1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trong ngành dầu khí

22 443 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 274,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMP, FDI được định nghĩa là: “một khoản đầu tưvới những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế nhà đầu tưtrực tiếp thu được lợi ích lâu dài t

Trang 1

MỤC LỤC

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC

NGOÀI TRONG NGÀNH DẦU KHÍ 1

1.1 Tổng quan về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 1

1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài 1

1.1.2 Đặc điểm đầu tư trực tiếp nước ngoài 2

1.1.3 Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài 2

1.1.4 Tác động của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 4

1.1.4.1 Đối với nước đi đầu tư 4

1.1.4.2 Đối với nước tiếp nhận đầu tư 5

1.1.4.3 Đối với doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài 6

1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 7 1.1.5.1 Từ phía nhà đầu tư 7

1.1.5.2 Từ phía nước đi đầu tư 8

1.1.5.3 Từ phía nước tiếp nhận đầu tư 8

1.1.5.4 Các nhân tố thuộc môi trường quốc tế 9

1.2 Đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động thăm dò - khai thác dầu khí 10

1.2.1 Các công đoạn và trình tự tiến hành của hoạt động đầu tư thăm dò -khai thác dầu khí 10

1.2.1.1 Giai đoạn thăm dò thẩm lượng 10

1.2.1.2 Giai đoạn phát triển mỏ 11

1.2.1.3 Giai đoạn khai thác 11

1.2.1.4 Giai đoạn hủy mỏ 12

1.2.2 Những đặc điểm của hoạt động thăm dò - khai thác dầu khí 12

1.2.2.1 Hoạt động thăm dò - khai thác dầu khí mang tính rủi ro cao về kinh tế 12

Trang 2

1.2.2.2 Các dự án dầu khí đòi hỏi nguồn vốn đầu tư rất lớn mà chủ yếu

là ngoại tệ 13

1.2.2.3 Hoạt động đầu tư thăm dò - khai thác dầu khí đòi hỏi phải áp dụng công nghệ kĩ thuật cao 14

1.2.2.4 Công tác điều hành đòi hỏi chặt chẽ và khẩn trương 14

1.2.2.5 Hoạt động thăm dò - khai thác dầu khí mang tính quốc tế hóa cao 14

1.2.3 Chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả của hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí ra nước ngoài 14

1.2.3.1 Tổng số dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 14

1.2.3.2 Số lượng quốc gia có các dự án FDI của quốc gia đi đầu tư 15

1.2.3.3 Quy mô bình quân của các dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 15 1.2.3.4 Tốc độ tăng của nguồn vốn đầu tư 15

1.2.3.5 Tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện/ vốn đầu tư đăng ký 15

1.2.3.6 Doanh thu thuần trên vốn đầu tư 15

1.2.3.7 Lợi nhuận sau thuế trên vốn đầu tư 15

1.3 Kinh nghiệm thành công của một số công ty dầu khí trên thế giới và trong khu vực khi vươn ra thị trường quốc tế 16

1.3.1 Tập đoàn dầu khí British Petroleum (BP) 16

1.3.2 Tập đoàn dầu khí quốc gia Malaysia Petronas 17

1.3.3 Tập đoàn dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc CNOOC 17

1.3.4 Công ty PTTEP (Thái Lan) 18

1.3.5 Bài học kinh nghiệm cho PVEP 19

Trang 3

Chapter 1 CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC

TIẾP RA NƯỚC NGOÀI TRONG NGÀNH DẦU KHÍ

1.1 Tổng quan về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều quan niệm khác nhau về đầu tư trực tiếpnước ngoài (FDI – Foreign Direct Investment) Đứng trên giác độ khác nhau mỗi tổchức lại đưa ra một định nghĩa khác nhau

Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMP), FDI được định nghĩa là: “một khoản đầu tưvới những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tưtrực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác.Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lýdoanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó

Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) lại đưa ra định nghĩa: “Đầu tưtrực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư)

có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lýtài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chínhkhác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ởnước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thườnghay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chinhánh công ty”

Tổng hợp lại có thể hiểu: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một loại hìnhđầu tư quốc tế, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý

và điều hành hoạt động sử dụng vốn.Về thực chất, FDI là sự đầu tư của các công tynhằm xây dựng các cơ sở, chi nhánh ở nước ngoài và làm chủ toàn bộ hay từngphần cơ sở đó Đây là loại hình đầu tư, trong đó chủ đầu tư nước ngoài tham giađóng góp một số vốn đủ lớn vào việc sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ và cho phép

họ trực tiếp tham gia quản lý, điều hành đối tượng đầu tư

Trang 4

1.1.2 Đặc điểm đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đặc điểm nổi bật sau:

 Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số tối thiểu vào vốn phápđịnh, tùy theo luật doanh nghiệp của mỗi nước

 Quyền quản lý, điều hành đối tượng đầu tư tùy thuộc vào mức độ góp vốn.Nếu góp 100% vốn thì đối tượng đầu tư hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài điềuhành và quản lý

 Lợi nhuận từ hoạt động đầu tư phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuấtkinh doanh và được phân chia theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định

 FDI được xây dựng thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mua mới, mualại toàn bộ hay từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc mua cổ phiếu để thôntính hay sáp nhập các doanh nghiệp với nhau

1.1.3 Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trong thực tiễn, FDI được thực hiện với nhiều hình thức khác nhau, có thểkhái quát một số hình thức chủ yếu như sau:

Hình thức doanh nghiệp liên doanh

Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập do một hoặc nhiềuchủ đầu tư nước ngoài (ĐTNN) góp vốn chung với doanh nghiệp tại nước sở tại trên

cơ sở hợp đồng liên doanh Doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài gọi tắt là liêndoanh là hình thức được sử dụng rộng rãi nhất của đầu tư trực tiếp nước ngoài trênthế giới từ trước đến nay Nó là công cụ để thâm nhập vào thị trường nước ngoàimột cách hợp pháp và có hiệu quả thông qua hoạt động hợp tác

Hình thức này có một số ưu điểm như chia sẻ rủi ro trong quá trình thành lập

và hoạt động của dự án, giảm gánh nặng về vốn cho các nhà ĐTNN, dễ tiếp cận thịtrường và các cơ quan địa phương sở tại… Tuy nhiên thông qua hình thức này,quyền quản lý và lợi nhuận cũng sẽ bị chia sẻ cho các bên tuỳ theo tỷ lệ góp vốn

Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Đây là hình thức thành lập doanh nghiệp hoàn toàn do nhà ĐTNN góp vốn vàtrực tiếp điều hành quản lý Hình thức này có ưu điểm là nhà ĐTNN toàn quyền

Trang 5

quyết định về quản lý và không phải chia sẻ lợi nhuận Tuy nhiên, nhà ĐTNN ẽchịu gánh nặng về vốn góp ban đầu, xác suất rủi ro cao, đôi khi gặp bất lợi trongviệc tiếp cận thị trường và cơ quan chính quyền sở tại.

Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh

Đây là hình thức mà hai hay nhiều bên hợp tác kinh doanh với nhau dựa trên

cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh Nó là văn bản được kí kết giữa đại diện cóthẩm quyền của các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh, quy định rõ việcthực hiện phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên Khi hết thời hạn hiệu lực thìcác bên không còn ràng buộc về mặt pháp lý

Hình thức hợp đồng xây dựng- kinh doanh và chuyển giao BOT

Hợp đồng BOT là văn bản ký kết giữa các nhà ĐTNN với cơ quan thẩm quyềncủa nước chủ nhà để đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng (kể cả mở rộng,nâng cấp, hiện đại hóa công trình) và kinh doanh trong một thời gian nhất định đểthu hồi vốn và có lợi nhuận hợp lý, sau đó chuyển giao không bồi hoàn toàn bộcông trình cho nước chủ nhà BTO và BT là hình thức biến tướng của hợp đồngBOT

BTO là văn bản ký kết giữa Nhà nước sở tại và nhà ĐTNN về việc xây dựngcông trình kết cấu hạ tầng, sau khi xây dựng xong nhà ĐTNN sẽ chuyển giao chonước sở tại Chính phủ nước sở tại sẽ cùng với nhà ĐTNN khai thác công trình đótrong một khoảng thời gian nhất định để thu hồi vốn và đảm bảo có lãi

BT là hình thức văn bản ký kết giữa Nhà nước sở tại và nhà ĐTNN về xâydựng các công trình kết cấu hạ tầng Sau khi xây dựng xong nhà ĐTNN sẽ chuyểngiao cho nước sở tại Chính phủ nước sở tại tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoàithực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý

Liên minh và sáp nhập (M&A)

Đây là hình thức chủ yếu được thực hiện ở những nước phát triển, chủ đầu tưtiến hành thông qua mua lại, liên minh và sáp nhập các doanh nghiệp hiện có ởnước ngoài Nguyên tắc cơ bản để tiến hành sáp nhập và mua lại là phải tạo ra đượcgiá trị cho cổ đông, giá trị của công ty sau khi tiến hành M&A phải lớn hơn tổng giá

Trang 6

trị hiện tại của hai công ty khi còn đứng riêng rẽ Ngoài ra, những công ty mạnhmua lại công ty khác nhằm tạo ra một công ty mới với năng lực cạnh tranh cao hơn,đạt hiệu quả về chi phí, chiếm lĩnh thị phần lớn hơn, hiệu quả vận hành cao hơn…

1.1.4 Tác động của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Trong xu thế quốc tế hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ, đầu tư trực tiếp ra nướcngoài không chỉ dừng lại ở các nước phát triển mà kể cả các nước đang phát triểncũng khuyến khích hoạt động này vì vai trò tích cực của nước xuất khẩu vốn và nhàđầu tư khi đầu tư ra nước ngoài

1.1.4.1 Đối với nước đi đầu tư

Tác động tích cực

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trước hết giúp nền kinh tế của quốc gia đi đầu

tư thâm nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế.Qua đó, củng cố vai trò chính trị và vị thế kinh tế của quốc gia trên thế giới

Thông qua hoạt đầu đầu tư ra nước ngoài, nước đi đầu tư sẽ có thêm nguồnnguyên liệu, nhiên liệu, … phục vụ cho sự phát triển kinh tế trong nước

Đầu tư ra nước ngoài góp phần tạo đội ngũ thương nhân năng động, có kinhnghiệm kinh doanh quốc tế, góp phần tăng chất lượng nguồn nhân lực trong nước.Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài còn góp phần thức đẩy hoạt động thương mạiquốc tế của nước đi đầu tư theo hướng ổn định và có hiệu quả hơn vì chính cơ sởsản xuất và dịch vụ ở nước ngoài là điểm đến của hàng hóa, thiết bị, bí quyết côngnghệ và nhân công của nước đó

Tác động tiêu cực

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đồng nghĩa với việc một lượng vốn trong nước

bị chuyển ra bên ngoài, điều đó làm phân tán nguồn lực về tài chính, giảm cán cânthanh toán quốc gia đồng thời khả năng đầu tư cho phát triển kinh tế trong nướccũng bị hạn chế, từ đó cũng tác động đến việc tạo việc làm ở trong nước

Bên cạnh đó, vốn và tài sản từ các hoạt động kinh tế ngầm được chuyển ranước ngoài mà Chính phủ không quản lý được có thể dẫn đến hiện tượng chảy máungoại tệ, tạo khe hở cho hoạt động rửa tiền

Trang 7

Việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài còn dẫn đến các sản phẩm được sản xuất ravới giá thành rẻ, thị trường tiêu thụ được mở rộng do chính sách khuyến khích xuấtkhẩu của nước tiếp nhận sẽ quay trở lại cạnh tranh với chính hàng hóa sản xuất nộiđịa của nước đi đầu tư.

1.1.4.2 Đối với nước tiếp nhận đầu tư

Tác động tích cực

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài sẽ đem đến nguồn vốn bổ sung quan trọng chonước tiếp nhận đầu tư, tạo sự tăng trưởng khả quan, giúp khai thác nguồn lực mộtcách có hiệu quả, đặc biệt là với các nước đang phát triển

Việc tiếp nhận đầu tư sẽ làm cho cơ cấu kinh tế được điều chính theo hướngtích cực Những ngành có lợi thế so sánh, có tỷ suất lợi nhuận cao, khả năng cạnhtranh mạnh sẽ được tập trùn phát triển

Ngoài ra, về mặt xã hội, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ giúp chonước tiếp nhận giải quyết tốt vấn đề việc làm và thu nhập dân cư Ngân sách Nhànước cũng sẽ tăng thêm từ các khoản thuế, phí, lệ phí mà các doanh nghiệp nướcngoài nộp

Các doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư sẽ xây dựng các dây chuyền sản xuất

ở nước sở tại dưới nhiều hình thức khác nhau Điều này cho phép các nước tiếpnhận được công nghệ tiên tiến và kỹ năng quản lý hiện đại

Qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, đội ngũ cán bộ và người lao động ở nước sởtại sẽ được đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng điều hành, quản lý… Điều này cótác động to lớn mang tính lâu dài, nó giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, yếu

tố then chốt cho phát triển kinh tế của một quốc gia

Các công ty xuyên quốc gia là những chủ thể chính trong hoạt động đầu tưquốc tế với hệ thống mạng lưới hoạt động rộng lớn sẽ mang lại cho nước tiếp nhận

cơ hội mở rộng quan hệ quốc tế trên nhiều lĩnh vực: thương mại, đầu tư, văn hoá…

Tác động tiêu cực

Thường các nhà đầu tư nước ngoài muốn tìm kiếm lợi ích từ nguồn tài nguyênphong phú và chưa có điều kiện khai thác ở các nước tiếp nhận đầu tư Bên cạnh đó,

Trang 8

Chính phủ các nước này (chủ yếu là các nước đang phát triển) với suy nghĩ thiểncận và tâm lí muốn nhanh chóng thu hút được nhiều vốn từ nước ngoài bất chấpmọi điều kiện làm cho nguồn tài nguyên này bị khai thác và sử dụng quá mức dẫnđến cạn kiệt, phá huỷ môi trường.

Ngoài ra, các công nghệ được chuyển giao thường không phải công nghệnguồn mà nhiều khi là công nghệ lạc hậu đã qua sử dụng Thực tế nhiều nước đangphát triển đang có nguy cơ trở thành bãi rác công nghệ Những công nghệ đượcchuyển giao không những không làm tăng chất lượng, tăng tính cạnh tranh của sảnphẩm mà còn gây ô nhiễm môi trường

Chính phủ do muốn phát triển cân đối nền kinh tế nên muốn ưu tiên hỗ trợphát triển những vùng khó khăn, nghèo nàn lạc hậu Tuy nhiên, do mục tiêu lợinhuận, các ngành các vùng có điều kiện thuận lợi hơn sẽ thu hút nhiều vốn Hai xuhướng trái ngược này sẽ cản trở sử dụng hiệu quả những hỗ trợ từ Chính phủ

Một tác động không mong muốn nữa là để thu hút được nguồn vốn từ nướcngoài kèm theo các điều kiện gây sức ép với nhà nước sở tại phải thay đổi cơ chếchính sách luật lệ theo hướng có lợi cho các nhà đầu tư Điều này làm giảm tính tựchủ của Chính phủ trong xây dựng cơ chế chính sách

1.1.4.3 Đối với doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài

Tác động tích cực

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp các doanh nghiệp thâm nhập sâu vào thịtrường thế giới, tìm kiếm cơ hội đầu tư tốt hơn, nhờ đó mà nâng cao hiệu quả sửdụng vốn, tăng nội lực kinh doanh (tích lũy kinh nghiệm trên thương trường quốc

tế, học hỏi tiếp thu công nghệ và bí quyết công nghệ… ) Từ những thành công ởnước ngoài, doanh nghiệp có thể áp dụng vào hoạt động của công ty mẹ trong nước.Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài còn là cơ hội cho các doanh nghiệp thực hiện

“chuyển giá” để giảm thiểu mức thuế đóng góp cho toàn bộ hệ thống công ty đóng

ở các nước khác nhau Nhờ đó, doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận thu được

Bên cạnh nguồn vốn hữu hình thì vốn vô hình như thương hiệu, công nghệ, bíquyết công nghệ đóng góp một phần rất quan trọng vào sự thành công của doanh

Trang 9

nghiệp Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp cho thương hiệu của doanh nghiệp mởrộng ra thị trường quốc tế Từ đó tăng thêm cơ hội trong hợp tác kinh doanh củadoanh nghiệp.

Không chỉ bó hẹp ở trong nước, đầu tư ra nước ngoài giúp doanh nghiệp cóđiều kiện phân tán rủi ro kinh doanh, điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trongthế thời đầy biến động về kinh tế - chính trị như hiện nay

Tác động tiêu cực

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài mang tính rủi ro cao hơn so với đầu tư trongnước Đây là hoạt động phức tạp do liên quan đến khác biệt về luật pháp, văn hóa,ngôn ngữ, chính trị, xã hội, sắc tộc… Vì thế nhà đầu tư nếu không hiểu biết về sựkhác biệt đó rất dễ thất bại

1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

1.1.5.1 Từ phía nhà đầu tư

Lợi thế độc quyền riêng (lợi thế gắn với quyền sở hữu):

Lợi thế này giúp các chủ đầu tư khắc phục được những bất lợi trong cạnhtranh với các công ty của nước nhận đầu tư và với cả các công ty của nước chủ đầu

tư Đặc biệt, nó cho phép doanh nghiệp vượt qua các khó khăn về chi phí hoạt động

ở nước ngoài do sự khác biệt về văn hóa, luật pháp, thể chế, ngôn ngữ… Các lợi thếnày bao gồm:

- Kiến thức/ công nghệ: bao gồm tất cả các hoạt động phát minh (sản phẩmmới, qui trình sản xuất, kỹ năng marketing và quản lý, năng lực sáng tạo, nền tảngkiến thức kinh doanh của doanh nghiệp)

- Giảm chi phí nhờ hoạt động với qui mô lớn (lợi thế quản lý chung): giảm chiphí nhờ chia sẻ kiến thức, tiếp cận dễ hơn các nguồn tài chính lớn của các công ty

Trang 10

nước ngoài và các lợi thế từ việc đa dạng hóa mang tính quốc tế các tài sản và rủi

ro, đa dạng hóa sản phẩm

- Lợi thế độc quyền tập trung vào các tập đoàn đa quốc gia dưới hình thức ưutiên hoặc độc quyền tiếp cận các thị trường đầu vào và đầu ra thông qua các quyền

về bằng sáng chế, sở hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên khan hiếm…

- Lợi thế về nội bộ hóa: Nghĩa là việc sử dụng các tài sản riêng của doanhnghiệp ở nước ngoài thông qua FDI sẽ có lợi hơn các cách sử dụng khác

Tiềm lực của nhà đầu tư:

Nhà đầu tư phải có nguồn vốn lớn, khảo sát hiểu rõ thị trường đầu tư…

1.1.5.2 Từ phía nước đi đầu tư

Mối quan hệ ngoại giao:

Đây là nhân tố có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến quyết định đầu tư củanhà đầu tư Nếu nước chủ đầu tư và nước tiếp nhận có mối quan hệ tốt đẹp thì sẽ tạođiều kiện cho nhà đầu tư Ngược lại, nếu có căng thẳng chính trị, nước chủ đầu tư

có thể không cho phép nhà đầu tư của nước mình tiến hành hoạt động đầu tư ở nướcnào đó

Chính sách của Chính phủ nước chủ đầu tư:

Nếu Chính phủ có những chính sách khuyến khích đầu tư ra nước ngoài thìnhà đầu tư của nước đó sẽ yên tâm hơn khi đầu tư ở nước ngoài Ví dụ như: Đứng

ra bảo hiểm cho các hoạt động đầu tư ở nước ngoài, ưu đãi về thuế và tài chính,khuyến khích chuyển giao công nghệ… Trong trường hợp ngược lại, Chính phủ cóchính sách hạn chế hay cấm đầu tư ra nước ngoài thì các nhà đầu tư trong nướccũng sẽ giảm hoặc không đầu tư ra nước ngoài

1.1.5.3 Từ phía nước tiếp nhận đầu tư

Điều kiện về khung chính sách hỗ trợ đầu tư:

Các qui định về luật pháp, các tiêu chuẩn đối xử với nhà đầu tư nước ngoài, cơchế thị trường của nước nhận đầu tư… có ảnh hướng rất lớn đến quyết định đầu tưcủa nhà đầu tư nước ngoài Các qui định thông thoáng, có nhiều ưu đãi, không cóhoặc ít có rào cản, hạn chế hoạt động FDI sẽ góp phần tăng cường thu hút FDI và

Trang 11

tạo thuận lợi cho các dự án FDI trong quá trình hoạt động.

Một số các qui đinh, chính sách trong một số ngành, lĩnh vực khác:

Dù không trực tiếp quy định nhưng một số chính sách trong ngành, lĩnh vựckhác cũng có ảnh hưởng đến quyết định của chủ đầu tư như: Chính sách thương mại

có ảnh hưởng đến lựa chọn địa điểm đầu tư vì FDI gắn với sản xuất và tiêu thụ hànghóa, dịch vụ Chính sách tư nhân hóa liên quan đến việc cổ phần hóa, bán lại cáccông ty Chính sách tiền tệ và chính sách thuế có ảnh hưởng quan trọng đến sự ổnđịnh của nền kinh tế…

Yếu tố của môi trường kinh tế:

Các chủ đầu tư có động cơ tìm kiếm thị trường sẽ quan tâm đến các yếu tố nhưdung lượng thị trường, thu nhập bình quân đầu người, tốc độ tăng trưởng của thịtrường, khả năng tiếp cận thị trường khu vực và trên thế giới, các sở thích đặc biệtcủa người tiêu dùng ở nước nhận đầu tư và cơ cấu thị trường

Nguồn tài nguyên thiên nhiên:

Các chủ đầu tư luôn tìm cách đầu tư trực tiếp sang các nước có nhiều nguồntài nguyên để có được quyền khai thác lâu dài các nguồn tài nguyên

1.1.5.4 Các nhân tố thuộc môi trường quốc tế

Đó là các yếu tố thuộc môi trường kinh tế, chịnh trị, xã hội toàn cầu có ổn địnhhay không, thuận lợi hay không thuận lợi cho nước chủ đầu tư và nước tiếp nhậnđầu tư cũng như cho chính nhà đầu tư khi tiến hành hoạt động đầu tư ra nước ngoài.Nước nào xây dựng được môi trường đầu tư có sức hấp dẫn cao hơn thì nước đó cókhả năng thu hút được nhiều FDI hơn

Ngày đăng: 24/03/2015, 13:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Bảng thống kê chi phí một số hạng mục của hoạt động đầu tư thăm dò khai thác - Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trong ngành dầu khí
Bảng 1 Bảng thống kê chi phí một số hạng mục của hoạt động đầu tư thăm dò khai thác (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w