỗi
tù nhân phải được ban quản lý nhà tù cung cấp những thức ăn đủ dinh dưỡng để đảm bảo sức khỏe và thể lực, đủ chất và được chuẩn bị và phục vụ chu đáo (đoạn 20) Cụ thể, các quốc gia thành viên cần thưc hiê các biện pháp để đảm bảo rằng: Các tù nhân và nghi phạm bị tạm giam cần được cung cấp một lượng nước sạch đủ cho nhu cầu cá nhân hàng ngày theo quy đin của luâ nhân quyền quốc tếvà những qui tắc tối thiểu của Liên hợp quốc về đối xử với tù nhân Cán bộ y tế phải thường xuyên kiểm tra và kiến nghị giám đốc nhà tù về số lượng, chất lượng, việc chuẩn bị
và phục vụ thức ăn (điểm a, đoạn 2)
- Quần áo và nơi ngủ: Về quần áo, trang phục của phạm nhân, QTTCTT quy định mỗi tù nhân không được phép mặc quần áo của mình thì phải được cung cấp quần áo vừa với người, phù hợp với khí hậu và đủ để giữ sức khỏe Những quần áo này không được thể hiện sự hạ nhục hay lăng mạ Tất cả quần áo phải được giặt sạch và cất giữ trong điều kiện phù hợp Quần áo lót phải được thay và giặt càng thường xuyên càng tốt để giữ vệ sinh Trong những trường hợp ngoại lệ, bất cứ khi nào một tù nhân được chuyển đi khỏi nhà tù vì lý do được phép nào đó, người đó phải được phép mặc quần áo riêng của mình hay quần áo khác để không ai biết mình là tù nhân (đoạn 17) Về nơi ngủ và chăn đệm, tùy theo tiêu chuẩn quốc gia hay địa phương mà mọi tù nhân phải được cung cấp một giường riêng, có chăn đệm riêng và đủ dùng, đã được giặt sạch khi phát, được cất giữ tốt và thay đổi thường xuyên nhằm đảm bảo sạch sẽ (đoạn 19).Cán bộ y tế phải thường xuyên kiểm tra và kiến nghị giám đốc nhà tù về sự phù hợp và sạch sẽ của quần áo và giường đệm của
tù nhân (điểm a, đoạn 26)
1.4.2.2 Quyền được đảm bảo về y tế, sức khỏe
Sức khỏe có vai trò đặc biệt quan trọng đối với mọi cá nhân, bao gồm một số khía cạnh như tiếp cận dịch vụ y tế, điều kiện y tế nơi giam giữ, chăm sóc sức khỏe các trường hợp đặc biệt, vệ sinh và luyện tập thể thao,
Mọi phạm nhân đều có quyền được khám sức khỏe và tiếp cận dịch vụ y tế
Về điều này, QTTCTT quy định cán bộ y tế phải chăm sóc sức khỏe thể chất và tâm
Trang 35thần của tù nhân và cần trông nom hàng ngày mọi tù nhân bị ốm, tất cả những ai kêu ốm, và bất kỳ tù nhân nào mà cán bộ y tế đặc biệt thấy cần Cán bộ y tế phải báo cáo cho giám đốc nhà tù bất cứ khi nào người đó thấy sức khỏe thể chất hay tâm thần của một tù nhân đã hay sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng do tiếp tục ở tù, hoặc do bất kỳ điều kiện nào trong tù (đoạn 25)
Cán bộ y tế phải thăm và khám cho mọi tù nhân ngay sau khi họ được nhận vào tù và sau đó khi cần thiết, với mục đích đặc biệt là để phát hiện ốm đau về thể chất hay tâm thần và tiến hành mọi biện pháp cần thiết; để cách ly tù nhân bị nghi ngờ là mắc bệnh truyền nhiễm hoặc dễ lây; để thông báo các sự cố về thể chất hay tâm thần có thể cản trở việc tái hòa nhập xã hội và để xác định khả năng lao động thể lực của mỗi tù nhân (đoạn 24)
Về thể dục và thể thao, QTTCTT có quy định mọi tù nhân không được lao động bên ngoài phải có ít nhất một giờ tập thể dục thích hợp ở ngoài trời hàng ngày nếu thời tiết cho phép Tù nhân trẻ tuổi và những người khác ở lứa tuổi và có thể lực phù hợp phải được tập luyện thể lực và giải trí trong thời gian tập thể dục Các nhà tù phải có đủ không gian và trang thiết bị phục vụ mục đích này (đoạn 21)
