Dưới góc độ pháp lý, đầu tư ra nước ngoài được hiểu theo nghĩa phổ thông là việc nhà đầu tư của quốc gia này bỏ vốn, tài sản hợp pháp theo các hình thức và cách thức do pháp luật quy địn
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế Việt Nam đang có những bước phát triển khá vượt bậc và dần ổn định so với các nước trong khu vực và trên thế giới Để đạt được thành quả đó có sự đóng góp của tất cả các ngành, thành phần kinh tế, trong đó phải kể đến hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài - ngày càng phát triển mạnh cả về chiều sâu và chiều rộng
Ngày 01/7/2006, Luật Đầu tư số 59/2006/QH10 ngày 29/11/2005 có hiệu lực, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở Việt Nam đã chính thức được luật hóa một cách có hệ thống hơn Không lâu sau, vào ngày 9 tháng 8 năm 2006 Chính phủ
đã ban hành Nghị định 78/2006/NĐ – CP nhằm cụ thể hóa những quy định của pháp luật đối với hoạt động này Với sự ra đời của Nhị định 78/2006/NĐ – CP là một đòn bẩy pháp lý an toàn cho các nhà đầu tư Việt Nam Có thể khẳng định, từ đây hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đã thật sự bước vào giai đoạn mới, giai đoạn vươn dậy để hoà mình vào sân chơi quốc tế
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một hình thức đầu khá phức tạp, mang tính rủi ro cao và còn non trẻ ở Việt Nam so với một số nước trên thế giới Tuy nhiên, những lợi ích mà hoạt động này mang lại đã góp phần không nhỏ thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế - chính trị quốc gia Qua gần 6 năm tồn tại, Nghị định 78/2006/NĐ – CP cũng như Luật Đầu tư đã tạo hành lang pháp lý cho hoạt động đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài ngày càng phát huy được vai trò quan trọng của mình Đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài đóng góp phần đáng kể vào nguồn thu của ngân sách quốc gia, góp phần củng cố và thúc đẩy mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với bạn bè quốc tế Tuy nhiên, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài hiện nay vẫn chưa thật
sự mang lại hiệu quả và chưa được quan tâm đúng mức nên khó thu hút được nhiều người nhà đầu tư tham gia Một phần là do những quy định của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài chưa thật sự hoàn chỉnh, việc áp dụng luật vào thực tiễn còn nhiều bất cập
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, cùng với kiến thức đã học,
người viết chọn đề tài: “Pháp luật Việt Nam về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài –
Những vấn đề lý luận và thực tiễn” để làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp.
2 Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài về mặt lý luận lẫn thực tiễn là vấn đề
có nội dung rộng và phức tạp Vì vậy, trong phạm vi của luận văn này người viết không thể xem xét toàn diện tất cả các nội dung của vấn đề Người viết chỉ dừng lại
ở việc nghiên cứu một cách khái quát nhất đối với hoạt động đầu tư này dưới cách
Trang 2tiếp cận của một sinh viên Luật Trên cơ sở nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam về chủ thể; lĩnh vực; hình thức; điều kiện; trình tự, cách thức cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư cùng một số quyền và nghĩa vụ cơ bản của nhà đầu tư khi tham gia vào hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Người viết sẽ tập trung nghiên cứu Nghị định 78/2006/NĐ – CP, ngày 9 tháng 8 năm 2006 Quy định về đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài và những quy định khác có liên quan
3 Mục tiêu nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài này người viết mong muốn làm sáng tỏ về mặt lý luận, chỉ ra những khiếm khuyết về mặt lập pháp, những bất cập khi áp dụng các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam đối với hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
So sánh các quy định này với các quy định trong các văn bản điều chỉnh hoạt động đầu tư này trước đây (Nghị định 22/1999/NĐ – CP, ngày 14 tháng 4 năm 1999 Quy định về đầu tư ra nước ngoài và Thông tư 05/2001/TT – BKH, ngày 30 tháng 8 năm
2001 Hướng dẫn hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam) để rút
ra những ưu và nhược điểm của pháp luật thực định Đồng thời, tìm hiểu việc áp dụng các quy định này trên thực tế để biết được những quy định nào của pháp luật hiện hành là chưa phù hợp, chưa đầy đủ, chưa rõ ràng cần được sửa đổi, bổ sung Trên cơ sở đó, đề xuất phương hướng khắc phục chung và một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở nước ta, phục
vụ mục tiêu phát triển kinh tế quốc gia và hội nhập vào đời sống khu vực và quốc tế
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, người viết sử dụng các phương pháp cụ thể như: phương pháp liệt kê, phương pháp phân tích luật viết, phương pháp so sánh, tổng hợp, phương pháp thu thập tổng hợp và xử lý thông tin, phương pháp nghiên cứu tài liệu để thực hiện việc nghiên cứu đề tài Cụ thể, người viết đã tiến hành phân tích làm rõ các kiến thức chuyên môn, từ đó xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề mình đang nghiên cứu Tiến hành trình bày các quy định của pháp luật, giải thích và chỉ ra các mặt tích cực và những điểm tồn tại trong các quy định này Sau đó so sánh, đánh giá giữa cơ sở lý luận và thực tiễn có mâu thuẫn hay không thống nhất nhau Từ đó, người viết đã tổng hợp các vấn đề này lại để có cách nhìn tổng quát và đúng bản chất hơn của vấn đề
Trang 3Tiếp theo, trong chương 2 người viết đi sâu phân tích, làm rõ những quy định của luật thực định đối với hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Cuối cùng, ở chương 3 sẽ trình bày thực trạng của hoạt động đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài, nguyên nhân dẫn đến những những hạn chế của luật thực định và đề
ra những phương hướng giải quyết, biện pháp khắc phục tình trạng đó
Trang 4CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) bao gồm 2 dòng1: (1) Thu hút FDI từ nước ngoài vào trong nước; (2) Tiến hành đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Thực tế đã cho thấy, FDI có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu nói chung và nền kinh tế từng quốc gia nói riêng Một số nước đang phát triển dường như chỉ chú trọng thu hút FDI để phát triển nền kinh tế trong nước Với quan điểm cho rằng, chỉ có những quốc gia đã phát triển có nguồn vốn khá dồi dào mới thực hiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Nhưng thực tế đã chứng minh rằng, một quốc gia tiến hành đầu tư trực tiếp ra nước ngoài càng nhiều thì càng có nhiều cơ hội vượt qua các rào cản của các nước nhập khẩu nhằm mở rộng thị trường, tạo thêm việc làm, đa dạng hoá hoạt động kinh doanh, phân tán rủi ro do quá tập trung vào một thị trường nhất định và tăng động lực phát triển kinh tế đất nước Hơn
thế nữa, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (ĐTRN) còn tạo điều kiện để các doanh nghiệp tự hoàn thiện mình và hoàn thiện các chính sách phát triển kinh tế của đất nước
Dù có nhiều vấn đề đặt ra nhưngViệt Nam đã và đang thành công trong thu
hút và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ năm 1987 đến nay và
xu hướng mới đang trỗi dậy trong vài năm trở lại đây, đó là sự gia tăng dòng vốn đầu trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam Vậy hiểu thế nào là đầu trực tiếp ra nước ngoài? Hình thức đầu tư này có đặc điểm như thế nào? Và tại sao phải tìm hiểu bản chất cũng như vai trò của nó trong con đường xây dựng và phát triển đất nước? Một cách khái quát nhất có thể nói, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là việc nhà đầu tư di chuyển vốn để tiến hành hoạt động đầu tư trên lãnh thổ của một quốc gia khác, với mục đích chính là tìm kiếm lợi nhuận và chuyển các khoản lợi nhuận đó về nước Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn bản chất cũng như những ảnh hưởng của hoạt động này đến sự phát triển của một quốc gia, người viết xin được trình bày những hiểu biết của mình về vấn đề này qua những phần tiếp sau đây
1.1 Khái niệm về đầu tư ra nước ngoài và đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
1.1.1 Khái niệm về đầu tư ra nước ngoài
Đầu tư ra nước ngoài là một dạng của hình thức đầu tư quốc tế2, theo đó hoạt động đầu tư quốc tế được thực hiện chủ yếu dưới hai dạng là đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
1 PGS TS Nguyễn Thị Hường, Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam,Tạp chí kinh tế
Trang 5và đầu tư gián tiếp ra nước ngoài Hiện nay, thuật ngữ về đầu tư ra nước ngoài được tiếp cận và hiểu dưới nhiều phương diện khác nhau
Trong khoa học kinh tế, đầu tư ra nước ngoài được quan niệm là hoạt động sử dụng cơ bản các nguồn lực hiện tại của một quốc gia để di chuyển các nguồn lực này sang lãnh thổ của một quốc gia khác, nhằm tiến hành các hoạt động cần thiết với mục đích cuối cùng là đem lại cho nền kinh tế - xã hội của quốc gia đó lợi nhuận trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng ban đầu3 Ngoài ra, cũng có quan điểm cho rằng4: “Đầu tư nước ngoài là sự di chuyển vốn từ nước của người đầu tư
sang nước của người sử dụng nhưng không phải để mua hàng hoá tiêu dùng của nước này mà dùng để chi phí cho các hoạt động có tính chất kinh tế xã hội” Các
nguồn lực được sử dụng cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài có thể là tiền, nguyên vật liệu, sức lao động, trí tuệ… Từ đó cho thấy, đầu tư ra nước ngoài được xem là một trong những nhân tố không thể thiếu để góp phần xây dựng và phát triển nền kinh tế của một quốc gia, là chìa khóa của đòn bẩy kinh tế thế giới Đồng thời mọi hoạt động đầu tư nói chung và đầu tư ra nước ngoài nói riêng suy cho cùng đều hướng tới những lợi ích xác định Những lợi ích đạt được từ hoạt động đầu tư ra nước ngoài không chỉ trực tiếp mang đến lợi ích cho nhà đầu tư mà còn mang lại lợi ích cho nền kinh tế và toàn xã hội của quốc gia đi đầu tư
Dưới góc độ pháp lý, đầu tư ra nước ngoài được hiểu theo nghĩa phổ thông là việc nhà đầu tư của quốc gia này bỏ vốn, tài sản hợp pháp theo các hình thức và cách thức do pháp luật quy định để tiến hành thực hiện các hoạt động cần thiết trên lãnh thổ một quốc gia khác nhằm mục đích lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội khác Hoạt động đầu tư ra nước ngoài có thể có tính chất là kinh doanh thương mại hoặc phi thương mại Tuy nhiên, phần nhiều trong khoa học pháp lý cũng như trong việc xây dựng chính sách, hệ thống pháp luật về đầu tư ra nước ngoài của các nước trên thế giới hiện nay chủ yếu đề cập đến là đầu tư ra nước ngoài trong kinh doanh thương mại; với bản chất là sự chi phí của cải vật chất nhằm mục đích làm gia tăng giá trị tài sản hay tìm kiếm lợi nhuận
Theo hiệp hội luật quốc tế (1966) thì: “Đầu tư nước ngoài là sự di chuyển vốn
từ nước của chủ đầu tư sang nước của người sử dụng nhằm xây dựng ở đó xí nghiệp kinh doanh hoặc dịch vụ” Ở Việt Nam, khái niệm đầu tư ra nước ngoài được hiểu
theo khuôn khổ pháp lý thống nhất, điều chỉnh các hoạt động đầu tư ra nước ngoài
3 Pháp luật đầu tư ra nước ngoài ở Việt Nam – Thực trạng và hướng hoàn thiện, Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật niên khóa 2005 – 2009, Trường Đại học Cần thơ – Khoa Luật
4 Tình hình đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam, tại http://docs.4share.vn/docs/16462/Tinh_hinh_dau_tu_truc_tiep_ra_nuoc_ngoai_cua_cac_doanh_nghiep_Viet_ Nam.html
Trang 6trước thời điểm Luật Đầu tư năm 2005 là Nghị định số 22/1999/NĐ – CP, ngày 14 tháng 4 năm 1999 Quy định về đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam, Thông tư 05/2001/TT – BKH, ngày 30 tháng 8 năm 2001 của Bộ Kế hoạch và Đầu
tư hướng dẫn hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam cùng một
số văn bản pháp luật có liên quan
Tại Khoản 1 Điều 1 Nghị định 22/1999/NĐ – CP đưa ra định nghĩa: “Đầu tư ra
nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam là việc Doanh nghiệp Việt Nam đưa vốn bằng tiền, tài sản khác ra nước ngoài để đầu tư trực tiếp ở nước ngoài theo quy định của Nghị định này;” Cùng với định nghĩa về đầu tư ra nước ngoài theo Nghị định
22/1999/NĐ – CP thì Khoản 2 Điều 1 Thông tư 05/2001/BKH cũng gián tiếp quy
định hoạt động này như sau: “Thông tư này chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp Việt
Nam đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức đưa vốn bằng tiền hoặc các tài sản được phép khác ra nước ngoài để đầu tư trực tiếp theo quy định của Nghị định số 22/1999/NĐ – CP, ngày 14 tháng 4 năm 1999 của Chính phủ.”
Với cách hiểu của 2 khái niệm được quy định tại Khoản 1 Điều 1 Nghị định 22/1999/NĐ – CP và Khoản 2 Điều 1 Thông tư 05/2001/BKH, hoạt động đầu tư ra nước ngoài có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, hình thức đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam là đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài
Hình thức đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam theo quy định của pháp luật là hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Tuy nhiên, không phải mọi hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam đều được điều chỉnh bởi Nghị định số 22/1999/NĐ – CP Bên cạnh đó, các quan hệ đầu tư gián tiếp ra nước ngoài hoặc tín dụng quốc tế cũng không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này Điều này đã lý giải cho lý do tại sao Khoản 2 Điều 1 Nghị định 22/1999/NĐ – CP5 và Khoản 3 Điều 1 Thông tư 05/2001/TT – BKH6 ghi nhận không điều chỉnh việc đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam dưới các hình thức cho vay tín dụng, mua cổ phiếu hoặc đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm
Thứ hai, chủ thể tiến hành hoạt động đầu tư ra nước ngoài là các doanh
nghiệp được nêu trong Nghị định 22/1999/NĐ – CP
Chủ thể được phép tiến hành hoạt động đầu tư ra nước ngoài chỉ có thể là doanh nghiệp Tuy nhiên, không phải mọi doanh nghiệp đều được phép đầu tư ra nước ngoài trong khuôn khổ của Nghị định 22/1999/NĐ – CP, mà chỉ có một số doanh nghiệp Việt Nam được nêu tại Khoản 1 Điều 2 Nghị định 22/1999/NĐ – CP và được
5 Xem Khoản 2, Điều 1, Nghị định 22/1999/NĐ – CP, ngày 14 tháng 4 năm 1999.
6 Xem Khoản 3, Điều 1, Thông tư 05/2001/TT – BKH, ngày 30 tháng 8 năm 2001.
Trang 7hướng dẫn cụ thể tại Khoản 1 Điều 1 Thông tư 05/2001/TT – BKH7 mới được đầu tư
ra nước ngoài Từ điều khoản vừa nêu nhận thấy, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sẽ không thuộc đối tượng chịu sự điều chỉnh của Nghị định 22/1999/NĐ – CP mà sẽ được thực hiện theo quy định riêng của Chính phủ8
Như vậy, định nghĩa về đầu tư ra nước ngoài theo quy định của Nghị định 22/1999/NĐ – CP và Thông tư 05/2001/TT – BKH vẫn còn nhiều hạn chế, chưa bao quát hết nội hàm và đặc điểm của hình thức đầu tư ra nước ngoài Do đó, ít nhiều đã hạn chế quyền lợi tự do kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như các chủ thể khác khi muốn đầu tư ra nước ngoài
Hiện nay, các quy định của pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư ra nước ngoài
đã chính thức được pháp điển hóa trong Luật Đầu tư năm 2005 Theo quy định của
Luật Đầu tư năm 2005, cụ thể là Khoản 14 Điều 3 có nêu: “Đầu tư ra nước ngoài là
việc nhà đầu tư đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác từ Việt Nam ra nước ngoài để tiến hành hoạt động đầu tư” Bên cạnh đó, Pháp lệnh ngoại hối năm 2005
cũng khái quát hoạt động đầu tư ra nước ngoài tại Khoản 14 Điều 4: “Đầu tư ra
nước ngoài là việc người cư trú chuyển vốn ra nước ngoài để đầu tư dưới các hình thức theo quy định của pháp luật”.
