1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN LUẬT HÌNH SỰ

20 585 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 57,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau một thời gian nghiên cứu phát triển, tùy thuộc vào sự phát triển khoa học, kỹ thuật và xã hội cũng như quan điểm lập pháp của từng quốc gia mà hiện nay trên thế giới có nhiều định ng

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

  Hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường đã trở thành vấn đề toàn cầu không chỉ riêng quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nào Tốc độ phát triển kinh tế quá nhanh chóng và

sự bùng nổ dân số thế giới khiến lá phổi xanh của nhân loại ngày càng bị ô nhiễm nặng

nề Với tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá cao, Việt Nam phải đối mặt với nhiều vấn đề môi trường phát sinh từ quá trình phát triển như: sự gia tăng lượng chất thải (nước thải, khí thải và chất thải rắn), sự suy giảm chất lượng nguồn nước, đất, và khí

Theo số liệu thống kê của Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh, từ năm 2010 đến cuối năm 2013, đã phát hiện, xử lý gần 25.000 vụ vi phạm pháp luật về môi trường, trong đó khởi tố trên 350 vụ với gần 400 đối tượng, xử phạt

vi phạm hành chính gần 200 tỷ đồng1 Điều đáng nói, vi phạm về bảo vệ môi trường chủ yếu là vi phạm về xử lý chất thải tại các khu công nghiệp (KCN), các làng nghề,

cơ sở kinh doanh… gia tăng Cùng với đó, trong lĩnh vực xử lý chất thải công nghiệp, phần lớn các doanh nghiệp đều không có hồ sơ, thủ tục công tác bảo vệ môi trường (BVMT), không thực hiện nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt

Tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm trầm trọng là hệ lụy từ những hành vi thiếu suy nghĩ của con người Sự cần thiết phải luật hóa khái niệm tội phạm môi trường một cách hợp lý, khoa học, chính xác, sát thực tế là rất cần thiết, để

từ đó diễn giải các trách nhiệm hình sự đối với các chủ thể có hành vi vi phạm trong lĩnh vực BVMT Nếu không có sự nhận thức đúng đắn về loại tội phạm này, thì việc xây dựng các hình thức chế tài, phạm vi và khả năng phòng ngừa, ngăn chặn hành vi vi phạm sẽ trở nên khó khăn hơn

Vì những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Tổng quan về tình hình tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”

làm tiểu luận của mình với mong muốn tìm hiểu về thực trạng tội phạm về quản lý chất thải nguy hại Từ đó, đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao công tác quản lý, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường

1 Phương Anh, Xử lý vi phạm về môi trường: Luật chưa đủ mạnh,

http://www.donre.hochiminhcity.gov.vn/tintuc/Lists/Posts/Post.aspx?List=f73cebc3-9669-400e-b5fd-9e63a89949f0&ID=4022.

Trang 2

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ QUẢN

LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI

1.1 Khái quát chung về tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại

1.1.1 Khái niệm chất thải nguy hại

Chất thải nguy hại luôn là một trong những vấn đề môi trường quan trọng hiện nay mà bất cứ quốc gia nào trên thế giới cũng đang tìm giải pháp để ứng phó Đặc biệt

là đối với các đang phát triển, trong đó có Việt Nam Từ việc hiểu chất thải nguy hại là

gì sẽ giúp chúng ta có cơ sở đặt ra các quy định để quản lý nó cũng như các biện pháp phòng ngừa hiện trạng gia tăng tội phạm về lĩnh vực này được hiệu quả hơn

Thuật ngữ chất thải nguy hại lần đầu tiên xuất hiện vào thập niên 70 Sau một thời gian nghiên cứu phát triển, tùy thuộc vào sự phát triển khoa học, kỹ thuật và xã hội cũng như quan điểm lập pháp của từng quốc gia mà hiện nay trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau về chất thải nguy hại trong luật và các văn bản pháp luật về môi trường như:

“Ở Philipin, chất thải nguy hại là những chất có độc tính, ăn mòn, gây kích thích, hoạt tính có thể cháy, nổ mà gây nguy hiểm cho con người và động vật

Còn ở Canada chất thải nguy hại được hiểu là những chất mà do bản chất và tính chất của chúng có khả năng gây hại đến sức khỏe con người và/hoặc môi trường Và những chất này yêu cầu các kỹ thuật xử lý đặc biệt để loại bỏ hoặc giảm đặc tính nguy hại của nó

Theo Chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc (12/1985): ngoài chất thải phóng xạ và chất thải y tế, chất thải nguy hại là chất thải (dạng rắn, dạng lỏng, bán rắn-semisolid và các bình chứa khí) mà do hoạt tính hóa học, độc tính, nổ, ăn mòn hoặc các đặc tính khác gây nguy hại hay có khả năng gây nguy hại đến sức khỏe con người hay môi trường bởi chính bản thân chúng hay khi được cho tiếp xúc với chất thải khác Theo các nhà lập pháp ở Mỹ [được đề cập trong Luật RCRA (the Resource Conservation and Recovery Act-1976)] chất thải (dạng rắn, dạng lỏng, bán rắn-semisolid và các bình khí) có thể được coi là chất thải nguy hại khi:

 Nằm trong danh mục chất thải nguy hại do EPA đưa ra (gồm 4 danh sách)

 Có một trong 4 đặc tính (khi được phân tích) do EPA đưa ra gồm cháy- nổ,

ăn mòn, phản ứng và độc tính

 Được chủ thải (hay nhà sản xuấ)t công bố là chất thải nguy hại Bên cạnh đó, chất thải nguy hại còn gồm các chất gây độc tính đối với con người

ở liều lượng nhỏ Đối với các chất chưa có các chứng minh nghiên cứu của dịch tễ trên

Trang 3

con người, các thí nghiệm trên động vật cũng có thể được dùng để ước đoán tác dụng độc tính của chúng lên con người”2

Qua các định nghĩa được nêu trên hầu hết các định nghĩa đều đề cập đến đặc tính cháy-nổ, ăn mòn, hoạt tính và độc tính của chất thải nguy hại và việc gây tác hại do bản thân chúng hay gây tương tác với các chất khác đến sức khỏe con người và môi trường sống

Tại Việt Nam đứng trước nguy cơ bùng bổ chất thải nguy hại là hệ quả của việc phát triển công nghiệp, ngày 16 tháng 7 năm 1999 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định ban hành Quy chế quản lý chất thải nguy hại số 155/1999/ QĐ9-TTgCP, tại

Khoản 2 Điều 3 chất thải nguy hại được định nghĩa như sau: “Chất thải nguy hại là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính gây nguy hại khác), hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ con người Danh mục các CTNH được ghi trong Phụ lục 1 kèm theo Quy chế này Danh mục này do cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cấp trung ương quy định;” 3

Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề quản lý chất thải nguy hại, các nhà lập pháp nước ta đã chính thức luật hóa khái niệm về chất thải nguy hại tại Khoản 1 Điều

13 Luật bảo vệ môi trường năm 2005 “Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác” 4 Theo quy định này thì định nghĩa chất thải nguy hại được diễn đạt

ngắn gọn hơn, rõ ràng và bao hơn so với cách hiểu theo Quy chế quản lý chất thải nguy hại trước đây

Tiếp theo đó đến năm 2014 chúng ta tiếp tục hoàn chỉnh hơn về định nghĩa chất

thải nguy hại được quy định Khoản 13 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2014 “Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính gây nguy hại khác”5

Tuy có sự khác nhau về từ ngữ nhưng cả hai định nghĩa được quy định trong Luật bảo vệ môi trường có nhiều điểm tương đồng với định nghĩa của các nước và các

tổ chức trên thế giới, đó là nêu lên đặc tính gây huy hại cho môi trường và sức khỏe cộng đồng của chất thải nguy hại

