1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp việt nam những vấn đề lý luận và thực tiễn

73 382 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 881,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mong muốn tìm hiểu hoạt động ngày càng khởi sắc này của các doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời đóng góp vào việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về ĐTTTRNN

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐỖ THỊ PHƯƠNG

PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI

CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Chuyên ngành: LUẬT KINH TẾ

Mã số : 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Ngọc Dũng

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

Cho phép tôi được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến PGS.TS Trần Ngọc Dũng, người thầy đã giúp đỡ tôi rất tận tình trong suốt quá trình làm luận văn của mình Xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các thầy cô giáo đã trang bị cho tôi những kiến thức thiết thực trong suốt quá trình học tập tại Trường Đại học Luật Hà Nội

Và cuối cùng, tôi xin cảm ơn cha mẹ tôi, những người tôi mang ơn suốt cuộc đời vì công ơn sinh thành và nuôi dưỡng

Tác giả

Đỗ Thị Phương

Trang 3

ĐTTT : Đầu tư trực tiếp

(Đầu tư trực tiếp nước ngoài)

(Tổ chức Thương mại Thế giới)

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA CÁC

DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 6 1.1 Khái niệm, đặc điểm, bản chất của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam 6

1.1.1 Khái niệm pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam 6 1.1.2 Đặc điểm của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam 7 1.1.3 Bản chất của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các

doanh nghiệp Việt Nam 9

1.2 Mục đích, vai trò của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam 10

1.2.1 Mục đich của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam 10 1.2.2 Vai trò của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam 11

1.3 Hệ thống pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam – Quá trình hình thành và phát triển 13 1.4 Nội dung của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các

doanh nghiệp Việt Nam 18 1.5 Pháp luật của một số nước về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 19

1.5.1 Pháp luật của một số nước về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 19 1.5.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 24

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 27

Trang 5

2.2 Các quy định về lĩnh vực khuyến khích, cấm đầu tư trực tiếp ra nước

ngoài 30

2.3 Các quy định về điều kiện đối với các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 34

2.4 Các quy định về hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp 38

2.5 Các quy định về thủ tục đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp 40

2.6 Các quy định về quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp khi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 47

2.7 Các quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 51

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 55

3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam 55

3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam 57

3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam 59

KẾT LUẬN 63

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG ANH 66

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (ĐTTTRNN) là vấn đề mang tính chất toàn cầu và là xu thế của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới nhằm mở rộng thị trường sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, chia sẻ rủi ro, nâng cao hiệu quả kinh doanh, tận dụng nguồn tài nguyên, nguyên liệu tại chỗ, tiết kiệm chi phí vận chuyển hàng hoá, tránh các rào cản thuế quan và phi thuế quan, đồng thời tăng cường khoa học kỹ thuật, nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên thị trường thế giới

Nhận thức được tầm quan trọng đó, thời gian qua, Nhà nước Việt Nam đã ban hành một loạt văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động ĐTTTRNN và đã thu được những thành quả nhất định Tuy nhiên, có thể thấy từ trước đến nay, chính sách đầu tư của nhà nước ta luôn chỉ coi trọng và không ngừng khuyến khích hoạt động ĐTTTNN vào Việt Nam Vì vậy, khi nói đến ĐTTTNN, chúng ta thường chỉ biết đến hoạt động của các công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam chứ dường như không nghĩ đến việc các công ty Việt Nam cũng có thể ĐTRNN Thực ra hoạt động ĐTTTRNN đã và đang diễn ra mạnh mẽ không những chỉ ở các nước phát triển mà cả ở các nước đang phát triển Theo báo cáo của Liên hiệp quốc năm 2005 thì xu hướng ĐTRNN của các nước đang phát triển đang gia tăng nhanh chóng trong những năm gần đây Hoạt động ĐTRNN của các công ty ở các quốc gia như Hàn Quốc, Singapore đã diễn ra từ những thập kỷ 70 hay 80 khi điều kiện kinh tế của các quốc gia đó gần như điều kiện của Việt Nam hiện nay Bằng cách ĐTTTRNN, các công ty như Daewoo, Huyndai, Samsung… từ các công ty nhỏ đã trở thành các tập đoàn đa quốc gia hùng mạnh trên thế giới Hiện nay, các công ty ở Trung Quốc đang nổi lên bởi các hoạt động ĐTTTRNN khá táo bạo

Tháng 11 năm 2006, Việt Nam chính thức ký Nghị định thư gia nhập WTO, trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức này Từ đó tới nay, cơ hội để tham gia vào thị trường thế giới của các doanh nghiệp Việt Nam là rất lớn Điều đó đồng

Trang 7

nghĩa với việc các doanh nghiệp Việt Nam sẽ thúc đẩy hoạt động ĐTTTRNN nhiều hơn Để có thể tạo tâm lý yên tâm cho doanh nghiệp, cũng như có một

cơ chế pháp lý đảm bảo cho doanh nghiệp ĐTTTRNN có hiệu quả thì điều quan trọng nhất là Việt Nam phải có một hệ thống pháp luật đầy đủ, thông thoáng, phù hợp với thông lệ quốc tế

Với mong muốn tìm hiểu hoạt động ngày càng khởi sắc này của các doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời đóng góp vào việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về ĐTTTRNN để hoạt động này có cơ sở pháp lý thuận lợi tiếp tục phát huy vai trò của mình trong sự nghiệp công nghiệp hoá -

hiện đại hoá đất nước, tôi đã quyết định chọn vấn đề: “Pháp luật về đầu tư trực

tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn.” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học Luật của mình

2.Tình hình nghiên cứu đề tài

Pháp luật về ĐTTTRNN là một vấn đề khá rộng và luôn có tính chất thời sự Trong những năm qua đã có một số công trình nghiên cứu pháp luật trong lĩnh vực này, ví dụ như: “Chương trình thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư trực tiếp ra nước ngoài” - PGS.TS Đinh Trọng Thịnh – NXB Tài chính – HN - 2006; “Đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài” – Phạm Thanh Hà – Tạp chí Tổ chức nội vụ Bộ nội vụ số 6/2011; “Pháp luật đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” – Trương Quang Anh - khóa luận tốt nghiệp Đại học Luật HN – 2012; “Tìm hiểu về pháp luật đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở Việt Nam” – Nguyễn Thị Thúy Hoàn – Khóa luận tốt nghiệp đại học Luật HN – 2008; “Tìm hiểu các quy định của Luật Đầu tư (2005) về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài” – Hoàng Nguyên Thắng – Khóa luận tốt nghiệp Đại học Luật HN – 2012…

Với những mục tiêu và nhiệm vụ khác nhau, những công trình nghiên cứu này chủ yếu đề cập đến pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nhưng chưa đi sâu nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống và sâu sắc pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam

Trang 8

Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống và sâu sắc chế định pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp, đồng thời đưa ra phương hướng và giải pháp hoàn thiện cũng như thi hành các quy định về pháp luật đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp là một đòi hỏi cấp bách và cần thiết đối với khoa học pháp lý ở nước ta

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoặc liên quan đến pháp luật của Việt Nam về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Luận văn nghiên cứu nội dung pháp luật đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp đồng thời cũng dành một phần nghiên cứu các quy định của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của một số nước trên thế giới cũng như trong khu vực nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm cho nước ta trong quá trình hoàn thiện pháp luật đầu tư nói chung, hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nói riêng ở Việt Nam trong những năm sắp tới

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Trong luận văn này, tác giả đã sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật và những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam Ngoài ra, tác giả còn dùng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp phân tích; phương pháp chứng minh; phương pháp diễn giải; phương pháp lịch sử; phương pháp thống kê; phương pháp quy nạp; phương pháp so sánh; v.v…

5 Nhiệm vụ và mục đích của việc nghiên cứu đề tài

5.1 Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài này là trình bày một cách có hệ thống và phân tích, chứng minh một cách có căn cứ các quy định của pháp luật trước đây cũng như hiện tại về lĩnh vực đầu tư trực tiếp ra nước ngoài để thấy được quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện từng bước qua từng giai đoạn của pháp luật đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở nước ta Ngoài ra, tác giả luận văn cũng trình bày những thành công và ưu điểm của pháp luật đầu tư trực tiếp ra

Trang 9

nước ngoài; đồng thời cố gắng trình bày đầy đủ những khuyết điểm và bất cập của các quy định pháp lý về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp 5.2 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là lập luận một cách có sức thuyết phục về việc cần phải hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp ra nước ngoài; Luận văn nêu ra phương hướng và giải pháp

cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cũng như các giải pháp để thực thi có hiệu quả các quy định pháp luật trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trong thực tiễn

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Luật Đầu tư (2005) thể hiện khá nhiều điểm mới có tính bước ngoặt Đó là việc các chế định, chính sách không còn thể hiện sự phân biệt đối xử giữa đầu tư trong nước với đầu tư nước ngoài Do vậy, sau khi giải quyết thành công những nhiệm vụ đề ra, luận văn sẽ là một trong những công trình NCKH nghiên cứu sớm nhất các quy định pháp lý trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp sau khi Nhà nước ban hành Luật Đầu tư (2005)

- Luận văn thể hiện sự phân tích sâu sắc một số chế định thuộc lĩnh vực đầu

tư trực tiếp ra nước ngoài với kết quả là chỉ rõ những ưu điểm và thành công cũng như nêu rõ những nhược điểm, bất cập của các quy định hiện hành về pháp luật đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

- Luận văn nghiên cứu và phân tích một số quy định pháp luật trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của một số nước trên thế giới; Từ đó, rút ra những kinh nghiệm phù hợp cho việc hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp trong điều kiện và hoàn cảnh của nước

ta

- Luận văn trình bày, đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp ở Việt Nam

Trang 10

- Luận văn cũng đề xuất một số biện pháp nhằm thực thi có hiệu quả các quy định pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp trong thực tiễn

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo kết cấu của luận văn gồm 3 chương như sau:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận về pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam

Chương 2 Thực trạng pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam

Chương 3 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam

Trang 11

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA CÁC DOANH

NGHIỆP VIỆT NAM 1.1 Khái niệm, đặc điểm, bản chất của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam

1.1.1 Khái niệm pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam

Trong một thời gian dài, cơ sở pháp lý của hoạt động ĐTTTRNN được quy định trong luật Phải sau 10 năm kể từ ngày dự án đầu tiên của doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài được cấp phép, Chính phủ mới ban hành được một nghị định chính thức điều chỉnh vấn đề này, đó là Nghị định số 22/1999/NĐ-CP Nghị định số 22/1999/NĐ-CP cùng với một số văn bản hướng dẫn thi thành của

bộ, ngành liên quan chính là khuôn khổ pháp lý cho hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài cho đến trước thời điểm Luật Đầu tư năm

2005 có hiệu lực Có thể nói Nghị định số 22/1999/NĐ-CP đã đánh dấu mốc quan trọng trong việc thi hành cơ sở pháp lý cho hoạt động ĐTTTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước

có thể kí kết nhiều hợp đồng, dự án với đối tác nước ngoài để từng bước hội nhập vào thời kì kinh tế mở cửa, hợp tác quốc tế Tuy nhiên, sau 6 năm thực hiện, các nội dung pháp lý được ghi nhận tại các văn bản pháp luật đó đã bộc lộ nhiều bất cập, có những điểm không phù hợp với tình hình mở cửa và hội nhập vào đời sống kinh tế quốc tế của đất nước

Chính vì lẽ đó mà việc luật hóa các quy định về ĐTTTRNN là rất cần thiết Luật Đầu tư 2005 đã dành hẳn một chương quy định về hoạt động đầu tư ra nước ngoài Những quy định này là cơ sở pháp lý giúp Chính phủ hướng dẫn thi hành hoạt động ĐTTTRNN cho phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước trong từng thời gian cụ thể Nghị định số 78/2006/NĐ-CP quy định về ĐTTTRNN đã thay thế Nghị định số 22/1999 để tạo ra một hành lang pháp lý thuận lợi hơn cho

Trang 12

hoạt động ĐTTTRNN Những quy định tại Luật đầu tư năm 2005 và Nghị định

số 78/2006 đã tạo ra một khung pháp lý khá hoàn thiện về hoạt động đầu tư nói chung và hoạt động ĐTTTRNN nói riêng của Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế

Về cơ bản, khung pháp luật về đầu tư gồm có hệ thống pháp luật của nước đầu tư, hệ thống pháp luật của nước nhận đầu tư và các hiệp định song phương cũng như điều ước quốc tế mà các quốc gia ký kết với nhau hoặc là thành viên Khung pháp luật về ĐTTTRNN của Việt Nam cũng tương tự như vậy, nó được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước trước hết là Hiến pháp, sau đó là đến Luật Đầu tư quy định cụ thể về hoạt động này, rồi các đạo luật điều chỉnh về địa vị pháp lý của các nhà đầu tư như: Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Chứng khoán, Luật Ngân hàng, Luật Các tổ chức tín dụng… và các văn bản dưới luật có liên quan Bên cạnh đó khung pháp luật về ĐTTTRNN còn bao gồm các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương về đầu tư mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia Như vậy

có thể hiểu, pháp luật ĐTTTRNN là tổng thể những quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, thực hiện và quản lý hoạt động ĐTTTRNN

1.1.2 Đặc điểm của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam

Thứ nhất, pháp luật về ĐTTTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam là tập

hợp của chế định pháp luật kinh tế với các quy định của một số ngành luật khác như luật Hành chính, luật Tài chính, luật Ngân hàng, luật Thương mại… Các chế định của các đạo luật này có sự khác nhau nhất định về chức năng và nội dung cụ thể tuy nhiên luật Đầu tư nói chung và pháp luật về ĐTTTRNN nói riêng là một

bộ phận và có mối liên hệ chặt chẽ với các bộ phận cấu thành khác của các bộ luật trên, ví dụ như các quy định về thuế, ngoại hối, hoạt động kinh doanh… trong các đạo luật trên đều cơ sở pháp lý đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp…

Trang 13

Thứ hai, pháp luật về ĐTTTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam được hình

thành và phát triển trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần Hệ thống pháp luật về đầu tư của Việt Nam chỉ thực sự được quan tâm xây dựng trong những năm thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ

VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế với quyết định phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần… Với quan điểm huy động tối đa các nguồn lực để phát triển kinh tế, pháp luật về đầu tư của Việt Nam đã từng bước được xây dựng và hoàn thiện theo hướng ngày cảng đảm bảo hành lang pháp lý an toàn, thông thoáng cho các nhà đầu tư bỏ vốn kinh doanh với một yêu cầu có tính nguyên tắc căn bản là phải đảm bảo quyền tự do và sự bình đẳng trong đầu tư kinh doanh, trong đó nhiệm vụ quan trọng được đặt ra là phải mở rộng quyền đầu tư cho các chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế…

Thứ ba, pháp luật về ĐTTTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam có một

quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện Qua gần

20 năm đổi mới, hệ thống pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam

đã được hoàn thiện từng bước Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện môi trường pháp lý về đầu tư cả về trong nước lẫn đầu tư ra nước ngoài Phải kể đến việc ban hành Luật Đầu tư (2005) và Nghị định số 78/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một bước tiến lớn trong

sự phát triển của pháp luật đầu tư

Thứ tư, pháp luật về ĐTTTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam là kết quả

của việc tham khảo việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về ĐTTTRNN của các nước khác và ngày càng tương thích với pháp luật về ĐTTTRNN của các nước khác So với pháp luật của nhiều nước khác trong khu vực, pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam được đánh giá là khá thông thoáng, cởi mở Trước yêu cầu tăng cường hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, pháp luật về ĐTTRNN của Việt Nam luôn phải vận động theo xu hướng hội nhập kinh tế quốc

tế, phù hợp với pháp luật về đầu tư thế giới

Trang 14

1.1.3 Bản chất của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam

Bản chất của pháp luật về ĐTTTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam là một hệ thống pháp luật công và pháp luật tư điều chỉnh hoạt động ĐTTTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam

Pháp luật tư thể hiện ở chỗ Nhà nướccông nhận các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp ĐTRNN Đây là quan hệ pháp luật đầu tư phát sinh giữa các doanh nghiệp trong quá trình tổ chức thực hiện hoạt động đầu tư (Quan hệ pháp luật đầu tư theo chiều ngang) Ví dụ: quan hệ phát sinh giữa các tổ chức, cá nhân trong quá trình góp vốn thành lập doanh nghiệp (công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh…); quan hệ phát sinh giữa các tổ chức, cá nhân trong việc hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng, thực hiện dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (BTO)… Các quan hệ đầu tư theo chiều ngang được điều chỉnh chủ yếu bằng phương pháp dân sự Theo phương pháp này, Nhà nước tạo cho các doanh nghiệp khả năng và điều kiện để tự do và bình đẳng sẽ phụ thuộc vào ý chí riêng của từng chủ thể quan hệ pháp luật đầu tư Việc một doanh nghiệp quyết định đầu tư hay không? Mức vốn bao nhiêu? Có ký hợp đồng với một đối tác nào đó hay không và với nội dung ra sao?v.v Điều đó

tự các doanh nghiệp quyết định Một doanh nghiệp quyết định ĐTTTRNN thì mọi quy định phát sinh từ việc đầu tư sẽ được áp dụng đối với doanh nghiệp đó, một doanh nghiệp đã tự do thỏa thuận và ký hợp đồng nào đó thì toàn bộ nội dung đã cam kết hợp pháp sẽ trở thành bắt buộc đối với nhà đầu tư và không ai ngoài các bên tham gia hợp đồng được tự do sửa đổi, bổ sung hay giải thích nội dung của hợp đồng…

Pháp luật công thể hiện ở chỗ Nhà nước thực hiện việc quản lý Nhà nước đối với hoạt động ĐTRNN của các doanh nghiệp (Quan hệ pháp luật đầu tư theo chiều dọc) Ví dụ quan hệ phát sinh giữa các doanh nghiệp với cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền trong quá trình xem xét và cấp giấy chứng nhận đầu tư, trong quá

Trang 15

trình thanh tra hoạt động đầu tư và xử lý vi phạm… Quan hệ pháp luật đầu tư theo chiều dọc có đặc điểm pháp lý cơ bản là: (i) Phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động quản lý Nhà nước về đầu tư; (ii) Về chủ thể, nhóm quan hệ này luôn luôn tồn tại theo nhóm chủ thể có vị trí pháp lý khác nhau (không bình đẳng): một bên là cơ quan quản lý Nhà nước về đầu tư, một bên là các nhà đầu tư; (iii) Cơ sở pháp lý làm phát sinh các nhóm quan hệ này là các văn bản quản lý

do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành Với tính chất nội dung và chủ thể của quan hệ pháp luật đầu tư nói chung theo chiều dọc thì pháp luật về ĐTTTRNN nói riêng cần thiết phải sử dụng cả phương pháp điều chỉnh của luật công – phương pháp hành chính Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường, luôn đòi hỏi Nhà nước phải có những điều tiết, định hướng và khuyến khích phát triển ĐTRNN và trong chừng mực như vậy, những quan hệ đầu tư theo chiều dọc khó có thể điều chỉnh bằng phương pháp dân sự Với sự can thiệp của công quyền và hoạt động đầu tư ĐTRNN, dù ở mức độ và hình thức nào cũng cần được điều chỉnh bằng phương pháp hành chính Không thể có sự thỏa thuận của doanh nghiệp với cơ quan quản lý Nhà nước về cấp giấy chứng nhận hay điều kiện đầu tư hay xử lý vi phạm pháp luật trong đầu tư…

1.2 Mục đích, vai trò của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam

1.2.1 Mục đich của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam

Thứ nhất, Nhà nước ban hành hệ thống pháp luật điều chỉnh về đầu tư trực

tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp để thừa nhận hoạt động đầu tư trực tiếp

ra nước ngoài, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho doanh nghiệp Sự ra đời

và ngày càng hoàn thiện của các quy phạm pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp cho các doanh nghiệp có cơ hội cũng như yên tâm tiến hành hoạt động đầu tư

Thứ hai, pháp luật quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về đầu tư trực

tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp nhằm hạn chế tình trạng tùy tiện, vô trách

Trang 16

nhiệm của các cơ quan nhà nước Thông qua đó, các tổ chức, cá nhân có thể giám sát lẫn nhau và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, tạo lòng tin, khuyến khích các chủ thể thực hiện dự định của mình phát huy mọi tiềm năng làm giàu cho bản thân, góp phần tạo uy tín cho Việt Nam trên trường quốc tế

Thứ ba, hệ thống pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp cho nhà

nước quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có quy củ, có cơ sở hơn, khai thác vai trò tích cực và hạn chế những tiêu cực của quá trình luân chuyển vốn ra khỏi biên giới quốc gia Bản chất của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là mưu cầu lợi nhuận tối đa Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một công cụ quản lý hữu hiệu để phát huy mặt tích cực của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Thứ tư, hệ thống pháp luật ĐTTTRNN cũng góp phần tạo kiện thuận lợi cho

doanh nghiệp, chống lại sự lạm quyền, nhũng nhiễu, gây khó của cán bộ thực hiện cấp phép đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cho các doanh nghiệp

1.2.2 Vai trò của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam

1.2.2.1 Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có vai trò thiết lập khung pháp lý cho hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Xã hội phát triển, nền kinh tế được mở cửa hội nhập với thế giới đồng nghĩa với việc các hoạt động ĐTRNN nói chung và ĐTTTRNN nói riêng càng diễn ra hết sức đa dạng, phong phú Điều này chắc chắn đòi hỏi phải có một khung pháp

lý hay một hệ thống pháp luật tương thích điều chỉnh giúp cho những hoạt động đầu tư này diễn ra một cách có quy củ nhằm đạt được những hiệu quả tốt nhất Được hình thành từ năm 1990 đến nay, pháp luật về ĐTTTRNN tuy còn chưa thật sự đầy đủ và thấu đáo nhưng đã dần dần hoàn thiện cả về nội dung và hình thức Pháp luật về ĐTTTRNN đã quy định một cách khá cụ thể về lĩnh vực đầu

tư, chủ thể đầu tư, hình thức đầu tư… qua đó khẳng định vai trò của mình trong việc thiết lập khung pháp lý cho hoạt động ĐTTTRNN

Trang 17

1.2.2.2 Pháp luật đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là công cụ quản lý của nhà nước vể đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Có thể nói pháp luật về ĐTTTRNN được xem như một công cụ hữu hiệu nhất của nhà nước trong việc quản lý các hoạt động ĐTTTRNN nhằm tận dụng nguồn lợi và hạn chế những vướng mắc, khuyết điểm còn tồn tại trong quá trình đầu tư ra nước ngoài của các nhà đầu tư Quan hệ về ĐTTTRNN luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro nên pháp luật về ĐTTTRNN đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc quản lý nhà nước về ĐTTTRNN Hệ thống pháp luật ĐTTTRNN thực hiện nhiệm vụ định hướng, giới hạn phạm vi cho các hoạt động ĐTTTRNN nhằm giúp cho các nhà đầu tư có được cách tiếp cận với quan hệ này một cách thuận tiện, đúng đắn nhất, ngăn ngừa các trường hợp đầu tư sai trái, lệch lach, trái với pháp luật hiện hành Pháp luật cũng đồng thời là công cụ quyền lực, có khả năng ngăn ngừa và xử lý các trường hợp gây khó khăn, cản trở hoạt động đầu tư không chính đáng của một số cán bộ trong các cơ quan nhà nước

1.2.2.3 Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là công cụ đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư

Pháp luật về ĐTTTRNN chính thức ghi nhận các quyền cơ bản của nhà đầu

tư như quyền được chuyển vốn đầu tư bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác ra nước ngoài để thực hiện đầu tư theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối sau khi dự án đã được chấp thuận hay quyền được hưởng các ưu đãi về đầu tư theo quy định của pháp luật

Pháp luật về ĐTTTRNN cũng làm rõ các định nghĩa, thuật ngữ chuyên ngành của lĩnh vực đầu tư Những quy định đó phần nào giúp nhà đầu tư hiểu hơn về pháp luật nói chung về lĩnh vực ĐTTTRNN nói riêng giúp họ dễ dàng thực hiện các quyền lợi, nghĩa vụ của mình

Các hoạt động đầu tư, kinh doanh nói chung luôn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro và vướng mắc dẫn đến các cuộc tranh chấp giữa các nhà đầu tư và hoạt động ĐTTTRNN cũng không phải ngoại lệ và thậm chí hoạt động này còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ dẫn tới việc xảy ra tranh chấp hơn Pháp luật về ĐTTTRNN thể

Trang 18

hiện vai trò như một công cụ để giải quyết những vướng mắc, chống lại những hành vi vi phạm pháp luật để qua đó bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho các nhà đầu tư

1.2.2.4 Pháp luật đầu tư trực tiếp ra nước ngoài góp phần thúc đẩy sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật về đầu tư

Từ sau Nghị định số 22/1999, hoạt động ĐTTTRNN đã chính thức được thừa nhận, sau đó đã có hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật khác ra đời nhằm sửa đổi và hoàn thiện các quy định nhằm điều chỉnh hoạt động này Pháp luật về ĐTTTRNN là một bộ phận của pháp luật về đầu tư Các quy định của pháp luật về ĐTTTRNN ngày càng hoàn thiện, hợp lý, bảo đảm tính rõ ràng và thống nhất đã góp phần hoàn thiện môi trường pháp lý về đầu tư nói chung phù hợp với thông lệ quốc tế về đầu tư và thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay của Việt Nam

1.3 Hệ thống pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam – Quá trình hình thành và phát triển

Từ khi đổi mới, với những chính sách nới lỏng và tự do hóa kinh tế hàng hóa, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc Song song với sự phát triển chung của toàn nền kinh tế, ở tầm vi mô, các doanh nghiệp Việt Nam cũng ngày càng “lớn lên” cả về số lượng và quy mô Trong những năm đầu đổi mới, khi sự thay đổi của chính sách và quy định không đủ nhanh so với sự phát triển của các doanh nghiệp, thì xu hướng ĐTTTRNN nổi lên như là một trong những biện pháp nhằm khắc phục những hạn chế phát triển trong nước Những hạn chế phát triển đó như: Hạn ngạch xuất khẩu khiến các doanh nghiệp không thể sản xuất đúng với năng lực để đáp ứng nhu cầu từ nước ngoài, hay sự khan hiếm nguồn tài nguyên trong nước do chính sách hạn chế khai thác buộc các doanh nghiệp có tiềm lực đầu tư vào các nước láng giềng (Lào, Campuchia) - nơi

gần với Việt Nam và có s n nguồn tài nguyên mà lại thiếu khả năng khai thác

Mặc dù hoạt động ĐTTTRNN được các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện

từ năm 1989 nhưng phải 10 năm sau văn bản chính thức đầu tiên về hoạt động

Trang 19

ĐTTTRNN mới được chính phủ ban hành Đó là Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/2009 quy định hoạt động ĐTTTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ra đời đã tạo một hành lang pháp lý cơ bản cho các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài cho đến trước thời điểm Luật Đầu tư (2005)

có hiệu lực

Theo thống kê của cục đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, dự án đầu tiên của các doanh nghiệp Việt Nam ĐTRNN là vào năm 1989 với số vốn 563.380 triệu đô la Mỹ nhưng đáng tiếc dự án này đã không được thực hiện Lý

do chủ yếu dễ hiểu là không có căn cứ pháp lý Từ thời điểm năm 1989 - 1998, mỗi năm có vài ba dự án, năm nhiều nhất có 5 dự án (1993) ĐTRNN nhưng vốn thực hiện còn thấp, có năm không giải ngân được đồng nào Kể từ năm 1999, sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ-CP về một số biện pháp khuyến khích ĐTRNN, thì ĐTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam bắt đầu có

sự tăng trưởng ổn định Năm 1999 có 10 dự án, năm 2000 tăng lên 15 dự án và tăng trưởng đều đặn về số lượng dự án kể từ đó đến nay [11]

Ngày 30/8/2001 Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư số 05/2001/TT- BKH hướng dẫn hoạt động ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam Ngày 02/08/2001, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 116/2001/QĐ -TTg 02/08/2001 về một số ưu đãi, khuyến khích ĐTRNN trong lĩnh vực hoạt động dầu khí Ngày 19/01/2001 NHNN Việt Nam ban hành Thông tư số 01/2001/TT - NHNN của NHNN Việt Nam hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với ĐTTTRNN của doanh nghiệp Việt Nam Như vậy Nghị định số 22/1999/NĐ-

CP cùng với một số văn bản hướng dẫn thi hành của các Bộ, ngành liên quan chính là khuôn khổ pháp lý cho hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam

ra nước ngoài cho đến trước thời điểm Luật Đầu tư có hiệu lực

Cùng với quá trình hoàn thiện các văn bản mang tính pháp quy, số lượng các doanh nghiệp cũng như quy mô dự án đầu tư của các doanh nghiệp cũng tăng lên rất nhanh Cụ thể, trong năm 2002, Việt Nam đã có 15 dự án ĐTTTRNN với tổng

số vốn đăng kí khoảng 150,9 triệu USD Trong đó, đáng chú ý là dự án khai thác

Trang 20

dầu khí ở Iraq và Angieri với tổng vốn đầu tư trên 120 triệu USD Cuối tháng 10/2002, công ty gạch Thạch Bàn - Hà Nội cũng được cấp giấy phép ĐTTTRNN với vốn đầu tư là 15 triệu USD tại Nga Năm 2002, số vốn ĐTTTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam tăng 4 lần tổng số vốn các năm trước cộng lại, quy mô đầu tư lớn kỷ lục đạt trung bình 12,6 triệu USD/ dự án Năm 2003, Việt Nam có thêm 25 dự án ĐTRNN với tổng vốn đăng ký là 27.309.485 USD Năm 2004 chỉ

có 17 dự án được cấp phép ĐTRNN với tổng số vốn là 11 triệu USD Tính đến hết năm 2006, cả nước có 184 dự án FDI vào 33 nước và vùng lãnh thổ với tổng

số vốn đạt 968 triệu USD [11] Trong 16 năm qua, Việt Nam đã có sự gia tăng cả

về số lượng dự án và số vốn đăng ký, đặc biệt là sau khi Nghị đính số 22/1999/NĐ-CP được ban hành Vì thế có thể nói Nghị định số 22/1999/NĐ-CP

và các văn bản hướng dẫn đã đánh dấu mốc quan trọng trong việc hình thành cơ

sở pháp lý cho hoạt động ĐTTTRNN của doanh nghiệp Việt Nam, thổi một luồng sinh khí mới vào hoạt động đó, tạo điều kiện cho việc ra đời nhiều dự án ĐTTTRNN của doanh nghiệp Việt Nam hoạt động đạt hiệu quả nhất định Đồng thời là minh chứng cho sự trưởng thành về nhiều mặt của doanh nghiệp Việt Nam từng bước hội nhập đời sống kinh tế khu vực và thế giới Các chế định cơ bản trong các văn bản pháp luật trên bao gồm:

- Phạm vi điều chỉnh;

- Chủ thể của hoạt động đầu tư ra nước ngoài;

- Hình thức đầu tư ra nước ngoài;

- Điều kiện để được đầu tư ra nước ngoài;

- Thủ tục đầu tư ra nước ngoài;

- Quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp khi đầu tư ra nước ngoài

Tuy nhiên, sau 6 năm thực hiện, các nội dung pháp lý được ghi nhận tại các văn bản pháp luật đó đã bộc lộ nhiều bất cập, có những điểm không phù hợp với tình hình mở cửa và hội nhập vào đời sống kinh tế quốc tế của đất nước như:

Trang 21

Tuy nhiên sau sáu năm thực hiện các nội dung pháp lý được ghi nhận tại các văn bản pháp luật đó đã bộc lộ nhiều vấn đề bất cập, có những điểm không phù hợp với hình thức mở cửa, hội nhập và đời sống kinh tế của đất nước như:

- Nhiều quy định trong Nghị định số 22/1999 còn thiếu cụ thể, đồng bộ và nhất quán, nhiều điều khoản đến nay không còn phù hợp, không bao quát hết được sự đa dạng của các hình thức đầu tư ra nước ngoài;

- Thủ tục đầu tư phức tạp, rườm rà, thủ tục đầu điều chỉnh giấy phép đầu tư chưa rõ ràng, không ít quy định can thiệp quá sâu vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp;

- Thiếu các quy định về lĩnh vực khuyến khích đầu tư ra nước ngoài;

- Các quy định về chế độ báo cáo thông tin không phù hợp khiến thông tin

về tình hình đầu tư ra nước ngoài hầu như không được cập nhật;

- Các văn bản pháp luật có liên quan đến đầu tư ra nước ngoài còn nhiều hạn chế, chưa lường hết được vấn đề phát sinh trong quá trình hình thành, thẩm định, cấp giấy phép và triển khai dự án đầu tư Chẳng hạn, như một số dự án thuộc diện đăng kí cấp giấy phép đầu tư nhưng trong quá trình xử lý vẫn chậm do gửi giấy lấy ý kiến của các bộ, ngành liên quan làm kéo dài thời gian cấp phép;

- Các văn bản pháp luật có liên quan đến đầu tư ra nước ngoài chưa có các quy định để tạo ra cơ chế phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ giữa cơ quan chức năng của Chính Phủ

Nghị định số 78/2006/NĐ-CP được ban hành với 4 mục tiêu chủ đạo là (i) phù hợp với thực tiễn hoạt động; (ii) quy định rõ ràng, cụ thể hơn; (iii) tăng cường hiệu quả của quản lý nhà nước và (iv) đơn giản hóa thủ tục hành chính Đồng thời, kế thừa và phát huy có chọn lọc những mặt tích cực, cũng như khắc phục những hạn chế của hệ thống pháp luật hiện hành về đầu tư ra nước ngoài nhằm mở rộng và phát triển quyền tự chủ, tự do kinh doanh của doanh nghiệp Nghị định số 78/2006/NĐ-CP còn quy định các nhà đầu tư và doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó có doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đều có quyền đầu tư ra nước ngoài, có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm

Trang 22

trong hoạt động kinh doanh, được lựa chọn hay thay đổi hình thức tổ chức quản

lý nội bộ, hình thức đầu tư thích ứng với yêu cầu kinh doanh và được pháp luật Việt Nam bảo hộ Giảm thiểu tới mức tối đa các quy định mang tính “xin-cho” hoặc “phê duyệt” bất hợp lý, không cần thiết, trái với nguyên tắc tự do kinh doanh, gây phiền hà cho hoạt động đầu tư, đồng thời, có tính đến với lộ trình cam kết trong các thoả thuận đa phương và song phương trong hội nhập kinh tế quốc

tế, nhất là các nguyên tắc đối xử quốc gia và tối huệ quốc Bên cạnh đó, Nghị định số 78/2006/NĐ-CP còn quy định rõ về trách nhiệm, các quan hệ giữa cơ quan nhà nước đối với nhà đầu tư và doanh nghiệp, về việc thực hiện các mối quan hệ đó cũng như chế tài khi có những vi phạm từ hai phía (nhà đầu tư và cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước) nếu không thực hiện đúng các quy định của pháp luật