So với những quy định trước đây, khái niệm đầu tư ra nước ngoài theo quy định của Luật Đầu tư năm 2005 không còn bị giới hạn theo tiêu chí hình thức đầu tư và chủ thể của quan hệ đầu tư như trong Nghị định 22/1999/NĐ – CP Điều này có nghĩa là, đầu tư ra nước ngoài có thể được thực hiện dưới hình thức ĐTRN và đầu tư gián tiếp ra nước ngoài của các tổ chức, cá nhân mà theo quy định của pháp luật Việt Nam được phép tiến hành hoạt động đầu tư9
Trên cơ sở pháp lý cũng như cơ sở thực tế hình thành nên những quy định của pháp luật đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài xuất phát từ mục tiêu đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế thế giới, góp phần vào công cuộc phát triển nền kinh tế -
xã hội của nước nhà và cũng nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân trong hoạt động kinh doanh10
Từ khi Luật Đầu tư năm 2005 ra đời đã phân biệt giữa hoạt động đầu tư ra nước ngoài và hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Điều này là một điểm tiến bộ trong quy định pháp luật Việt Nam đối với hình thức đầu tư ra nước ngoài so với giai đoạn trước đó Như đã phân tích trên, hoạt động đầu tư ra nước ngoài được thực hiện
7 Xem Khoản 2, Điều 2, Nghị định 22/1999/NĐ – CP, ngày 14 tháng 4 năm 1999.
8 Xem Khoản 1, Điều 1, Thông tư 05/2001/TT – BKH, ngày 30 tháng 8 năm 2001.
9 Giáo trình Luật đầu tư, Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, Hà Nội năm 2006, trang 180.
10 Xem Điều 57, Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm 1992 đã được sửa đổi bổ sung năm 2001.
Trang 8dưới hai hình thức là đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và đầu tư gián tiếp ra nước ngoài11 Việc tìm hiểu nội hàm, đặc điểm và ý nghĩa của hoạt động ĐTRN sẽ được người viết trình bày ở mục kế tiếp Nhìn chung, về bản chất cũng như về đặc điểm của hai hình thức đầu tư vừa nêu hoàn toàn khác nhau đồng thời những quy định pháp luật điều chỉnh hai hoạt động này cũng cơ bản khác nhau (đầu tư gián tiếp ra nước ngoài phải thực hiện theo những quy định của pháp luật chuyên ngành như: pháp luật về ngân hàng, chứng khoán, pháp luật về quản lý ngoại hối và các quy định của pháp luật khác có liên quan) Trong khi đó tại Khoản 1 Điều 1 Nghị định 22/1999/NĐ – CP lại chỉ rõ hoạt động đầu tư ra nước ngoài theo Nghị định này là
ĐTRN nhưng ngay tên gọi của Nghị định 22/1999/NĐ – CP lại là “quy định về đầu
tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam” So về mặt câu chữ thì điều này có vẻ
chưa hợp lý, bởi chưa xác định rõ phạm vi điều chỉnh của văn bản này
Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay thì đa phần khi các nhà đầu tư Việt Nam tiến hành hoạt động đầu tư ra nước ngoài đều thực hiện dưới dạng ĐTRN; công tác quản
lý của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài được đề cập chủ yếu là hình thức ĐTRN, những quy định về đầu tư gián tiếp ra nước ngoài sẽ phụ thuộc vào từng quy định riêng của pháp luật chuyên ngành Như vậy, khi nhắc đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài trong công tác quản lý chuyên ngành của Bộ Kế hoạch và Đầu tư có thể hiểu ngầm chính là hoạt động ĐTRN Do đó, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này người viết chỉ tập trung phân tích, tìm hiểu quy định của pháp luật hiện hành đối với hoạt động ĐTRN của nhà đầu tư Việt Nam
1.1.2 Khái niệm về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Gần đây, khái niệm ĐTRN hay còn gọi là đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được nhiều tổ chức kinh tế quốc tế đưa ra nhằm mục đích giúp các quốc gia hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô của đất nước; đồng thời góp phần tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động tự do hóa thương mại và đầu tư quốc tế12 ĐTRN được hiểu là một loại hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó người sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn Sự ra đời và phát triển của ĐTRN là kết quả tất yếu của quá trình quốc tế hoá và phân công lao động quốc tế
Theo từ điển bách khoa toàn thư thì “đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI =
Foreign Direct Investment) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này”
11 Hình thức đầu tư ra nước ngoài mà các đầu tư thông qua thị trường tài chính mua cổ phần hoặc chứng khoán của các công ty nước tiếp nhận đầu tư nhằm thu lại lợi nhuận dưới hình thức cổ tức hoặc thu nhập chứng khoán mà không tham gia điều hành trực tiếp đối với đối tượng mà họ bỏ vốn ra đầu tư Xem Giáo trình Luật đầu tư, Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, Hà Nội năm 2006, trang 178.
12 ThS Nguyễn Văn Tuấn, Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển kinh tế ở Việt Nam, NXB Tư pháp, năm
2005, trang 27.
Trang 9Bên cạnh đó, Qũy tiền tệ thế giới (International Moneytary Fund – IMF), trong báo cáo cán cân thanh toán hàng năm đã đưa ra định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau13: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư có lợi ích lâu dài của một
doanh nghiệp tại một đất nước khác (nước nhận đầu tư – hosting country), không phải tại nước mà doanh nghiệp đang hoạt động (nước đi đầu tư – source country) với mục đích quản lý một cách có hiệu quả doanh nghiệp” Như vậy, ĐTRN được sử
dụng chủ yếu trong hoạt động đầu tư mang tính chất dài hạn và luôn có sự di chuyển dòng vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác bằng cách thiết lập các dự án đầu tư tại
đó, đồng thời chủ đầu tư sẽ trực tiếp tham gia quản lý đối tượng mà họ đã bỏ vốn đầu tư
Ngoài ra, cũng có một số cách hiểu khác khi tiếp cận với khái niệm về ĐTRN
Theo Tổ chức Thương mại Thế giới định nghĩa: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ
sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là
"công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty”
Trong nhiều năm qua tốc độ phát triển nền kinh tế của Việt Nam có những thay đổi vượt bậc, môi trường kinh doanh trong nước trở nên sôi động và “chật chội” hơn,
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trở nên gay gắt; đã dẫn đến một nhu cầu tất yếu là
ĐTRN Tuy nhiên, khi tiến hành tiềm kiếm cơ hội đầu tư mới ở các quốc gia khác là điều không dễ Bên cạnh việc đòi hỏi tự bản thân mỗi doanh nghiệp phải năng động, nhạy bén trong chiến lược đầu tư mà còn có một cơ chế quản lý phù hợp, một hành lang pháp lý an toàn để hạn chế những khó khăn cho các doanh nghiệp này Đặc biệt, kể từ khi Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thì vấn đề này ngày càng trở nên cần thiết hơn Vì thế, trong những năm qua hoạt động ĐTRN cũng được nhiều học giả của Việt Nam nghiên cứu đến
Theo cách hiểu của các doanh nghiệp Việt Nam, thì hoạt động ĐTRN là việc các nhà đầu tư Việt Nam đưa vốn ra nước ngoài để trực tiếp đầu tư quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh với mong muốn mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, hoặc dịch
vụ và thu được lợi nhuận cao hơn so với trong nước Định nghĩa này còn được cụ thể
hóa bằng quy định của pháp luật, tại Khoản 1 Điều 3 Nghị đinh 78/2006/NĐ – CP,
ngày 9 tháng 8 năm 2006 Quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có nêu: “Đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó ở nước
13 Blance of payments fifth edition, Whashington, DC, IMF 1993, page 235.
Trang 10ngoài” Từ định nghĩa này, theo người viết nhận thấy hoạt động đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam được cấu thành bởi hai yếu tố chính sau: (1) đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nhất định phải tồn tại yếu tố chuyển dịch vốn của nhà đầu tư ra khỏi lãnh thổ của một quốc gia; (2) phải có sự trực tiếp tham gia quản lý, điều hành dự án đầu tư đó của chủ đầu tư trên quốc gia tiếp nhận đầu tư Đây là hai yếu tố cần và đủ để hình thành khái niệm của hoạt động ĐTRN theo quy định của pháp luật Việt Nam nói riêng và cách hiểu của Việt Nam cũng gần giống với quan điểm về ĐTRN của các nước trên thế giới nói chung mà người viết đã trình bày phía trên
Tóm lại, để phân biệt giữa đầu tư ra nước ngoài và đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cơ bản căn cứ vào hai yếu tố: (1) có sự tham gia quản lý chủ nhà đầu tư đối với
dự án đầu tư ở nước tiếp nhận hay không; (2) thời gian tiến hành toàn bộ dự án Nếu một nhà đầu tư di chuyển vốn để tiến hành một dự án kinh doanh dài hạn ở nước ngoài và trực tiếp tham gia quản lý dự án đầu tư đó thì sẽ chịu điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Ngược lại, thì nhà đầu tư đang tiến hành hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài và tùy thuộc vào từng hình thức cụ thể
sẽ chịu sự điều chỉnh của quy định pháp luật riêng
1.2 Bản chất và đặc điểm của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
1.2.1 Bản chất đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Qua quá trình tìm hiểu và phân tích các định nghĩa về ĐTRN theo nhiều cách tiếp cận khác nhau, đồng thời xem xét khái niệm này song song với tiến trình lịch sử hình thành và phát triển trong từng giai đoạn của pháp luật đầu tư ra nước ngoài ở Việt Nam Người viết nhận thấy bản chất cơ bản của hoạt động ĐTRN là nhằm mục đích khai thác hay tìm kiếm lợi nhuận ở nước tiếp nhận đầu tư, thông qua việc di chuyển nguồn vốn bằng tiền, tài sản hợp pháp, trình độ khoa học kỹ thuật…từ nước
đi đầu tư đến nước tiếp nhận đầu tư Đồng thời, thông qua hoạt động ĐTRN, quốc gia đi đầu tư cũng có cơ hội để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào quốc gia mình,
từ đó thúc đẩy mối quan hệ ngoại giao tốt đẹp với bạn bè quốc tế Ở đây, nhà đầu tư
có thể là tổ chức hay cá nhân và họ chỉ mong muốn ĐTRN khi khoản đầu tư đó đem lại lợi ích hoặc lợi nhuận cho họ Đây cũng là một trong những đặc điểm cơ bản và là nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc hầu hết các nước trên thế giới hiện này tiến hành ĐTRN
1.2.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Khi tìm hiểu hoạt động ĐTRN dưới góc độ pháp lý ta thấy có những đặc điểm
cơ bản sau:
Thứ nhất, dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thường mang tính chất lâu dài
Trang 11Hoạt động đầu tư vốn là việc bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào một công việc có xác định trước trên cơ sở tính đến yếu tố kinh tế - xã hội để sau một khoản thời gian nhất định thu được những lợi ích đã đặt ra trước đó (điều này không phải luôn luôn được đảm bảo vì đầu tư là hoạt động mang tính rủi ro rất cao) Toàn bộ thời gian để thực hiện một dự án ĐTRN dài hay ngắn còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: lĩnh vực đầu tư, quá trình luân chuyển vốn, môi trường đầu tư mới có thuận lợi như dự kiến ban đầu không… Do đó, trong một khoản thời gian quá ngắn thì nhà đầu tư không thể nào thu được kết quả từ dự án này Đây là một trong những điểm để phân biệt giữa ĐTRN và đầu tư gián tiếp ra nước ngoài Nếu là đầu tư gián tiếp ra nước ngoài thường chu kỳ luân chuyển của dòng vốn có thời gian hoạt động ngắn, kéo theo lợi nhuận thu được từ hoạt động này cũng nhanh hơn; chỉ cần thông qua việc mua, bán chứng khoán (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác) thì nhà đầu tư có thể thu lại vốn gốc và lợi nhuận phát sinh nếu có Chính vì thế, đầu tư gián tiếp ra nước ngoài có tính thanh khoản cao hơn so với ĐTRN và gần như dễ dàng thu lại số vốn đầu tư ban đầu khi chủ đầu tư đem bán chứng khoán14.
Thứ hai, dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có sự tham gia quản lý của chủ
đầu tư ĐTRN luôn mang tính rủi ro cao vì nơi tiến hành đầu tư là trên lãnh thổ của
một quốc gia khác, môi trường đầu tư này không chỉ đem lại nhiều cơ hội đầu tư mới, hứa hẹn một kết quả đầu tư khả quan mà còn tiềm ẩn nhiều rủi ro khó lường hết Việc trực tiếp tham gia quản lý và điều hành hoạt động ĐTRN đã phần nào tạo tâm lý an tâm cho chủ đầu tư và ít nhiều hạn chế được những khó khăn, rủi ro khi thực hiện dự án; điều này cho thấy sự cần thiết của quy định pháp luật cho phép chủ đầu tư khi ĐTRN được trực tiếp điều phối, tham gia quản lý dự án đầu tư mà mình
đã bỏ vốn Tuy nhiên, quyền tham gia quản lý và kiểm soát doanh nghiệp trong hoạt động ĐTRN ở mức độ nào còn phụ thuộc vào quy định pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư Nếu góp 100% vốn thì đối tượng đầu tư hoàn toàn do chủ đầu tư điều hành và quản lý
Thứ ba, nguồn vốn đầu tư của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài chủ yếu
là của tư nhân, không bao hàm nguồn vốn của Chính phủ và các tổ chức quốc tế dưới dạng hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và tín dụng thương mại Do đó nhà đầu tư
có toàn quyền quyết định đầu tư trong khuôn khổ của pháp luật nước đi đầu tư cũng như nước tiếp nhận đầu tư và họ tự gánh chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư Cho nên hình thức đầu tư này ít chịu ảnh hưởng và những ràng buộc về chính trị15
Thứ tư, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài gắn với quá trình hội nhập
Trang 12Trước xu thế chung là ngày càng mở rộng quan hệ đầu tư ra bên ngoài của các
quốc gia trong khu vực và trên thế giới, thì ĐTRN là một hướng đi mới được nhiều
quốc gia vận dụng có hiệu quả để sớm đạt được mục tiêu trên Thực tế đã chứng minh, hoạt động ĐTRN là cầu nối giữa quốc gia này với quốc gia kia, giữa các nước phát triển với nước đang và kém phát triển với phương châm “hợp tác để cùng phát triển bền vững, trên cơ sở bình đẵng, hữu nghị” Trên cơ sở tăng cường hợp tác đầu
tư trong mọi lĩnh vực đã rút ngắn con đường phát triển kinh tế của quốc gia; đồng thời tạo đòn bẩy cho tiến trình hội nhập nền kinh tế thế giới Điều này có nghĩa là, chỉ có hội nhập trong “sân chơi” quốc tế thì mỗi quốc gia mới có nhiều cơ hội thuận lợi để phát triển nền kinh tế nội bộ của mình
Thứ năm, thông qua hoạt động ĐTRN cả nước đi đầu tư và nước tiếp nhận đầu
tư đều có những lợi ích và thiệt hại nhất định Những lợi ích cũng như mặt tồn tại của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài sẽ được người viết trình bày, đi sâu phân tích trong phần sau
1.3 Hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Hình thức đầu tư là cách tiến hành hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư theo quy định của pháp luật Trong điều kiện kinh tế thị trường hình thức đầu tư kinh doanh ngày càng trở nên phong phú, đa dạng; mỗi hình thức đầu tư có những ưu, nhược điểm và mang đặc điểm riêng nhất định về cách thức đầu tư vốn, tính chất liên kết và phân chia kết quả kinh doanh giữa các nhà đầu tư Căn cứ vào nhu cầu và điều kiện
cụ thể mình, các nhà đầu tư có quyền lựa chọn các hình thức đầu tư thích hợp theo quy định của pháp luật16
Theo cách lý giải trên thì hình thức ĐTRN không chỉ tuân theo quy định của pháp luật nước đi đầu tư mà còn chịu sự chi phối bởi hệ thống pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư Từ đó, có thể hiểu hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là hình thức đầu tư mà ở đó chủ thể đầu tư sẽ đóng góp vốn vào dự án mà họ đầu tư và nắm quyền quản trị kinh doanh; người đầu tư vốn đồng thời là người sử dụng vốn
Qua quá trình tìm hiểu các hình thức ĐTRN của các nước trên thế giới, cơ bản có hai hình thức đầu tư phổ biến sau:
1.3.1 Căn cứ vào chủ thể được đầu tư
Đây là nhóm hình thức đầu tư mà các chủ thể thực hiện đầu tư ở nước ngoài thông qua việc thành lập một doanh nghiệp mới (có thể có hoặc không có tư cách pháp nhân tùy thuộc vào quy định pháp luật của quốc gia sở tại) Thực tiễn cho thấy, đây là kênh đầu tư truyền thống và thường gặp ở các nước đang phát triển; do hình thức đầu tư này bổ sung thêm vốn cho nước nhận đầu tư, tạo thêm nhiều việc làm
16 Giáo trình Luật đầu tư, Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân Hà Nội, năm 2006, trang 12.
Trang 13cho người lao động bản địa Nhóm hình thức đầu tư này cơ bản có hai dạng: Đầu tư vào tổ chức kinh tế và đầu tư theo hợp đồng.
Thứ nhất, đầu tư dưới mô hình tổ chức kinh tế (thành lập tổ chức mới hoặc góp vốn)
Đầu tư dưới mô hình tổ chức kinh tế với nội dung là nhà đầu tư bỏ vốn để thành lập mới các cơ sở kinh doanh hoặc góp vốn vào vốn điều lệ nhằm nắm quyền quản trị của đơn vị kinh doanh đang hoạt động Theo quy định chung, hình thức đầu
tư vào tổ chức kinh tế bao gồm: Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư
và hình thức doanh nghiệp liên doanh
Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư:
Hình thức thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư là nhà đầu tư bỏ toàn bộ vốn để tiến hành triển khai dự án Chủ đầu tư có quyền điều hành toàn bộ doanh nghiệp theo quy định của nước tiếp nhận đầu tư, đồng thời tự chịu trách nhiệm
đối với kết quả đầu tư
Hình thức tổ chức kinh tế liên doanh:
Đầu tư với hình thức doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập
do một hoặc nhiều chủ đầu tư nước ngoài góp vốn với doanh nghiệp nước sở tại trên
cơ sở hợp đồng liên doanh Doanh nghiệp được thành lập theo phương thức này sẽ
có tư cách pháp lý một pháp nhân; các bên cùng tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp và cùng chịu rủi ro tương ứng theo tỷ lệ vốn góp của mỗi bên Trong hình thức đầu tư doanh nghiệp liên doanh, pháp luật của một số nước quy định tỷ lệ góp vốn tối thiểu hoặc tối đa khi liên doanh; cũng có thể là tỷ lệ chung cho tất cả các lĩnh lực hoặc tùy vào từng lĩnh vực cụ thể
Như theo quy định tại Điều 7 Luật Khuyến khích đầu tư nước ngoài năm 2004
của Lào thì“nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức liên doanh phải góp ít nhất
được sửa đổi vào năm 2007 thì “nhà đầu tư nước ngoài không được sở hữu quá 50%
tiểu mục (ii) Luật Đầu tư nước ngoài của Myanmar “nếu một liên doanh được hình
Thứ hai, đầu tư theo hình thức hợp đồng
Khác với hình thức đầu tư vào tổ chức kinh tế, ở nhóm hình thức đầu tư theo hợp đồng việc đầu tư vốn kinh doanh của nhà đầu tư được tiến hành trên cơ sở hợp đồng giao kết giữa các nhà đầu tư hoặc giữa nhà đầu tư với Nhà nước của nước nhận đầu tư (các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) Nhà đầu tư trực tiếp tiến hành các
17 Xem Điều 7, Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, năm 2004.
18 http://vov.vn/Home/Thai-Lan-sua-doi-luat-dau-tu-nuoc-ngoai/20071/51098 vov.
19 Xem tiểu mục (ii), Mục 6, Luật Đầu tư nước ngoài của Myanmar.
Trang 14hoạt động kinh doanh với tư cách pháp lý của mình phù hợp với nội dung thỏa thuận trong hợp đồng
Khi nhà đầu tư lựa chọn hình thức đầu tư theo hợp đồng ngoài việc tuân thủ theo quy định về pháp luật đầu tư ra nước ngoài mà còn phải tuân theo các quy định
có liên quan trong hệ thống pháp luật của quốc gia sở tại Nhóm hình thức đầu tư theo hợp đồng bao gồm các dạng: Hợp tác kinh doanh (BCC), đầu tư theo hình thức hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (BTO) và hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT)
Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC):
Đây là hình thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giao kết giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm Hình thức đầu tư này không thành lập pháp nhân và khi hết thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng các bên không còn ràng buộc về mặt pháp lý Hợp tác kinh doanh có thể là hợp tác song phương hoặc hợp tác đa phương
Hình thức hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT), xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (BTO) và xây dựng – chuyển giao (BT):
Hình thức hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT), là hình
thức đầu tư được ký kết với cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước tiếp nhận đầu
tư với chủ đầu tư nước ngoài để xây dựng rồi sau đó quản lý, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một khoản thời gian nhất định; khi hết thời hạn kinh doanh chủ đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình cho Nhà nước tiếp nhận đầu tư
Các biến thể của hình thức hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao là hình thức hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh và hình thức hợp đồng xây dựng – chuyển giao, sau đây gọi tắt là hình thức BOT, BTO và BT BTO là hình thức đầu tư được ký kết giữa cơ quan có thẩm quyền của nước tiếp nhận đầu tư với nhà đầu tư về việc xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong nhà đầu
tư chuyển giao quyền sở hữu công trình đó cho nước tiếp nhận đầu tư nhưng theo đó Chính phủ của nước tiếp nhận đầu tư sẽ dành quyền kinh doanh cho nhà đầu tư trong một khoản thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý Ở hình thức BT, sau khi xây dựng xong công trình, nhà đầu tư chuyển giao quyền sở hữu công trình cho nước nhận đầu tư, Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư sẽ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn và có lợi nhuận hợp lý
1.3.2 Căn cứ vào phương thức đầu tư
Khi căn cứ vào phương thức đầu tư thì hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
cơ bản có hình thức mua bán, sáp nhập doanh nghiệp
Mua bán, sáp nhập doanh nghiệp là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư tiến hành quyền đầu tư bằng việc mua lại, liên minh, sáp nhập các doanh nghiệp hiện có ở
Trang 15nước tiếp nhận đầu tư Thông thường dạng đầu tư này được thực hiện đa phần bởi các nước phát triển và những nước công nghiệp mới Với hình thức đầu tư liên minh, sáp nhập không mang tính chất làm tăng thêm nguồn vốn cho quốc gia sở tại mà chỉ làm chuyển quyền sở hữu vốn của chủ doanh nghiệp, bên cạnh nó cũng không tạo việc làm mới mà thậm chí có thể làm giảm số lao động hiện có trong doanh nghiệp
do việc tinh giản cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp dẫn đến nhu cầu cắt giảm lao động không cần thiết Nhưng nếu không tiến hành sáp nhập thì rất có thể dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản, điều này càng làm cho số lượng công nhân thất nghiệp sẽ cao hơn Tuy nhiên, lợi ích trực tiếp của hình thức đầu tư liên minh, sáp nhập là làm gia tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp mới, tạo
ra nhiều tập đoàn doanh nghiệp có vị trí chủ chốt trong nền kinh tế
Nhìn chung, với mỗi hình thức ĐTRN luôn song song tồn tại hai mặt ưu và nhược điểm Do đó, tùy thuộc vào khả năng vốn, lĩnh vực, ngành nghề đầu tư, quy định pháp luật của quốc gia sở tại… mà nhà đầu tư có những lựa chọn phù hợp để đạt được kết quả đầu tư tốt nhất
1.4 Vai trò của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
ĐTRN hiện nay là xu thế tất yếu của mỗi quốc gia để hòa mình vào nền kinh tế chung thế giới Không những thế, ĐTRN có vai trò to lớn đối với việc phát triển kinh
tế, thương mại của nước đi đầu tư lẫn nước tiếp nhận đầu tư Thật vậy, hoạt động ĐTRN đã mang lại nhiều lợi ích như mang lại nguồn thu ngoại tệ, tận dụng được lợi thế của nước đi đầu tư, nâng cao trình độ - năng lực quản lý cho doanh nghiệp, khẳng định vị trí và nâng cao vị thế của quốc gia đầu tư trên thị trường quốc tế, thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa các nước trên thế giới,…
1.4.1 Những ảnh hưởng tích cực của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
1.4.1.1 Về mặt lý luận chung
Thứ nhất, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài mang về nguồn thu ngoại tệ góp
phần vào công cuộc xây dựng đất nước
Việc phát triển kinh tế của một đất nước đòi hỏi phải có nguồn lực tài chính
đủ lớn, nguồn lực tài chính này được huy động từ hai nguồn chủ yếu là vốn trong nước và vốn nước ngoài Hoạt động ĐTRN góp phần không nhỏ tạo ra nguồn vốn chung cho đất nước Bởi hoạt động ĐTRN giúp cho các doanh nghiệp có nhiều cơ hội để phát triển hơn, sử dụng vốn có hiệu quả làm tăng doanh thu, giảm chi phí từ
đó lợi nhuận cũng tăng, khả năng tài chính của doanh nghiệp được củng cố Do vậy,
ý thức thực hiện nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp đối với Nhà nước được thực hiện nghiêm chỉnh hơn; thông qua các nghĩa vụ đóng thuế đã góp một phần không nhỏ vào ngân sách Nhà nước
Trang 16Thứ hai, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài tận dụng được nguồn lực trong nước
Mỗi quốc gia đều phát triển nền kinh tế với những lợi thế riêng của mình, nếu quốc gia nào biết khai thác có hiệu quả, tận dụng những lợi thế đó một cách tối ưu thì
sẽ tạo ra những bước nhảy vọt trong nền kinh tế cho chính quốc gia đó Tuy nhiên, hầu hết các nước có nền kinh tế còn đang phát triển, việc sử dụng các nguồn lực trong nước vẫn chưa thật sự có hiệu quả, chưa tiết kiệm vì nhiều nguyên nhân khác nhau Do vậy, một khi tiến hành hoạt động ĐTRN thì cũng đồng nghĩa với việc nhà đầu tư ít nhiều đã mang theo những nguồn lực tương đối dư thừa so với nhu cầu đầu
tư trong nước để sử dụng có hiệu quả hơn Khi tiến hành kinh doanh trong môi trường mới, với trình độ quản lý – đào tạo kinh doanh ở một số quốc gia phát triển khá chuyên nghiệp, hiện đại cả trong tư duy và trình độ áp dụng công nghệ khoa học vào quy trình sản xuất cũng tiên tiến Qua đó, giúp cho nhà đầu tư sử dụng có hiệu quả nguồn lực tương đối dư thừa trong nước, nâng cao tỷ suất lợi nhuận cho chủ đầu
tư, đồng thời khai thác có hiệu quả thế mạnh của quốc gia này ngay trên chính thị trường của quốc gia khác
Thứ ba, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài tận dụng nguồn lực của nước tiếp
nhận đầu tư
Hiệu quả sử dụng các nguồn lực là yếu tố đóng vai trò quan trọng để giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, từ đó góp phần nâng cao sức mạnh cạnh tranh, tăng lợi nhuận cho chủ đầu tư Điều này được lý giải bởi thực trạng thừa nguồn lực ở quốc gia này nhưng ở một số quốc gia khác thì lại thiếu chính nguồn lực đó, dẫn đến hiện tượng tìm kiếm và khai thác nguồn lực giữa các quốc gia với nhau Chính vì thế, khi tiến hành sản xuất kinh doanh mỗi nhà quản lý đều phải luôn tìm cách tối thiểu chi phí và tối đa lợi nhuận, nên họ cố gắn sử dụng các nguồn lực sao cho có hiệu quả nhất; và một trong những giải pháp hiện nay được nhiều doanh nghiệp lựa chọn là tiến hành ĐTRN
Do bản chất của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là di chuyển nguồn lực sang một quốc gia khác để tiến hành hoạt động đầu tư, tăng năng suất và tăng lợi nhuận cho nhà đầu tư Tuy nhiên, các nguồn lực được di chuyển trong hoạt động ĐTRN thường là các nguồn lực về vốn, công nghệ…Chính vì thế, hoạt động ĐTRN thường được đi kèm với việc sử dụng các nguồn lực sẵn có ở nước tiếp nhận đầu tư như: tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động, …việc xây dựng được thị trường cung cấp đầu vào ổn định với chi phí đầu vào khá thấp sẽ giúp chủ đầu tư tiết kiệm chi phí sản xuất, giảm giá thành từ đó tăng lợi nhuận của công ty
Thứ tư, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp cho nhà đầu tư mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm
Trang 17Hoạt động mở rộng và phát triển thị trường trong nước luôn là việc làm thường xuyên và rất cần thiết đối với các doanh nghiệp Tùy vào đặc điểm và lợi thế riêng của mình mà mỗi doanh nghiệp đề ra những phương thức nhằm mở rộng mạng lưới sản phẩm của cơ sở mình đến tay người tiêu dùng
Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm trong nước dường như đã không phát huy hết thế mạnh của công ty và không phải là điểm dừng cuối cùng trong chiến lược kinh doanh của các chủ doanh nghiệp Đặc biệt, trong xu hướng hiện nay các doanh nghiệp đều muốn lấy xuất khẩu để làm động lực phát triển doanh nghiệp Thâm nhập vào thị trường nước ngoài luôn là mục tiêu và điểm đến trong con đường phát triển của mỗi doanh nghiệp Việc thâm nhập vào thị trường nội địa các nước trên thế giới
là đồng nghĩa với thị trường tiêu thụ sản phẩm được mở rộng Tồn tại trong môi trường sản xuất mới, sản phẩm được áp dụng công nghệ mới của nước tiếp nhận đầu
tư sẽ kích thích lượng tiêu dùng của khách hàng dẫn đến kích thích sản xuất; lượng sản phẩm được tiêu thụ không chỉ dừng lại ở phạm vi lãnh thổ một quốc gia mà có thể tiêu thụ ở thị trường nhiều nước trên thế giới Từ đó, đã thúc đẩy quá trình sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp để đáp ứng lượng cầu của khách hàng mới ở các nước khác nhau trên thế giới; quy mô sản xuất ngày càng được mở rộng
Thứ năm, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp cho nhà đầu tư tránh được
hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan của nước tiếp nhận đầu tư
Thông thường để bảo vệ thị trường sản xuất trong nước Chính phủ các quốc gia trên thế giới đặt ra nhiều hàng thương mại rào khác nhau nhằm mục đích tăng thu ngân sách, bảo hộ các ngành công nghiệp và thực hiện các mục tiêu chính sách kinh
tế của mình Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập hiện nay thì hàng rào bảo hộ thương mại sẽ dần dần được dỡ bỏ, nhằm tạo ra sự bình đẳng trong cạnh tranh giữa hàng ngoại nhập và hàng trong nước Song, không vì vậy mà con đường xuất khẩu hàng hóa ra thị trường thế giới được tiến hành dễ hơn; bởi các nước ngày càng sử dụng nhiều biện pháp tinh vi để đối phó với sự xâm nhập của hàng ngoại nhập bằng các biện pháp như: đặt ra tiêu chuẩn kỹ thuật cho hàng ngoại nhập, sản phẩm có ảnh hưởng đến môi trường hay không, ngoài ra còn đặt ra các điều luật quy định có lợi cho hàng hoá trong nước như thuế chống bán phá giá…
Trong điều kiện đó, thì ĐTRN được xem như là giải pháp hữu hiệu nhằm giúp các doanh nghiệp vượt qua hàng rào bảo hộ thương mại của nước nhận đầu tư; từ đó con đường đưa sản phẩm trong nước đến với tay người tiêu dùng thế giới được rút ngắn hơn Khi đó, nhà đầu tư không chỉ vượt qua được hàng rào bảo hộ của nước ngoài, tiếp cận thị trường một cách trực tiếp, mà còn được hưởng những điều kiện ưu đãi trong sản xuất kinh doanh từ Chính phủ nước nhận đầu tư giành cho các nhà đầu
tư nước ngoài
Trang 18Thứ sáu, thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài góp phần giải
quyết việc làm và nâng cao chất lượng nguồn lao động của nước tiếp nhận đầu tư
Về mặt số lượng, hoạt động ĐTRN tạo ra một số lượng việc làm đáng kể cho nước tiếp nhận đầu tư; bởi lẽ, nguồn lực lao động thường ít được di chuyển cùng với quá trình di chuyển vốn Các dự án ĐTRN thường sử dụng ngay nguồn lực nhân lực tại chỗ để tiết kiệm chi phí Ngoài ra, thông qua việc sử dụng các dây chuyền công nghệ hiện đại và hệ thống quản lý tiên tiến, đội ngũ lao động sẽ làm quen với tác phong làm việc chuyên nghiệp, có cơ hội và bị tạo sức ép phải nâng cao trình độ và
kỹ năng lao động
Thứ bảy, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài góp phần nâng cao năng lực quản lý
Nhà nước, dần hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách của nước đầu tư cũng như nước tiếp nhận đầu tư và góp phần thúc đẩy quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia
Nhằm đáp ứng được nhu cầu và thúc đẩy hơn nữa hoạt động đầu tư ra nước
ngoài của các doanh nghiệp, đòi hỏi cấp quản lý Nhà nước phải có những thay đổi trong hệ thống pháp luật của quốc gia cho phù hợp với tình hình thực tế đất nước Việc cải thiện môi trường đầu tư ra nước ngoài bằng chính sách khuyến khích, ưu đãi cho các doanh nghiệp khi muốn đầu tư ra nước ngoài luôn được các quốc gia chú trọng Khâu cải cách thủ tục đầu tư được đẩy mạnh thực hiện là bước hoàn thiện cơ bản nhất trong hệ thống pháp luật về ĐTRN mà Chính phủ mỗi quốc gia đã làm được trong thời gian qua
Bên cạnh đó, con đường vận động ngoại giao cũng luôn được các nước đẩy mạnh thực hiện nhằm đạt được mục đích bảo hộ đầu tư hiệu quả nhất trên lãnh thổ quốc gia khác Chính sự nổ lực thay đổi quan điểm của Chính phủ các nước đối với hoạt động ĐTRN đã góp phần nâng cao năng lực quản lý Nhà nước, hệ thống pháp luật, chính sách của nước đầu tư cũng như nước tiếp nhận đầu tư cũng dần được hoàn thiện hơn; đồng thời cũng thúc đẩy quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia ngày càng tốt đẹp
1.4.1.2 Đối với Việt Nam
* Đối với quốc gia
Thứ nhất, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp củng cố vai trò chính trị và vị
thế kinh tế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới
Việt Nam là một quốc gia đi lên từ một nền kinh tế kém phát triển, những năm trước đây chủ yếu tiến hành thu hút vốn đầu tư nước ngoài, nhưng vài năm trở lại đây nền kinh tế nước ta có những thay đổi đáng kể, tiềm lực tài chính của doanh nghiệp trong nước dần đủ sức vươn ra thị trường thế giới Với vai trò tích cực trong việc thúc đẩy phát triển nền kinh tế nước nhà, ĐTRN đã góp phần quan trọng làm
Trang 19thay đổi diện mạo và ngày càng củng cố vai trò chính trị, vị thế kinh tế của Việt Nam trong khu vực và trên quốc tế
Việt Nam từ khi có những chính sách thúc đẩy doanh nghiệp ĐTRN, tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng dần ổn định Hiện chúng ta đã không còn là quốc gia xếp vào nhóm các nước kém phát triển, theo báo cáo Cạnh tranh Toàn cầu 2010 - 2011 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), Việt Nam đứng vị trí 59 trong số 131 nền kinh tế thế giới, vượt 16 bậc so với xếp hạng của Việt Nam năm ngoái là thứ 75 trong số 133 quốc gia20; và cũng theo thống kê của Cục đầu tư nước ngoài thuộc Bộ
Kế hoạch và Đầu tư tính đến hết tháng 2 năm 2011, Việt Nam đã có 575 dự án đầu tư vào 55 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới với tổng số vốn đăng ký đạt trên 23,7
tỷ USD Trong đó phần vốn của các doanh nghiệp Việt Nam đã vượt 10 tỷ USD21
Từ những con số trên đã minh chứng cho sự lớn mạnh của đất nước Việt Nam hiện nay trong nền kinh tế toàn cầu; điều này càng cho thấy hoạt động ĐTRN thực sự cần thiết cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của nước nhà
Thứ hai, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp nền kinh tế Việt Nam thâm nhập
sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, thúc đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam
Trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước, mục tiêu thâm nhập sâu vào nền
kinh tế thế giới từ đó tạo đà thúc đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế luôn là
tâm điểm được Chính phủ ta quan tâm Từ những lợi ích thiết thực của hoạt động ĐTRN mà các nước đã đạt được; Việt Nam xác định ĐTRN là một trong những giải pháp chủ đạo giúp nước ta sớm đạt được muc tiêu trên
Bằng việc bỏ vốn và công nghệ để thành lập những doanh nghiệp trên quốc gia sở tại, các doanh nghiệp Việt Nam đã mở rộng quy mô sản xuất và từng bước thâm nhập vào dây chuyền sản xuất của các doanh nghiệp sở tại Chủ đầu tư Việt Nam đã chủ động hơn trong vị trí của nhà cung cấp sản phẩm trên thị trường nước tiếp nhận đầu tư, điều này ít nhiều tác động đến cán cân cung cầu trong nền kinh tế bản địa; từ đó kéo theo việc mở rộng thị phần của doanh nghiệp Việt Nam ngay trong nền kinh tế một quốc gia khác Nếu tiếp tục phát huy tốt thế chủ động và kịp thời nắm bắt các cơ hội trong chiến lược đầu tư, thì sự số lượng dự án đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam sẽ mở rộng mạng ra khắp các nước trên thế giới Trước sự trỗi dậy về tiềm lực kinh tế, vị thế của Việt Nam trong khu vực cũng được khẳng định; nhiều đối tác chiến lược sẽ chủ động hợp tác với ta, qua đó con đường mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế, hội nhập kinh tế toàn cầu sẽ không còn quá xa đối với Việt Nam
20 http://tamnhin.net/Tieu-diem/3943/Viet-Nam-dung-vi-tri-59-trong-so-131-nen-kinh-te-the-gioi.html.
21 nhin-lai.
Trang 20http://www.vnr500.com.vn/2011-07-11-hoat-dong-dau-tu-ra-nuoc-ngoai-cua-viet-nam-sau-hon-20-nam-Thứ ba, thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, Việt Nam có
thêm nguồn nguyên, nhiên liệu…phục vụ cho sự phát triển kinh tế trong nước
Hoạt động sản xuất không thể tách rời hoạt động khai thác và tận dụng triệt để nguồn nguyên vật liệu sẵn có, chính sự khai thác và sử dụng ấy trong công cuộc kiến thiết đất nước đã dần làm cho nguồn tài nguyên trở nên cạn kiệt và khan hiếm Việt Nam cũng không tránh được vấn đề này khi kích thích phát triển kinh tế quốc gia; điều này còn chưa tính đến nếu trình độ khoa học khiêm tốn thì việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên ấy trở nên lãng phí, kém hiệu quả
Đứng trước những báo động trên nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam đã chọn giải pháp khuyến khích doanh nghiệp trong nước tiến hành khai thác nguồn tài nguyên nước khác thông qua con đường ĐTRN Với hình thức đầu tư này, doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội khai thác, sử dụng các nguồn nguyên vật liệu tại chỗ của nước nhận đầu tư để đáp sản xuất và cung ứng các hàng hóa, dịch vụ cho thị trường bản địa; vừa nhập khẩu trở lại quốc gia mình những sản phẩm đó mà không khai thác nguồn tài nguyên trong nước
VD: Tập đoàn dầu khí VN đầu tư vào hoạt động khai thác dầu mỏ tại nhiều nước trên thế giới sẽ tạo nguồn cung cấp cho nhà máy lọc dầu Dung Quất khi mà khả năng khai thác dầu trong nước có xu hướng giảm sút Theo thông tin từ Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) thì lượng dầu thô trong nước qua mỗi năm đều có xu hướng giảm; cụ thể như sau: Năm 2005, lượng dầu thô khai thác được là 18,8 triệu tấn, đến năm 2006 giảm dần xuống 17,25 triệu tấn và chỉ còn 15,01 triệu tấn năm
201022
Thứ tư, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thành công sẽ tác động ngược lại nền
kinh tế trong nước theo hướng thúc đẩy công cuộc cải tổ đất nước về thể chế chính sách phát triển kinh tế, về chính sách thuế, về thủ tục hành chính, về hệ thống thông tin đối ngoại
Con đường ĐTRN không chỉ mang lại lợi ích trực tiếp cho nhà đầu tư, mà còn gián tiếp tác động đến nhiều mặt về xã hội, chính trị của quốc gia di chuyển vốn đầu
tư Sự tác động của ĐTRN đến mặt xã hội của quốc gia thể hiện trong nổ lực thay đổi chính sách phát triển kinh tế từ thu hút vốn đầu tư sang hình thức khuyến khích doanh nghiệp mở rộng quy mô đầu tư ra nước ngoài; để tạo đà cho nhà đầu tư trong nước có điều kiện thuận lợi khi đưa vốn đầu tư ra nước ngoài nhiều quy định của pháp luật về ưu đãi thuế khi xuất khẩu dây chuyền sản xuất, tái nhập khẩu các tài sản sau khi thực hiện xong dự án đầu tư, cải cách thủ tục hành chính khi xin cấp phép ĐTRN23, những quy định về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp từ dự án đầu tư ở
22 http://tamnhin.net/phattrien/11665/Bai-toan-xuat-dau-tho nhap-xang-dau-.html.
23 Xem thêm Thông tư 11/2010/TT – BTC, ngày 19 tháng 01 măn 2010.
Trang 21nước ngoài cho đến công tác hỗ trợ và cung cấp thông tin về tình hình đầu tư của các nước cũng được các Bộ ngành chuyên môn đẩy mạnh thực hiện hơn.
Thứ năm, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài góp phần tạo đội ngũ
thương nhân năng động, có kinh nghiệm kinh doanh quốc tế
Việt Nam là một trong những quốc gia thuộc nhóm có nền kinh tế đang trên
đà phát triển, xu hướng vận động nền kinh tế đất nước theo cơ chế hội nhập, tự do hóa thương mại, tự do hóa đầu tư mới được Đảng và Nhà nước ta quan tâm trong những năm đầu thập niên 90 Do đó, có thể nói về kinh nghiệm quản lý trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam chỉ mới thật sự được cọ sát trong vài năm gần đây; nếu so với các nước sớm thực hiện chính sách mở cửa thì các thương nhân Việt Nam còn khá non trẻ trong năng lực kinh doanh
Khi tiến hành ĐTRN, các nhà đầu tư Việt Nam có cơ hội để “cọ sát” thực tế đồng thời tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm từ những đối tác của nước tiếp nhận Bên cạnh, do việc kinh doanh trong môi trường mới rủi ro cao, áp lực cạnh tranh cũng tăng, buộc nhà đầu tư Việt Nam chủ động hơn để đề ra những chiến lược điều hành
dự án cho phù hợp Trải qua thời gian điều hành dự án đầu tư ở nước ngoài, doanh nghiệp Việt Nam càng học hỏi và tích lũy được kinh nghiệp quản lý mới; qua đó tạo
ra đội ngũ thương nhân Việt Nam ngày càng năng động, năng lực kinh doanh cũng được nâng cao, đủ sức cạnh tranh và quản lý tốt hoạt động kinh doanh trên trường quốc tế
* Đối với doanh nghiệp
Thứ nhất, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp các doanh nghiệp
thâm nhập sâu vào thị trường thế giới, tìm kiếm cơ hội đầu tư tốt hơn, nhờ đó mà nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Thông qua hoạt động ĐTRN, các doanh nghiệp Việt Nam trực tiếp sản xuất
và tiêu thụ các sản phẩm ngay trên thị trường của quốc gia đầu tư Những sản phẩm được sản xuất từ các doanh nghiệp Việt Nam sớm thích nghi và tạo được sức hút đối với người tiêu dùng của quốc gia sở tại Từ những thành công trong việc cung ứng những loại hàng hóa giản đơn, không đòi hỏi trình độ khoa học công nghệ cao; nhà đầu tư Việt Nam bắt đầu thâm nhập vào các quy trình sản xuất đặt nặng yếu tố kỹ thuật đồng thời tìm kiếm, tận dụng những ngành nghề còn bỏ ngỏ tại thị trường nước tiếp nhận đầu tư để sản xuất Do vậy với hoạt động ĐTRN đã giúp doanh nghiệp Việt Nam ngày càng mở rộng và thâm nhập sâu vào thị trường các nước nhận đầu tư, tìm kiếm được cơ hội đầu tư tốt hơn, kéo theo việc sử dụng nguồn vốn hiệu quả hơn
Thông tư 104/2011/TT – BTC, ngày 12 tháng 07 năm 2011 sửa đổi bổ sung Thông tư số 11/2010/TT – BTC, ngày 19 tháng 01 măn 2010.
Thông tư 25/2011/TT – BTC, ngày 31 tháng 03 năm 2008.
Trang 22VD: Nhiều công ty chế biến mì ăn liền của Việt Nam đầu tư vào Nga, Ucraina… đã tạo ra các sản phẩm mì ăn liền hợp với khẩu vị người châu Âu và ngày càng được khách hàng ở những quốc gia này ưa chuộng.
Thứ hai, khi tiến hành thực hiện hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
giúp các công ty phát triển thương hiệu của mình trên thị trường thế giới
Trước những biến đổi mới trong xu hướng vận động kinh tế hiện nay, vấn đề xây dựng thương hiệu của sản phẩm không còn xa lạ đối với các doanh nghiệp Song làm thế nào để tạo được một thương hiệu gắn liền với tên tuổi của doanh nghiệp, làm thế nào để thương hiệu đó được bạn bè quốc tế biết đến? Bằng nhiều cách thức khác nhau các doanh nghiệp đã gắn sức sống của sản phẩm với tên tuổi của doanh nghiệp mình Việt Nam cũng như một số quốc gia khác đã khá thành công khi đưa thương hiệu của quốc gia mình vươn ra bạn bè quốc tế thông qua con đường ĐTRN
ĐTRN đã tận dụng việc có mặt trực tiếp của sản phẩm trên thị trường các nước và khách hàng cũng chính mình kiểm tra được chất lượng của sản phẩm; những sản phẩm Việt Nam đậm tính truyền thống nhưng vẫn phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng nước ngoài đã tạo ra một điểm đặc biệt mà các sản phẩm cùng loại trên thị trường không thể có Từ đó, tạo nên những ấn tượng và lòng tin của người tiêu dùng quốc tế đối với sản phẩm Việt Nam và càng giúp các công ty của chúng ta phát triển được thương hiệu của mình trên thị trường thế giới Một trong số những doanh nghiệp đã đạt được thành công trên con đường đưa thương hiệu Việt Nam ra thị trường thế giới thông qua hoạt động ĐTRN là công ty trách nhiệm hữu hạn cà phê Trung Nguyên, dịch vụ Phở 24h; hiện cà phê Trung Nguyên đã mở mạng lưới ra các nước nước như Mỹ, Nhật, Thái Lan, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Ba Lan, Ukraina, Autraslia và sản phẩm của thương hiệu này đã có mặt hơn 43 quốc gia trên thế giới24 Bên cạnh đó thương hiệu Phở 24h cũng không kém phần sôi nổi khi thâm nhập vào thị trường Nhật Bản, ngoài ra công ty Phở 24 đã có 11 cửa hàng nhượng quyền kinh doanh thương hiệu ở Indonesia, 2 ở Philippines, 3 ở Hồng Kông và 2 ở Campuchia25
Thứ ba, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài phân tán rủi ro trong hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp
Trước sức ép của quy luật cạnh tranh, cuộc đua giữa các doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn nước ngoài ngày càng vào đỉnh điểm khi mà Việt Nam mở cửa để hội nhập quốc tế Nhiều doanh nghiệp đã không đủ sức cạnh tranh dẫn đến tình trạng bên bờ vực phá sản Điều này cho thấy, nếu các doanh nghiệp Việt Nam chỉ lo tập trung nguồn tài chính đầu tư vào một thị trường đã quá “chật chội” và kém cơ hội tìm lợi nhuận thì nguy cơ rủi ro trong kinh doanh càng tăng Ngược lại,
24 http://vnbrand.net/Thuong-hieu-hang-dau/trung-nguyen-ca-phe-khoi-nguon-sang-tao.html.
25 http://www.dunghangviet.vn/hv/made - by - vietnam/hang - viet - xuat ngoai/2011/07/thuong – hieu – pho –
24 – tham – nhap – thi –truong –nhat html.
Trang 23khi thực hiện hoạt động ĐTRN một khi có những biến động trong kinh doanh nhà đầu tư đã phân tán rủi ro của công ty “con” trên quốc gia khác Qua đó, góp phần làm giảm sức ép cho công ty mẹ ở trong nước, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực từ những rủi ro trong đầu tư đối với nền kinh tế nước nhà.
Ngoài ra, hoạt động ĐTRN còn mang lại nhiều lợi ích như góp phần nâng cao chất lượng lao động, phát triển nguồn nhân lực của nước nhận đầu tư; đóng góp vào quá trình phát triển công nghệ; ĐTRN còn góp phần vào việc làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nươc nhận đầu tư Về mặt xã hội, hình thức ĐTRN góp phần nâng cao chất lượng lao động, phát triển nguồn nhân lực cho nước nhận đầu tư; giải quyết vấn đề việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động bản địa; phần nào giúp Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư bảo vệ môi trường, khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên…
1.4.2 Những mặt hạn chế của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Bên cạnh những đóng góp to lớn và thiết thực mà ĐTRN mang lại; chúng ta không thể phủ nhận những tác động tiêu cực vẫn đang tồn tại của hoạt động đầu tư này đối với quốc gia đi đầu tư và cả quốc gia tiếp nhận đầu tư
1.4.2.1 Đối với quốc gia đi đầu tư
Thứ nhất, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ít nhiều làm phân tán nguồn lực về
tài chính trong nước, về con người, làm giảm bớt khả năng tạo việc làm ở trong nước
Khi một quốc gia thực hiện chính sách khuyến khích ĐTRN phần nào chứng
tỏ năng lực tài chính của các doanh nghiệp trong nước đã sẵn sàng để cạnh tranh với các đối tác trên thị trường nước ngoài Tuy nhiên, không phải lúc nào các quốc gia đi đầu tư đều chủ động được nguồn vốn nội địa, giải quyết được tốt các vấn đề xã hội trong nước Nếu tiến hành ĐTRN thì nước đầu tư khó có thể tránh được việc làm phân tán và giảm lượng vốn tích lũy trong nước Không ít những khó khăn đã đặt ra cho nền kinh tế trong nước khi phải mất đi cục bộ một lượng vốn lớn do phải di chuyển sang nước nhận đầu tư Có thể, vì lý do này mà một số dự án nhằm phát triển kinh tế trong nước sẽ bị tạm dừng; kéo theo việc làm ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia
Bên cạnh có những ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế thì hoạt động ĐTRN
đã tác động không nhỏ đến vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động Do phải tập trung vốn mở rộng quy mô đầu tư sản xuất ra thị trường nước ngoài, nhiều doanh nghiệp hạn chế mở rộng quy mô sản xuất trong nước, kéo theo việc giảm tuyển dụng lao động Điều này dẫn đến thực trạng nhiều lao động trong độ tuổi phải thất nghiệp Ngoài ra nhiều chính sách về an sinh xã hội trong một thời gian nhất định cũng sẽ bị tác động do thiếu hụt vốn đầu tư nội địa
Trang 24Thứ hai, hoạt động đầu tư ra nước ngoài nói chung và hoạt động đầu tư trực
tiếp ra nước ngoài nói riêng nếu quản lý không tốt có thể dẫn tới chảy máu ngoại tệ, chảy máu chất xám, tạo kẻ hở cho hoạt động rửa tiền
Hầu hết các quốc gia trên thế giới khi thúc đẩy hoạt động ĐTRN đều mong muốn doanh nghiệp mang về lượng ngoại tệ lớn đóng góp vào nguồn lực tài chính của quốc gia Nhiều chính sách của các nước trở nên thông thoáng hơn khi cấp phép cho nhà đầu tư ra nước ngoài, nhất là khâu chuyển ngoại tệ sang nước tiếp nhận đầu
tư Trong nhiều trường hợp, các dự án đầu tư ở nước ngoài không những không mang về nguồn thu cho đất nước mà ngược lại còn dẫn đến thua lỗ, làm mất đi một lượng ngoại tệ lớn, điều này sẽ ảnh hưởng đến nguồn vốn nội của đất nước
Bên cạnh đó, không ít những doanh nghiệp đã lợi dụng các kẻ hở của quy định pháp luật trong khuyến khích ĐTRN nhằm thực hiện việc rửa tiền phi pháp Bởi Chính phủ các nước đưa vốn đầu tư chưa có cơ chế kiểm soát tốt tình hình hoạt động của doanh nghiệp mình ở nước ngoài, khâu quản lý nguồn vốn mang đi đầu tư còn lỏng lẻo, một bộ phận cán bộ, công chức tha hóa đạo đức đã tiếp tay cho tội phạm thực hiện hành vi rửa tiền qua con đường ĐTRN
Ngoài ra, vấn nạn làm “chảy máu lượng chất xám” qua con đường ĐTRN không chỉ là nỗi lo lớn đối với Chính phủ các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển (trong đó có Việt Nam) mà còn là bài toán nan giải cho chính quyền các nước có nền kinh tế phát triển Thông thường các lao động được mang đi để làm việc trong các doanh nghiệp ở nước ngoài là các lao động có vị trí chủ chốt, có trình độ chuyên môn cao và kinh nghiệm quản lý tốt của công ty mẹ trong nước Thực tế này đã dẫn đến việc làm thiếu hụt nguồn nhân tài trong con đường kiết thiết đất nước
Thứ ba, các doanh nghiệp đi đầu tư sẽ đối mặt với nhiều rủi ro tại nước tiếp
nhận đầu tư do hệ thống chính sách pháp luật khác nhau, sự khác nhau về ngôn ngữ, văn hóa…
Khi tiến hành đầu tư ra nước ngoài, nhà đầu tư không chỉ đối mặt với những
áp lực do cạnh tranh với các công ty của quốc gia sở tại, tình hình biến động kinh tế của nước nhận đầu tư; mà còn chịu tác động trực tiếp từ hệ thống pháp luật của quốc gia nhận đầu tư, chính sách pháp luật của môi trường kinh doanh mới cũng làm nên
sự thành bại của doanh nghiệp khi ĐTRN Nếu Chính phủ quốc gia sở tại không đặt nặng phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài, thông thoáng hơn trong quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài thì rủi ro cho doanh nghiệp mang vốn đầu tư cũng giảm Ngoài ra, sự khác biệt về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, thị hiếu của người dân giữa nước nhận đầu tư với doanh nghiệp đi đầu tư càng tạo thêm nhiều khó khăn, trở ngại cho doanh nghiệp khi thực hiện đầu tư ở nước ngoài
Trang 251.4.2.2 Đối với quốc gia tiếp nhận đầu tư
Thứ nhất, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài sẽ dễ dẫn đến tình trạng ô nhiễm
môi trường tại nước tiếp nhận đầu tư nếu công tác quản lý và kiểm soát môi trường của quốc gia này không tốt
Theo nghiên cứu của các nhà kinh tế học thì tốc độ tăng trưởng kinh tế tỷ lệ thuận với tốc độ gây ô nhiễm môi trường Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao sẽ phải sử dụng, khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên nhiều hơn và những chất thải từ hoạt động sản xuất là nguyên nhân chính gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường26 Hầu hết các hoạt động ĐTRN được thực hiện trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, đây là một lĩnh vực đòi hỏi sử dụng nhiều trang thiết bị, các quy trình sản xuất đòi hỏi cao yếu tố chuyên môn; do vậy những chất thải từ những nhà máy do nhà đầu tư nước ngoài thành lập nếu không được xử lý và kiểm soát chặt chẽ sẽ dễ gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường trên lãnh thổ nước nhận đầu tư Nhiều nước tiếp nhận đầu tư nhằm thu hút vốn ngoại đã tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ đầu tư nước ngoài mà không đặt ra các tiêu chuẩn chặt chẽ về kiểm soát môi trường
Bên cạnh gây ô nhiễm môi trường thông qua hoạt động sản xuất từ các nhà máy của chủ đầu tư nước ngoài thì việc chuyển giao công nghệ lạc hậu từ quốc gia đầu tư sang quốc gia nhận đầu tư cũng là tác nhân dẫn đến thực trạng ô nhiễm môi trường Chuyển giao công nghệ lạc hậu sẽ đem nhiều lợi ích cho các nước đi đầu tư
và ngược lại mang đến những hậu quả khó phụ hồi về môi trường cho nước nhận đầu
tư Như vậy, vô hình chung các nước di chuyển vốn đầu tư đã biến những nước tiếp nhận đầu tư, đặc biệt là các quốc gia kém và đang phát triển trở thành những bãi rác thải công nghệ27 Từ đó, các quốc gia khi tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phải cẩn trọng, phải có cơ chế quản lý và kiểm soát chặt hơn trong vấn đề bảo vệ môi trường khi thu hút vốn từ nhà đầu tư nước ngoài
Thứ hai, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài làm cho các doanh nghiệp
trong nước tăng áp lực cạnh tranh
Khi tiến hành chính sách thu hút dòng vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài thì điều này đồng nghĩa với việc Chính phủ của nước nhận đầu tư chấp nhận cho doanh nghiệp trong nước bắt đầu cuộc đua để cạnh tranh với những đối tác mới So với các công ty nước ngoài thì các doanh nghiệp trong nước vẫn còn khiêm tốn và yếu thế hơn Trong nhiều trường hợp, hàng hóa và dịch vụ của các công ty nước ngoài chiếm
ưu thế hơn so với các sản phẩm do doanh nghiệp trong nước sản xuất, dẫn đến các doanh nghiệp trong nước dần dần mất thị trường, khả năng cạnh tranh kém đi và
26 Th.s Nguyễn Văn Tuấn, Đầu tư trực nước ngoài với phát triển kinh tế ở Việt Nam, NXN Tư pháp, năm
2005, trang 92, 93.
27 Th.s Nguyễn Văn Tuấn, Đầu tư trực nước ngoài với phát triển kinh tế ở Việt Nam, NXN Tư pháp, năm
2005, trang 92.
Trang 26doanh nghiệp nào không đủ sức cạnh tranh thì có thể lâm vào tình trạng phá sản hoặc
bị thôn tính28 Bên cạnh đó, đối với những ngành sản xuất mới trong nước thì doanh nghiệp trong nước càng khó có cơ hội cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài, do vậy sẽ ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển và vòng đời của doanh nghiệp
Thứ ba, hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thu hút một lượng lao động
có chất xám trong nước làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
từ đó làm cho công tác đào tại nguồn nhân lực để phát triển trong nước sẽ gặp khó khăn
Phần lớn các doanh nghiệp khi ĐTRN đều mong muốn đầu tư vào những quốc gia có giá thuê nhân công thấp cùng với đội ngũ lao động có chất lượng để hạn chế chi phí đào tạo lại Trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp nước ngoài còn chấp nhận trả mức lương cao hơn rất nhiều so với doanh nghiệp trong nước nhằm thu hút lượng lao động có chất xám Do đó, sự cạnh tranh không cân sức đã đẩy các doanh nghiệp trong nước vào thế bị động so với doanh nghiệp nước ngoài Trong khi năng lực cạnh tranh về vốn của doanh nghiệp trong nước đã yếu nay càng gặp khó khăn hơn trong nguồn lực trí tuệ Từ những thực tế trên, việc đào tạo lao động có trình độ chuyên môn cao đối với các nước nhận đầu tư đã không dễ nay vấn đề làm thế nào giữ được lượng lao động này phục vụ cho nhu cầu doanh nghiệp trong nước lại càng khó hơn
1.5 Khái lược về sự hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về đầu tư
ra nước ngoài
Pháp luật về đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam nhìn chung còn khá non trẻ so với các nước trên thế giới Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện trạng này, chẳng hạn như nền kinh tế Việt Nam trước đây còn kém phát triển, không đủ nguồn lực tài chính để mở rộng thị trường đầu tư ra nước ngoài, các doanh nghiệp của ta chưa đủ kinh nghiệm, trình độ khoa học công nghệ trong nước còn lạc hậu để tiến hành đầu
tư sang quốc gia khác Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam dần có những bước chuyển đáng kể, nhu cầu mở rộng môi trường đầu tư ra nước ngoài là một hướng đi tất yếu Ngoài ra phải kể đến những năm đầu thập niên 90, lượng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng mỗi năm, số các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trong sản xuất hàng dệt – may tăng cao nên số lượng quota xuất khẩu hàng năm không đủ đáp ứng năng lực sản xuất Bên cạnh đó, chính sách “đóng cửa rừng”, cấm khai thác đánh bắt gần
bờ để bảo vệ tài nguyên, môi trường cũng tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của một số doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp chế biến sản xuất hàng
28 Th.s Nguyễn Văn Tuấn, Đầu tư trực nước ngoài với phát triển kinh tế ở Việt Nam, NXN Tư pháp, năm
2005, trang 95.
Trang 27tiêu dùng Vì vậy, nhằm phần nào bù đắp những “thiếu hụt trên” một số doanh nghiệp đã chuyển mục tiêu hoạt động hoặc tìm kiếm cơ hội đầu tư tại một số nước láng giềng trong khu vực Trong số các doanh nghiệp đi tiên phong hoạt đầu tư ra nước ngoài là một bộ phận doanh nghiệp tư nhân ở một số địa phương có chung đường biên giới với các nước Lào, Campuchia đã thực hiện dự án đầu tư tại các nước này theo thỏa thuận hợp tác song phương giữa chính quyền địa phương hai nước Có thể nói, hoạt động đầu tư ra nước ngoài ở Việt Nam chính thức diễn ra 198929
Trong một thời gian dài, cơ sở pháp lý của hoạt động đầu tư ra nước ngoài chưa được quy định trong luật Trong giai đoạn 1989 – 1998, trước khi ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ – CP, ngày 14 tháng 04 năm 1999 của Chính phủ Quy định về đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam, có 18 dự án với tổng vố đăng ký đạt trên 13,6 triệu USD; với quy mô vốn đầu tư bình quân đạt 0,76 triệu USD/dự
án30 Trước thực trạng nhiều doanh nghiệp gửi đơn xin phép đầu tư ra nước ngoài đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, buộc Chính phủ phải ban hành các văn bản dưới luật để hướng dẫn cho hoạt động đầu tư này Tuy vậy, mãi đến 10 năm sau khi
dự án đầu tiên được cấp phép năm 1989, Chính phủ mới ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ – CP, ngày 14 tháng 4 năm 1999 Quy định về đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam để hướng dẫn và quản lý hoạt động đầu tư ra nước ngoài Như vậy, sau hơn 11 năm thực thi Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, pháp luật về đầu tư ra nước ngoài tại Việt Nam bắt đầu hình thành, mở đường cho các hoạt động đầu tư ra nước ngoài sau này31
Nhằm triển khai Nghị định 22/1999/NĐ – CP, các Bộ ngành liên quan đã ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam, trong số đó có Thông tư số 05/2001/TT – BKH, ngày 30 tháng 8 năm
2001 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông
tư số 01/2001/TT – NHNN, ngày 19 tháng 01 năm 2001 Hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam Sự ra đời của Nghị định 22/1999/NĐ – CP, Thông tư số 05/2001/TT – BKH, Thông tư số 01/2001/TT – NHNN cùng với các văn bản pháp luật khác liên quan đã tạo nên một khung pháp lý cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam đến trước thời điểm Luật Đầu tư có hiệu lực Nội dung cơ bản của Nghị định 22/1999/NĐ – CP đề cập đến những vấn đề sau32:
Trang 28- Hình thức đầu tư ra nước ngoài;
- Điều kiện đầu tư ra nước ngoài;
- Thủ tục đầu tư ra nước ngoài;
- Quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp khi đầu tư ra nước ngoài;
Việc ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ – CP và các văn bản hướng dẫn đã đánh dấu mốc quan trọng trong khuôn khổ hình thành cơ sở pháp lý cho hoạt động đầu tư
ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam, tạo điều kiện cho việc ra đời nhiều dự án đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp ta hoạt động đạt hiệu quả nhất định Đồng thời là minh chứng cho sự trưởng thành về nhiều mặt của các doanh nghiệp trong nước từng bước hội nhập vào đời sống kinh tế khu vực và thế giới
Theo số liệu thống kê Cục đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tăng lên
về số lượng lẫn về quy mô góp vốn Trong giai đoạn 1999 – 2005, sau khi ban hành Nghị định 22/1999/NĐ – CP cả nước có 131 dự án đầu tư ra nước ngoài với tổng số vốn đăng ký đạt trên 559,89 triệu USD, tăng lên gấp 7 lần về số dự án và gấp 40 lần
về tổng vốn đăng ký so với giai đoạn 1989 – 1998; quy mô vốn đầu tư bình quân đạt 4,27 triệu USD/dự án cao hơn so với giai đoạn 1989 – 199833
Mặc dù vậy, qua 6 năm thực thi nội dung pháp lý được ghi nhận trong các văn bản vừa nêu trên đã bộc lộ nhiều vấn đề bất cập, có những điểm không phù hợp với tình hình mở cửa và hội nhập vào đời sống quốc tế của Việt Nam như34:
- Các quy định trong Nghị định 22/1999/NĐ – CP còn thiếu cụ thể, đồng bộ; một
số điều khoản không còn phù hợp; không bao quát được sự đa dạng của các hình thức ĐTRN
- Thủ tục hành chính trong hoạt động đầu tư ra nước ngoài nhìn chung vẫn còn phức tạp, rườm rà; thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư chưa được rõ ràng
- Thiếu các chế tài cụ thể về cơ chế báo cáo, cung cấp thông tin về triển khai dự
án đầu tư ở nước ngoài và chưa có cơ chế kiểm soát hoạt động đầu tư ra nước ngoài
- Cơ chế phối hợp quản lý giữa các Bộ, ngành liên quan đối với hình thức ĐTRN chưa được quy định cụ thể, rõ ràng Ngoài ra, văn bản pháp lý về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài mới dừng lại ở cấp Nghị định của Chính phủ nên hiệu lực pháp lý chưa cao
Xuất pháp thực tiễn trên, thì vấn đề hoàn thiện các quy định pháp luật về đầu tư
ra nước ngoài là một đòi hỏi tất yếu Việc hoàn thiện chính sách đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài nhằm mục tiêu khắc phục sự thiếu thống nhất, tạo lập tính cụ thể, rõ ràng giữa các văn bản pháp luật liên quan đến đầu tư ra nước ngoài theo
33 http://fia.mpi.gov.vn/news.aspx?ctl=news&p=3.26&mID=278.
34 http://fia.mpi.gov.vn/news.aspx?ctl=news&p=3.26&mID=278.
Trang 29hướng nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước trong lĩnh vực đầu tư này Đồng thời
có những biện pháp khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư trong nước tiến hành đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực, ngành nghề mà chúng ta có kinh nghiệm, có thế mạnh Hoạt động đầu tư ra nước ngoài phải nằm trong tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Từ những lý do trên, năm 2005 Chính phủ đã trình Quốc hội luật hóa hoạt động đầu tư ra nước ngoài và được Quốc hội thông qua Luật Đầu tư năm 2005 (có hiệu lực vào ngày 01 tháng 7 năm 2006), trong đó có 6 điều khoản được tập hợp tại Chương VIII quy định về đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam Sau đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định 78/2006/NĐ – CP, ngày 9 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ nhằm hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư năm 2005 với 4 mục tiêu chủ đạo là:
- Phù hợp với thực tiễn hoạt động;
- Quy định rõ ràng, cụ thể hơn;
- Tăng cường hiệu quả của quản lý nhà nước;
- Đơn giản hóa thủ tục hành chính;
Song song đó, công tác ngoại giao giữa Chính phủ nước ta với các nước dần cải thiện hơn Đặc biệt, vấn đề hợp tác ký kết các Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư lẫn nhau giữa Việt Nam với các nước cũng đạt được nhiều thành tựu đáng kể, hiện Việt Nam đã ký kết gần 40 hiệp định với các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới trong lĩnh vực khuyến khích và bảo hộ đầu tư35 Với những thành tựu mà Nhà nước
ta đã đạt được trong hoạt động ngoại giao với các nước trên thế giới trong lĩnh vực đầu tư đã chứng minh cho sự thay đổi nhận thức cũng như sự nổ lực trong việc tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho doanh nghiệp Việt Nam khi muốn hoạt động đầu tư
ra nước ngoài
Như vậy, khuôn khổ pháp lý cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài ở Việt Nam đã dần dần được hoàn thiện hơn thông qua việc ban hành Luật Đầu tư năm 2005, đồng thời Nghị định số 78/2006/NĐ – CP, ngày 9 tháng 8 năm 2006 quy định về đầu tư ra nước ngoài đã thay thế Nghị định số 22/1999/NĐ – CP, ngày 14 tháng 4 năm 1999 trước đây; thủ tục đầu tư ra nước ngoài cũng được hướng dẫn cụ thể, rõ ràng, đơn giản tại Quyết định số 1175/2007/QĐ – BKH, ngày 10 tháng 10 năm 2007 của Bộ
Kế hoạch và Đầu tư; nhiều bộ ngành liên quan cũng liên tục sửa đổi, bổ sung văn bản trong lĩnh vực mình quản lý nhằm giải quyết kịp thời những vướn mắc và phù hợp với tình hình thực tiễn đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam
Gần đây, với việc ra đời nhiều văn bản có ý nghĩa thiết thực hướng dẫn cho nhà đầu tư khi đầu tư ra nước ngoài ngày càng tạo lập môi trường pháp ly ổn định cho
35 http://www.hatrade.com/aspx/TinHoiNhapVN.aspx?ID=1.
Trang 30hình thức đầu tư này Trong đó phải kể đến việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 236/2009 phê duyệt đề án thúc đẩy đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài; Nghị quyết 60/2010/NQ – CP, ngày 17 tháng 12 năm 2010 về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Không dừng lại ở đó, công tác quản lý đầu tư ra nước ngoài không chỉ chủ yếu được giao cho Chính phủ thống nhất quản lý chung như trước đây, mà nay hình thức đầu tư ra nước ngoài tư còn được cơ quan lập pháp nước ta đặc biệt chú trọng thông qua sự kiện Quốc hội ban hành Nghị quyết 49/2010/NQ – QH12 về dự án công trình quan trọng quốc gia trình quốc hội chủ trương quyết định đầu tư
Song, những nổ lực từ nhiều phía của các Bộ, ngành liên quan trong công tác quản lý, hỗ trợ đối với hình thức đầu tư ra nước ngoài vẫn còn nhiều bất cập và chưa thống nhất; bởi ngay Nghị định 78/2006/ NĐ – CP điều chỉnh trực tiếp hoạt động đầu tư ra nước ngoài còn nhiều điểm không còn phù hợp với nhu cầu và tình hình đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay Do đó, những văn bản pháp lý khác có liên quan dù sửa đổi, bổ sung thế nào cũng không mang tính khả thi Chính vì vậy, trong nhiều năm qua (từ năm 2009) Chính phủ cũng đã yêu cầu các
Bộ, ngành lập và soạn thảo nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 78/2006/NĐ – CP, công tác lập dự thảo này đến nay đã qua nhiều lần sửa đổi vẫn chưa được thông qua
và đang trong giai đoạn lấy ý kiến Mặc dù còn đang trong con đường “phôi thai” nhưng với dự thảo của nghị định mới này hứa hẹn sẽ có nhiều quy định thông thoáng, phù hợp với tình hình mới của Việt Nam trên tiến trình đẩy mạnh hoạt động đầu tư ra nước ngoài; mà vẫn phát huy tốt được vai trò quản lý của Nhà nước ta đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài
Qua quá trình tìm hiểu về cơ sở lý luận cho sự tồn tại của pháp luật về đầu tư
ra nước ngoài, trong đó có những quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở Việt Nam, nhìn chung hệ thống pháp luật điều chỉnh hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở nước ta còn khá mới mẻ Tuy nhiên, qua những bước tiến trong công tác quản lý đầu tư ra nước ngoài của Nhà nước ta, không thể không thừa nhận những thành quả mà Chính phủ Việt Nam đã đạt được Bên cạnh, mỗi giai đoạn thay đổi của hệ thống pháp luật về đầu tư ra nước ngoài đã dần tạo ra một khuôn khổ pháp lý
an toàn, tạo tâm lý an tâm cho nhiều doanh nghiệp trong nước để mạnh dạn mở rộng thị trường đầu tư ra các nước Đồng thời, chứng minh được năng lực quản lý, điều phối của Đảng và Nhà nước ta trước nhu cầu và xu thế chung trong khu vực và thế giới; sự quan tâm, phối hợp của các cơ quan quản lý Nhà nước đối với nhu cầu tất yếu trong quá trình mở rộng sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; sự trưởng thành
Trang 31và nhạy bén của doanh nghiệp Việt Nam khi bước vào ngưỡng cửa hội nhập quốc tế Pháp luật về đầu tư ra nước ngoài cũng như đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một cơ chế khó có thể tách rời đối với hoạt động thúc đẩy phát triển kinh tế nước nhà và con đường đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam trong xu hướng mới Vậy nên, việc nghiên cứu, tìm hiểu của các quy định hiện hành về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp đối với tình hình thực tế ở Việt Nam hiện nay là
thực sự cần thiết Các quy định này sẽ được trình bày ở chương 2
CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA
NƯỚC NGOÀI
Trang 32Như đã phân tích trong phần chương 1, mục đích chính khi nhà đầu tư tham gia vào hoạt động ĐTRN là tìm kiếm lợi nhuận Tuy nhiên, không phải bất cứ chủ thể nào cũng có thể tham gia vào hoạt động này, mà khi đó họ phải đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Nhằm để đảm bảo chức năng quản lý của Nhà nước và tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư khi tham gia vào hoạt động ĐTRN một cách có hiệu quả Thiết nghĩ, Nhà nước cần xây dựng một khung pháp lý thống nhất cho hoạt động ĐTRN phù hợp với xu thế Việt Nam hiện nay Luật Đầu tư năm
2005 và Nghị định 78/2006/NĐ – CP ra đời đã phần nào giải quyết các vấn đề trên; Nghị định 78/2006/NĐ – CP đã cụ thể hóa các quy định về ĐTRN bằng những điều khoản cụ thể về: chủ thể, điều kiện, các hình thức, lĩnh vực, trình tự thủ tục cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư cũng như quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư khi tiến hành ĐTRN
2.1 Chủ thể tiến hành hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Các chủ thể được tham gia hoạt động ĐTRN theo quy định tại Điều 2 Nghị định 78/2006/NĐ – CP là các nhà đầu tư tại Việt Nam Các nhà đầu tư này được phân thành hai nhóm: nhà đầu tư là tổ chức và nhà đầu tư là cá nhân, hộ kinh doanh
2.1.1 Nhà đầu tư là tổ chức
Đây là nhóm nhà đầu tư phổ biến khi tham gia vào lĩnh vực ĐTRN theo quy định của pháp luật Việt Nam Nhóm nhà đầu tư này bao gồm: nhà đầu tư là các doanh nghiệp; hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các các cơ sở dịch vụ
2.1.1.1 Nhà đầu tư là các doanh nghiệp
Khi các doanh nghiệp mở rộng phạm vi kinh doanh bằng hình thức di chuyển vốn, tài sản hợp pháp ra nước ngoài và mong muốn được tham gia quản lý hoạt động kinh doanh đó thì lúc này các doanh nghiệp đã tham gia vào quan hệ pháp luật về ĐTRN Điều này có nghĩa là, các doanh nghiệp đã trở thành nhà đầu tư theo quy định của Nghị định 78/2006/NĐ – CP, để trở thành chủ thể tiến hành ĐTRN thì đương nhiên các doanh nghiệp này phải thỏa các điều kiện về đăng ký thành lập doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (gọi tắt là Luật Doanh nghiệp); đồng thời tuân thủ các quy định về việc sử dụng tài sản của công ty để ĐTRN Căn cứ từ Khoản 1 đến Khoản 4 Điều 2 Nghị định 78/2006/NĐ – CP, có thể nhận thấy các doanh nghiệp là chủ thể tiến hành ĐTRN bao gồm hai nhóm là:
- Nhóm các doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh, Doanh nghiệp tư nhân Các công ty này đều phải được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp mới có tư cách pháp lý trở thành nhà đầu tư theo quy định của pháp luật ĐTRN
Trang 33- Nhóm các doanh nghiệp không đăng ký thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 nhưng hoạt động theo quy định của luật này Đây là các doanh nghiệp được thành lập trước khi Luật Doanh nghiệp năm 2005 có hiệu lực (các doanh nghiệp này được thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp Nhà nước, Luật Đầu tư nước ngoài, Doanh nghiệp thuộc các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội)36 Sở dĩ, các nhà lập pháp của chúng ta không gọi các đối tượng được quy định từ Khoản 1 đến Khoản 4 Điều 2 Nghị định 78/2006/NĐ – CP là các doanh nghiệp nói chung mà tách ra thành các nhóm riêng vì để tiện cho công tác quan quản lý của các Bộ, ngành trong lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài, đặc biệt là trong khoảng thời gian các doanh nghiệp này chưa tiến hành đăng ký lại mà có nhu cầu ĐTRN Tuy nhiên, theo người viết, thì nên bỏ hẳn các Khoản 2 và Khoản 4 Điều 2 Nghị định 78/2006/NĐ – CP như dự thảo lần 5 sửa đổi, bổ sung Nghị định 78/2006/NĐ – CP; điều này sẽ hợp lý hơn và tránh những quy định thừa trong văn bản luật Vì kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2010, tất cả các doanh nghiệp Nhà nước đều chuyển sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp37 Cụ thể quá trình chuyển đổi như thế nào người viết không trình bày trong bài luận văn của mình.
Một điểm lưu ý nữa đối với nhà đầu tư quy định tại Khoản 3 Điều 2 Nghị định 78/2006/NĐ – CP là các văn bản điều chỉnh hoạt động ĐTRN trước đây (Nghị đinh 22/1999/NĐ – CP và Thông tư 01/2005/TT – BKH) thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam không thuộc đối tượng được điều chỉnh của Nghị đinh 22/1999/NĐ – CP mà phải thực hiện theo các quy định riêng của Chính phủ Quy định như vậy còn chung chung, chưa rõ ràng
vì “thực hiện theo quy định riêng của Chính phủ” là quy định nào? Điều này dẫn đến việc đùn đẩy trong công tác quản lý lĩnh vực ĐTRN giữa các Bộ, ngành; càng làm cho thủ tục, điều kiện đối với hình thức đầu tư này của các doanh nghiệp khó khăn hơn, tạo ra sự phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Nhằm giải quyết vấn đề này, Nghị định 78/2006/NĐ – CP đã xác định các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, mà chưa đăng ký lại theo Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư cũng được điều chỉnh chung bằng một văn bản pháp luật như các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước khi tham gia vào hoạt động ĐTRN38 Với quy định mới này, khắc phục được những bất cập trong công tác thực
36 Tuy nhiên khi Luật doanh nghiệp năm 2005 có hiệu lực đã thay thế các văn bản Luật trước đây mà các doanh nghiệp này đăng ký thành lập, do đó các doanh nghiệp này phải đăng ký lại theo quy định của Luật Doanh nghiệp hiện hành.
37 Xem thêm Điều 2, Dự thảo lần 5 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 78/NĐ – CP, ngày 9 tháng 8 năm 2006.
38 Xem Điều 2 Nghị định 78/2006/NĐ – CP, ngày 9 tháng 8 năm 2006.
Trang 34thi pháp luật của cơ quan quản lý về ĐTRN trước đây Mặt khác, tạo ra sự bình đẳng trong quyền kinh doanh giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, vừa phù hợp với tình hình thực tế của đất nước và phù hợp với xu hướng chung khi Việt Nam mở cửa hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
2.1.1.2 Nhà đầu tư là hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã
Đối với nhà đầu tư là hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã về cơ bản cũng tương
tự như các doanh nghiệp nêu trên, để được tham gia vào hoạt động ĐTRN trước tiên phải tuân thủ theo quy định riêng của Luật hợp tác xã về điều kiện thành lập cũng như điều kiện sử dụng tài sản của hợp tác xã khi tiến hành kinh doanh Mục đích của việc phân chia và quy định từng loại chủ thể được phép ĐTRN là để có những chính sách khuyến khích cho từng đối tượng cụ thể, phù hợp với đặc điểm cũng như mục đích hoạt động của các tổ chức kinh tế này
2.1.1.3 Nhà đầu tư là các cơ sở dịch vụ: cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao và các cơ sở dịch vụ khác có hoạt động đầu tư sinh lợi
So với Nghị định 22/1999/NĐ – CP và Thông tư 01/2005/TT – BKH điều chỉnh hoạt động ĐTRN trước đây thì nhóm nhà đầu tư này mới được quy định thêm trong Nghị định 78/2006/NĐ – CP Tuy nhiên, theo Khoản 1 Điều 2 của Nghị định này thì không phải bất kỳ “cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục, khoa học, văn hóa, thể thao
và các cơ sở dịch vụ khác” cũng đều được phép tham gia vào hoạt động ĐTRN với
tư cách là nhà đầu tư theo Điều 2 Nghị định 78/2006/NĐ – CP ; mà chỉ có những cơ
sở dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao và các cơ sở dịch vụ khác có hoạt động đầu tư sinh lợi mới thuộc đối tượng điều chỉnh của Nghị định 78/2006/NĐ – CP Ngoài ra, các quỹ xã hội, quỹ từ thiện cũng không được phép ĐTRN theo quy định của Nghị định này Nghĩa là, các cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao, các quỹ xã hội, quỹ từ thiện và các cơ sở dịch vụ khác nếu chỉ hoạt động nhằm mục đích
an sinh, xã hội không vì mục đích kinh doanh lợi nhuận thì không được ĐTRN dù có
đủ điều kiện theo quy định tại Điều 4 Nghị định 78/2006/NĐ – CP Tuy nhiên, đối với nhà đầu tư là cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao và các cơ sở dịch vụ khác khi tham gia ĐTRN chủ yếu mang nặng các điều kiện của một cơ quan hành chính Nhà nước khi sử dụng tài sản của cơ quan để tham gia vào lĩnh vực này Do vậy, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài người viết chỉ đề cập đến các chủ thể tham gia hoạt động ĐTRN là nhóm các doanh nghiệp Việt Nam; hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; cá nhân Việt Nam và hộ kinh doanh
Lưu ý: Nghị định 78/2006/NĐ – CP không đòi hỏi tổ chức phải có tư cách pháp nhân Vì vậy, dù là tổ chức có tư cách pháp nhân hay không có tư cách pháp nhân đều có quyền tham gia hoạt động ĐTRN theo quy định của pháp luật
2.1.2 Nhà đầu tư là cá nhân Việt Nam, hộ kinh doanh
Trang 35Từ khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và mở cửa hội nhập vào nền kinh tế thế giới; tình hình kinh tế nước nhà có nhiều chuyển biến lớn Việt Nam từ một nước thuộc nhóm còn kém phát triển dần vươn lên nước đang phát triển và định hướng năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp phát triển Trước những bước nhảy vọt của nền kinh tế nước nhà, tiềm lực tài chính của các doanh nghiệp trong nước ngày càng được khẳng định Điều này,
đã kéo theo nhu cầu mở rộng thị trường đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam Không dừng lại ở đó, nhiều nhà đầu tư là cá nhân, hộ kinh doanh cũng mong muốn tìm kiếm cơ hội đầu tư mới trên lãnh thổ quốc gia khác Tuy nhiên, theo quy định của Nghị định 22/1999/NĐ – CP thì quyền tham gia kinh doanh trong lĩnh vực này bị hạn chế bởi đối tượng tham gia, theo đó chỉ có những chủ thể là doanh nghiệp Việt Nam mới được phép ĐTRN39
Đứng trước thực trạng này, ngày 9 tháng 8 năm 2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định 78/2006/NĐ – CP nhằm khắc phục những thiếu sót, hạn chế của Nghị định 22/1999/NĐ – CP Với quy định mở rộng đối tượng được tham gia vào hoạt động ĐTRN trong đó có “cá nhân Việt Nam và hộ kinh doanh” của Nghị định 78/2006/NĐ – CP là một điểm tiến bộ đáng ghi nhận trong tiến trình hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về ĐTRN Điều này không chỉ phần nào đáp ứng được nhu cầu của các nhà đầu tư Việt Nam, mặt khác còn đảm bảo được quyền bình đẳng trong hoạt động kinh doanh của công dân Việt Nam theo tinh thần của Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung năm
200140
2.1.2.1 Cá nhân Việt Nam
Mặc dù văn bản hiện hành điều chỉnh trực tiếp hoạt động ĐTRN (Nghị định 78/2006/NĐ – CP) không quy định cụ thể, rõ ràng một cá nhân Việt Nam phải đáp ứng những điều kiện nào mới được tham gia vào hoạt động ĐTRN Tuy nhiên, căn
cứ vào các quy định chung của Bộ Luật Dân sự năm 2005 và quy định của Luật Thương mại năm 2005 (Luật Thương mại) thì có thể xem xét một số điều kiện cơ bản mà một cá nhân Việt Nam phải đáp ứng để được liệt kê vào nhóm đối tượng áp dụng theo Điều 2 Nghị định 78/2006/NĐ
Nhà đầu tư là cá nhân được quyền tham gia hoạt động ĐTRN khi cá nhân đó
là công dân Việt Nam có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật
và phải là thương nhân theo quy định của Luật Thương mại Tuy nhiên, Luật Thương mại cũng không có điều khoản nào quy định cụ thể về điều kiện để một cá nhân trở
39 Xem Điều 2, Nghị định 22/1999/NĐ – CP, ngày 14 tháng 4 năm 1999.
40 Xem Điều 52, Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001.
Trang 36thành thương nhân mà chỉ có định nghĩa về “thương nhân” Cụ thể căn cứ theo quy
định tại Điều 6 Luật Thương mại thì: “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được
thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên
và có đăng ký kinh doanh” Từ định nghĩa về thương nhân mà Luật Thương mại vừa
nêu, khái quát có thể nói một cá nhân muốn trở thành thương nhân phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:
+ Cá nhân phải thực hiện hoạt động thương mại
+ Cá nhân phải có đăng ký kinh doanh
Vậy hiểu thế nào là “hoạt động thương mại” Theo đó, hoạt động thương mại
là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm các hoạt động: mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác41 Và các hoạt động thương mại này phải được cá nhân thực hiện một cách độc lập, thường xuyên Bên cạnh đó, thì cá nhân còn phải tiến hành đăng ký kinh doanh đối với hoạt động thương mại mà mình thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp hiện hành Ngoài việc đáp ứng các điều kiện vừa nêu trên thì tùy vào từng lĩnh vực và ngành nghề đầu tư mà thương nhân còn phải đáp ứng các điều kiện riêng theo quy định của từng lĩnh vực, ngành nghề đó Và đương nhiên họ còn phải thỏa các điều kiện về ĐTRN theo quy định tại Điều 4 Nghị định 78/2006/NĐ – CP
Vậy để một cá nhân Việt Nam trở thành nhà đầu tư theo quy định của Nghị định 78/2006/ NĐ – CP thì điều kiện trước tiên cá nhân đó phải là thương nhân Tuy nhiên, khái niệm về thương nhân được quy định trong Luật Thương mại là còn chung chung, chưa rõ ràng và đến nay cũng chưa có văn bản nào quy định cụ thể từng điều kiện để một cá nhân trở thành thương nhân Mặc dù vậy, theo người viết, về nguyên tắc chung thì vẫn có thể căn cứ vào những quy định của pháp luật về dân sự và Luật Thương mại quy định về thương nhân là cá nhân để xem xét điều kiện tiên quyết cho một cá nhân trở thành nhà đầu tư theo Điều 2 Nghị định 78/2006
Vấn đề nữa đối với quy định nhà đầu tư là cá nhân Việt Nam Như đã vừa phân tích trên, một cá nhân Việt Nam muốn trở thành chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật về ĐTRN ngoài việc cá nhân đó phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự thì
cá nhân đó phải là thương nhân theo quy định tại Điều 6 Luật thương mại Vậy ở đây, có phải chỉ cần một cá nhân đáp ứng đủ các điều kiện là thương nhân và một số điều kiện riêng theo từng ngành nghề, lĩnh vực mà thương nhân nhân đó đầu tư thì sẽ thuộc nhóm đối tượng được liệt kê tại Điều 2 Nghị định 78/2006/NĐ – CP Nghĩa là,
kể cả các thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam cũng có thể được tiến hành ĐTRN theo quy định tại Nghị định 78/2006/NĐ – CP Nếu căn cứ vào Điều 6 và Điều 16 Luật Thương mại, thì thương nhân nước ngoài vẫn được phép
41 Xem Khoản 1, Điều 3, Luật Thương mại năm 2005.
Trang 37tham gia ĐTRN Tuy nhiên, khi đi phân tích quy định tại Điều 16 Luật Thương mại thì nhóm thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam được điều chỉnh bởi Luật Thương mại chỉ bao gồm thương nhân là tổ chức kinh tế và không điều chỉnh đối tượng thương nhân nước ngoài là cá nhân Điều này suy ra, đối với các thương nhân nước ngoài là cá nhân thì không chịu sự điều chỉnh của Nghị định 78/2006/NĐ – CP trong hoạt động ĐTRN Bên cạnh đó, khi xem xét đối tượng thương nhân nước ngoài đang hoạt động thương mại tại Việt Nam là cá nhân có được mang tư cách pháp lý là nhà đầu tư Việt Nam theo Điều 2 Nghị định 78/2006/NĐ – CP thì theo người viết nhóm đối tượng này không được xem là nhà
đầu tư theo quy định tại điều này Vì khi căn cứ vào cụm từ “Các nhà đầu tư tại Việt
Nam” và khái niệm về đầu tư ra nước ngoài theo Khoản 14 Điều 3 Luật Đầu tư thì
“Đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp
pháp khác từ Việt Nam ra nước ngoài để tiến hành hoạt động đầu tư” Từ những
lập luận vừa nêu trên, có thể nói chỉ có những thương nhân là cá nhân Việt Nam mới được xem là nhà đầu tư chịu sự điều chỉnh của Nghị định 78/2006/NĐ – CP Mặc dù vậy, trên đây chỉ là những lập điểm mang tính chất suy luận của tác giả và hiện Luật Thương mại cũng như Nghị định 78/2006/NĐ – CP vẫn chưa quy định cụ thể về điều kiện để một cá nhân Việt Nam trở thành nhà đầu tư theo quy định tại Điều 2 của nghị định này Do đó, theo tác giả các nhà lập pháp nên sớm có những quy định hướng dẫn cụ thể cho vấn đề này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cả phía cơ quan quản lý
về lĩnh vực ĐTRN và những đối tượng đang có nhu cầu tham gia vào hoạt động đầu
tư này
2.1.2.2 Hộ kinh doanh
Tương tự như nhóm những nhà đầu tư là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo Luật Đầu tư nước ngoài; cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục, khoa học, văn hóa, thể thao và các cơ sở dịch vụ khác có hoạt động đầu tư sinh lợi; cá nhân Việt Nam, thì nhà đầu tư là hộ kinh doanh cũng được xếp vào nhóm là nhà đầu
tư mới bổ sung thêm trong Nghị định 78/2006/NĐ – CP so với Nghị định 22/1999/NĐ – CP trước đây Loại hình hộ kinh doanh xuất hiện khá sớm trong đời sống xã hội ở Việt Nam và chính thức được pháp luật thừa nhận tư cách pháp lý tại Nghị định số 27/1988/NĐ – HĐBT, ngày 9 tháng 03 năm 1988 ban hành Bản quy định về chính sách đối với kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp xây dựng, vận tải42 Qua nhiều lần sửa đổi về cách gọi pháp lý
42 Xem thêm TS Ngô Huy Chương, Phân tích pháp luật về hộ kinh doanh để tìm ra các bất cập, Tạp chí khoa học, Trường Đại học quốc gia Hà Nội, Luật học số 25 năm 2009.
Trang 38theo quy định của pháp luật Việt Nam khái niệm hộ kinh doanh dần được quy định
rõ hơn Cụ thể theo quy định tại Điều 49 Nghị định 43/2010/NĐ – CP, ngày 15 tháng
4 năm 2010 về đăng ký doanh nghiệp thì hộ kinh doanh được định nghĩa như sau:
“Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc
một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh” Nghĩa là, theo định nghĩa này thì hộ
kinh doanh được được chia thành ba loại khi căn cứ vào chủ thể tạo lập ra nó: (1) Hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ; (2) hộ kinh doanh do hộ gia đình làm chủ và (3) hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ Có thể nói, đây là một nhóm chủ thể khá đặc biệt khi tham gia vào các quan hệ pháp luật theo quy định của pháp luật Việt Nam Vì xét về mặt pháp lý hộ kinh doanh không phải là mộ cá nhân riêng lẻ, cũng không phải là một tổ chức kinh tế, đây là một thực thể không có tư cách pháp nhân Theo đó, hộ kinh doanh có những đặc điểm pháp lý cơ bản sau:
+ Hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân
+ Hộ kinh doanh là hình thức kinh doanh có quy mô nhỏ (số lượng lao động được sử dụng trong hộ kinh doanh không quá 10 người)
+ Chủ hộ kinh doanh chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của hộ kinh doanh
Và để trở thành nhà đầu tư được tham gia vào hoạt động ĐTRN thì trước hết
hộ kinh doanh phải đáp ứng được các điều kiện để có tư cách pháp lý là “hộ kinh doanh” theo quy định của pháp luật về đăng ký doanh nghiệp được hướng dẫn tại Chương VI Nghị định 43/2010/NĐ – CP Đồng thời, tùy vào từng ngành nghề, lĩnh vực ĐTRN mà hộ kinh doanh còn phải tuân thủ quy định riêng của ngành nghề, lĩnh vực đó Tuy nhiên, vì hộ kinh doanh này bao gồm ba loại (hộ kinh doanh là cá nhân,
hộ kinh doanh là hộ gia đình, hộ kinh doanh nhóm người) nên ngoài việc thỏa các điều kiện chung để có tư cách pháp lý theo quy định của Nghị định 43/2010/NĐ –
CP thì tùy vào mỗi loại hộ kinh doanh là cá nhân, hộ gia đình hay nhóm người sẽ phải đáp ứng các điều kiện riêng Vì thế, để hiểu rõ hơn về điều kiện để một hộ kinh doanh là nhà đầu tư theo quy định của Nghị định 78/2006/NĐ – CP, người viết sẽ lần lượt đi phân tích khái quát về điều kiện để trở thành từng loại hộ kinh doanh như sau:
Thứ nhất, hộ kinh doanh là cá nhân
Trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta luôn tạo điều kiện thuận lợi để mọi công dân được tham gia vào các hoạt động kinh doanh – sản xuất Theo đó, một cá nhân có thể lựa chọn cho mình một mô kinh kinh doanh riêng, đó có thể là doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân hoặc kinh doanh với thực thể pháp lý
Trang 39là một hộ kinh doanh…Khi một cá nhân muốn tiến hành hoạt động kinh doanh của
mình dưới hình thức là một hộ kinh doanh thì điều kiện trước hết cá nhân đó phải “là
công dân Việt Nam, đủ 18 tuổi, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự
tham gia kinh doanh tại Việt Nam với loại hình là một hộ kinh doanh Ngoài ra, cá nhân kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh không được đồng thời là chủ doanh nghiệp tư nhân hay thành viên hợp danh của công ty hợp danh Sau khi một
cá nhân đã đáp ứng đủ các điều kiện cần về mặt chủ thể thì điều kiện đủ mà một cá nhân phải đáp ứng để được pháp luật thừa nhận là hộ kinh doanh khi cá nhân đó đi đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
Thứ hai, hộ kinh doanh là hộ gia đình
Bên cạnh việc cho phép mỗi cá nhân được tham gia vào quan hệ pháp luật ĐTRN dưới nhiều thực thể pháp lý khác nhau thì pháp luật cũng trao quyền bình đẵng trong hoạt động kinh doanh cho đối tượng là hộ gia đình Theo quy định của Bộ
Luật Dân sự năm 2005, thì thực thể hộ gia đình được hiểu như sau: “Hộ gia đình mà
các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh
vực”44 Với cách diễn giải của quy định này thì khái niệm về hộ gia đình vẫn còn khá
mơ hồ Chỉ biết rằng, hộ gia đình sẽ bao gồm các thành viên trong gia đình và có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung Tuy nhiên, dấu hiệu
là “thành viên” được xác định dựa vào mối quan hệ nào? Đó là mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hay quan hệ nuôi dưỡng hay phải đáp ứng cả 3 mối quan
hệ này? Và thực tế thì hộ gia đình không không bao gồm tất cả các thành viên có các mối quan hệ đó với nhau Được xem là thành viên của hộ gia đình thì cần phải có hai điều kiện: (1) Điều kiện quan hệ (điều kiện cần), thể hiện qua việc hoặc có quan hệ hôn nhân, hoặc có quan hệ huyết thống, hoặc có quan hệ nuôi dưỡng; và (2) điều kiện chung sống (điều kiện đủ), có nghĩa là cùng trú ngụ ở một nơi hoặc cùng kiếm sống dựa vào cùng một sản nghiệp45
Trong quan hệ hộ gia đình thì chủ thể đại diện cho hộ trong các giao dịch dân
sự vì lợi ích chung của hộ là chủ hộ Chủ hộ có thể là cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên trong gia đình đó (các chủ thể được đại diện là chủ hộ phải đáp ứng đủ các điều kiện về năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật) Ngoài ra, theo quy định tại Điều 107 Bộ Luật Dân sự năm 2005 thì
43 Xem Khoản 1, Điều 50, Nghị định 43/2010/NĐ – CP, ngày 15 tháng 4 năm 2010.
44 Xem Điều 106, Bộ Luật Dân sự năm 2005.
45 Xem thêm TS Ngô Huy Chương, Phân tích pháp luật về hộ kinh doanh để tìm ra các bất cập, Tạp chí khoa học, Trường Đại học quốc gia Hà Nội, Luật học số 25 năm 2009.
Trang 40chủ hộ gia đình có thể ủy quyền cho một thành viên khác làm đại diện của hộ trong giao dịch dân sự Một khi hộ gia đình tham gia vào hoạt động ĐTRN với tư cách là
hộ kinh doanh thì hộ gia đình này sẽ chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình Điều này có nghĩa là, ngoài việc đưa tài sản kinh doanh ra để trả nợ, việc xác định trách nhiệm của từng thành viên hộ gia đình sẽ căn cứ vào các quy định của Bộ Luật Dân sự 2005 Theo Bộ luật này, hộ gia đình chịu trách nhiệm bằng tài sản chung của hộ; nếu tài sản chung không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng của mình (Khoản 2 Điều 110 Bộ Luật Dân sự 2005) Tuy nhiên, số lượng các thành viên thuộc hộ gia đình có thể thay đổi
vì vậy sẽ gây khó khăn cho việc giải quyết tranh chấp có liên quan Trong thực tiễn
tư pháp và trong thực tiễn thi hành pháp luật ở các cơ quan hành pháp, người ta thường xác định tập hợp thành viên hộ gia đình thông qua sổ hộ khẩu Hơn nữa, sổ
hộ khẩu không nói lên vấn đề rằng các thành viên có cùng trú ngụ trên thực tế hay cùng kiếm sống hay không46 Bởi vấn đề này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo
vệ lợi ích của các chủ thể khác khi xác lập các giao dịch với hộ kinh doanh là hộ gia đình Tuy nhiên, vấn đề này không thuộc phạm vi tìm hiểu của đề tài nên tác giả không đi sâu phân tích; mà chỉ tìm hiểu hộ gia đình với tư cách là hộ kinh doanh khi trở thành nhà đầu tư chịu sự điều chỉnh của pháp luật về ĐTRN Tóm lại, về cơ bản một hộ gia đình là hộ kinh doanh khi tham gia vào hoạt động ĐTRN phải thỏa các điều kiện về hộ gia đình theo pháp luật dân sự và tất nhiên đối tượng này cũng phải phải tiến hành đăng ký kinh doanh theo hướng dẫn của Nghị định 43/2010/NĐ – CP thì mới được xếp vào nhóm các nhà đầu tư Việt Nam theo quy định tại Điều 2 Nghị định 78/2006/NĐ – CP
Thứ ba, hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ
Trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc “mọi công dân đều có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật ”47; đồng thời kế thừa quy định về nhóm đối tượng được
kinh doanh dưới hình thức là hộ kinh doanh, Nghị định 43/2010/NĐ – CP cho phép
“một nhóm người”, không phải là hộ gia đình, được kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh Việc cho phép này có tác dụng thúc đẩy kinh doanh Đối với trường hợp
hộ kinh doanh do một nhóm người tạo lập thì về cơ bản mỗi cá nhân trong nhóm người này phải đáp ứng các điều kiện về năng lực chủ thể của pháp luật dân sự, không thuộc các đối tượng bị cấm kinh doanh theo quy định của pháp luật Một điểm còn chưa rõ ràng trong quy định đối hộ kinh doanh do một nhóm người lập ra là
“chưa xác định được một nhóm người này là bao nhiêu? Có bị hạn chế về số lượng
46 Xem thêm TS Ngô Huy Chương, Phân tích pháp luật về hộ kinh doanh để tìm ra các bất cập, Tạp chí khoa học, Trường Đại học quốc gia Hà Nội, Luật học số 25 năm 2009.
47 Xem Điều 57, Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, đã được sửa đổi bổ sung năm 2001