1.1.2 Khái niệm quản lý chất thải nguy hại

Quản lý chất thải là việc thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế, loại bỏ hay thẩm tra các vật liệu chất thải Quản lý chất thải thường liên quan đến những vật chất do hoạt

2 Xem thêm ThS Nguyễn Ngọc Châu, ebook.edu.vn, Giáo trình Quản lý chất thải nguy hại (phần3), http://kgcc.tailieu.vn/doc/giao-trinh-quan-ly-chat-thai-nguy-hai-ths-nguyen-ngoc-chau-281932.html

3 Khoản 2, Điều 3, Quy chế quản lý chất thải nguy hại số 155/1999/ QĐ9-TTgCP, ngày 16 tháng 7 năm 1999.

4 Khoản 1, Điều 13 Luật bảo vệ môi trường năm 2005.

5 Khoản 13, Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2014.

Trang 4

động của con người sản xuất ra, đồng thời đóng vai trò giảm bớt ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe con người, môi trường hay tính mỹ quan Quản lý chất thải cũng góp phần phục hồi các nguồn tài nguyên lẫn trong chất thải Quản lý chất thải có thể bao gồm chất rắn, chất lỏng, chất khí hoặc chất thải phóng xạ, mỗi loại được quản lý bằng những phương pháp và lĩnh vực chuyên môn khác nhau

Nhìn chung, đối với hầu hết các chất thải chúng ta cần phải đưa ra giải pháp quản

lý Đặc biệt, là đối với nhóm chất thải nguy hại thì vấn đề quản lý chúng càng quan trọng hơn để giảm đi tác hại của chúng đến môi trường và sức khỏe con người Việc quản lý chất thải nguy hại ở mỗi quốc gia là khác nhau do đặc thù kinh tế, trình độ phát triển khoa học kỹ thuật và ý thức về môi trường của mỗi quốc gia là khác nhau Nhìn chung những nước phát triển quan tâm hơn đến môi trường hơn những nước đang phát triển hoặc chưa phát triển Vấn đề môi trường đang được nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quan tâm và đang trên từng bước thay đổi mang tính tích cực Việc bảo vệ môi trường gắn liền với lợi ích của từng cá nhân trong xã hội với nhu cầu sức khoẻ và quyền lợi về kinh tế Với tốc độ phát triển liên tục của công nghiệp hoá, những vấn đề về môi trường, trong đó có quản lý chất thải nguy hại đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt để đối phó ngay một cách nghiêm túc, kịp thời trước khi vấn

đề trở nên trầm trọng hơn

Dưới góc độ pháp lý quản lý chất thải nguy hại được hiểu là “các hoạt động liên quan đến việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân định, phân loại, tái sử dụng trực tiếp, lưu giữ tạm thời, vận chuyển và xử lý CTNH” 6 (Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT, ngày 14 tháng 4 năm 2011 của Bộ Tài nguyên và môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại) Công tác quản lý chất thải nguy hại được quy định ngay từ trong Luật Bảo vệ môi trường 2014 và cụ thể hóa trong nhiều văn bản như Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2015 của Chính Phủ quy định về Quản lý chất thải và phế liệu và Thông tư 36/2015/TT- BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và môi trường về Quản lý chất thải nguy hại Nhìn chung các quy định của pháp luật về quản lý chất thải được phân thành các công đoạn sau7:

 Việc quản lý chất thải nguy hại phải được lập hồ sơ, đăng ký và cấp phép quản

lý chất thải nguy hại với cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường (Điều 90 Luật bảo vệ môi trường 2014)

 Việc phân loại, thu gom, lưu giữ trước khi xử lý chất thải nguy hại (Điều 90 Luật bảo vệ môi trường 2014)

 Việc vận chuyển chất thải nguy hại (Điều 93 Luật bảo vệ môi trường 2014)

 Việc xử lý chất thải nguy hại (Điều 94 Luật bảo vệ môi trường 2014)

6 Khoản 1, Điều 3, Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT, ngày 14 tháng 4 năm 2011

7 Xem Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.

Trang 5

Như vậy, các quy định của pháp luật về quản lý chất thải nguy hại có mục đích chủ yếu là bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng Thông qua các quy định trên các

cơ quan Nhà nước về môi trường có thể quản lý cho hành vi, xử sự của chủ thể khi liên quan đến các hoạt động thải chất thải nguy hại Qua đó hạn chế việc gia tăng số lượng chất thải nguy hại và giảm thiểu các tác động đến môi trường và sức khỏe con người Song, nhìn chung đứng trước bối cảnh hiện nay những quy định trên về quản

lý chất thải nguy hại ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế Đồng thời mức độ nguy hại của hành vi vi phạm về quản lý chất thải chuyển hóa và diễn biến ngày càng phức tạp Một trong những biểu hiện đó là hành vi vi phạm đã chuyển hóa thành tội vi phạm về quản

lý chất thải nguy hại được quy định trong Bộ Luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 Từ đó, vấn đề tìm hiểu về tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại là cần thiết

1.2 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về tội vi phạm quy định

về quản lý chất thải nguy hại

Bảo vệ môi trường được nhận thức từ rất lâu trên thế giới, song vấn đề này được tập trung giải quyết cả ở tầm quốc gia và quốc tế chủ yếu trong nửa sau thế kỷ XX Những hậu quả của việc tàn phá môi trường ảnh hưởng nghiêm trọng đến tự nhiên, xã hội và con người, đặc biệt phải kể đến nạn sa mạc hóa; ô nhiễm đất, nước và không khí; hiệu ứng nhà kính….công tác đấu tranh với những hành vi tàn phá môi trường chưa thu được hiệu quả cao, cùng với tính chất đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đặt ra nhiệm vụ hoàn thiện cơ chế bảo vệ môi trường có hiệu quả hơn Trong giới hạn của quốc gia, một trong những mắt xích chủ yếu của cơ chế này là chính sách hình sự đối với những hành vi xâm hại môi trường Phần lớn các nước trên thế giới đều có những quy định cụ thể đối với tội phạm về môi trường Nhiều nước thể hiện quyết tâm đấu tranh với loại tội phạm này thông qua những hình phạt hết sức nghiêm khắc Chẳng hạn như Cộng hòa các tiểu Vương quốc Ả Rập, khi coi bảo vệ môi trường là yếu tố chung của quốc gia cho sự phát triển thịnh vượng của đất nước, mới thông qua Bộ luật về bảo vệ môi trường với hơn 100 điều quy định cụ thể các hình phạt đối với hành vi làm ô nhiễm nguồn nước, đất, gây thiệt hại cho khu bảo tồn Đặc biệt, hình phạt cao nhất đối với tội phạm về môi trường đặc biệt nghiêm trọng là tử hình8

Nhìn chung, chính sách hình sự của Việt Nam trong việc bảo vệ môi trường còn khá

non trẻ so với các quy định về các tội phạm khác Mở đầu cho việc luật hóa các quy định về bảo vệ môi trường bằng một chế tài nghiêm khắc nhất được quy định trong Bộ Luật hình sự năm 1985 Tuy nhiên, trong Bộ Luật hình sự năm 1985 chưa thể hiện rõ tính cấp bách và tầm quan trọng đặc biệt của việc đấu tranh với các hành vi xâm hại môi trường Điều này không chỉ thể hiện qua việc Bộ Luật hình sự năm 1985

(BLHS-8 Xem thêm TS.Trần Lê Hồng, Nhận thức chung đối với tội phạm môi trường và một số vấn đề liên quan, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4, năm 2001.

Trang 6

1985) chưa dành riêng một Chương cho các tội phạm về môi trường, một số tội phạm

về môi trường được gộp lại với những tội phạm khác và được hiểu không phải với tư cách là những tội phạm về môi trường độc lập Một số tội như: “Tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác và bảo vệ tài nguyên trong lòng đất, trong các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam (Điều 179)9”, “tội vi phạm các quy định về quản

lý và bảo vệ đất đai (Điều180)10”, “tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng (Điều181)11” trong BLHS-1985 được hiểu là những tội phạm kinh tế và xếp vào Chương VII “Các tội phạm về kinh tế” Ngoài ra, tội vi phạm các quy định về bảo vệ

và sử dụng danh lam, thắng cảnh (Điều 21612) được hiểu là tội xâm phạm trật tự quản

lý hành chính (Mục C Chương VIII) Cả BLHS-1985 chỉ có một điều duy nhất trực tiếp quy định trách nhiệm hình sự cho những hành vi xâm hại đến môi trường được quy định tại Điều 195 “tội vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường gây hậu quả nghiêm trọng”13

Trước diễn biến ngày càng phức tạp của tình hình tội phạm nói chung trong đó có tội phạm môi trường nói riêng như: tội phạm môi trường có những biến đổi về hành vi, tính chất phạm tội, hủ đoạn của loại đối tượng này ngày càng tinh vi, xảo quyệt; cđộ phạm tội ngày càng nghiêm trọng Nhất là trong bối cảnh tốc độ phát triển các công nghệ cao ngày một gia tăng Việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên cũng vấn đề

sả chất thải của các ngành công nghiệp đã tác động rất lớn đến môi trường Vì lẽ đó, một yêu cầu đang đặt ra là cần phải có những chế tài nghiêm khắc hơn trong vấn đề bảo vệ môi trường Có thể nói chính sách hình sự của Việt Nam trong việc bảo vệ môi trường có sự đột phá quan trọng với việc xây dựng một chương riêng trong Bộ luật Hình sự năm 1999 cho các tội phạm về môi trường (Chương XVII) Song những hạn chế và bất cập của các quy định về tội phạm môi trường mà Bộ Luật hình sự năm 1999 vẫn còn tồn tại…So với tình hình thực tế về thì số lượng hành vi xâm phạm môi trường ngày càng gia tăng về số lượng và biểu hiện với nhiều dạng khác nhau Do đó, trên thực tế không ít hành vi cần thiết phải đặt ra vấn đề trách nhiệm hình sự nhưng do trong Bộ Luật hình sự năm 1999 không có quy định về tội này nên không thể xử lý hình sự mà phải áp dụng các chế tài hành chính Trong đó phải kể đến “hành vi vi phạm quy định về quản lý chất thải” là chưa được quy định Mãi đến Luật sửa đổi, bổ sung Bộ Luật hình sự năm 1999 mới có quy định về tội này Theo quy định tại Điều

182a “Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại” còn khá mới mẻ về cơ sở

pháp lý cũng như trong việc thực tiễn nghiên cứu về mặt lý luận để áp dụng trên thực

tế Song, suy cho cùng việc bổ sung thêm tội này vào các quy định trong chính sách

9 Điều 179, Bộ Luật hình sự của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1985.

10 Điều 180 Bộ Luật hình sự của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1985.

11 Điều 181 Bộ Luật hình sự của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1985.

12 Điều 216 Bộ Luật hình sự của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1985.

13 Điều 195 Bộ Luật hình sự của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1985.

Trang 7

pháp luật hình sự là những bước ngoặt đáng cổ vũ trong công tác tăng cường đấu tranh phòng chống tội phạm môi trường; cũng như khẳng định sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề bảo vệ môi trường, phù hợp với xu thế của các nước thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa bảo vệ môi trường phát triển bền vững

Trang 8

Chương 2 TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

2.1 Nguyên nhân dẫn đến tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại

Những năm gần đây, ở Việt Nam, tình hình vi phạm pháp luật về môi diễn biến rất phức tạp cùng với đà phát triển kinh tế, để lại những hậu quả khôn lường tới sức khoẻ, tính mạng, tài sản của người dân và ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước Trong khi đó, mặc dù gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cho xã hội, trách nhiệm hình sự

áp dụng cho các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường lại quá nhẹ và trong nhiều trường hợp là không thể xử lý14 Tổng quan cho thấy, những nguyên nhân chính dẫn đến hiện trạng trên là do:

Thứ nhất, sự gia tăng các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường cũng như việc

xử lý các cơ sở vi phạm là do các văn bản ban hành về xử phạt các doanh nghiệp vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường còn nhiều điểm chưa rõ ràng Việc quy định tổ chức, cá nhân phát sinh chất thải nguy hại phải đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tuy nhiên, không quy định rõ khối lượng, tổng thời gian hoạt động có phát sinh chất thải nguy hại là bao nhiêu thì phải đăng ký, dẫn đến nhiều tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh phát sinh chất thải nguy hại với số lượng ít, thời gian hoạt động ngắn vẫn phải thực hiện đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại, gây khó khăn, phiền hà cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện

Thứ hai, việc chưa quy định cụ thể số lượng, chất lượng của các phương tiện vận

chuyển chất thải nguy hại phải đáp ứng yêu cầu về an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường dẫn đến nhiều loại phương tiện vận chuyển chất thải nguy hại hiện nay chưa đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật… Qua thực tiễn tìm hiểu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, công tác quản lý chất thải nguy hại còn yếu, có dấu hiệu “lách luật”

để cấp phép hành nghề quản lý chất thải nguy hại, thẩm định, phê duyệt báo cáo không đúng thẩm quyền

Thứ ba, do tội phạm về môi trường ngày càng được thực hiện tinh vi, khó phát

hiện Các hành vi vi phạm môi trường muốn xác định mức độ vi phạm phải thông qua những biện pháp khoa học kỹ thuật, phương tiện hiện đại, nên không dễ xác định Để khởi tố có hành vi vi phạm môi trường nghiêm trọng cần phải xác định được mức độ tổn hại đến môi trường, nhưng để xác định mức độ tổn hại lại không đơn giản…Bởi

14 Xem thêm TS Phạm Văn Beo, Mười một tội phạm môi trường được quy định trong Bộ Luật hình sự,

http://moitruong.com.vn/quy-dinh-phap-luat/11-toi-pham-moi-truong-quy-dinh-trong-bo-luat-hinh-su-15230.htm.

Trang 9

không phải ở địa phương xả ra hành vi vi phạm cũng có đủ cơ sở vật chất và kỹ thuật xác định

Thứ tư, do quy định cấu thành tội phạm của các tội phạm môi trường, đặc biệt là

mặt khách quan của tội phạm Theo quy định của BLHS hiện hành quy định tội phạm môi trường với đa số là cấu thành tội phạm vật chất (như: tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 182), tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại (Điều 182a), tội vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường (Điều 182b), tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam (Điều 185), tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên (Điều 191), quy định tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại (Điều 191a)), nghĩa là hành vi phạm tội đòi hỏi phải có hậu quả xảy ra Điều này khiến nảy sinh một số vướng mắc trong áp dụng bởi:

+ Hành vi được thực hiện nhưng hậu quả xảy ra ở thời gian sau đó rất xa khiến thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi đó không còn;

+ Việc chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả xảy ra là vấn đề hết sức phức tạp, đòi hỏi phải áp dụng kỹ thuật cao, không phải địa phương nào cũng có khả năng thực hiện

Có thể nói, việc các tội phạm môi trường trong đó có tội “vi phạm quy định về quản

lý chất thải nguy hại” mà BLHS hiện hành quy định được xây dựng đa số là cấu thành tội phạm vật chất với dấu hiệu hậu quả chung chung, không có căn cứ rõ ràng để xác định đã khiến người áp dụng rất hoang mang giữa ranh giới bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội Trong điều kiện ấy, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm

2009 ra đời càng khiến các cơ quan tiến hành tố tụng thà bỏ lọt tội phạm để tránh rắc rối Điều này vô hình chung làm cho quy định về tội phạm môi trường vốn khá đầy đủ trong BLHS không được áp dụng hiệu quả trên thực tế15