1.4.2.3 Quyền được đảm bảo về lao động, học tập
Về lao động
Đoạn 71 của QTTCTT quy định lao động nhà tù không được mang tính chất khổ sai Mọi tù nhân đang chấp hành án đều phải lao động, tùy thuộc vào sức khỏe thể chất và tâm thần của họ, do cán bộ y tế xác định Trong phạm vi cho phép, công việc được cung cấp phải nhằm duy trì hoặc làm tăng khả năng tù nhân có thể kiếm sống một cách trung thực sau khi được thả Phải có đào tạo nghề trong các công việc hữu ích cho tù nhân để họ có thể kiếm sống bằng nghề đó, đặc biệt là cho những tù nhân trẻ tuổi Trong giới hạn phù hợp với việc chọn lựa nghề thích hợp và với những yêu cầu về quản lý và kỷ luật nhà tù, tù nhân phải có thể được chọn loại công việc mà họ muốn làm
Cách tổ chức và những phương pháp làm việc trong nhà tù phải càng giống càng tốt với các công việc tương tự ngoài nhà tù, để chuẩn bị cho tù nhân những
Trang 36điều kiện của cuộc sống có nghề nghiệp bình thường sau này Tuy nhiên, những lợi ích của tù nhân và của việc đào tạo nghề cho họ phải không được sử dụng vào mục đích kiếm lợi cho một ngành công nghiệp trong nhà tù (đoạn 72)
Đoạn 74 đòi hỏi các biện pháp phòng ngừa để đảm bảo an toàn và sức khỏe cho người lao động tự do cũng phải được chú ý đến, với cùng mức độ như vậy, trong nhà tù Phải có những quy định đảm bảo cho tù nhân đề phòng tai nạn lao động, kể cả bệnh nghề nghiệp, với những điều khoản không kém thuận lợi hơn so với quy định pháp luật áp dụng đối với người lao động tự do
Số giờ làm việc tối đa hàng ngày và hàng tuần của tù nhân phải được ấn định bởi pháp luật hoặc các quy định hành chính, có tính đến quy tắc và tập quán địa phương liên quan tới việc sử dụng lao động tự do Với số giờ được ấn định như vậy, phải có ít nhất một ngày nghỉ mỗi tuần và có đủ thời gian dành cho giáo dục và những hoạt động cần thiết khác với tư cách là một phần trong việc đối xử với tù nhân và việc tái hòa nhập xã hội của họ (đoạn 75)
Phải có một chế độ trả công thỏa đáng đối với công việc của tù nhân Theo chế độ đó, tù nhân phải được phép sử dụng ít nhất một phần thu nhập của họ để mua những đồ đạc được chấp thuận để họ sử dụng riêng và để gửi một phần thu nhập của họ cho gia đình Chế độ đó cũng cho phép ban quản lý nhà tù dành một phần trong thu nhập để thành lập một quỹ tiết kiệm và sẽ được trao cho người tù khi họ được thả (đoạn 76)
Về giáo dục, học tập văn hóa
Về giáo dục, đoạn 77 QTTCTT có quy định Phải có quy định về việc ưu tiên giáo dục cho tất cả những tù nhân có khả năng hưởng lợi ích từ giáo dục, kể cả các giáo lý tín ngưỡng ở những quốc gia có thể thực hiện được điều này Giáo dục cho người mù chữ và tù nhân trẻ là bắt buộc và ban quản lý nhà tù phải chú ý đặc biệt đến việc này Nếu có thể được, giáo dục cho tù nhân phải được kết hợp với hệ thống giáo dục của quốc gia đó, sao cho sau khi được thả, họ có thể tiếp tục việc học tập
mà không gặp khó khăn
Các hoạt động giải trí và văn hóa phải có ở mọi nhà tù để phục vụ cho sức
