1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề lý luận về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

61 848 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số vấn đề lý luận về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Đầu tư quốc tế
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 357 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số vấn đề lý luận về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Trang 1

CHƯƠNG I

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI VÀ

PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI

1 Một số vấn đề lý luận về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

1.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình

để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư Hoạt động đầu tư được biểuhiện rất đa dạng Nếu căn cứ vào tính chất quản lý của nhà đầu tư đối với vốn đầu

tư, có thể chia đầu tư thành: ĐTTT và ĐTGT Trong đó ĐTTT là hoạt động đầu tư

mà người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình sử dụng các nguồnvốn đầu tư Đặc điểm nổi bật của các hình thức đầu tư này là các nhà đầu tư thườngkiểm soát hoạt động và chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của xínghiệp có vốn đầu tư của mình Trong hoạt động ĐTTT không có sự tách bạch giữaquyền sở hữu và quyền quản lý của nhà đầu tư đối với vốn đầu tư Theo Luật đầu

tư (2005) của Việt Nam, ĐTTT là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vàtham gia quản lý hoạt động đầu tư (Khoản 2, điều 3) ĐTTT có thể là ĐTTT trongnước hoặc ĐTTTNN ĐTTT trong nước có nội dung là việc bỏ vốn của các tổchức, cá nhân trong nước để kinh doanh theo các hình thức do pháp luật quy định.FDI là một loại quan hệ kinh tế có nhân tố nước ngoài, được đặc trưng bởi sự dichuyển nguồn lực đầu tư trên phạm vi quốc tế với mục đích kinh doanh thu lợinhuận

Hiện nay, hoạt động FDI đang diễn ra ở hầu hết các nước trên thế giới Mặc

dù xu hướng phổ biến là các nước không có sự phân biệt trong cơ chế điều chỉnhpháp luật giữa ĐTTT trong nước và FDI, khái niệm FDI vẫn được định nghĩa trongluật pháp của nhiều nước, như luật khuyến khích đầu tư của Thái Lan, luật khuyếnkhích và bảo hộ ĐTNN của Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, luật khuyến khích đầu

tư áp dụng cho từng ngành của Hàn Quốc…

Trang 2

Theo quỹ Tiền tệ Quốc tế, FDI là một công cuộc đầu tư ra khỏi biên giớiquốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp đạt được một phần hay toàn bộ quyền sởhữu lâu dài một doanh nghiệp ĐTTT trong một quốc gia khác Quyền sở hữu nàytối thiểu phải là 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận là FDI [28].

Tổ chức Thương mại thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI: FDI xảy rakhi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nướckhác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý

là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác [29]

Như vậy, FDI bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế có nhân tố nướcngoài (chủ đầu tư, vốn đầu tư và địa điểm đầu tư từ các quốc gia khác nhau) Nhân

tố nước ngoài ở đây không chỉ thể hiện ở sự khác biệt về quốc tịch hoặc về lãnh thổ

cư trú thường xuyên của các bên tham gia vào quan hệ FDI mà còn thể hiện ở việc

di chuyển tư bản trong FDI vượt ra ngoài tầm kiểm soát của một quốc gia Việc dichuyển tư bản này là nhằm phục vụ mục đích kinh doanh tại nước tiếp nhận đầu tư

mà việc kinh doanh đó do chính các chủ đầu tư nước ngoài thực hiện hoặc kết hợpvới chủ đầu tư của nước tiếp nhận đầu tư thực hiện

FDI bao gồm ĐTTT từ nước ngoài và ĐTTTRNN Ở bất cứ quốc gia nào thìhai hoạt động này cũng phải được tiến hành một cách đồng thời Để phát triển kinh

tế, các quốc gia không chỉ phải thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn ĐTTT từ nướcngoài mà còn không ngừng đẩy mạnh ĐTTTRNN, nhằm mở rộng thị trường nângcao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tiếp cận gần khách hàng, tận dụng nguồn tàinguyên, nguyên liệu tại chỗ, tiết kiệm chi phí vận chuyển hàng hoá, tránh được chế

độ giấy phép xuất khẩu trong nước và tận dụng được quota xuất khẩu của nước sởtại để mở rộng thị trường, đồng thời tăng cường khoa học - kĩ thuật, nâng cao nănglực quản lý và trình độ tiếp thị với các nước trong khu vực và trên thế giới

Ở Việt Nam, khái niệm FDI đã được đề cập trong nhiều văn bản pháp luật vềđầu tư Văn bản pháp lý đầu tiên về FDI là Điều lệ về đầu tư nước ngoài tại ViệtNam ban hành kèm theo Nghị định số 115/CP ngày 18/04/1977 Điều lệ này không

Trang 3

nêu định nghĩa cụ thể FDI nhưng tinh thần cơ bản giống như khái niệm FDI đượcghi nhận sau này trong Luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam năm 1987 cũng nhưLuật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 như sau: “FDI là việc nhà đầu tưnước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào đượcChính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặcthành lập doanh nghiệp liên doanh, hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài”.Như vậy, khái niệm FDI được hiểu là ĐTTT từ nước ngoài vào Việt Nam, cònĐTTT từ Việt Nam ra nước ngoài không thuộc phạm vi điều chỉnh của các Luậtđầu tư nước ngoài tại Việt Nam Nghĩa là trong một thời gian dài chúng ta không

hề có một quy định pháp luật nào điều chỉnh về ĐTTTRNN Điều này xuất phát từthực tiễn đất nước còn nhiều khó khăn, vốn tích luỹ thấp, trình độ quản lý, trình độkhoa học kĩ thuật còn hạn chế cộng thêm cả cách nghĩ lạc hậu “đem tiền ra nướcngoài là đất nước bị hụt vốn” đã không cho phép các doanh nghiệp đầu tư ra nướcngoài [13] Hiện nay, Việt Nam đã có sự thay đổi về mọi mặt, có vốn dư thừatương đối, có khả năng tài chính, kinh nghiệm quản lý và mạnh dạn đầu tư ra nướcngoài Quan điểm mới khẳng định rằng ĐTRNN là cần thiết, tạo điều kiện nối dàicánh tay của doanh nghiệp Việt Nam ra thị trường thế giới [10] Vì vậy, đến NĐ 22năm 1999 thì ĐTTTRNN mới chính thức được ghi nhận, theo đó khái niệmĐTTTRNN được định nghĩa như sau: “ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam là việc

DN Việt Nam đưa vốn bằng tiền và tài sản khác ra nước ngoài để ĐTTTRNN theoquy định của nghị định này” (Khoản 1, điều 1)

Hiện nay, các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động ĐTRNN đã chínhthức được pháp điển hoá vào Luật đầu tư (2005) Khoản 14 Điều 3 Luật đầu tư địnhnghĩa: “ĐTRNN là việc nhà đầu tư đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác

từ Việt Nam ra nước ngoài để tiến hành hoạt động đầu tư” Sau đó, NĐ 78 năm

2006 được ban hành nhằm hướng dẫn thi hành Luật đầu tư (2005) về ĐTTTRNN,theo đó khái niệm ĐTTTRNN được định nghĩa một cách đầy đủ như sau:

Trang 4

“ĐTTTRNN là việc nhà đầu tư chuyển vốn ĐTRNN để thực hiện hoạt động đầu tư

và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó ở nước ngoài” (Khoản 1, điều 3)

1.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

1.2.1 Về chủ thể của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Hoạt động ĐTTTRNN chủ yếu do các nhà đầu tư là tổ chức kinh tế hoặc cánhân thực hiện Đây là một đặc điểm giúp phân biệt với hoạt động ĐTRNN củaChính phủ và các tổ chức quốc tế dưới nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức(ODA)

1.2.2 Về nguồn vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Đối với ĐTTTRNN, vốn đầu tư có thể bằng tiền, tài sản khác hoặc bằngcông nghệ Vì vậy, thông qua hoạt động đầu tư này, nước chủ nhà có thể tiếp nhậnđược công nghệ tiên tiến và học hỏi được kinh nghiệm quản lý do nhà ĐTNN đưavào Còn đối với ĐTGT ra nước ngoài, vốn chỉ có thể là tiền, không thể là hiện vậthoặc công nghệ Nên DN nhận vốn không thể tiếp nhận công nghệ hiện đại trựctiếp từ việc tiếp nhận vốn đầu tư gián tiếp của các nhà ĐTNN ĐTGT ra nước ngoàidưới hình thức ODA bao gồm các loại nguồn như: a) hỗ trợ tài chính: cung cấp tiền

ở dạng cho không hay cho vay lãi suất thấp; b) hỗ trợ kỹ thuật: cung cấp cố vấn vànhững chuyên gia kỹ thuật mà nước tiếp nhận đang thiếu; c) hỗ trợ bằng hiện vật:dưới dạng hàng hoá như tư liệu sản xuất, lương thực, thực phẩm…[7]

1.2.3 Về mục đích đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Quan hệ FDI là quan hệ kinh doanh theo cơ chế thị trường, có mục đích kinhdoanh Vì vậy, lợi nhuận là mục tiêu cao nhất của các chủ đầu tư Còn trong ĐTGT

ra nước ngoài của Chính phủ và các tổ chức quốc tế dưới hình thức ODA, kinhdoanh và lợi nhuận không phải là mục tiêu trực tiếp của chủ đầu tư bởi quan hệ nàykhông phải là quan hệ kinh doanh một cách thuần tuý Mục đích ODA có thể là: a)tính đoàn kết quốc tế: như quyết định của Liên hiệp quốc là các nước giàu phảidành 0,7% GDP cho viện trợ cho các nước nghèo; b) lợi ích thương mại: các nướctài trợ muốn dùng viện trợ như một biện pháp để tăng cường xuất khẩu sang các

Trang 5

nước đang phát triển và có thể áp dụng các ràng buộc thương mại đối với phần việntrợ của họ; c) lợi ích chính trị: các nước tài trợ muốn khuyến khích Chính phủ cácnước tiếp nhận viện trợ thay đổi chính sách của họ về khía cạnh nào đó, ví dụ như:thay đổi chính sách kinh tế vĩ mô, điều chỉnh cơ cấu kinh tế, chống tham nhũng,các yêu cầu liên quan đến nhân quyền…[7].