Thứ năm, nhìn chung trách nhiệm hình sự đối với hành vi vi phạm pháp luật môi

trường cũng như các chế tài đối với tội phạm môi trường còn quá nhẹ so với mức độ

và hậu quả của hành vi để lại Điển hình cho vấn đề này là của Công ty Vedan Theo

vô tội vạ này đã diễn ra từ năm 1994, khi Vedan mới bắt đầu hoạt động Sau nhiều lần thanh kiểm tra, thương thảo, dư luận tốn không ít thời gian, công sức cho vụ việc này, cuối cùng Vedan mới chịu phạt hơn 200 triệu đồng và bị truy thu trên 120 tỷ phí bảo

vệ môi trường - một kết thúc mà nhiều người đã dự báo trước Hành vi nguy hiểm thì

đã rõ nhưng cuối cùng cũng chỉ dừng lại ở xử lý hành chính Theo Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, mỗi năm toàn lực lượng phát hiện khoảng 5-6 ngàn vụ

15 Xem thêm TS Phạm Văn Beo, Mười một tội phạm môi trường được quy định trong Bộ Luật hình sự,

http://moitruong.com.vn/quy-dinh-phap-luat/11-toi-pham-moi-truong-quy-dinh-trong-bo-luat-hinh-su-15230.htm.

Trang 10

vi phạm pháp luật về môi trường, tuy nhiên việc xử lý hình sự chỉ dừng lại ở con số

2.2 Dấu hiệu pháp lý và hình phạt đối với tội quảng cáo gian dối

2.2.1 Dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm về quản lý chất thải nguy hại

 Khách thể: Tội phạm này xâm phạm tình trạng bình thường của môi trường không khí, nước, đất làm cho không khí, nước, đất không còn trong sạch, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe nhân loại Đối tượng tác động của tội phạm này

là không khí, nước, đất17

Mặt khách quan của tội phạm: Người phạm tội có hành vi vi phạm các quy

định về quản lý chất thải nguy hại làm cho môi trường, không khí, nước, đất bị ô nhiễm Hành vi sẽ cấu thành tội phạm khi hành vi vi phạm dẫn đến ô nhiễm môi trường nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác Việc xác định các chất thải nguy hại căn cứ vào danh mục các chất thải nguy hại do nhà nước ban hành

Hành vi vi phạm các quy định về quản lý có thể là không làm hoặc làm không đúng các quy định của nhà nước về quản lý các chất thải nguy hại gây ô nhiễm môi trường như quản lý không đúng điều kiện, tiêu chuẩn quy định, không xử lý chất thải độc hại theo quy định, mua bán, tiêu hủy các chất thải nguy hại trái quy định của nhà nước Chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi này khi gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác Theo đó, hậu quả nghiêm trọng ở đây có thể là hủy hoại thảm thực vật, động vật, gây bệnh tật, gây chết người, thiệt hại tài sản, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội…phải khó khăn, tốn kém để khắc phục

 Chủ thể của tội phạm: là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi do luật hình sự quy định, ngoài ra phải là người có trách nhiệm trong việc quản lý các chất thải nguy hại18

 Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành

vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu

hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy

hại được thể hiện dưới hình thức lỗi vô ý Người phạm tội không cố ý nhưng trong quá trình quản lý đã không tuân thủ đúng các quy định về quản lý chất thải độc hại dẫn đến môi trường bị ô nhiễm19

16 Bình An, Thi hành Bộ Luật hình sự: Bất lực với tội phạm môi trường?, http://moj.gov.vn/mobile/Pages/thong-tin-khac.aspx?ItemID=5291.

17 Luật Hình sự Việt Nam quyển 2 (phần các tội phạm), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2010, trang 326-327.

18 Luật Hình sự Việt Nam quyển 2 (phần các tội phạm), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2010, trang 326-327.

19 Luật Hình sự Việt Nam quyển 2 (phần các tội phạm), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2010, trang 326-327

Ngày đăng: 18/04/2016, 12:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w