Trang 37khỏe thể chất và tâm thần của tù nhân (đoạn 78).Việc đọc sách và thư viện có vai trò giúp phạm nhân tự học và giải trí Mọi nhà tù phải có thư viện để cho mọi loại tù nhân sử dụng, có đủ sách giải trí và sách hướng dẫn, và tù nhân phải được khuyến khích tận dụng thư viện (đoạn 40)
1.4.3 Quyền được tiếp cận thông tin liên lạc với bên ngoài của phạm nhân
Về tiếp xúc với thế giới bên ngoài, QTTCTT quy định tù nhân phải được phép tiếp xúc với gia đình và bạn bè tốt của họ vào những thời gian thường lệ, cả bằng thư từ lẫn thăm viếng, dưới sự giám sát cần thiết (đoạn 37)
Tù nhân là người nước ngoài phải được tạo điều kiện thuận lợi một cách thỏa đáng để tiếp xúc với các đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của quốc gia của tù nhân
đó Tù nhân là công dân của một quốc gia không có đại diện ngoại giao hay lãnh sự
ở quốc gia giam giữ và là người tỵ nạn hay người không có quốc tịch phải được phép tiếp xúc với đại diện ngoại giao của quốc gia chịu trách nhiệm về quyền lợi của họ hay với bất kỳ cơ quan quốc gia hay quốc tế nào có nhiệm vụ bảo vệ những người như vậy (đoạn 38)
Tù nhân phải thường xuyên được biết những tin tức quan trọng thông qua việc đọc báo, tạp chí định kỳ hay những ấn phẩm đặc biệt của nhà tù, thông qua nghe đài, diễn thuyết hay bất kỳ biện pháp tương tự nào do ban quản lý nhà tù cho phép và kiểm soát (đoạn 39)
Trang 38Kết luận chương 1
Trong những năm qua, trên cơ sở quy định của pháp luật, các cơ quan THAHS
đã tổ chức thực hiện hiệu quả việc đảm bảo các quyền con người của phạm nhân, góp phần nâng cao uy tín của Đảng và Nhà nước ta trong việc chăm lo, bảo vệ, đảm bảo quyền con người Việc đảm bảo quyền của phạm nhân được thực hiện trong những điều kiện về chính trị, pháp luật và kinh tế, xã hội rất đặc biệt bởi chính sách, quan niệm cũng như điều kiện của các quốc gia xung quanh vấn đề thi hành án phạt
và phức tạp Tuy nhiên chúng ta phải xét dưới góc độ, họ là nhóm đối tượng rất dễ bị xâm hại quyền con người, vì họ là những người bị lên án gay gắt và kỳ thị của cộng đồng, chịu cơ chế quản lý khắt khe từ nhà nước, thậm chí họ còn là nạn nhân của vấn nạn xâm phạm quyền con người chứ không phải là vấn đề nguy cơ nữa
Hiện nay, giống như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam cũng đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ và thách thức về quyền con người, trong đó nổi bật lên vấn
đề đảm bảo quyền con người của phạm nhân khiến cho một số nước còn e dè khi muốn đặt quan hệ với chúng ta Vậy nên, trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì vấn đề bảo vệ quyền con người trong Thi hành án phạt tù trở thành một vấn đề trọng tâm trong quá trình cải cách nền tư pháp, là một yêu cầu cấp bách đặt ra với Việt Nam
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI TRONG THI HÀNH
ÁN PHẠT TÙ QUA THỰC TIỄN TẠI TỈNH THANH HÓA
Thanh Hóa là tỉnh cực Bắc miền Trung Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội khoảng 140km về phía Nam và cách thành phố Hồ Chí Minh 1.560km về hướng Bắc Đây là một tỉnh lớn của Việt Nam, đứng thứ 5 về diện tích và thứ 3 về dân số trong số các đơn vị hành chính trực thuộc trung ương [38, tr.50]
Thanh Hóa là tỉnh chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Trung Việt Nam trên nhiều phương diện Về hành chính, Thanh Hóa là tỉnh cực bắc Trung Bộ, tiếp giáp với Tây Bắc Bộ và đồng bằng Bắc Bộ Về địa chất, miền núi Thanh Hóa là sự nối dài của Tây Bắc Bộ trong khi đồng bằng Thanh Hóa là đồng bằng lớn nhất Trung