1.2.4 Về tính chất của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Nếu như ở ĐTGT nước ngoài, nhà ĐTNN góp vốn bằng cách mua cổ phiếu,trái phiếu của doanh nghiệp nước sở tại mà không trực tiếp nắm quyền quản lýdoanh nghiệp thì ở ĐTTTRNN, nhà đầu tư lại đóng góp một số vốn đủ lớn để cóquyền tham gia trực tiếp vào việc quản lý đối tượng đầu tư Nhà đầu tư bỏ vốn tựquyết định đầu tư vào lĩnh vực gì và chịu trách nhiệm về quyết định đó ĐểĐTTTRNN, nhà đầu tư phải điều tra nắm bắt thị trường, tìm hiểu tình hình thế giớiliên quan đến lĩnh vực đầu tư, đưa ra quyết định đầu tư, xây dựng dự án đầu tư,thực hiện dự án và hưởng thành quả của nó ĐTTTRNN bảo đảm cho nhà đầu tưkiểm soát và điều hành quá trình vận động vốn đầu tư Do chủ thể đầu tư bỏ vốnhoàn toàn hoặc có số vốn lớn trong phần vốn góp, do đó nhà đầu tư hoàn toàn cóthể kiểm soát hoạt động sản xuất hoặc chiến lược phát triển của doanh nghiệp Nhàđầu tư thường có kiến thức và kinh nghiệm quản lý hoạt động đầu tư ở nước ngoài,hiểu biết về thị trường thế giới chính về thế mà có khả năng bảo đảm hiệu quả củadoanh nghiệp hoặc dự án đầu tư

1.2.5 Về mối quan hệ giữa nhà đầu tư với nước tiếp nhận đầu tư

Vì là quan hệ có mục đích kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận nên quan hệĐTTTRNN chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường, ítchịu ảnh hưởng và ràng buộc bởi các quan hệ chính trị Còn đối với đầu tư gián tiếpODA thì quan hệ này lại mang đậm màu sắc chính trị, bị ảnh hưởng bởi quan hệgiữa các quốc gia với nhau và với các tổ chức tài chính quốc tế, ít chịu sự chi phốicủa các quy luật kinh tế Hơn nữa, nước tiếp nhận ODA không chỉ bị biến thànhcon nợ mà còn phải bảo đảm một số điều kiện khác manh tính chính trị như phải

Trang 6

bảo đảm tốc độ tăng trưởng, ổn định tỷ lệ lạm phát, cân bằng cán cân thanh toán,phải giảm chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước…

1.3 Vai trò, ý nghĩa của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

ĐTRNN nói chung và ĐTTTRNN nói riêng là một xu thế tất yếu khách quantrong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, chính vì vậy

mà vai trò, ý nghĩa của hoạt động này là không thể phủ nhận

1.3.1 Vai trò, ý nghĩa chung

- Thứ nhất: ĐTTTRNN giúp cho các nước đầu tư sử dụng có hiệu quả các

nguồn lực trong nước, nâng cao tỷ suất lợi nhuận đầu tư, đồng thời khai thác cóhiệu quả lợi thế của quốc gia trên trường quốc tế Trong nền kinh tế toàn cầu, cácquốc gia sẽ phát triển nhanh với những lợi thế riêng có của mình, góp phần vào quátrình thúc đẩy nền kinh tế thế giới Bằng việc tận dụng những lợi thế riêng có, cácquốc gia sẽ có chiến lược đầu tư ra thị trường nước ngoài phù hợp để thu về lợinhuận cao nhất cho mình

- Thứ hai: ĐTTTRNN giúp cho nước đầu tư tìm kiếm và tận dụng ở nước

ngoài một cách có hiệu quả hơn trong nước, xây dựng được thị trường cung cấpđầu vào ổn định với giá cả phải chăng Nguồn tài nguyên thiên nhiên của các nướcđang phát triển có nhiều nhưng không có điều kiện chế biến vì thiếu vốn, côngnghệ Do đó, đầu tư vào các lĩnh vực này sẽ thu được nguyên liệu thô với giá rẻ vàqua chế biến sẽ thu được lợi nhuận cao nhất Vì vậy các quốc gia thiếu tài nguyênthiên nhiên như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc coi đây là một chính sách nhằmcân bằng sự thiếu hụt các nguồn tài nguyên trong nước [9]

- Thứ ba: ĐTTTRNN giúp cho các nhà đầu tư mở rộng thị trường tiêu thụ

sản phẩm Đối với sự ra đời của một sản phẩm, chiếm lĩnh được thị trường là yếu tốsống còn Khi hầu hết các quốc gia đều gia nhập vào một thị trường chung - Thịtrường thế giới – thì vấn đề thị trường cho sản phẩm lại càng trở nên bức thiết

Trang 7

Doanh nghiệp nào có chiến lược đưa được sản phẩm của mình ra nước ngoài trước,chiếm lĩnh được thị trường trước thì doanh nghiệp đó sẽ thành công.

- Thứ tư: ĐTTTRNN giúp cho các nước đầu tư tránh được hàng rào thuế

quan và hàng rào bảo hộ phi thuế quan của nước nhận đầu tư Trong giai đoạn đầucủa nền kinh tế toàn cầu, vẫn còn rất nhiều hàng rào thuế quan và phi thuế quanđược dựng lên trên cơ sở nhiều lý do khác nhau ĐTTTRNN sẽ giúp các quốc giađầu tư mở rộng thị trường cho hàng hoá của mình mà không vướng phải bất cứ sựcản trở nào Điều này cũng giúp cho hàng hoá của các quốc gia đầu tư có sức cạnhtranh nhờ giá cả hợp lý

- Thứ năm: ĐTTTRNN sẽ giúp cho không chỉ các doanh nghiệp của các

nước đầu tư mà còn của nước tiếp nhận tự hoàn thiện mình cả về mặt cơ cấu sảnphẩm, công nghệ, kinh nghiệm quản lý Đối với các nước đầu tư, ở môi trường đầu

tư mới, doanh nghiệp muốn đứng vững phải tìm cách thích ứng với thị trường, đápứng những đòi hỏi của thị trường mới có thể tồn tại

Ngoài ra ĐTTTRNN còn cho phép các công ty nước ngoài kéo dài chu kỳsống của các sản phẩm mới được tạo ra trong nước, đổi mới cơ cấu sản xuất, ápdụng công nghệ mới, nâng cao năng lực cạnh tranh

- Thứ nhất: Bổ sung nguồn vốn cho nền kinh tế.

Trước hết, ĐTTTRNN đóng vai trò là một nguồn cung cấp vốn lớn, gópphần giải quyết tình trạng thiếu vốn đầu tư - một căn bệnh kinh niên và phổ biếncủa bất kỳ quốc gia chậm phát triển nào Bởi thực tế, ở các nước này có nhiều tiềmnăng về lao động, tài nguyên thiên nhiên nhưng do trình độ còn thấp kém, cơ sở vậtchất còn nghèo, lạc hậu nên chưa có điều kiện khai thác các tiềm năng ấy Cácnước này chỉ có thể thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn của sự đói nghèo bằng cáchtăng cường đầu tư sản xuất, tạo ra mức tăng trưởng kinh tế cao và ổn định Để thựchiện được việc này các nước đang phát triển cần phải có nhiều vốn đầu tư

- Thứ hai: Cung cấp công nghệ mới cho sự phát triển.

Trang 8

Bên cạnh vai trò cung cấp vốn, ĐTTTRNN còn mang lại cho nước tiếp nhậnđầu tư những kỹ thuật công nghệ tiên tiến, góp phần phát triển lực lượng sản xuất,

cơ cấu lại nền kinh tế… Do khi tiến hành đầu tư vào một nước nào đó chủ đầu tưkhông chỉ chuyển giao vào nước đó vốn bằng tiền mà còn chuyển cả vốn hiện vậtnhư máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu…và vốn vô hình như chuyên gia kỹ thuậtcông nghệ, tri thức khoa học, bí quyết quản lý, năng lực tiếp cận thị trường…Thông qua hoạt động ĐTTTRNN, quá trình chuyển giao công nghệ được thực hiệnnhanh chóng và thuận tiện cho cả bên nhận đầu tư lẫn bên đầu tư

- Thứ ba: Đào tạo nguồn nhân lực.

ĐTTTRNN có vai trò như là một hình thức đào tạo giúp nước tiếp nhận đầu

tư kiến thức sử dụng công nghệ hiện đại và học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiếncủa nước ngoài trong sản xuất kinh doanh, nâng dần trình độ sản xuất kinh doanhcủa đất nước, hoà nhập vào phân công lao động quốc tế Hơn thế nữa, ĐTTTRNNcũng góp phần đào tạo một đội ngũ công nhân có trình độ kỹ thuật cao cho đấtnước, hạn chế tình trạng thất nghiệp, nâng cao mức thu nhập cho người lao động

- Thứ tư: Góp phần mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu.

Trong thời đại ngày nay, nước ta cũng như các nước trên thế giới đều có nhucầu mở rộng thị trường cả trong nước và nước ngoài Đa số các dự án ĐTTTRNNđều có phản ánh bao tiêu sản phẩm Đây là hiện tượng đa chiều đang trở thành kháphổ biến ở các nước đang phát triển hiện nay [20]

- Thứ năm: Góp phần tăng thu ngân sách, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng.

ĐTTTRNN đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách nhà nước thông quaviệc nộp thuế, phí tiền thuê đất… của các đơn vị đầu tư nước ngoài Đồng thờitranh thủ vốn và công nghệ của nước ngoài, các nước đang phát triển muốn sửdụng nó để thực hiện mục tiêu quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh tăng trưởng kinh

tế Đây cũng là điểm nút để các nước đang phát triển thoát ra khỏi vòng luẩn quẩncủa sự đói nghèo Thực tiễn và kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy quốc gianào thực hiện chiến lược mở cửa với bên ngoài, biết tranh thủ các nhân tố bên

Trang 9

ngoài biến nó trở thành nhân tố bên trong thì quốc gia đó sẽ tạo được sự tăngtrưởng kinh tế cao.

1.3.2 Vai trò, ý nghĩa riêng đối với Việt Nam

Là một nước nông nghiệp lạc hậu, có xuất phát điểm thấp, các doanh nghiệpViệt Nam gần đây mới mạnh dạn tiến hành ĐTTTRNN Mặc dù là một lĩnh vựcđầu tư mới nhưng trong một thời gian ngắn đã thu lại được những kết quả rất khảquan Bên cạnh những vai trò không thể phủ nhận của hoạt động ĐTTTRNN đốivới việc phát triển kinh tế ở các quốc gia trên thế giới, đối với Việt Nam, hoạt độngnày còn vô cùng ý nghĩa, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập hiện nay

- Thứ nhất: ĐTTTRNN giúp các nhà đầu tư ở Việt Nam khai thác được lợi

thế so sánh của nước tiếp nhận đầu tư, qua đó tận dụng được chi phí sản xuất thấpcủa nước tiếp nhận đầu tư để sản xuất ra được những sản phẩm có giá thành hạ hơn

so với sản phẩm sản xuất trong nước, giảm được chi phí vận chuyển đối với việcsản xuất hàng thay thế nhập khẩu của nước tiếp nhận đầu tư, nhờ đó nâng cao hiệuquả đầu tư

- Thứ hai: ĐTTTRNN còn giúp các nhà đầu tư Việt Nam mở rộng được thị

trường tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt thị trường tiêu thụ sản phẩm nội địa của cácnước nước lớn như: Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia… có sức hấp dẫn mạnh

- Thứ ba: Ngoài ra ĐTTTRNN mang về cho đất nước một lượng ngoại tệ

đáng kể góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước theo hướng côngnghiệp hoá - hiện đại hoá

- Thứ tư: Và một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với một nước đang phát

triển như Việt Nam là hoạt động ĐTTTRNN sẽ là cánh cửa mở ra con đường giaolưu phát triển kinh tế trên phạm vi quốc tế, là bước tiếp cận với thị trường thế giới,đưa Việt Nam đến gần với quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế Bởihiện nay, không thể có một nền kinh tế của quốc gia nào lại có thể tồn tại, phát triểnbằng sản xuất của riêng mình và chỉ khép kín trong phạm vi một quốc gia Có thểthấy rằng, thế giới ngày nay đang tiến tới một khung pháp lý chung trong lĩnh vực

Trang 10

kinh tế: khung pháp lý WTO Trong thời đại toàn cầu hoá, sự phụ thuộc lẫn nhaugiữa các nền kinh tế, giữa các quốc gia là tất yếu và ngày càng sâu sắc; sự phânchia công việc là một nguyên tắc quan trọng trong xúc tiến kinh tế và thể hiện sựphân công lao động xã hội trên phạm vi quốc tế Vấn đề hợp tác kinh tế và toàn cầuhoá nền kinh tế thế giới đã trở thành xu thế tất yếu và khách quan của nhân loạitrong thế kỷ XXI [15]

2 Một số vấn đề lý luận về pháp luật đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

2.1 Khái niệm và nội dung cơ bản của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Hoạt động ĐTTTRNN tại Việt Nam đã bắt đầu được thực hiện từ năm 1989.Tuy nhiên cho đến tận năm 1999, văn bản pháp lý đầu tiên quy định về ĐTRNNcủa các DN Việt Nam mới được ban hành, đó là NĐ 22 năm 1999 Đây có thể coi

là một sự bất cập của hệ thống quy phạm pháp luật khi không thể theo kịp để điềuchỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống dẫn đến trong một thời gian dài,các nhà đầu tư tiên phong gặp vô vàn khó khăn, không chỉ ở việc thiếu thông tin thịtrường, thiếu vốn, thiếu khoa học công nghệ, sự hỗ trợ của nhà nước mà còn thiếu

cả cơ sở pháp lý điều chỉnh quan hệ đầu tư trong lĩnh vực này Theo một chuyêngia của Bộ KH - ĐT, vấn đề đẩy mạnh ĐTRNN trước kia có hai quan điểm: cóquan điểm cho rằng chưa đặt vấn đề khuyến khích ĐTRNN vì cho rằng ĐTRNN làchảy máu ngoại tệ Nước ta đang cần khuyến khích đầu tư trong nước để phát triểnchưa đến lúc ĐTRNN Tuy nhiên lại có quan điểm khác cho rằng cần khuyến khíchĐTRNN để nối dài cánh tay của doanh nghiệp ra ngoài cả về thị trường [17] Hiệnnay, quan điểm thứ hai đang trở nên phù hợp với thực tiễn và nhất là khi Việt Namgia nhập WTO Sau một thời gian dài đổi mới và phát triển, DN Việt Nam cũng đã

có tích luỹ và có thể đầu tư ra nước ngoài để đáp ứng nhu cầu phát triển của mình.Nhờ vậy mà các quy định về ĐTRNN ngày càng được bổ sung, hoàn thiện và rõràng hơn Minh chứng cho điều này là việc Luật đầu tư đã pháp điển hoá hoạt động

Trang 11

ĐTRNN vào luật, sau đó Chính phủ ban hành NĐ 78 năm 2006 hướng dẫn về vấn

đề này

Ở mức độ khái quát có thể hiểu, pháp luật về ĐTTTRNN là tổng thể các quyphạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh các quan hệ xãhội phát sinh trong quá trình tổ chức, thực hiện và quản lý hoạt động ĐTTTRNN

Khung pháp luật về ĐTTTRNN của Việt Nam được quy định trong nhiềuvăn bản quy phạm pháp luật của nhà nước trước hết là Hiến pháp, rồi đến Luật đầu

tư quy định cụ thể về hoạt động này, tiếp đó là các đạo luật điều chỉnh về địa vịpháp lý của các nhà đầu tư như: Luật doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp nhà nước,Luật hợp tác xã; hay luật quy định về các hoạt động thương mại như: Luật thươngmại, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật chứng khoán, Luật ngân hàng, Luật các tổchức tín dụng… và các văn bản dưới luật khác có liên quan

Bên cạnh đó, khung pháp luật về ĐTTTRNN còn bao gồm các điều ước quốc

tế song phương hoặc đa phương về đầu tư mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, như:Công ước về tổ chức bảo đảm đầu tư đa biên tháng 9 năm 1985, Việt Nam tham gianăm 1993; các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, hiệp định tránh đánh thuếtrùng mà Việt Nam đã ký kết song phương với các nước; hiệp định thương mạiViệt Nam- Hoa Kỳ; hiệp định về khu vực đầu tư Asean (AIA)… Trong thời gianqua Chính phủ Việt Nam đã ký kết và tham gia hơn 50 hiệp định với các nước [9].Đây chính là nền tảng quan trọng để trên cơ sở đó, hệ thống pháp luật vềĐTTTRNN của Việt Nam hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu ĐTRNN của các doanhnghiệp

Với chức năng đảm bảo an toàn pháp lý cho hoạt động ĐTTTRNN, pháp luật

về ĐTTTRNN có nội dung chủ yếu là các quy định về những vấn đề sau:

a Chủ thể của ĐTTTRNN: là các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động đầu tư

thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật ĐTTTRNN Quy định về chủ thể là mộtquy định quan trọng, nó quyết định sự mở rộng hay thu hẹp phạm vi quản lý củanhà nước đối với một lĩnh vực này Nếu quy định không đầy đủ sẽ hạn chế khả

Trang 12

năng sẵn có hoặc dẫn đến tình trạng bỏ ngõ trong công tác quản lý, dẫn đến tìnhtrạng luồn lách pháp luật, vi phạm pháp luật [10].

b Điều kiện để ĐTTTRNN: Để được ĐTTTRNN nhà đầu tư phải đáp ứng

một số điều kiện nhằm đảm bảo tính khả thi cho hoạt động đầu tư, đảm bảo lợi íchquốc gia cũng như để nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lý của mình Điềukiện để ĐTRNN thể hiện thái độ của nhà nước đối với hoạt động này Điều kiệnchặt chẽ sẽ dễ dàng trong quản lý nhưng lại khó khăn cho các nhà đầu tư Trongthời đại ngày nay, xu hướng chung của các nước là thông thoáng, tạo thuận lợisong cũng phải đảm bảo thực hiện tốt chức năng quản lý của nhà nước

c Thủ tục ĐTTTRNN: là quá trình đăng ký, thẩm định cấp giấy chứng nhận

ĐTTTRNN Để có thể tiến hành hoạt động ĐTTTRNN trước hết nhà đầu tư phảiđược cơ quan có thẩm quyền trong nước cho phép thông qua giấy chứng nhận đầu

tư Tổ chức, cá nhân muốn được cấp giấy chứng nhận đầu tư phải chuẩn bị hồ sơ

dự án đầu tư gửi tới cơ quan có thẩm quyền theo luật định Trong thời hạn nhấtđịnh kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền sẽ quyết định cấp giấychứng nhận đầu tư hay không Quy định về thủ tục đầu tư đóng vai trò quan trọngtới sự vận động, phát triển của quá trình ĐTTTRNN Thủ tục thông thoáng sẽ tạotâm lý thoải mái cho các nhà đầu tư Ngược lại thủ tục rườm rà sẽ gây tư tưởng áingại làm nản lòng các nhà đầu tư Vì vậy cần có một thủ tục đầu tư đơn giản tạomọi điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư

d Hình thức ĐTTTRNN: khá đa dạng Pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư sẽ

quy định cụ thể về hình thức đầu tư và nội dung hình thức đó Và về nguyên tắcnhà đầu tư có thể được chấp nhận lựa chọn đầu tư theo hình thức ĐTTT như: liêndoanh, độc doanh, hợp doanh, sáp nhập, mua lại…

e Lĩnh vực ĐTTTRNN: Phụ thuộc vào pháp luật nước tiếp nhận đầu tư, sẽ

quy định lĩnh vực được phép đầu tư và những lĩnh vực bị cấm Tuy nhiên, pháp luậtcủa nước đầu tư cũng có quy định về lĩnh vực khuyến khích đầu tư và các lĩnh vực

Trang 13

bị cấm ĐTTTRNN Quy định này mang ý nghĩa chính trị xã hội, đảm bảo ổn địnhchính trị và lợi ích quốc gia.

f Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư ĐTTTRNN: Pháp luật về ĐTTTRNN

quy định những quyền lợi mà bất cứ chủ thể nào khi tham gia quan hệ pháp luậtnày đều được hưởng Bên cạnh đó, pháp luật cũng đặt ra nghĩa vụ ràng buộc tráchnhiệm của nhà đầu tư đối với nhà nước khi tiến hành ĐTTTRNN Để được hưởngquyền lợi thì trước tiên đòi hỏi nhà đầu tư phải chấp hành và thực hiện đầy đủnghĩa vụ của mình Thực tiễn cho thấy, thái độ của nhà nước đối với hoạt động nàycàng thông thoáng thì các quy định về quyền của nhà đầu tư càng được mở rộng

2.2 Vai trò của pháp luật đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

2.2.1 Pháp luật về ĐTTTRNN thừa nhận, định hướng và thúc đẩy các hoạt động ĐTTTRNN, qua đó là công cụ bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp cho nhà đầu tư

Pháp luật về ĐTTTRNN ra đời là do đòi hỏi của chính các quan hệ vềĐTTTRNN Hoạt động ĐTTTRNN của các DN Việt Nam bắt đầu được thực hiện

từ năm 1989 Mãi sau đó đến năm 1999, NĐ 22 năm 1999 mới ra đời tạo cơ sởpháp lý đầu tiên cho cơ quan nhà nước thực hiện chức năng của mình và chính sách

mở cửa của nhà nước ta Sau một thời gian thực hiện, những quy định tại NĐ 22năm 1999 không còn phù hợp nữa, NĐ 78 năm 2006 ra đời tạo cơ sở pháp lý mớithay thế NĐ 22 năm 1999 Như vậy, sau khi ra đời, pháp luật về ĐTTTRNN tácđộng trở lại làm cho các quan hệ ĐTTTRNN phát sinh, phát triển theo chiều hướngphù hợp với ý chí của nhà nước Đối với các nhà đầu tư, hơn ai hết, họ mong mỏi

sự ra đời và ngày càng hoàn thiện của các quy phạm pháp luật về ĐTTTRNN Cópháp luật điều chỉnh, nhà đầu tư mới có cơ hội tiến hành hoạt động ĐTTTRNN Cópháp luật quy định, sự quản lý của nhà nước sẽ hạn chế được tình trạng tuỳ tiện, vôchính phủ; tình hình gian lận kinh tế; các tổ chức cá nhân có thể giám sát lẫn nhau

và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước; tạo lòng tin, khuyến khích các

Trang 14

chủ thể thực hiện dự định của mình phát huy mọi tiềm năng làm giàu cho bản thân,góp phần tạo uy tín cho Việt Nam trên trường Quốc tế.

Như vậy, nhờ sự thừa nhận chính thức của pháp luật mà các quan hệĐTTTRNN phát sinh và cũng chính các quy định về hình thức đầu tư, lĩnh vực đầu

tư, chủ thể đầu tư, biện pháp bảo đảm, biện pháp khuyến khích, biện pháp hạnchế… mà pháp luật ĐTTTRNN định hướng được sự phát triển của các quan hệĐTTTRNN

2.2.2 Pháp luật ĐTTTRNN là công cụ quản lý của nhà nước về ĐTTTRNN

Từ phương diện quản lý nhà nước, pháp luật về ĐTTTRNN được xem nhưmột công cụ hữu hiệu nhất của nhà nước trong việc quản lý các hoạt động ĐTRNNnhằm khai thác vai trò tích cực và hạn chế những tiêu cực của quá trình luânchuyển vốn ra khỏi biên giới quốc gia Bởi quan hệ về ĐTTTRNN là quan hệ mangbản chất kinh tế thị trường nên không thể tránh khỏi những khuyết tật cố hữu củabất cứ hoạt động thị trường nào như: tính tự phát, chạy theo lợi nhuận tối đa, khôngchú ý tới lợi ích, không chú ý giữ gìn bí mật an ninh quốc phòng, lịch sử, thuầnphong mỹ tục… Vì vậy, pháp luật về ĐTTTRNN đóng vai trò thực sự là một công

cụ quản lý hữu hiệu và khoa học của nhà nước nhằm định hướng, giới hạn “hànhlang” cho các hoạt động ĐTTTRNN để phát huy mặt tích cực của hoạt động này;không những vậy trên thực tế, pháp luật vừa là công cụ quyền lực, vừa có khả năngchống lại sự lạm quyền, nhũng nhiễu, gây khó khăn cho các nhà đầu tư của cán bộcông chức biến chất trong bộ máy chính quyền

2.2.3 Pháp luật ĐTTTRNN góp phần thúc đẩy sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật về đầu tư

Nếu ĐTTTRNN là hoạt động kinh tế có vai trò thúc đẩy sự phát triển ngoạilực của nền kinh tế đất nước thì pháp luật về ĐTTTRNN là một bộ phận của phápluật về đầu tư cũng có vai trò tác động làm phát sinh nhu cầu hoàn thiện hệ thốngpháp luật đầu tư Từ sau NĐ 22 năm 1999, hoạt động ĐTTTRNN đã chính thức

Trang 15

thừa nhận, kéo theo hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật khác ra đời nhằmsửa đổi và hoàn thiện các quy định nhằm điều chỉnh hoạt động này.

Các quy định của pháp luật ĐTTTRNN đang ngày càng trở nên hợp lý, bảođảm tính rõ ràng và thống nhất, góp phần hoàn thiện môi trường pháp lý về ĐTNNnói chung và ĐTTTRNN nói riêng phù hợp với thông lệ quốc tế về đầu tư và thúcđẩy quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay của Việt Nam

2.3 Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của một số nước trên thế giới

Trước đây, khi kinh tế thế giới còn phát triển một cách chậm chạp, các nước

tư bản lớn hầu như thâu tóm hết các hoạt động kinh tế quan trọng Dường như, lĩnhvực ĐTTTRNN chỉ giành riêng cho doanh nghiệp của các nước phát triển như: cácnước EU, Mỹ, Nhật Bản… Do có lợi thế về nguồn vốn và năng lực cạnh tranh…[23]

Những năm gần đây, vốn ĐTTTRNN của các doanh nghiệp đến từ các nướcđang phát triển cũng đã tăng lên một cách nhanh chóng và đáng kể Quá trìnhĐTTTRNN diễn ra tại hầu hết các nước trên thế giới Như vậy, cùng với quá trìnhtoàn cầu hoá kinh tế, doanh nghiệp của các nước đang phát triển đã biết tận dụng

cơ hội để mở rộng quy mô, tiến sâu hơn vào thị trường thế giới, ĐTTTRNN

a Trung Quốc - quốc gia láng giềng với Việt Nam - trong thời gian qua đã

có bước phát triển thần kỳ về nền kinh tế quốc dân nói chung và trong việcĐTTTRNN nói riêng Theo một nghiên cứu mới đây, Trung Quốc đang là nền kinh

tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới, với tốc độ bình quân 7,9%/ năm từ thập niên

1970 Và có thể sẽ vượt Đức để trở thành nước xuất khẩu hàng hoá lớn nhất thếgiới trong năm 2008 này [16] Riêng trong lĩnh vực ĐTTTRNN, ngay từ rất sớm,Chính phủ Trung Quốc đã có cái nhìn đầy nghiêm túc đối với hoạt động này, khichính thức phê chuẩn “Công ước bảo đảm cơ cấu đầu tư nhiều bên” từ năm 1988.Tiếp đó ngày 1/7/1992 Trung Quốc phê chuẩn “Công ước giải quyết tranh chấp đầu

tư giữa các quốc gia” (Công ước Oashingtơn) Đây chính là cơ sở ban đầu cho

Trang 16

Trung Quốc trong quá trình xây dựng, tiến tới hoàn thiện hệ thống pháp luật vềĐTTTRNN của các doanh nghiệp [11].

Quốc vụ viện - cơ quan quyền lực cao nhất của Trung Quốc đã ban hànhquyết định về việc cải cách thể chế đầu tư, trong đó quy định một cách chung nhấtthẩm quyền thẩm tra, phê chuẩn đối với các hạng mục ĐTRNN của các cơ quan:Quốc vụ viện, Uỷ Ban cải cách và phát triển, Bộ thương mại và chính quyền địaphương Việc phân cấp quản lý tạo điều kiện cho việc quản lý nhà nước đối vớihoạt động ĐTTTRNN của doanh nghiệp

Uỷ Ban cải cách và phát triển là cơ quan trực thuộc Quốc vụ viện, với chứcnăng quản lý hoạt động ĐTRNN đã ban hành một số văn bản điều chỉnh hoạt độngĐTTTRNN như: “Biện pháp quản lý tạm thời về việc thẩm tra phê chuẩn các côngtrình ĐTNN”; “Thông tư của ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc, Uỷ Ban cảicách và phát triển nhà nước về chính sách khuyến khích các khoản vay ưu đãi đốivới các công trình ĐTRNN trọng điểm”

Ngoài ra, Cục quản lý ngoại hối cũng đã ban hành một số văn bản pháp quynhư: “biện pháp quản lý ngoại hối trong ĐTRNN”; “các nguyên tắc thực thi biệnpháp quản lý ngoại hối trong ĐTRNN”…

Với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp đối với hoạt động của cácdoanh nghiệp trong lĩnh vực ngoại thương nói chung và ĐTTTNN nói riêng, Bộthương mại Trung Quốc trong thời gian qua đã ban hành và sửa đổi hàng loạt vănbản trong quản lý nhà nước đối với hoạt động ĐTTTRNN, vừa đáp ứng được nhucầu mở rộng đầu tư của doanh nghiệp, vừa đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tếsau khi Trung Quốc gia nhập tổ chức Thương mại thế giới năm 2001 Các văn bảnnhư: “Biện pháp đánh giá tổng hợp thành tích ĐTTTRNN” năm 2002; “Thông tư

về vấn đề hoàn lại tiền bảo đảm cho hoạt động chuyển lợi nhuận về nước trong hoạtđộng ĐTTTRNN” năm 2003; “Thông tư về việc thành lập trung tâm thông tin chodoanh nghiệp ĐTTTRNN” được thực thi từ ngày 28/11/2003; “Chế độ báo cáo trởngại kinh doanh đối với hoạt động đầu tư các nước” ngày 11/11/2004; “Chế độ báo

Trang 17

cáo tình hình trước khi ĐTRNN bằng hình thức mua lại doanh nghiệp” ngày31/3/2005; “Quy định đối với việc thẩm tra, phê chuẩn, thành lập doanh nghiệpĐTRNN” ban hành ngày 11/6/2006… [9].

Có thể nói hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động ĐTTTRNNcủa Trung Quốc là hết sức dồi dào và tương đối đầy đủ, đáp ứng gần như cơ bảnkhông chỉ yêu cầu quản lý nhà nước của các cơ quan chức năng đối với hoạt độngnày mà còn cả với nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của các doanh nghiệp khi tiếnhành ĐTTTRNN

Mặc dù chưa có “Luật khuyến khích ĐTTTRNN”, song trên thực tế TrungQuốc đã áp dụng rất nhiều chính sách khuyến khích bằng các văn bản pháp quy cóliên quan Chính vì vậy mà tốc độ phát triển trong lĩnh vực này của Trung Quốckhông ngừng tăng cao Tính đến năm 2005, tổng số vốn ĐTTTRNN đạt tới con sốxấp xỉ 44 tỷ 777 triệu USD, vùng lãnh thổ đầu tư mở rộng ra hơn 100 quốc gia vàkhu vực [30]

b Singapore: Pháp luật về ĐTTTRNN chủ yếu là công cụ nhằm khuyến

khích các doanh nghiệp trong nước tiến hành ĐTTTRNN Nước này áp dụng chínhsách miễn thuế đối với tất cả các doanh nghiệp ĐTRNN có lợi nhuận, kể cả đối vớicác nước chưa có hiệp định bảo hộ đầu tư với Singapore Cùng với đó, thông quacác khoản cho vay, Chính phủ còn cung cấp một phần tài chính ĐTRNN cho cácdoanh nghiệp Ngoài ra, Chính phủ còn giúp các công ty vay vốn của nhà nước,thực hiện huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu ra công chúng Không nhữngvậy tất cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều được tài trợ một phần vốn thông quaQuỹ hỗ trợ ĐTRNN Với các chính sách trên cho thấy cơ chế ĐTTTRNN trong quyđịnh của pháp luật Singapore là hết sức thông thoáng, nhà nước tạo mọi điều kiện,đặc biệt về tài chính, khuyến khích doanh nghiệp dưới mọi hình thức với đủ loạihình tiến hành ĐTTTRNN Chính vì vậy mà số lượng doanh nghiệp ĐTRNNkhông ngừng tăng lên một cách nhanh chóng và thu đươc lợi nhuận kinh doanhđáng kể cho đất nước [9]

Trang 18

2.4 Khái lược sự hình thành và phát triển của pháp luật về ĐTTTRNN ở Việt Nam

Theo thống kê của cục đầu tư nước ngoài, Bộ KH - ĐT, dự án đầu tiên củacác DN Việt Nam ĐTRNN là vào năm 1989 với số vốn 563.380 triệu đô la Mỹnhưng đáng tiếc dự án này đã không được thực hiện Lý do chủ yếu dễ hiểu làkhông có căn cứ pháp lý Từ thời điểm năm 1989 - 1998, mỗi năm có vài ba dự án,năm nhiều nhất có 5 dự án (1993) ĐTRNN nhưng vốn thực hiện còn thấp, có nămkhông giải ngân được đồng nào Kể từ năm 1999, sau khi Chính phủ ban hành NĐ

22 năm 1999 về một số biện pháp khuyến khích ĐTRNN, thì ĐTRNN của cácdoanh nghiệp Việt Nam bắt đầu có sự tăng trưởng ổn định Năm 1999 có 10 dự án,năm 2000 tăng lên 15 dự án và tăng trưởng đều đặn về số lượng dự án kể từ đó đếnnay [16]

Như vậy trong một thời gian dài hoạt động ĐTRNN được các chủ thể tiếnhành một cách nhỏ lẻ, manh mún, rời rạc và hết sức bấp bênh Khi mà cơ sở pháp

lý của nó chưa được quy định trong luật, doanh nghiệp mạnh dạn tiến hành đầu tưtuy nhiên rất mất phương hương do không hề có một sự hỗ trợ nào từ phía nhànước Vì vậy mà NĐ 22 năm 1999 ra đời mặc dù hơi chậm trễ nhưng rất đángkhích lệ Tình trạng này bắt nguồn từ xuất phát điểm của Việt Nam thấp, rất cầnvốn đầu tư Vốn trong nước chưa đủ nên rất dễ hiểu, chúng ta không có nhu cầu vàkhông khuyến khích đem vốn đi chỗ khác Có nghĩa là, sau hơn 10 năm thực thiLuật ĐTNN tại Việt Nam, pháp luật về ĐTTTRNN tại Việt Nam mới bắt đầu hìnhthành, mở đường cho các hoạt động ĐTTTRNN sau này

Ngày 30/8/2001 Bộ KH - ĐT đã ban hành thông tư số 05/2001/TT- BKHhướng dẫn hoạt động ĐTRNN của DN Việt Nam Ngày 02/08/2001, Thủ tướngChính phủ ban hành quyết định số 116/2001/QĐ -TTg 02/08/2001 về một số ưuđãi, khuyến khích ĐTRNN trong lĩnh vực hoạt động dầu khí Ngày 19/01/2001NHNN Việt Nam ban hành thông tư số 01/2001/TT - NHNN của NHNN Việt Namhướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với ĐTTTRNN của DN Việt Nam Như vậy

Trang 19

NĐ 22 năm 1999 cùng với một số văn bản hướng dẫn thi hành của các Bộ, ngànhliên quan chính là khuôn khổ pháp lý cho hoạt động đầu tư của các DN Việt Nam

ra nước ngoài cho đến trước thời điểm luật đầu tư có hiệu lực

Cùng với quá trình hoàn thiện các văn bản mang tính pháp quy, số lượng cácdoanh nghiệp cũng như quy mô dự án đầu tư của các doanh nghiệp cũng tăng lênrất nhanh Cụ thể, trong năm 2002, Việt Nam đã có 15 dự án ĐTTTRNN với tổng

số vốn đăng kí khoảng 150,9 triệu USD Trong đó, đáng chú ý là dự án khai thácdầu khí ở Iraq và Angieri với tổng vốn đầu tư trên 120 triệu USD Cuối tháng10/2002, công ty gạch Thạch Bàn - Hà Nội cũng được cấp giấy phép ĐTTTRNNvới vốn đầu tư là 15 triệu USD tại Nga Năm 2002, số vốn ĐTTTRNN của cácdoanh nghiệp Việt Nam tăng 4 lần tổng số vốn các năm trước cộng lại, quy mô đầu

tư lớn kỷ lục đạt trung bình 12,6 triệu USD/ dự án Năm 2003, Việt Nam có thêm

25 dự án ĐTRNN với tổng vốn đăng ký là 27.309.485 USD Năm 2004 chỉ có 17

dự án được cấp phép ĐTRNN với tổng số vốn là 11 triệu USD Tính đến hết năm

2006, cả nước có 184 dự án FDI vào 33 nước và vùng lãnh thổ với tổng số vốn đạt

968 triệu USD [17] Trong 16 năm qua, Việt Nam đã có sự gia tăng cả về số lượng

dự án và số vốn đăng ký, đặc biệt là sau khi NĐ 22 năm 1999 được ban hành Vìthế có thể nói NĐ 22 năm 1999 và các văn bản hướng dẫn đã đánh dấu mốc quantrọng trong việc hình thành cơ sở pháp lý cho hoạt động ĐTTTRNN của DN ViệtNam, thổi một luồng sinh khí mới vào hoạt động đó, tạo điều kiện cho việc ra đờinhiều dự án ĐTTTRNN của DN Việt Nam hoạt động đạt hiệu quả nhất định Đồngthời là minh chứng cho sự trưởng thành về nhiều mặt của DN Việt Nam từng bướchội nhập đời sống kinh tế khu vực và thế giới Tuy nhiên, sau 6 năm thực hiện, cácnội dung pháp lý được ghi nhận tại các văn bản pháp luật đó đã bộc lộ nhiều bấtcập, có những điểm không phù hợp với tình hình mở cửa và hội nhập vào đời sốngkinh tế quốc tế của đất nước như [14]:

 Nhiều quy định trong NĐ 22 năm 1999 còn thiếu cụ thể, đồng bộ vànhất quán; nhiều điều khoản đến nay không còn phù hợp; không bao quát hết được

Trang 20

sự đa dạng của các hình thức ĐTRNN Nhiều quy định có tính chất ràng buộc mộtcách ngặt nghèo, như: tư nhân ĐTRNN từ 1 triệu USD trở lên phải có ý kiến củaThủ tướng chính phủ.

 Thủ tục hành chính tuy đã có những tiến bộ nhưng nhìn chung vẫn cònquá phức tạp, rườm rà; thủ tục điều chỉnh giấy phép đầu tư chưa rõ ràng; không ítquy định can thiệp quá sâu vào quá trình hoạt động kinh doanh của DN Một số dự

án có thời gian cấp phép kéo dài là do quy trình cũ phải qua thẩm định, lấy ý kiếnnhiều cơ quan theo cơ chế chịu trách nhiệm tập thể Nhiều quy định về mặt pháp lýcòn quá chặt, đặc biệt quy định của NĐ 22 năm 1999 về việc chuyển tiền ra nướcngoài còn nhiều khó khăn

 Các văn bản pháp luật có liên quan đến ĐTRNN còn nhiều hạn chế,chưa lường hết được những vấn đề phát sinh trong quá trình hình thành, thẩm định,cấp phép và triển khai dự án đầu tư…

 Các thông tin về tình hình của các dự án ĐTRNN hầu như không đượccập nhật do chế độ báo cáo chưa được các doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc,thiếu nhiều văn bản hướng dẫn cần thiết và cơ chế kiểm soát về hoạt động ĐTRNNcòn sơ sài bên cạnh đó lại không có các chế tài cụ thể

 Chưa có một cơ chế phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ giữa cơ quanchức năng của Chính phủ như Bộ KH - ĐT, NHNN Việt Nam, Bộ tài chính vớidoanh nghiệp ĐTRNN trong việc quản lý các dự án ĐTRNN, đặc biệt là trong khâutriển khai thực hiện dự án

 Chưa có các quy định nhằm hỗ trợ và khuyến khích tạo điều kiện cho

DN mạnh dạn tiến hành hoạt động ĐTTTRNN

Xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanhnghiệp tại Việt Nam ĐTRNN, góp phần mở rộng và nâng cao hiệu quả của hợp táckinh tế, kỹ thuật, thương mại với nước ngoài, tạo lập một môi trường pháp lý ổnđịnh, thì việc hoàn thiện chính sách ĐTRNN của các DN Việt Nam là một đòi hỏitất yếu Hoàn thiện chính sách với mục tiêu khắc phục sự thiếu thống nhất, tạo lập

Trang 21

tính cụ thể, rõ ràng giữa các văn bản pháp qui liên quan đến ĐTRNN Luật Đầu tư

2005 ban hành và có hiệu lực từ 01/01/2006 đã dành hẳn 1 chương (chương VIII)quy định về ĐTRNN, khuôn khổ pháp lý của hoạt động ĐTRNN được hoàn thiệnhơn NĐ số 78/2006/NĐ - CP ngày 09/08/2006 quy định về ĐTTTRNN ra đời thaythế NĐ 22 năm 1999 đã tạo ra một hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt độngĐTTTRNN Những quy định tại Luật đầu tư 2005 và nghị định này đã đánh dấumốc trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về đầu tư nói chung và ĐTRNN nóiriêng của pháp luật Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.Chính từ hệ quả tích cực này mà trong năm 2007, đã có 64 dự án do các DN ViệtNam thực hiện ĐTTTRNN được cấp phép, với tổng vốn đăng ký 391,2 triệu USD,tại 18 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới [19]

Trang 22

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI

Ở VIỆT NAM

1 Về chủ thể đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Theo NĐ 22 năm 1999 và Thông tư số 05/2001/TT - BKH ngày 30/08/2001của Bộ KH - ĐT về hướng dẫn hoạt động ĐTRNN của DN Việt Nam thì chủ thểcủa hoạt động ĐTRNN chỉ là các DN Việt Nam, cụ thể bao gồm:

- Một là, doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp nhà nước;

- Hai là, hợp tác xã được thành lập theo Luật Hợp tác xã;

- Ba là, doanh nghiệp được thành lập theo Luật Công ty;

- Bốn là, doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp tư nhân;

(Các doanh nghiệp nêu tại khoản này sau đây gọi tắt là doanh nghiệp ViệtNam)

Tại thời điểm NĐ 22 năm 1999 được ban hành, chính sách của Việt Nam làthu hút vốn ĐTNN với hàng loạt chính sách ưu đãi bên cạnh quan điểm phi kinh tế:đem tiền ra nước ngoài là đất nước bị hụt vốn, làm giảm đầu tư trong nước Vì vậy,quy định của pháp luật về đầu tư đã theo hướng thắt chặt quy chế ĐTRNN

Việc chỉ cho phép các nhà đầu tư là DN Việt Nam (không bao gồm doanhnghiệp có vốn ĐTNN và các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh) đượctham gia vào hoạt động kinh doanh mới mẻ này không những hạn chế một số lượnglớn các nhà đầu tư muốn được ĐTRNN mà còn tạo ra sự phân biệt, đối xử khôngbình đẳng giữa các nhà đầu tư, các loại hình doanh nghiệp đang cùng tồn tại

Có thể quy định này được lý giải bởi: các chủ thể không phải là DN thìkhông thể có đủ khả năng về quản lý cũng như tài chính để có thể tham gia vào sânchơi chung rất khắt khe và tiềm ẩn nhiều rủi ro này Như cá nhân, hộ gia đình thôngthường chỉ sản xuất với quy mô nhỏ, cách thức tổ chức thủ công không hề phù hợpvới tính phức tạp của ĐTTTRNN [7] Nhưng hiện nay, kinh tế phát triển, các chủ

Trang 23

thể không ngừng phấn đấu nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh của mình và

mở rộng quy mô sản xuất, nhu cầu được tiến xa hơn, không chỉ giới hạn trong thịtrường trong nước, các chủ thể có đủ khả năng và điều kiện để tiến hànhĐTTTRNN Giải quyết bất cập này, NĐ78/2006 ra đời trên cơ sở kế thừa và pháthuy có chọn lọc những mặt tích cực, cũng như khắc phục những hạn chế của hệthống pháp luật hiện hành về ĐTTTRNN nhằm mở rộng và phát triển quyền tự chủ,

tự do kinh doanh, ghi nhận quyền ĐTRNN cho tất cả các loại hình DN, không phânbiệt sở hữu, đã đăng ký theo Luật Doanh nghiệp mới hay chưa, kể cả các cơ sở dịch

vụ y tế, giáo dục, khoa học và các hộ kinh doanh, cá nhân Việt Nam, phạm vi chủthể ĐTTTRNN đã được mở rộng một cách đáng kể như sau:

- Một là, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh,

doanh nghiệp tư nhân được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo LuậtDoanh nghiệp;

- Hai là, doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp nhà nước

chưa chuyển đổi sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp;

- Ba là, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo Luật

Đầu tư nước ngoài chưa đăng ký lại theo Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư;

- Bốn là, doanh nghiệp thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội chưa

đăng ký lại theo Luật Doanh nghiệp;

- Năm là, hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã được thành lập theo Luật Hợp tác

xã;

- Sáu là, cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục, khoa học, văn hoá, thể thao và các cơ

sở dịch vụ khác có hoạt động đầu tư sinh lợi;

- Bảy là, hộ kinh doanh, cá nhân Việt Nam.

Quy định mới này đã củng cố niềm tin cho các nhà đầu tư, khơi dậymọi tiềm năng kinh tế tạo điều kiện cho tất cả các chủ thể kinh doanh, tạo ra sựbình đẳng giữa các nhà đầu tư qua đó nâng cao hiệu quả đầu tư

Trang 24

2 Về điều kiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Điều kiện ĐTTTRNN chính là thước đo cho chính sách khuyến khíchĐTTTRNN, cũng đồng thời phản ánh thái độ của nhà nước đối với hoạt động này.Tại NĐ 22 năm 1999 thái độ của nhà nước thể hiện rõ thông qua các điều kiện đốivới nhà đầu tư để được ĐTRNN như sau:

- Một là, dự án ĐTRNN có tính khả thi;

- Hai là, có năng lực tài chính, đáp ứng yêu cầu ĐTRNN;

- Ba là, thực hiện đầu đủ các nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước.

Thực tiễn đã chứng minh các quy định trên chưa tạo điều kiện cho nhàĐTRNN, vì pháp luật không hề giải thích rõ các tiêu chí của một dự án ĐTTTRNNđược coi là có tính khả thi Nên việc xem xét điều kiện này là hoàn toàn phụ thuộcvào ý chí chủ quan của các cơ quan có thẩm quyền, rất dễ dẫn đến tiêu cực Nhưvậy với quy định này nhà nước đã can thiệp quá sâu vào hoạt động đầu tư của nhàđầu tư, tạo cơ hội cho một bộ phận cán bộ “biến chất” có điều kiện gây phiền phứccho nhà đầu tư Nhà nước cần cho nhà đầu tư tự quyết định, tăng tính tự chịu tráchnhiệm của nhà đầu tư Do đó việc đặt ra điều kiện về “tính khả thi” là hoàn toànkhông cần thiết

DN Việt Nam được tiến hành ĐTTTRNN không chỉ đáp ứng điều kiện vềtính khả thi của dự án, pháp luật còn yêu cầu DN đó có năng lực tài chính đáp ứngyêu cầu ĐTRNN Trong khi không hề có văn bản hướng dẫn cụ thể nào về tiêu chí

“năng lực tài chính” của doanh nghiệp thế nào được coi là đáp ứng được yêu cầuĐTRNN Vì vậy, rõ ràng quy định này chưa tạo được tính thông thoáng cần thiếtđối với hoạt động ĐTRNN của nhà nước ta thời điểm lúc bấy giờ Sự cân nhắc cóphần quá khắt khe và chặt chẽ trước khi quyết định đồng ý cho một DN Việt Namtiến hành ĐTTTRNN đã tạo ra rào cản lớn đối với chính hoạt động này Một doanhnghiệp mạnh dạn tiến hành ĐTRNN nhằm mở rộng thị trường tất yếu sẽ phải đốidiện với rất nhiều khó khăn, thử thách ở một môi trường cạnh tranh lớn hơn, tiềm

ẩn nhiều rủi ro hơn thì sự hỗ trợ, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi từ phía

Trang 25

nhà nước là hết sức cần thiết, nhưng những quy định này của pháp luật lại đặt raquá nhiều cản trở, gây không ít khó khăn cho họ Vì các quy định về “tính khả thi”

và “năng lực tài chính đáp ứng yêu cầu ĐTRNN” này đã dẫn tới hệ quả thời giancấp phép bị kéo dài do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần có đủ thời gianxem xét kỹ lưỡng về tính khả thi của dự án và khả năng tài chính của nhà đầu tư

Khắc phục những hạn chế trên, hiện nay tại khoản 1 Điều 76 Luật đầu tư

2005 quy định các điều kiện mà nhà đầu tư phải đáp ứng khi tiến hành ĐTRNNtheo hình thức ĐTTT là:

- Một là, có dự án ĐTRNN;

- Hai là, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước Việt Nam;

- Ba là, được cơ quan nhà nước quản lý đầu tư cấp giấy chứng nhận đầu tư.

NĐ 78 năm 2006 quy định về ĐTTTRNN đã cụ thể hoá các điều kiện trên tạiĐiều 4 như sau:

- Một là, có dự án ĐTTTRNN;

- Hai là, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước Việt Nam;

- Ba là, tuân thủ các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng vốn nhà

nước đối với các trường hợp sử dụng vốn nhà nước để ĐTTRNN;

- Bốn là, được Bộ KH – ĐT cấp giấy chứng nhận đầu tư.

Như vậy, Luật đầu tư đã có những quy định thông thoáng và tạo điều kiệnthuận lợi hơn cho các nhà đầu tư ĐTTTRNN, các nhà đầu tư chỉ còn phải đáp ứngmột số điều kiện mang tính chất nghĩa vụ dưới góc độ quản lý nhà nước và để đảmbảo cho hoạt động đầu tư được hiệu quả

3 Về thủ tục đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Tại NĐ 22 năm 1999, một trong những rào cản lớn nhất mà pháp luật đặt rađối với hoạt động ĐTTTRNN chính là các quy định về thủ tục ĐTTTRNN Saumột thời gian thực hiện một số doanh nghiệp Việt Nam ĐTTTRNN liên tục phànnàn thủ tục xin cấp phép cho dự án chuyển tiền ra và chuyển lợi nhuận về…chỗ

Trang 26

nào cũng vướng Trong khi đó, dự án thì không thể chậm trễ, nhiều doanh nghiệp

đã nản lòng và ngậm ngùi mong chờ một sự thay đổi [22]

Thông tư số 05/2001/TT - BKH ngày 38/8/2001 của Bộ KH – ĐT về hướngdẫn hoạt động ĐTRNN của các doanh nghiệp đã quy định rõ thủ tục ĐTRNN đượctiến hành theo 2 thủ tục là đăng ký cấp giấy phép đầu tư và thẩm định cấp giấyphép đầu tư

* Thủ tục đăng ký cấp giấy phép đầu tư: áp dụng đối với các dự án ĐTRNN

mà chủ đầu tư không thuộc thành phần kinh tế nhà nước và có vốn đầu tư dưới 1triệu đô la Mỹ

Doanh nghiệp phải lập hồ sơ dự án gửi Bộ KH - ĐT bao gồm các tài liệu sau:

- Đơn đăng ký ĐTRNN;

- Bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp;

- Văn bản chấp thuận đầu tư do cơ quan có thẩm quyền của nước tiếp nhậnđầu tư cấp (nếu có); hợp đồng bản thoả thuận với bên nước ngoài về dự án đầu tư;

- Báo cáo tình hình tài chính của doanh nghiệp trong 1 năm gần nhất

* Thủ tục thẩm định cấp giấy phép đầu tư: áp dụng đối với những dự ánĐTRNN của doanh nghiệp nhà nước không phân biệt quy mô và mục đích đầu tư

và các dự án đầu tư của các thành phần kinh tế khác có vốn đầu tư từ 1 triệu USDtrở lên

Doanh nghiệp phải lập hồ sơ dự án gửi Bộ KH - ĐT gồm các tài liệu sau:

- Đơn xin ĐTRNN;

- Bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp;

- Giải trình về dự án đầu tư;

- Văn bản chấp thuận đầu tư do cơ quan có thẩm quyền của nước tiếp nhậnđầu tư cấp: hợp đồng, bản thoả thuận với bên nước ngoài về dự án đầu tư;

- Văn bản chấp thuận ĐTRNN của cơ quan ra quyết định thành lập doanhnghiệp (là doanh nghiệp nhà nước) hoặc của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc

Trang 27

trung ương nơi doanh nghiệp đăng ký kinh doanh (doanh nghiệp thuộc các thànhphần kinh tế khác).

Đối với những dự án thuộc thẩm quyền quyết định của Thủ tướng Chínhphủ, chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ dự án, Bộ KH - ĐT trìnhThủ tướng Chính phủ ý kiến thẩm định kèm theo hồ sơ dự án và ý kiến của các Bộ,ngành và UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có liên quan để Thủ tướngChính phủ xem xét, quyết định Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được quyếtđịnh của Thủ tướng Chính phủ, Bộ KH - ĐT thông báo quyết định cho doanhnghiệp

Đối với những dự án còn lại, sau khi nhận được ý kiến bằng văn bản của các

Bộ, ngành và UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có liên quan, Bộ KH

-ĐT thông báo quyết định cho doanh nghiệp Trong trường hợp có ý kiến khác nhau,

Bộ KH - ĐT trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định Trường hợp đơn xinđầu tư được chấp thuận, Bộ KH - ĐT cấp giấy phép đầu tư cho doanh nghiệp vàgửi bản sao đến các Bộ, ngành và UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cóliên quan; trường hợp đơn xin đầu tư không được chấp thuận, Bộ KH - ĐT thôngbáo quyết định của mình cho doanh nghiệp và nêu rõ lý do Thời hạn thẩm định cấpgiấy phép ĐTRNN không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ

Khi triển khai thực hiện thủ tục đầu tư nói trên đã nhận được không ít sựphàn nàn từ các doanh nghiệp về tính phức tạp, rắc rối trong quy trình cấp phép đầu

tư Một số bài báo viết: “ông Văn Quang Cần, kế toán trưởng công ty TNHH hàngtiêu dùng Bình Tiên cho biết, công ty đã xúc tiến việc đầu tư sang Campuchia để

mở rộng mạng lưới phân phối hàng hoá, với tổng vốn khoảng 300.000 USD Tuynhiên với khoảng thời gian xin cấp phép mất ít nhất là 6 tháng, công ty cũng đang

có nhiều lo ngại Ông Phạm Văn Thanh, giám đốc công ty nhựa Sài Gòn cũng chobiết, công ty đã đầu tư sang Lào để sản xuất đồ nhựa dân dụng với số vốn 1,5 triệuUSD và đã hoạt động tại Lào được 3 tháng Song, trước đây công ty cũng phải mấttới tròn 1 năm mới xin được giấy phép đầu tư” [17]

Trang 28

Luật Đầu tư 2005 và NĐ 78 năm 2006 ra đời đã đơn giản hoá, phù hợp vớithực tiễn hoạt động của các DN Việt Nam hiện nay, mở rộng hơn loại hìnhĐTRNN và giảm thiểu các thủ tục hành chính đã khắc phục được tính rườm rà vàphức tạp can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tạicác quy định cũ.

Theo đó thủ tục để tiến hành ĐTRNN bao gồm các thủ tục:

 Thủ tục cấp và điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư

 Thủ tục triển khai dự án đầu tư

Luật Đầu tư 2005 đã phân các dự án ĐTRNN thành 2 loại: dự án đăng kýđầu tư và dự án thẩm tra đầu tư Theo đó nhà đầu tư để được cấp giấy chứng nhậnĐTRNN phải thực hiện theo 1 trong 2 trình tự tương ứng với mỗi loại dự án:

* Quy trình đăng ký cấp giấy chứng nhận đầu tư: áp dụng đối với dự án đầu

tư có quy mô vốn dưới 15 tỷ VNĐ

Nhà đầu tư phải nộp cho Bộ KH - ĐT 3 bộ hồ sơ dự án đầu tư Hồ sơ dự ánđầu tư bao gồm các giấy tờ và tài liệu sau:

- Văn bản đăng ký dự án đầu tư;

- Bản sao có công chứng của: Giấy chứng nhận đầu tư đối với nhà đầu tư làdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanhhoặc quyết định thành lập hoặc giấy tờ có giá trị pháp lý tương đương đối với nhàđầu tư là tổ chức; hoặc Giấy chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu đối với nhàđầu tư là cá nhân Việt Nam; hoặc Giấy phép đầu tư đối với nhà đầu tư là doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép đầu tư trước ngày 01 tháng 7năm 2006 nhưng không đăng ký lại theo Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp

- Hợp đồng hoặc văn bản thoả thuận với đối tác về việc góp vốn hoặc mua cổphần hoặc hợp tác đầu tư đối với dự án đầu tư có đối tác khác cùng tham gia đầu

- Văn bản đồng ý của Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị hoặc Hộiđồng cổ đông hoặc đại hội xã viên về việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đối với

Trang 29

trường hợp nhà đầu tư là Công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc Công ty hợp danh hoặcCông ty cổ phần hoặc hợp tác xã trong trường hợp cần thiết theo quy định của phápluật về doanh nghiệp, hợp tác xã.

Sau khi nhận được hồ sơ, Bộ KH - ĐT sẽ kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ, đềnghị nhà đầu tư giải trình về nội dung cần phải làm rõ Trong thời hạn 15 ngày làmviệc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ KH - ĐT cấp giấy chứng nhận đầu tư,đồng thời sao gửi đến các Bộ, ngành liên quan Trường hợp không được chấpthuận, Bộ phải có thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do gửi nhà đầu tư

* Quy trình thẩm tra cấp giấy chứng nhận đầu tư: áp dụng đối với dự án đầu

tư có quy mô vốn đầu tư từ 15 tỷ VNĐ trở lên Nhà đầu tư phải nộp cho Bộ KH

-ĐT 8 bộ hồ sơ dự án đầu tư Hồ sơ dự án đầu tư bao gồm các giấy tờ và tài liệu sau:

- Văn bản đề nghị thẩm tra dự án đầu tư;

- Bản sao có công chứng của: Giấy chứng nhận đầu tư đối với nhà đầu tư làdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; hoặc Giấy đăng ký kinh doanh hoặc quyếtđịnh thành lập hoặc giấy tờ có giá trị pháp lý tương đương đối với nhà đầu tư là tổchức; hoặc Giấy chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu đối với nhà đầu tư là cánhân Việt Nam; hoặc Giấy phép đầu tư đối với nhà đầu tư là doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài được cấp Giấy phép đầu tư trước ngày 01 tháng 7 năm 2006nhưng không đăng ký lại theo Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp

- Văn bản giải trình về dự án đầu tư gồm các nội dung sau: mục tiêu đầu tư,địa điểm đầu tư, quy mô vốn đầu tư, nguồn vốn đầu tư, việc sử dụng lao động ViệtNam (nếu có); việc sử dụng nguyên liệu từ Việt Nam (nếu có); tiến độ thực hiện dự

án đầu tư

- Hợp đồng hoặc bản thoả thuận với đối tác về việc góp vốn hoặc mua cổphần hoặc cùng hợp tác đầu tư đối với trường hợp có đối tác khác cùng tham giađầu tư

- Văn bản đồng ý của Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị hoặc Hộiđồng cổ đông hoặc đại hội xã viên về việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đối với

Trang 30

nhà đầu tư là Công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc Công ty hợp danh hoặc Công ty cổphần hoặc hợp tác xã trong trường hợp cần thiết theo quy định của pháp luật vềdoanh nghiệp, hợp tác xã.

Do tính chất, quy mô, mức độ đầu tư và sự ảnh hưởng của dự án đầu tư tớinền kinh tế đất nước mà pháp luật đặt ra các yêu cầu về hồ sơ dự án, nội dung cũngnhư quy trình của quá trình thẩm tra, cấp giấy chứng nhận đối với các dự án này làchặt chẽ hơn, thủ tục cấp phép phải trãi qua quá trình thẩm định mất nhiều thời gianhơn Đòi hỏi sự cân nhắc kỹ càng và quyết định thật sự đúng đắn của các Bộ, ngànhliên quan, UBND tỉnh nơi nhà đầu tư đặt trụ sở và đến cả sự can thiệp của Thủtướng Chính phủ

Quy định mới về hồ sơ dự án đầu tư cũng không còn yêu cầu về văn bảnchấp thuận đầu tư do cơ quan có thẩm quyền của nước tiếp nhận đầu tư cấp, hợpđồng, bản thoả thuận với bên nước ngoài về dự án đầu tư và báo cáo tình hình tàichính của doanh nghiệp trong một năm gần nhất Đây cũng được coi là 1 bước tiếnnhằm tháo dỡ rào cản mà pháp luật đã từng đặt ra đối với hoạt động ĐTTTRNNtrước đây Khi nhà nước nhìn nó bớt khắt khe hơn và cố gắng tạo điều kiện đểkhuyến khích hoạt động này Đồng thời cũng tạo cơ hội cho các doanh nghiệp cóthể chủ động và độc lập chịu trách nhiệm đối với quyết định và hành vi của mình,không trực tiếp can thiệp quá sâu vào hoạt động kinh doanh trong nội bộ của cácnhà đầu tư về thủ tục

NĐ78 năm 2006 cũng đã có những quy định cụ thể hơn về việc phân địnhthẩm quyền chấp thuận đối với các dự án đầu tư Thẩm quyền của Thủ tướng Chínhphủ không chỉ dừng lại ở những dự án của doanh nghiệp do Thủ tướng Chính phủquyết định thành lập hoặc có vốn đầu tư của DN nhà nước có giá trị từ 1.000.000

đô la Mỹ trở lên mà thủ tướng Chính phủ còn có thẩm quyền chấp thuận đầu tư đốivới các dự án đầu tư thuộc các lĩnh vực ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, tài chính,tín dụng, báo chí, phát thanh, truyền hình, viễn thông có sử dụng vốn nhà nước từ

150 tỷ đồng VN trở lên hoặc vốn của các thành phần kinh tế từ 300 tỷ đồng VN trở

Ngày đăng: 04/04/2013, 15:34

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w