Năm 2007, chính phủ ban hành Quyết định số 1175/2007/QĐ-BKH ngày 10/10/2007 nhằm hướng dẫn cụ thể, rõ ràng, đơn giản hơn về thủ tục đầu tư ra nước ngoài Bên cạnh đó, Chính phủ còn ban hành các văn bản hướng dẫn khác

quy định hoạt động ĐTTTRNN trong các lĩnh vực cụ thể như: Nghị định số

121/2007/NĐ-CP quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí

Hoàn thiện chính sách với mục tiêu khắc phục sự thiếu thống nhất, tạo lập tính cụ thể, rõ ràng giữa các văn bản pháp luật liên quan đến ĐTRNN theo hướng nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về ĐTRNN Đồng thời có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư ĐTRNN trong những lĩnh vực, ngành nghề mà chúng ta có kinh nghiệm, có thế mạnh Do đó, việc sửa đổi căn bản những quy định tại Nghị định số 22/1999/NĐ-CP và các văn bản pháp luật có liên quan về hoạt động đầu tư ra nước ngoài bằng cách pháp điển hóa vấn đề này vào Luật Đầu tư (2005) là rất cần thiết Những quy định về ĐTTTRNN trong Luật Đầu tư (2005) là những vấn đề mang tính nguyên tắc làm cơ sở pháp lý để Chính phủ hướng dẫn thi hành hoạt động ĐTTTRNN cho phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước trong từng giai đoạn cụ thể Nghị định số 78/2006/NĐ-CP

Trang 23

quy định về ĐTTTRNN đã đánh dấu một mốc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về đầu tư nói chung và ĐTTTRNN nói riêng của Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế

1.4 Nội dung của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam

a Các quy định về chủ thể của ĐTTTRNN

Theo quy định tại Nghị định số 22/1999 và các văn bản hướng dẫn thi hành thì chỉ các nhà đầu tư là doanh nghiệp Việt Nam mới được đầu tư ra nước ngoài Quy định này đã hạn chế một số lượng lớn các nhà đầu tư muốn được đầu tư ra nước ngoài và còn tạo sự phân biệt đối xử không bình đẳng giữa các nhà đầu rư

Do đó quy định này cần được sửa đổi để tạo ra sự bình đẳng giữa các nhà đầu tư

và qua đó nâng cao hiệu quả đầu uuw Theo đó Luật Đầu tư hiện nay quy định chủ thế của quan hệ đầu tư ra nước ngoài được mở rộng cho tất cả các nhà đầu tư Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế, không phân biệt nhà đầu tư là doanh nghiệp hay không phải là doanh nghiệp, không phân biệt nhà đầu tư có nguồn gốc vốn đầu tư trong nước hay nhà đầu tư có nguồn gốc vốn đầu tư nước ngoài

b Các quy định về điều kiện để ĐTTTRNN:

Hiện nay Luật Đầu tư đã có những quy định thông thoáng và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư ĐTTTRNN Theo đó nhà đầu tư tiến hành hoạt động ĐTTTRNN sẽ phải đáp ứng các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam, được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy chứng nhận đầu tư Hiện nay xu hướng của hầu hết các quốc gia trên thế giới là ngày càng nới lỏng điều kiện đầu tư để nâng cao sức hút đối với hoạt động đầu tư này

c Các quy định về thủ tục ĐTTTRNN

Quy định về thủ tục đầu tư đóng vai trò quan trọng đối với sự vận động và phát triển của ĐTTTRNN Đó chính là quá trình đăng ký, thẩm định cấp giấy chứng nhận ĐTTTRNN Nếu thủ tục đơn giản sẽ khuyến khích cho các doanh nghiệp thực hiện việc đầu tư còn nếu thủ tục rườm rà sẽ tạo tâm lý nản lòng các

Trang 24

doanh nghiệp, thậm chí từ bỏ ý định đầu tư Vì vậy cần có một thủ tục đầu tư đơn giản tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp

d Các quy định về hình thức ĐTTTRNN

Pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư sẽ quy định cụ thể về hình thức đầu tư

và nội dung hình thức đó Nhìn chung pháp luật các nước đều quy định các hình thức ĐTTT cơ bản như: liên doanh, độc doanh, hợp doanh, sáp nhập, mua lại… Các doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong những hình thức trên

e Các quy định về lĩnh vực ĐTTTRNN

Việc doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nào của nước tiếp nhận đầu tư còn phụ thuộc vào nước tiếp nhận đầu tư Do đó theo thông lệ quốc tế, luật đầu tư của các quốc gia đều quy định các lĩnh vực mà họ cấp phép đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực mà họ không cấp giấy phép đầu tư nước ngoài Theo pháp luật Việt Nam, các doanh nghiệp được ĐTTTRNN trong tất cả các lĩnh vực, ngành nghề của nền kinh tế quốc dân Để đảm bảo cho lợi ích quốc gia, Nhà nước không cho phép đầu tư ra nước ngoài đối với các dự án gây phương hại đến bí mật, an ninh quốc gia, quốc phòng, lịch sử, văn hóa, thuần phong mĩ tục của Việt Nam

f Các quy định về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp ĐTTTRNN

Theo quy định của pháp luật về đầu tư thì tất cả các doanh nghiệp dù là đầu

tư ra nước ngoài hay đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và các nhà đầu tư trong nước đều có những quyền và nghĩa vụ giống nhau

Ngoài quy định những quyền lợi mà mọi nhà đầu tư khi tham gia quan hệ này được hưởng, pháp luật về ĐTTTRNN còn đặt ra các nghĩa vụ về trách nhiệm của doanh nghiệp đối với nhà nước khi tiến hành hoạt động ĐTTTRNN Để có được quyền lợi của mình thì các doanh nghiệp trước tiên phải chấp hành đầy đủ nghĩa vụ của mình

1.5 Pháp luật của một số nước về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.5.1 Pháp luật của một số nước về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Trang 25

Trước đây ĐTTTRNN tập trung chủ yếu ở các nước tư bản phát triển như Châu Âu, Mỹ, Nhật Bản… do có lợi thế về nguồn vốn, công nghệ, năng lực cạnh tranh… Trong những năm gần đây ĐTTTRNN của các nước đang phát triển cũng đang tăng lên một cách nhanh chóng Như vậy cùng với quá trình hội nhập và toàn cầu hóa nền kinh tế các nước đang phát triển đã biết tận dụng những cơ hội cùng với việc thay đổi chính sách, pháp luật để mở rộng quy mô ĐTTTRNN So với các nước trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam tham gia vào quá trình ĐTTTRNN khá muộn vì vậy việc nghiên cứu một số nét về pháp luật về ĐTTTRNN của một số nước sẽ giúp cho Việt Nam học hỏi một số kinh nghiệm

để hoàn thiện pháp luật về ĐTTTRNN

a Hàn Quốc: Qua các nghiên cứu về hoạt động ĐTTTRNN của Hàn Quốc,

có thể thấy rằng năm 1968 Hàn Quốc đã có Điều lệ về đầu tư ra nước ngoài Nhưng trước năm 1975, vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của nước này bình quân mỗi năm chỉ đạt 6 triệu USD Sau đó có sự sửa đổi các thể chế liên quan đến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài như: Ủy quyền phê chuẩn và quản lý các hoạt động đầu tư ra nước ngoài, đứng đầu là Thống đốc đầu tư ra nước ngoài Ngoài

ra Hàn Quốc đã nới lỏng các hạn chế về vốn đầu tư ra nước ngoài đối với các công ty, các biện pháp, chính sách đều tập trung mở rộng khả năng đầu tư ở các nước chưa có quan hệ ngoại giao; bãi bỏ các điều luật và điều lệ gây hạn chế đầu

tư ra nước ngoài Tháng 4/1982, hệ thống quản lý vốn đầu tư ra nước ngoài với giá trị 100.000 USD trở lên đều do Ngân hàng Hàn Quốc phê chuẩn Năm 1986, Hàn Quốc ở trong tình trạng dư thừa ngoại tệ, giá nhân công trong nước tăng vọt làm cho chi phí sản xuất trong nước tăng theo Các công ty Hàn Quốc trong nước được khuyến khích đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Các ràng buộc về vốn đầu tư

và rất nhiều các quy định khác đối với công ty ĐTTTRNN đều được bãi bỏ Chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa, hợp tác khu vực và tiến tới toàn cầu hóa là động lực to lớn thúc đẩy nguồn vốn ĐTTTRNN Như vậy với nhận thức về vai trò quan trọng của hoạt động ĐTTTRNN, với những chính sách pháp luật thông thoáng của hoạt động ĐTTTRNN là động lực to lớn trong thúc

Trang 26

đẩy hoạt động ĐTTTRNN của các doanh nghiệp Hàn Quốc Bên cạnh đó, trong

xu thế toàn cầu hóa, ĐTTTRNN là một xu thế tất yếu của các doanh nghiệp trong tương lai

b Thái Lan: Từ hàng chục năm nay pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư

trực tiếp ra nước ngoài tại Thái Lan đã và đang được khuyến khích và đẩy mạnh Chính phủ đã ban hành những quy định mới giúp các doanh nghiệp có thể đầu tư

ra nước ngoài thuận lợi hơn như:

các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài nhằm kiềm chế đà tăng giá của đồng baht Thái

 Theo quy định mới, doanh nghiệp Thái Lan có tài sản từ 5 tỉ bạt (147,1 triệu đô la Mỹ) trở lên được quyền đầu tư vào các tài sản ở nước ngoài Hiện Thái Lan có 503 công ty đạt tiêu chuẩn này, mỗi công ty có quyền đầu tư ra nước ngoài tối đa 50 triệu đô la Mỹ mà không phải xin phép; nếu muốn đầu tư vượt quá số tiền đó, công ty phải xin ngân hàng trung ương phê chuẩn Trước đây, Thái Lan chỉ cho phép một số doanh nghiệp và tổ chức được đầu tư vào tài sản ở nước ngoài Cá nhân chỉ có thể đầu tư thông qua các công ty môi giới hoặc quỹ đầu tư, doanh nghiệp muốn đầu tư ra nước ngoài phải xin phép ngân hàng trung ương và được xem xét theo từng trường hợp cụ thể

giải trí có tiềm năng ra nước ngoài như phim hoạt hình, nhạc và phần mềm

 Các công ty quản lý tài sản đã được phép đầu tư khoảng 3,8 tỉ USD ra nước ngoài trong năm nay thông qua quỹ đầu tư nước ngoài

đều cho rằng việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển Ngoài việc đầu tư gián tiếp (trái phiếu, cổ phiếu ), các tổ chức này còn đang khai thác các cơ hội đầu tư trực tiếp vào các lĩnh vực mới ở nước ngoài nhằm mở rộng thị trường kinh doanh cho các doanh nghiệp góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế đất nước [17]

Trang 27

c Ấn Độ: Chính sách đầu tư ra nước ngoài của Ấn Độ ngày càng được mở

rộng và đơn giản hóa để đáp ứng nhu cầu ngày một thay đổi của một nền kinh tế đang phát triển Nếu như trước kia, chính sách đó chỉ được thực hiện như là một trong những chiến lược nhằm thúc đẩy xuất khẩu và để tăng cường mối liên kết

về mặt kinh tế với các nước khác thì từ tháng 7 năm 2000, với sự ra đời của luật quản lý ngoại hối năm 2000, chính sách đó đã được áp dụng một cách rộng rãi

Kể từ khi ra đời, chính sách đầu tư ra nước ngoài nói chung và đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nói riêng của Ấn Độ đã và đang phát triển một cách bền vững Quá trình hình thành và phát triển của chính sách đó có thể được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn trước năm 1992 và giai đoạn sau năm 1992

- Giai đoạn trước năm 1992:

Giai đoạn này chính sách chủ yếu hướng tới xuất khẩu và hạn chế dòng tiền mặt chảy ra nước ngoài Các công ty Ấn Độ được phép tham gia vào một số ít những dự án chìa khóa trao tay mà không liên quan đến chuyển tiền mặt

Vào tháng 4 năm 1978, một hội đồng liên bộ đã được thiết lập dưới sự quản

lý của Bộ Thương mại nhằm thông qua các đề xuất về đầu tư ra nước ngoài, theo như các đề xuất này, các công ty của Ấn Độ đầu tư ra nước ngoài phải chuyển về nước 50% lợi nhuận đã công bố

Trong giai đoạn này, chính sách ĐTTTRNN chỉ cho phép các doanh nghiệp của Ấn Độ đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức liên doanh và chỉ được phép nắm phần nhỏ quyền sở hữu trong doanh nghiệp liên doanh

- Giai đoạn sau năm 1992

Năm 1992, chính sách ĐTTTRNN của Ấn Độ đã gỡ bỏ giới hạn về tỷ lệ quyền sở hữu mà các doanh nghiệp Ấn Độ nắm khi đầu tư ra nước ngoài Theo

đó, các doanh nghiệp của Ấn Độ được phép tự do quyết định về mức nắm quyền

sở hữu khi đầu tư ra nước ngoài Cũng trong năm này, một lộ trình tự động nhanh chóng, rõ ràng, dễ hiểu cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài đã được đặt ra Theo

đó, các doanh nghiệp của Ấn Độ đầu tư ra nước ngoài nếu đáp ứng các tiêu chí

đã được định ra s n thì không cần sự phê duyệt trực tiếp của các cơ quan có thẩm

Trang 28

quyền như Ngân hàng dự trữ Ấn Độ hay chính phủ Ấn Độ như trước Cũng theo

lộ trình này, lần đầu tiên các công ty Ấn Độ được phép chuyển tiền mặt ra nước ngoài Tổng số vốn được phép chuyển ra nước ngoài là 2 triệu USD với thành phần tiền mặt không quá 0,5 triệu USD trong 3 năm

Trong giai đoạn này một bước phát triển quan trọng trong khung chính sách ĐTTTRNN của Ấn Độ là vào năm 1995 công việc liên quan tới hoạt động đầu tư

ra nước ngoài được chuyển từ Bộ Thương mại sang Ngân hàng dự trữ Ấn Độ nhằm tạo ra cơ chế một cửa, cùng với đó là sự ra đời của khung chính sách về đầu tư ra nước ngoài Chính sách này đã đưa ra một lộ trình rút gọn trong đó giới hạn về tổng giá trị vốn được phép chuyển ra nước ngoài tăng từ 2 triệu USD lên 4 triệu USD với mức giới hạn tiền mặt vẫn là 0,5 triệu USD Trong trường hợp muốn đầu tư quá 4 triệu USD ra nước ngoài, các công ty Ấn Độ phải nhận được

sự phê duyệt theo lộ trình thông thường (đề nghị đầu tư được xem xét bởi một Ủy ban liên bộ đứng đầu là Phó thống đốc Ngân hàng Trung ương Ấn Độ và đại diện các Bộ tài chính, Bộ Công nghiệp và Bộ Thương mại, Bộ Ngoại giao) ở mức hội đồng đặc biệt Những đề xuất đầu tư có giá trị vượt quá 15 triệu USD cần sự giới thiệu của hội đồng đặc biệt để nhận được sự xem xét từ Bộ Tài chính Những dự

án này nhìn chung sẽ được chấp nhận nếu nguồn vốn được huy động thông qua lộ trình thông thường

Tháng 3 năm 1997, những các công ty có thu nhập ngoại hối mà không phải

là công ty xuất khẩu, được phép theo lộ trình rút gọn thành lập các công ty thế hệ thứ hai và các thế hệ tiếp sau đó miễn là các công ty thuộc thế hệ đầu tiên được thiết lập theo lộ trình rút gọn Bên cạnh đó Chính phủ Ấn Độ đã đặt ra rất nhiều biện pháp nhằm khuyến khích ngành công nghiệp phần mềm của Ấn Độ mở rộng quy mô, giảm giá thành, cải thiện chất lượng và đầu tư ra nước ngoài [22]

Năm 2000, sự ra đời của Luật Quản lý ngoại hối đã thay đổi hoàn toàn viễn cảnh về ngoại hối Điều này được phản ánh trong những chính sách đã được sửa đổi Cụ thể là các công ty Ấn Độ có thể đầu tư ra nước ngoài số vốn lên tới 50

Trang 29

triệu USD trong khoảng thời gian là ba năm, rồi sau đó đổi thành hàng năm mà không kèm theo điều kiện phải làm ăn có lãi

Tháng 3 năm 2002, lộ trình tự động được nới rộng thêm trong đó các công ty của Ấn Độ đầu tư dưới hình thức các doanh nghiệp liên doanh (Joint Ventures- JVs) hay các doanh nghiệp 100 vốn đầu tư nước ngoài (WOCs) ngoài Ấn Độ được phép đầu tư một lượng tiền không vượt quá 100 triệu USD trong một năm tài chính so với mức giới hạn trước đó là 50 triệu USD Ngoài ra, những đầu tư theo một lộ trình tự động có thể được cấp vốn bằng cách rút ngoại tệ từ ngân hàng Abu Dhabi không vượt quá 50% giá trị ròng của công ty Ấn Độ

Vào tháng 3 năm 2003, lộ trình tự động được tự do hóa một cách đáng kể, cho phép các công ty Ấn Độ có thể đầu tư 100 giá trị ròng của mình Cho tới năm 2004 số lượng các vụ mua lại và sát nhập chỉ tăng lên một cách từ từ Tuy nhiên, với sự mở rộng của khung chính sách đầu tư ra nước ngoài vào năm 2005, trong đó cho phép các công ty Ấn Độ đầu tư ra nước ngoài lên tới 200% giá trị ròng của mình trong 1 năm, đã làm cho số lượng các vụ mua lại và sát nhập qua biên giới tăng lên một cách đáng kinh ngạc từ 46 năm 2004 lên tới 130 năm

2005 [10]

1.5.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Thông qua kinh nghiệm về pháp luật đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của một

số nước nêu trên, ta nhận thấy ở mỗi nước đều có những thành công nhất định Việc nghiên cứu pháp luật về đầu tư ra nước ngoài của các nước giúp chính phủ

và các doanh nghiệp Việt Nam rút ra một số bài học như sau:

- Chính phủ có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp và doanh nghiệp trong nước đầu tư ra nước ngoài, chú trọng khuyến khích đầu tư vào những thị trường và những ngành nghề quan trọng phù hợp với nền kinh tế nước nhà Thống nhất nhận thức và có cách nhìn nhạy bén về kinh tế, chính trị, nắm bắt thời

cơ, thuận lợi, đồng thời phải thấy rõ được những khó khăn, thách thức từ bên trong cũng như bên ngoài để kịp thời giải quyết các vấn đề nảy sinh Chính sách,

Trang 30

chủ trương khi đã đề ra phải được cụ thể hóa kịp thời, tạo ra sự thống nhất và quyết tâm cao trong việc tổ chức thực hiện để đảm bảo thành công

- Các chủ trương, phương hướng lớn được nhanh chóng thể chế hoá thành pháp luật, cơ chế một cách đồng bộ, tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện Pháp luật và văn bản liên quan về đầu tư ra nước ngoài phải minh bạch, rõ ràng

và phù hợp với thông lệ quốc tế Cơ chế, chính sách đồng bộ thể hiện tính khuyến khích và cạnh tranh cao, có tính tới quy luật cạnh tranh và xu hướng tự do hóa trong thu hút đầu tư, phù hợp với tiến trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, đồng thời tạo điều kiện, khuyến khích sự chủ động, sáng tạo của người thực hiện

- Luôn hướng về doanh nghiệp để nhanh chóng tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư Mọi thủ tục hành chính phục vụ cho hoạt động đầu tư đơn giản, gọn nhẹ, không làm tăng chi phí, không gây khó khăn cho doanh nghiệp

- Chính phủ quan tâm đầu tư đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình

độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, đồng thời có chính sách đãi ngộ hợp lý, từ

đó thúc đẩy người lao động phấn đấu làm việc có hiệu quả

- Chính phủ thực hiện nhiều biện pháp tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các công ty trong nước mở rộng đầu tư ra nước ngoài như: thiết lập mối quan hệ ngoại giao với nhiều nước để tìm cơ hội đầu tư; bãi bỏ các quy định cản trở đầu

tư ra nước ngoài; thực hiện ưu đãi thuế đối với các doanh nghiệp triển khai dự án đầu tư ở nước ngoài; thực hiện ưu đãi tài chính (như hỗ trợ vốn, cho vay lãi suất thấp,…) để tạo khả năng tài chính lớn cho các doanh nghiệp này

- Để thúc đẩy hiệu quả hoạt động đầu tư ra nước ngoài, không chỉ cần những chính sách khuyến khích, tạo môi trường đầu tư trong nước và nước sở tại mà cần chính nhận thức, nỗ lực trong bản thân mỗi doanh nghiệp về vấn đề này Đó là sự nhanh nhạy trong việc cập nhật thông tin, chọn lựa nước đầu tư và ngành đầu tư hiệu quả với thế mạnh của doanh nghiệp, tăng cường trình độ quản lý tích lũy nguồn lực và sử dụng hiệu quả đội ngũ lao động

Trang 31

- Doanh nghiệp nhanh nhạy nắm bắt thông tin về các chính sách thu hút đầu

tư, luật pháp, chính sách liên quan đến hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và tình hình kinh tế ở các nước sở tại Ngoài ra thông tin về các tiềm năng, cơ hội đầu tư trong một số ngành, lĩnh vực; các dự án kêu gọi đầu tư nước ngoài của các nước; các dự án đầu tư đã được các Chính phủ kí thỏa thuận Các chỉ số kinh tế vĩ mô tại các nước sở tại, thông tin về thị trường tiêu thụ cũng là các yếu tố doanh nghiệp cần quan tâm trước khi quyết định thực hiện

dự án đầu tư Trong thời điểm hiện nay, các doanh nghiệp nên tận dụng cơ hội khi một số nền kinh tế bị ảnh hưởng của biến động kinh tế thế giới, sự tăng giá nguyên nhiên liệu để đẩy mạnh đầu tư sang một số thị trường như Hoa K , Nga, Lào

- Để nâng cao khả năng cạnh tranh và đầu tư hiệu quả, doanh nghiệp Việt Nam cần nâng cao trình độ công nghệ kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý Do đó, các doanh nghiệp cần có kế hoạch tích lũy vốn, vay vốn, tiết kiệm chi phi như chi phí đầu tư, vận tải Sự liên kết với các doanh nghiệp trong nước tại nước sở tại sẽ tạo thêm thế và lực cho các doanh nghiệp

- Công tác quản lý, sử dụng lao động cần được đặc biệt chú trọng với các nước có trình độ lao động hạn chế, thiếu tay nghề cao như Lào, Campuchia Do

đó, doanh nghiệp Việt Nam cần có quan tâm đặc biệt đến vấn đề này, có chính sách đào tạo lao động hoặc đưa người Việt sang làm việc

Những bài học kinh nghiệm được rút ra dựa trên tình hình pháp luật đầu tư

ra nước ngoài của các nước trong khu vực giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam

có được cái nhìn tổng quát về cách thức đầu tư ra nước ngoài Tuy nhiên mỗi nước có một nền kinh tế chính trị xã hội khác nhau, các thị trường, ngành nghề đầu tư cũng khác nhau, các bài học kinh nghiệm này cần được áp dụng một cách phù hợp để có thể đem lại hiệu quả một cách tốt nhất

Trang 32

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC

NGOÀI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

2.1 Các quy định về doanh nghiệp đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Theo quy định của Nghị định số 78/2006/NĐ-CP, tất cả các loại hình doanh nghiệp, không phân biệt sở hữu, đã đăng ký theo Luật Doanh nghiệp hay chưa,

doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước hay có vốn đầu tư nước ngoài đều có

quyền đưa vốn bằng tiền và tài sản hợp pháp từ Việt Nam ra nước ngoài để tiến

hành hoạt động đầu tư, bao gồm:

- Một là, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh,

doanh nghiệp tư nhân được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp;

- Hai là, doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp nhà nước

chưa chuyển đổi sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp;

- Ba là, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo Luật

Đầu tư nước ngoài chưa đăng ký lại theo Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư;

- Bốn là, doanh nghiệp thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội chưa

đăng ký lại theo Luật Doanh nghiệp;

Như vậy có thể thấy, so với Nghị định số 22/1999/NĐ-CP thì chủ thể doanh nghiệp được đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có phần mở rộng hơn Trước đây, theo quy định tại Nghị định số 22/1999/NĐ-CP và Thông tư số 05/2001/TT-BKHĐT thì doanh nghiệp Việt Nam được đầu tư ra nước ngoài bao gồm:

- Một là, doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước;

- Hai là, doanh nghiệp được thành lập theo Luật Công ty;

- Ba là, doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp Tư nhân;

Hiện nay ở các nước đang phát triển tồn tại hai loại hình doanh nghiệp thực hiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài chủ yếu, đó là:

- Các tập đoàn lớn, các công ty xuyên quốc gia (TNCs): Các TNCs này tuy

hầu hết mới thành lập nhưng với khả năng về vốn lớn, trình độ khoa học, kỹ thuật

Trang 33

và công nghệ cao, có lực lượng lao động có trình độ cao, mạng lưới sản xuất và kinh doanh trải rộng trên địa bàn nhiều quốc gia nên hoàn toàn có thể cạnh tranh bình đẳng với các TNCs của các nước phát triển trong đầu tư tại nước ngoài trên nhiều lĩnh vực Các TNCs này có thể thực hiện đầu tư vào những dự án lớn những lĩnh vực đầu tư đòi hỏi nhiều thời gian đầu tư và thu hồi vốn lâu dài, những lĩnh vực có rủi ro cao nhưng lại mang đến lợi nhuận lớn, những lĩnh vực

có sự cạnh tranh quyết liệt của các TNCs khác Đặc biệt là trong những lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng, khai thác dầu khí, điện, nước, tài chính, ngân hàng, vật liệu mới…Địa bàn đầu tư của các TNCs này rất rộng lớn, bao gồm những lĩnh vực khác nhau trong thị trường các nước đang phát triển và cả trong thị trường các nước phát triển Hình thức đầu tư cũng rất phong phú có thể bao gồm cả hình thức đầu tư xây dựng mới, đầu tư mở rộng, nâng cấp các doanh nghiệp có s n ở nước ngoài Có thể dưới hình thức mua lại các doanh nghiệp, có thể dưới hình thức sát nhập các TNCs khác hay các doanh nghiệp lớn ở nước ngoài, hoặc đầu

tư dưới hình thức cho thuê tài chính các tài sản, thiết bị công nghệ, hoặc mở chi nhánh hay mở văn phòng đại diện ở nước ngoài… Do mạng lưới rất rộng lớn, mục tiêu đầu tư của các TNCs này có thể chú trọng vào khai thác thế mạnh của các quốc gia nhận đầu tư về nguồn nguyên vật liệu, về lao động rẻ, thị trường tiêu thụ rộng lớn, hay vị trí địa lý và ảnh hưởng của các quốc gia đó với nền kinh tế

khu vực và nền kinh tế thế giới

- Doanh nghiệp vừa và nhỏ: Các doanh nghiệp vừa và nhỏ với đặc tính là có

vốn đầu tư nhỏ, khả năng thích ứng cao với biến động của môi trường, có thể tiến hành thử nghiệm và áp dụng một cách nhanh chóng các tiến bộ của khoa học công nghệ mới, và đặc biệt là có thể sản xuất những mặt hàng độc đáo, những sản phẩm truyền thống, đáp ứng những đơn đặt hàng mang tính chất nhóm nhỏ nên loại hình doanh nghiệp này cũng có những thế mạnh đầu tư ra nước ngoài, thậm

chí vào thị trường các nước đã phát triển

Loại hình doanh nghiệp này mang nhiều ưu điểm của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đó là tìm được mặt hàng độc đáo, những lĩnh vực mà doanh nghiệp

Trang 34

các nước và các TNCs không chú ý tới bởi số lượng tiêu thụ không lớn, khó sản xuất hàng loạt, hay những lĩnh vực đòi hỏi những bí quyết kinh doanh và công nghệ đặc biệt

Trong điều kiện xu thế tiêu dùng và đặt hàng đơn lẻ sản phẩm và ý thức tiêu dùng gắn với môi trường và bảo vệ môi trường ở các nước công nghiệp phát triển ngày càng tăng cao thì vị thế và vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong đầu tư ra nước ngoài cũng được mở rộng, không chỉ ở các nước đang phát triển

và chậm phát triển mà còn thực hiện ở các nước đã phát triển Các doanh nghiệp vừa và nhỏ không chỉ là những doanh nghiệp sản xuất các bán thành phẩm, linh kiện, phụ kiện cung cấp cho các TNCs mà còn là những đơn vị kinh doanh những mặt hàng độc lập, độc đáo, đáp ứng những nhu cầu khác nhau của thị trường tiêu dùng thế giới và có khả năng mang lại lợi nhuận trong đầu tư lớn hơn nhiều so với hiệu quả đầu tư của các TNCs lớn

Tại thời điểm Nghị định số 22/1999/NĐ-CP được ban hành, chính sách của Việt Nam là thu hút vốn ĐTNN với hàng loạt chính sách ưu đãi bên cạnh quan điểm phi kinh tế: đem tiền ra nước ngoài là đất nước bị hụt vốn, làm giảm đầu tư trong nước Vì vậy, quy định của pháp luật về đầu tư đã theo hướng thắt chặt quy chế ĐTRNN

Hiện nay, kinh tế phát triển, các chủ thể không ngừng phấn đấu nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh của mình và mở rộng quy mô sản xuất, nhu cầu được tiến xa hơn, không chỉ giới hạn trong thị trường trong nước, các chủ thể có

đủ khả năng và điều kiện để tiến hành ĐTTTRNN Giải quyết bất cập này, Nghị đính số 78/2006/NĐ-CP ra đời trên cơ sở kế thừa và phát huy có chọn lọc những mặt tích cực, cũng như khắc phục những hạn chế của hệ thống pháp luật hiện hành về ĐTTTRNN nhằm mở rộng và phát triển quyền tự chủ, tự do kinh doanh, ghi nhận quyền ĐTRNN của tất cả các loại hình doanh nghiệp Quy định mới này

đã củng cố niềm tin cho các doanh nghiệp, khơi dậy mọi tiềm năng kinh tế tạo điều kiện cho tất cả các chủ thể kinh doanh, tạo ra sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp qua đó nâng cao hiệu quả đầu tư

Trang 35

2.2 Các quy định về lĩnh vực khuyến khích, cấm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Việc doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nào của nước tiếp nhận đầu tư phụ thuộc nhiều vào quy định của nước sở tại Theo thông lệ quốc tế, Luật đầu tư của các nước đều có quy định cụ thể lĩnh vực mà họ cấp phép đầu tư nước ngoài, lĩnh vực mà họ khuyến khích đầu tư, đặc biệt khuyến khích đầu tư, đồng thời cũng quy định các lĩnh vực không cấp phép đầu tư Trong hoạt động ĐTTTRNN các nước cũng có những quy định về khuyến khích đầu tư Các quốc gia thiếu tài nguyên thường khuyến khích doanh nghiệp nước mình đầu tư vào các lĩnh vực có thể tận dụng được tài nguyên thiên nhiên của nước sở tại như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc…

Vì vậy, khi đầu tư vào bất cứ quốc gia nào, doanh nghiệp đều phải tìm hiểu

và nghiên cứu kĩ vấn đề này tại Luật Đầu tư của nước đó Tuy nhiên, khi ĐTRNN doanh nghiệp còn phải tuân thủ pháp luật Việt Nam về các lĩnh vực ĐTTTRNN

Theo pháp luật Việt Nam, doanh nghiệp được ĐTTTRNN trong tất cả các lĩnh vực, ngành nghề của nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, để thúc đẩy sự phát triển cân đối trong các lĩnh vực, các ngành nghề của nền kinh tế quốc dân, thực hiện có hiệu quả mục đích của Luật Đầu tư, Điều 75 Luật Đầu tư (2005) có những quy định về khuyến khích đầu tư và cấm đầu tư cụ thể như sau:

- Nhà nước Việt Nam khuyến khích các tổ chức kinh tế tại Việt Nam ĐTRNN đối với những lĩnh vực xuất khẩu nhiều lao động; phát huy có hiệu quả các ngành, nghề truyền thống của Việt Nam; mở rộng thị trường, khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên tại nước đầu tư; tăng khả năng xuất khẩu, thu ngoại tệ

- Nhà nước Việt Nam không cấp phép ĐTRNN đối với những dự án gây phương hại đến bí mật, an ninh quốc gia, quốc phòng, lịch sử, văn hoá, thuần phong mỹ tục của Việt Nam

Trang 36

Kể từ khi đầu tư nước ngoài trở thành một trong những phương thức để các nước hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, lĩnh vực được ưu tiên đầu tư cũng thay đổi cho phù hợp với mục đích của các nước đi đầu tư

Trong giai đoạn đầu, các nhà đầu tư ra nước ngoài chủ yếu là từ các nước phát triển và đầu tư vào những ngành sử dụng công nghệ thấp, hay nói cách khác gần như chỉ tập trung đầu tư vào khu vực kinh tế thứ hai (ngành công nghiệp), ví

dụ như dệt may, chế biến gỗ, bột gỗ, các sản phẩm tiêu dùng… Cũng trong giai đoạn này, các nhà đầu tư chủ yếu là từ những nền kinh tế phát triển đầu tư sang các nền kinh tế đang phát triển nhằm tận dụng nguồn lao động giá rẻ và chi phí nguyên vật liệu thấp

Cùng với sự phát triển của kinh tế và mức độ tăng lên của toàn cầu hóa, các công ty tại nước chủ đầu tư dễ dàng tiếp cận với thị trường ngoài nước Vì vậy

mà lĩnh vực đầu tư cũng trở nên phong phú hơn Không chỉ dừng lại ở những ngành sản xuất vật chất cơ bản và ngành công nghiệp, các chủ đầu tư mở rộng đầu tư sang ngành dịch vụ nhiều hơn Bên cạnh đó, trình độ công nghệ của nước chủ đầu tư được nâng cao, nên lĩnh vực mà họ đầu tư cũng hàm chứa chất xám nhiều hơn

Toàn cầu hóa đi kèm với xu hướng xuất hiện nhiều nhà đầu tư từ những nước đang phát triển mà điển hình là Ấn Độ và Trung Quốc Đối với các nhà đầu

tư này, ban đầu lĩnh vực đầu tư ưa thích của họ cũng là ngành yêu cầu công nghệ thấp, nhưng sau đó họ cũng dần chuyển sang các lĩnh vực công nghệ cao để tiếp thu được trình độ công nghệ

Trong khoảng hơn một thập kỷ trở lại đây, một xu hướng mới nổi lên trong ĐTTTRNN là tập trung vào lĩnh vực khai thác tài nguyên thiên nhiên Với sự phát triển chóng mặt của kinh tế, nhiều nước đang phải đối diện với thực tế cạn kiệt nguồn nguyên nhiên liệu Bên cạnh việc tìm nguồn nguyên liệu thay thế ở trong nước, một giải pháp hữu hiệu khác để giải quyết vấn đề trên là đầu tư khai thác nguồn tài nguyên của các nước nghèo có trình độ khai thác và chế biến kém phát triển Những nước đi đầu trong xu hướng này thường là những nước phát

Ngày đăng: 29/03/2018, 20:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w