Bộ, ngoài ra một phần nhỏ (phía bắc huyện Nga Sơn) thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng Về khí hậu, Thanh Hóa vừa có kiểu khí hậu của miền Bắc lại vừa mang những hình thái khí hậu của miền Trung Về ngôn ngữ, phần lớn người dân nói phương ngữ Thanh Hóa với vốn từ vựng khá giống từ vựng của phương ngữ Nghệ Tĩnh song âm vực lại khá gần với phương ngữ Bắc Bộ
Thanh Hóa bao gồm 2 thành phố trực thuộc tỉnh, 2 thị xã và 20 huyện, với diện tích 11.133,4km2 và số dân 3,410 triệu người với 7 dân tộc Kinh, Mường, Thái, H'mông, Dao, Thổ, Khơ-mú, trong đó có khoảng 355,4 nghìn người sống ở thành thị Năm 2019 Thanh Hóa 2,20 triệu người trong độ tuổi lao động, chiếm tỷ lệ 58,8% dân số toàn tỉnh, lao động đã qua đào tạo chiếm 27%, trong đó lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chiếm 5,4% [37]
Hiện nay số lượng trại giam ở tỉnh Thanh Hóa chiếm tỷ lệ 4/53 trại giam, là
cơ sở trực tiếp thi hành án phạt tù với số lượng phạm nhân khá đông, bao gồm:
+ Trại giam số 5, thuộc Tổng cục 8, ở Yên Định
+ Trại giam Thanh Cẩm, Thuộc tổng cục 8, ở Cẩm Thuỷ
+ Trại giam Thanh Lâm, Thuộc tổng cục 8, đóng trên địa bàn thị trấn Yên Cát, Như Xuân
Trang 40+ Trại giam Thanh Phong, thuộc Tổng cục 8, đóng trên địa bàn xã Minh Thọ, huyện Nông Cống
Thông qua nghiên cứu thực tiễn ở một số trại giam khu vực Thanh Hóa về việc đảm bảo quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù chúng ta có thể
có được cái nhìn rõ nét hơn xung quanh vấn đề này về thực trạng cũng như các quy định của pháp luật về đảm bảo quyền con người trong thi hành án phạt tù
2.1 Thực trạng pháp luật về đảm bảo quyền con người trong thi hành
án phạt tù
2.1.1 Thực trạng các quy định pháp luật về đảm bảo quyền con người trong thi hành án phạt tù trong Hiến pháp 2013
Trên cơ sở nhận thức pháp lý ngày càng sâu sắc và thực hiện Công ước quốc
tế về quyền con người mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, Hiến pháp 2013 khẳng định một lần nữa việc thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ quyền con người một cách mạnh
mẽ, rõ ràng và hiện đại nhất
Có thể nói rằng ghi nhận rõ ràng, cụ thể quyền con người và có những biện pháp đảm bảo quyền con người là một trong những thành tựu quan trọng của hoạt động lập hiến ở nước ta Các quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được đưa lên Chương 2 của Hiến pháp sau Chương về hệ thống chính trị Ngoài các quy định về quyền con người, Hiến pháp cũng có những quy định để đảm bảo thực hiện quyền con người
Hiến pháp ghi nhận các quyền con người đồng thời quy định các đảm bảo cũng như trách nhiệm của Nhà nước để các quyền đó được thực hiện Đó là quyền sống, tính mạng con người được pháp luật bảo hộ, không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật; quyền được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; quyền bất khả xâm phạm về thân thể, không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất
kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang; quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình,