Từ đó tìm ra những nguyên nhân gây tác động tích cực, tiêu cực, rút ra các thiếu sót, tồn tại, những tiềm năng chưa được khai thác hết và đề ra những biện pháp khắc phục kịp thời Bài đồ
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong xã hội thời mở cửa hiện nay, rất nhiều các công ty doanh nghiệp được thành lập và cạnh tranh khốc liệt trên thị trường, đảm bảo để tồn tại và phát triển thì mỗi công ty hay doanh nghiệp đều phải có các chiến lược phương hướng và cách phân tích rõ ràng cụ thể Chính vì vậy việc hình thành
bộ môn phân tích kết quả hoạt động kinh doanh là vấn đề cần quan tâm
Thật vậy, muốn tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường như hiện nay thì tất cả các doanh nghiệp đều phải hoạt động một cách có hiệu quả nhất Muốn hoạt động có hiệu quả thì doanh nghiệp phải có những chiến lược về quản lý, về điều hành, sản xuất đúng đắn, kịp thời điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh theo hướng phát triển tốt Để thực hiện điều này người quản lý điều hành doanh nghiệp đóng một vai trò quan trọng
Để có thể đưa ra những quyết định có chất lượng cao thì nhà quản lý doanh nghiệp phải có nhận thức sâu sắc đúng đắn về các vấn đề kinh tế, xã hội, kỹ thuật có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Muốn vậy doanh nghiệp phải thường xuyên đánh giá , phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Từ đó tìm ra những nguyên nhân gây tác động tích cực, tiêu cực, rút ra các thiếu sót, tồn tại, những tiềm năng chưa được khai thác hết và đề ra những biện pháp khắc phục kịp thời
Bài đồ án môn học này phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu chi phí sản xuất kinh doanh theo các yếu tố chi phí và tình hình kim ngạch nhập khẩu của doanh nghiệp theo mặt hàng Bài đồ án này em hoàn thành dưới sự giúp
đỡ của thầy Nguyễn Phong Nhã Trong quá trình làm bài mặc dù đã cố gắng hết sức song không tránh khỏi những khiếm khuyết thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo
Em xin chân thành cảm ơn !
PHẦN 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH
Trang 2HOẠT ĐỘNG KINH TẾ 1.1 Cơ sở lý luận của phân tích hoạt động kinh tế
1.1.1 Khái niệm phân tích hoạt động kinh tế
- Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có thể gồm nhiều hoạt động như hoạt động sản xuất, hoạt động thương mại, hoạt động tài chính…
- Mỗi hoạt động kinh doanh lại gồm nhiều quá trình như hoạt động sản xuất bao gồm các quá trình cung ứng, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ; Hoạt động thương mại bao gồm quá trình mua hàng, dự trữ, bán hàng
- Hoạt động kinh doanh chịu tác động của nhiều nhân tố từ bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp Nhân tố bên trong như quyết định giá cả, kết cấu sản phẩm; nhân tố bên ngoài như chính sách thuế, sự cạnh tranh trên thị trường…
- Do đó, phân tích hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp cần phải đánh giá từng hoạt động, từng quá trình, từng nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh thì mới nhận biết đúng về hoạt động kinh doanh.
Phân tích hoạt động kinh tế là quá trình phân chia các hiện tượng kinh
tế - đối tượng phân tích( quá trình, điều kiện, kết quả kinh doanh) thành các
bộ phận và sử dụng các phương pháp phân tích để đánh giá hiện tại và quá khứ, dự báo xu hướng phát triển tương lai nhằm tìm ra biện pháp kinh doanh tiếp theo có hiệu quả hơn.
Phân tích hoạt động kinh tế gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.2 Ý nghĩa phân tích hoạt động kinh tế
Phân tích hoạt động kinh tế có ý nghĩa cho các đối tượng sau:
a Nhà quản trị doanh nghiệp
- Phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp cung cấp cho các nhà quản trị doanh nghiệp các thông tin sau
Trang 3+ Kết quả thực hiện từng mục tiêu của kế hoạch kinh doanh đạt được ở mức độ nào, hoàn thành hay không
+ Khả năng tài chính mạnh hay yếu, thanh toán nợ và thu hồi nợ tốt hay không
+ Hiệu quả hoạt động kinh doanh tốt hay xấu
+ Lợi thế, khó khăn, rủi ro, xu hướng phát triển kinh doanh như thế nào
+ Nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả thực hiện từng mục tiêu kế hoạch kinh doanh
+ Năng lực tiềm tàng
- Phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ cung cấp thông tin để nhà quản trị ra những quyết định kinh doanh tốt
+ Lập kế hoạch kinh doanh kỳ sau thích hợp
+ Chọn phương hướng, biện pháp kinh doanh có hiệu quả hơn
b Ngân hàng, nhà đầu tư
- Phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cung cấp cho nhà quản trị ngân hàng, nhà đầu tư các thông tin:
+ Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp tốt hay xấu
+ Khả năng thanh toán nợ của các doanh nhiệp cao hay thấp
+ Tỷ số nợ - quan hệ giữa vốn vay và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp, tỷ trọng trong từng loại vốn vay và vốn chủ sở hữu trong tổng
số vốn, biết doanh nghiệp đang vay nhiều hay ít hơn bao nhiêu so với vốn chủ sở hữu
+ Lợi thế, khó khăn, rủi ro, xu hướng phát triển kinh doanh như thế nào
- Phân tích kết quả kinh doanh cung cấp để nhà đầu tư, ngân hàng ra quyết định cho vay, đầu tư hay bán hàng chịu hay không
c Cơ quan quản lý
Trang 4- Phân tích hoạt động kinh doanh cung cấp cho cơ quan chức năng của nhà nước thông tin của doanh nghiệp
+ Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp tốt hay xấu
+ Lợi thế, khó khăn, rủi ro, xu hướng phát triển kinh doanh như thế nào
- Cung cấp thông tin đề cơ quan chức năng đưa ra các biện pháp kiểm soát nền kinh tế, hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp cho doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp
1.1.3 Mục đích phân tích hoạt động kinh tế
- Đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao, chấp hành chế độ, chính sách nhà nước
- Xác định nhân tố và mức độ ảnh hưởng của nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích
- Xác định nguyên nhân dẫn đến sự biến động của các nhân tố
- Đề xuất phương hướng và biện pháp để cải tiến phương pháp kinh doanh,khai thác khả năng tiềm tàng trong doanh nghiệp nhằm nâng cao kết quả sản xuất kinh doanh
1.1.4 Nội dung phân tích hoạt động kinh tế
Đối tượng của phân tích hoạt động kinh tế được cụ thể bằng các chỉ tiêu
- Phân tích kết quả sản xuất kinh doanh
+ Phân tích các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh + Ví dụ: giá trị sản xuất, chi phí sản xuất, chỉ tiêu doanh thu, chỉ tiêu lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận
- Phân tích các yếu tố của quá trình kinh doanh
+ Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
+ Ví dụ: Chỉ tiêu nguyên vật liệu, chỉ tiêu năng suất lao động, chỉ tiêu số lượng lao động, số máy móc thiết bị…
Trang 5- Phân tích từ việc đánh giá chung, sau đó phân tích từng nhân tố
- Phân tích đảm bảo tính toàn diện, khách quan
- Phân tích thực hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với các hiện tượng kinh tế => thấy nguyên nhân phát triển của hiện tượng
- Phân tích trong sự vận động và phát triển của hiện tượng kinh tế=> thấy xu hướng phát triển và tính quy luật của hiện tượng
- Phải sử dụng các phương pháp phân tích thích hợp=> thực hiện mục tiêu phân tích
1.1.6 Chỉ tiêu phân tích
a Khái niệm
- Là tiêu thức phản ánh nội dung, phạm vi hiện tượng kinh tế
- Ví dụ: Chỉ tiêu doanh thu, chi phí…
- Tùy vào mục đích và nội dung phân tích mà lựa chọn chỉ tiêu cho thích hợp
b Phân loại chỉ tiêu
- Theo nội dung kinh tế:
+ Chỉ tiêu biểu hiện kết quả: Doanh thu, lợi nhuận, tổng kim ngạch xuất khẩu
+ Chỉ tiêu biểu hiện điều kiện: Lao động, tổng máy móc thiết bị, tổng số vốn, vật tư
- Theo tính chất của chỉ tiêu:
Trang 6+ Chỉ tiêu khối lượng (số lượng) là chỉ tiêu phản ánh quy mô kết quả hay điều kiện kinh doanh Ví dụ: tổng doanh thu, tổng khối lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
+ Chỉ tiêu chất lượng là chỉ tiêu phản ánh hiệu suất sử dụng các yếu tố hay hiệu suất kinh doanh VD: hiệu suất sử dụng vốn, năng suất lao động, giá thành sản phẩm.
- Theo phương pháp tính toán:
+ Chỉ tiêu tuyệt đối: thường dùng để đánh giá quy mô sản xuất và kết quả kinh doanh tại thời gian và không gian cụ thể
+ Chỉ tiêu tương đối: thường dùng trong phân tích các quan hệ kinh tế giữa các bộ phận(cơ cấu) hay xu hướng phát triển của chỉ tiêu + Chỉ tiêu bình quân:nhằm phản ánh trình độ phổ biến của hiện tượng nghiên cứu
- Theo cách biểu hiện:
+ Chỉ tiêu biểu hiện đơn vị hiện vật:chỉ tiêu có đơn vị tính phù hợp với đặc điểm vật lý
+ Chỉ tiêu biểu hiện đơn vị giá trị: là chỉ tiêu có đơn vị tính là tiền tệ
+ Chỉ tiêu biểu hiện đơn vị thời gian: là chỉ tiêu có đơn vị tính là thời gian
1.1.7 Nhân tố phân tích
a Khái niệm
- Là những yếu tố bên trong hay bên ngoài nội dung phân tích và mỗi biến động của nó có tác động đến kết quả và xu hướng của nội dung phân tích
- Là những nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh mà có thể tính toán hoặc lượng hóa được mức độ ảnh hưởng
- Phân loại nhân tố hay chỉ tiêu chỉ mang tính chất tương đối.
Trang 7- Ví dụ:
+ Lợi nhuận= Doanh thu - chi phí Doanh thu trong mối quan hệ này là nhân tố ảnh hưởng tới chỉ tiêu lợi nhuận
+ Doanh thu=Sản lượng*giá cả Doanh thu trong mối quan hệ này
là chỉ tiêu được cấu thành bởi 2 nhân tố sản lượng và giá cả.
b Phân loại nhân tố
- Căn cứ theo nội dung kinh tế: Phân làm 2 loại
+ Nhân tố điều kiện: là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến qui mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp VD: số lượng lao động, máy móc thiết bị, vật tư , tiền vốn
+ Nhân tố kết quả: là những nhân tố ảnh hưởng dây chuyền đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nó ảnh hưởng từ khâu cung ứng đầu vào đến sản xuất, đến tiêu thụ và đến tình hình tài chính của doanh nghiệp VD: Giá cả nguyên liệu đầu vào, khối lượng hàng hóa tiêu thụ được
- Căn cứ theo tính tất yếu của nhân tố:
+ Nhân tố chủ quan: là nhân tố mà nó phát triển theo hướng nào, mức độ bao nhiêu, phụ thuộc vào bản thân doanh nghiệp như trình độ
sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn, tiết kiệm hao phí nguyên vật liệu + Nhân tố khách quan: là nhân tố phát sinh và tác động như một tất yếu ngoài sự chi phối của bản thân doanh nghiệp: giá cả thị trường, thuế suất
- Căn cứ theo tính chất của nhân tố:
+ Nhân tố số lượng: phản ánh qui mô sản xuất và kết quả kinh doanh
+ Nhân tố chất lượng: phản ánh hiệu suất hoạt động của quá trình, kết quả kinh doanh
- Căn cứ theo xu hướng tác động:
Trang 8+ Nhân tố tích cực: là nhân tố có tác động tốt làm tăng quy mô kết quả sản xuất kinh doanh→cần tận dụng ưu thế
+ Nhân tố tiêu cực: là nhân tố phát sinh và tác động làm ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh( giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh) →hạn chế ảnh hưởng
1.2 Các phương pháp kĩ thuật trong phân tích
1.2.1 Phương pháp so sánh
- Là phương pháp sử dụng phổ biến trong phân tích nhằm xác định mức
độ đạt được, khả năng thực hiện, mức độ và xu hướng biến động của chỉ tiêu bằng cách so sánh trị số các chỉ tiêu
- Có nhiều cách thức so sánh nên khi phân tích phải căn cứ vào mục đích phân tích để lựa chọn phương pháp thích hợp
- So sánh đảm bảo tính thống nhất phương pháp tính, đơn vị tính, thời gian tính, phạm vi tính.
- Phản ánh mức chênh lệch của chỉ tiêu – mức độ biến động tuyệt đối – chênh lệch tuyệt đối
∆Y=Y 1 –Y 0
Trang 9Y 1 : mức độ kì nghiên cứu; Y 0 : mức độ kì gốc
1.2.1.2 So sánh bằng số tương đối
a Số tương đối kế hoạch
- Phản ánh mức độ hoàn thành kế hoạch của chỉ tiêu
+ Số tương đối kế hoạch dạng giản đơn
Mức độ biến động tương đối=Y 1 –Y 0 *k c
k c : hệ số tính chuyển – hệ số điều chỉnh
b Số tương đối động thái
- So sánh giữa mức độ kì nghiên cứu và mức độ kì gốc
t=Y 1 /Y 0 *100(%) + Số tương đối động thái gốc cố định
+ Số tương đối động thái liên hoàn
c Số tương đối kết cấu
- Biểu hiện mối quan hệ giữa giữa mức độ đạt được của từng bộ phận so với mức độc ủa tổng thể
- Cho biết vai trò, vị trí của từng bộ phận trong tổng thể
Trang 10lượng của các mặt hoạt động nào đó của quá trình kinh doanh ở doanh nghiệp
1.2.2 Phương pháp chi tiết
a Chi tiết theo thời gian
- Nội dung
+ Hoạt động kinh doanh tiến hành liên tục và kết quả kinh doanh từng khoảng thời gian thường không đồng đều=> cần phân tích chi tiết theo từng khoảng thời gian thích hợp
+ Ví dụ: phân tích giá trị sản xuất theo quý, tháng, năm
b Chi tiết theo không gian
+ Xác định điển hình tiên tiến của công ty
+ Xác định tính hợp lý trong việc phân công nhiệm vụ giữa các đơn
vị thành phần
+ Đánh giá kết quả từng đơn vị thành phần trong tổng công ty
Trang 11c Chi tiết theo bộ phân cấu thành
b Nguyên tắc thực hiện
- Sắp xếp nhân tố theo trình tự: nhân tố số lượng đứng trước, chất lượng đứng sau nếu cùng số lượng hoặc chất lượng thì sắp xếp theo mối quan hệ nhân quả - cái nào có trước – cái nào có sau
- Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố theo trình tự đã sắp xếp
- Xác định ảnh hưởng của nhân tố nào thì cố định các nhân tố còn lại
- Nhân tố nào chưa xác định mức độ ảnh hưởng thì cố định theo trị số gốc
Trang 12- Nhân tố nào đã xác định mức độ ảnh hưởng thì cố định theo trị số kì nghiên cứu.
c Ví dụ
- Chỉ tiêu Y; Nhân tố ảnh hưởng: a,b,c
- Phương trình kinh tế: Y=a.b.c
+ Giá trị kì gốc: =a 0 b 0 c 0
+ Giá trị kì nghiên cứu: =a 1 b 1 c 1
- Xác định đối tượng nghiên cứu: ∆Y=Y 1 -Y 0 =a 1 b 1 c 1 -a 0 b 0 c 0
- Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố
+ Nhân tố a
Tuyệt đối: ∆Y a =a 1 b 0 c 0 -a 0 b 0 c 0
Tuơng đối: δY a =∆Y a /Y 0 *100(%) + Nhân tố b
Tuyệt đối: ∆Y b =a 1 b 1 c 0 –a 1 b 0 c 0
Tuơng đối: δY b =∆Y b /Y 0 *100(%) + Nhân tố c
Tuyệt đối: ∆Y c =a 1 b 1 c 1 –a 1 b 1 c 0
Tuơng đối: δY c =∆Y c /Y 0 *100(%) Tổng ảnh hưởng của các nhân tố
∆Y a +∆Y b +∆Y c =∆Y
δY a + δY b +δY c =δY 1.2.3.2 Phương pháp số chêch lệch
- Là hình thức rút gọn của phương pháp thay thế liên hoàn
- Đây là kết quả của quá trình nhóm các thừa số chung của phương pháp thay thế liên hoàn.
- Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố
+ Nhân tố a
Tuyệt đối: ∆Y a =a 1 b 0 c 0 -a 0 b 0 c 0 =(a 1 -a 0 )b 0 c 0
Trang 13Tuơng đối: δY a =∆Y a /Y 0 *100(%) + Nhân tố b
Tuyệt đối: ∆Y b =a 1 b 1 c 0 –a 1 b 0 c 0b =a 1 (b 1 –b 0 )c 0
Tuơng đối: δY b =∆Y b /Y 0 *100(%) + Nhân tố c
Tuyệt đối: ∆Y c =a 1 b 1 c 1 –a 1 b 1 c 0 =a 1 b 1 (c 1 –c 0 ) Tuơng đối: δY c =∆Y c /Y 0 *100(%)
Tổng ảnh hưởng
∆Y a +∆Y b +∆Y c =∆Y; δY a + δY b +δY c =δY
1.2.3.3 Phương pháp cân đối
- Là phương pháp dùng để xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới chi tiêu phân tích khi các nhân tố có mối quan hệ tổng số.
- Xác định mức độ ảnh hưởng
Tuyệt đối: ∆Y i =a 1i –a 0i
Tương đối: δ Y i =(a 1i –a 0i )/Y 0 *100(%)
1.3 Tổ chức phân tích
1.3.1 Phân loại phân tích
1.3.1.1 Căn cứ thời điểm
- Phân tích trước kinh doanh: thẩm định, dự báo, lập phương án kinh doanh
- Phân tích trong kinh doanh: xem xét, đánh giá, điều chỉnh kịp thời những bất hợp lý
- Phân tích sau kinh doanh: đánh giá kết quả, mức độ hoàn thành kế hoạch và dự báo, tìm biện pháp cho kì tiếp theo
Trang 141.3.1.3 Căn cứ nội dung
- Phân tích toàn bộ: phân tích tất cả nội dung của hiện tượng kinh tế
- Phân tích chuyên đề: Phân tích 1 nội dung của hiện tượng kinh tế
1.3.1.4 C ăn cứ phạm vi phân tích
- Phân tích điển hình: phân tích 1 đơn vị
- Phân tích tổng thể: phân tích toàn bộ doanh nghiệp
1.4 Tổ chức phân tích
1.4.1.1 Chuẩn bị
- Lập kế hoạch phân tích: Xác định nội dung, phạm vi, mục đích và thời gian phân tích
Phân công người thực hiện
- Thu nhập, kiểm tra và xử lý số liệu: kế hoạch, định mức, dự toán, báo cáo tổng kế, báo cáo kết quả sxkd, tài liệu hạch toán…
- Phân tích chi tiết từng nhân tố:
+ Chủ thể, thời gian, biến động, địa điểm, nguyên nhân
+ Kết luận nguyên nhân chủ quan, khách quan, tiêu cực, tích cực
c Kết luận kiến nghị
- Tổng hợp lại nguyên nhân, nêu bật nguyên nhân chủ yếu, chính
- Đánh giá những mặt được, chưa được, những tồn tại, khuyến điểm, khó khăn, tiềm năng của của doanh nghiệp
Trang 15- Đề xuất giải pháp trên cơ sở những nguyên nhân và xây dựng định hướng phát triển trong tương lai
1.4.1.3 Báo cáo kết quả phân tích
Báo cáo là 1 văn bản thể hiện nội dung và kết quả phân tích, lời văn gồm 3 phần:
- Đặt vấn đề: giới thiệu đơn vị, nêu sự cần thiết khách quan phải tiến hành phân tích.
-Giải quyết vấn đề : toàn bộ nội dung tiến hành phân tích
- - Kết luận : nêu những vấn đề tồn tại, khuyết điểm và đề xuất các biện pháp.
PHẦN 2 : NỘI DUNG PHÂN TÍCH CHƯƠNG 1: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP THEO MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHỦ YẾU
1.1. Mục đích, ý nghĩa của phân tích tình hình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp theo một số chỉ tiêu chủ yếu
Trang 16- Phát hiện những khả năng chưa được khai thác và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
- Làm cơ sở cho những kế hoạch, chiến lược của doanh nghiệp về phát triển kinh tế trong những
1.1.2 Ý nghĩa
- Giúp doanh nghiệp thấy được một cách tổng quát nhất tình hình sản xuất kinh doanh chung của công ty, từ đó có kế hoạch và biện pháp điều chỉnh doanh thu và chi phí một cách hợp lý sao cho đạt lợi nhuận cao nhất.
- Giúp doanh nghiệp một mặt quán triệt nguyên tắc tiết kiệm và mặt khác, phải phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thương mại trong kỳ, trên cơ sở mới đề ra được phương hướng và biện pháp hạ thấp chi phí kinh doanh sát thực, tăng cường hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp.
- Qua phân tích giúp doanh nghiệp thực hiện các chế độ chính sách của nhà nước.
1.2. Phân tích
1.2.1. Lập bảng phân tích
1.2.2. Đánh giá chung
Qua bảng phân tích ta thấy các chỉ tiêu ở kì nghiên cứu có biến động tăng,
và một số các chỉ tiêu khác có biến động giảm :
- Nhóm chỉ tiêu có biến động giảm : tổng kim ngạch xuất khẩu, tổng chi phí, thuế xuất khẩu, thuế và các loại phí khác.
- Nhóm chỉ tiêu có biến động tăng : lao động và tiền lương, tổng doanh thu, lợi nhuận, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp và bảo hiểm xã hội.
Các chỉ tiêu quan trọng của doanh nghiệp đều có biến động tăng.
- Về mặt tổng kim ngạch xuất khẩu : kỳ nghiên cứu, giá trị xuất khẩu của doanh nghiệp giảm 4.844.770 nghìn đồng, giảm 4,35% so với kì gốc Điều này xảy ra do sự giảm về nhu cầu nhập khẩu hàng của một số thị trường chính
- Về khâu lao động tiền lương : các chỉ tiêu đều tăng giá trị ngoại trừ chỉ tiêu
số lao động Chỉ tiêu này giảm 3 người so với kì gốc, tương đương 4,41% Trong các chỉ tiêu tăng chỉ tiêu tiền lương bình quân tăng mạnh nhất, đạt 109,85 % so với kì gốc, tương đương tăng 598.000 nghìn đồng so với kì gốc; chỉ tiêu tăng ít nhất là năng suất lao động đạt 100,06% kỳ gốc Mặc dù chỉ tiêu tổng số lao động giảm nhưng trong kỳ nghiên cứu, chỉ tiêu năng suất lao động vẫn có biến động tăng điều này đã cho thấy mức độ hợp lý trong quá trình sử dụng lao động của doanh nghiệp Các chỉ tiêu thuộc nhóm lao động tiền lương đều tăng giá trị so với kỳ gốc do một số nguyên nhân chủ yếu như công suất hoạt động của máy móc thiết bị trong quá trình sản xuất tăng lên, công tác tổ chức sản xuất của doanh nghiệp được cải thiện.
Trang 17- Về các chỉ tiêu tài chính : trong kỳ nghiên cứu, các chỉ tiêu tổng thu và tổng lợi nhuận đều tăng giá trị trong đó, tổng lợi nhuận tăng 287,62% so với
kỳ gốc và đây cũng là chỉ tiêu tăng mạnh nhất trong các chỉ tiêu tăng giá trị của nhóm các chỉ tiêu tài chính Trong khi đó chỉ tiêu tổng chi phí có biến động giảm 1,46%, tương đương 1.707.363 nghìn đồng.Qua bảng phân tích số liệu về chỉ tiêu tài chính, ta thấy tổng doanh thu và tổng lợi nhuận của doanh nghiệp trong kỳ nghiên cứu đều có sự tăng lên chỉ có chi phí lại có biến động giảm Điều này đã cho thấy tình hình khả quan trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bởi sự điều hành phù hợp của doanh nghiêp giúp cho chi phí sản xuất được hợp lí , không lãng phí
- Trong quan hệ với ngân sách : các chỉ tiêu đều tăng, ngoại trừ chỉ tiêu thuế xuất khẩu và thuế và các loại chi phí khác trong đó thuế thu nhập doanh nghiêp là nhân tố tăng mạnh nhất, bằng 387,62 % kỳ gốc và cũng là chỉ tiêu
có mức tăng lớn nhất trong bảng phân tích Vì lợi nhuận của doanh nghiệp tăng nên giá trị của thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp cho Nhà nước đều tăng Bảo hiểm xã hội tăng 11,54% so với kì gốc vì chính sách tăng lương tối thiếu của nhà nước và doanh nghiệp có tuyển dụng thêm lao động Như vậy, nhìn chung tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong năm qua đạt kết quả tốt Nguyên nhân có thể do công ty tập trung đến chất lượng sản phẩm, dịch vụ cung ứng hơn là phát triển sản tăng sản lượng hàng hóa và dịch vụ cung ứng, tổ chức sản xuất phù hợp khiến cho doanh nghiệp đạt được sự khả quan về tình hình sản xuất kinh doanh Để thấy rõ hơn tình hình sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp ta tiến hành phân tích chi tiết từng chỉ tiêu mà doanh nghiệp đã đạt được.
1.2.3. Phân tích chi tiết các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh chủ yếu
1.2.3.1. Chỉ tiêu tổng kim ngạch xuất khẩu
Chỉ tiêu tổng kim ngạch xuất khẩu là một trong những chỉ tiêu quan trọng của hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Qua bảng ta thấy trong
kì nghiên cứu ta thấy tổng kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 95,65% so với kì gốc, mức giảm tương đương 4.844.770 nghìn đồng Nguyên nhân của sự biến động giảm này có thế là do:
1 Trong kỳ nghiên cứu, nhu cầu nhập khẩu hàng hóa của một số thị
trướng lớn giảm Công ty kinh doanh các mặt hàng phải cạnh
Trang 18tranh gay gắt với các doanh nghiệp trong và ngoài nước Do lâu nay chỉ tập trung vào số lượng mà quên đi chất lượng của sản phẩm dịch vụ nên các mặt hàng của công ty trở nên yếu thế hơn
so với mặt hàng cùng loại của doanh nghiệp khác nên các khách hàng không còn nhu cầu sử dụng mặt hàng, dịch vụ của công ty nhiều như kỳ gốc làm cho giá trị sản xuất của công ty giảm
Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.
2 Do gặp phải sự cạnh tranh mạnh mẽ của các doanh nghiệp nước
ngoài về các mặt hàng , dịch vụ cung ứng ra thị trường, họ đã đầu tư dây chuyền sản xuất để sản xuất ra các sản phẩm tương đương vơí chất lượng sản phẩm cũ của công ty nên trong kỳ nghiên cứu công ty quyết định phát triển sản xuất, tập trung nâng cao và cải thiện chất lượng của hàng hóa, dịch vụ, đưa ra những sản phẩm có mẫu mã và kiểu dáng đa dạng hơn Những sản phẩm có chất lượng cao được sản xuất ra đáp ứng yêu cầu cao của người tiêu dùng, tuy nhiên giá thành sản xuất ra chúng tăng cao mà nguồn vốn lại có hạn nên khối lượng hàng chất lượng cao cung ứng ra thị trường có phần giảm làm giảm giá trị kim ngạch xuất khẩu tại kỳ nghiên cứu nhưng đổi lại do thỏa mãn được yêu cầu của người tiêu dùng mà công ty đã có những khách hàng tiềm năng, trung thành
Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.
3 Công ty đang dần thực hiện kế hoạch tập trung cho việc sản xuất
hàng hóa phục vụ nhu cầu trong nước, bởi công ty nhận thấy rằng thị trường trong nước là một môi trường kinh doanh tốt cho các mặt hàng kinh doanh của công ty bên cạnh việc xuất khẩu hàng hóa ra thị trường nước ngoài Đồng thời, đó là một biện pháp để đảm bảo cho việc kinh doanh của công ty vẫn phát triển dù đã có sự giảm sút trong nhu cầu nhập khẩu của một số thị trường nước ngoài
Trang 19Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.
4 Trong kỳ nghiên cứu một số dây truyền sản xuất tại xưởng đã
đến thời hạn bảo hành định kỳ Các dây truyền này ngừng sản xuất để kiểm tra và sủa chữa (nếu cần) bởi vậy năng suất trung bình của các dây truyền này trong kỳ nghiên cứu giảm làm giảm
số lượng mặt hàng sản xuất ra đồng thời làm giảm giá trị sản xuất chung của công ty
Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.
- Giả định nguyên nhân 1 là nguyên nhân khách quan chính
- Giả định nguyên nhân 2 là nguyên nhân chủ quan chính.
Biện pháp: Công ty nên tiếp tục duy trì chính sách tập trung cải thiện chất lượng, lấy người tiêu dùng làm chính để cung ứng hàng hóa và dịch vụ đáp ứng nhu cầu, thẩm mỹ của họ Có như vậy công ty mới có được nguồn khách hàng đảm bảo và trung thành.
1.2.3.2. Nhóm chỉ tiêu lao động và tiền lưong
a, Tổng số lao động
Tổng số lao động trong kì gốc của doanh nghiệp là 68 người, trong kì nghiên cứu là 65 người Qua bảng ta thấy số lao động có biến động giảm 3 người chỉ đạt 95,59% so với kỳ gốc Các nguyên nhân có thể của biến động giảm này là:
1, Trong kỳ nghiên cứu công ty tiến hành điều chuyển công nhân viên đến các chi nhánh khác của công ty Công ty đã chọn lựa những công nhân viên có năng lực, tay nghề tốt để điều chuyển sang các chi nhánh đang thiếu nhân lực và chưa tuyển được các vị trí phù hợp Do vậy số lượng lao động tại công ty giảm nhưng vẫn đảm bảo để duy trì sản xuất và đáp ứng chỉ tiêu cuối
kỳ
Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.
2, Trong kỳ nghiên cứu, một số người lao động đã đến tuổi về hưu công
ty bố trí cho nghỉ việc, một số lao động khác do một số nguyên nhân chủ quan
Trang 20(tìm được việc mới có lương cao hơn, điều kiện làm việc tốt hơn, do điều kiện gia đình, do chuyển nhà, di cư… ) nên đã tự động xin nghỉ việc Nhưng công
ty chưa kịp tuyển bổ sung số lao động thiếu hụt nên số lao động giảm so với
kỳ trước làm ảnh hưởng đến năng suất lao động cũng như đảm bảo giá trị sản xuất của công ty
Đây là nguyên nhân chủ quan tiêu cực.
3, Trong kỳ nghiên cứu do không đáp ứng được yêu cầu của các lao động nên một bộ phận lao động tiến hành đình công đòi quyền lợi, số lao động này đình công bằng cách không tham gia sản xuất trong kỳ Bởi vậy số lao động trong kỳ nghiên cứu có biến động giảm làm ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất chung cũng như việc đảm bảo giá trị sản xuất của công ty
Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.
4, Trong kỳ nghiên cứu doang nghiệp cho dừng hoạt động một số dây truyền sản xuất cũ, không phù hợp với tình hình sản xuất hiện tại để nhập về các dây truyền sản xuất mới, tiên tiến và hiện đại hơn Với công nghệ tiên tiến, dây truyền sản xuất mới yêu cầu lượng lao động để vận hành ít hơn nên doanh nghiệp đã cho một lượng công nhân viên nghỉ việc, qua đó giảm thiểu chi phí tiền lương nói riêng cũng như chi phí sản xuất nói chung
Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.
- Giả định nguyên nhân 1 là nguyên nhân chủ quan chính
Biện pháp: Để tránh lãng phí, tránh tình trạng người lao động “ngồi không” công ty đã chủ động điều chuyển số lao động “nhàn rỗi” sang các chi nhánh khác đang thiếu người để tham gia sản xuất.
- Giả định nguyên nhân 3 là nguyên nhân khách quan chính.
b, Tổng quỹ lương
Trong kỳ gốc, tổng quỹ lương của doanh nghiệp là 4.953.620 nghìn đồng và trong kỳ nghiên cứu, tổng quỹ lương là 5.201.301 nghìn đồng Đây là biến động tăng Như vậy, so với kỳ gốc, tổng quỹ lương của kỳ nghiên cứu tăng 247.681 nghìn đồng về mặt tuyệt đối và 5% về mặt tương đối Mức tăng này tương đối lớn Biến động tăng này là do các nguyên nhân sau:
Trang 211 Do chính sách tiền lương của nhà nước đối với các doanh nghiệp trong nước thay đổi Nhà nước quy định lại tiền lương tối thiểu đối với công nhân viên, tăng mức lương tối thiểu.Do vậy doanh nghiệp phải trả thêm lương cho người lao động Điều này dẫn tới tổng quỹ lương của doanh nghiệp trong kỳ nghiên cứu tăng lên.
Đây là nguyên nhân khách quan, tiêu cực.
2 Kết cấu lao động thay đổi, doanh nghiệp phải trả lương cao cho những người
có trình độ cao , tay nghề cao Những người lao động có tay nghề cao đã giúp doanh nghiệp tạo ra nhiều hơn nữa sản phẩm sản xuất, giúp doanh nghiệp tiết kiệm được một số chi phí không đáng có cho dù doanh nghiệp có phải trả lương cao cho những người này thì cũng vẫn là việc làm tốt.
Đây là nguyên nhân chủ quan, tích cực.
3 Do lạm phát: So với những năm trước với cùng một mức lương như vậy thì đảm bảo cho người lao động một cuộc sống ổn định Nhưng do tình hình lam phát tăng cao nên với số tiền đó họ không đủ để chi trả cho những chi tiêu tối thiểu buộc doanh nghiệp phải tăng lương cho người công nhân để đảm bảo cho họ một cuộc sống ổn định để họ yên tâm làm việc
Đây là nguyên nhân khách quan, tiêu cực
4 Trong kì nghiên cứu, doanh nghiệp tiếp nhận một bộ phận lao động thực tập từ các công ty bạn Vì vậy, doanh nghiệp vẫn phải trả lương cho họ nhưng mức lương này không cao Mức lương của bộ phận này được trả theo quy định của doanh nghiệp đối với lao động thử việc trước khi kí hợp đồng, tức là bằng 70% lương của công nhân viên làm tại vị trí đó nếu họ được kí hợp đồng lao động chính thức cho donh nghiệp Hoạt động này làm tăng tổng quỹ lương của doanh nghiệp trong kì nghiên cứu.
Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.
- Giả định nguyên nhân 1 là nguyên nhân khách quan chính.
- Giả định nguyên nhân 2 là nguyên nhân chủ quan chính
Trang 22Biện pháp: Mặc dù , tổng quỹ lương tăng có thể gây áp lực tới tổng chi phí của doanh nghiệp nhưng với hình thức trả lương phù hợp đã góp phần làm tăng giá trị sản xuất trong kỳ Để phát huy những kết quả đã đạt được , trong tương lai doanh nghiệp phải xây dựng được mức sản lượng, thành phẩm có căn cứ kỹ thuật tạo cơ sở để tính chính xác đơn giá tiền lương cho người lao động
c, Tiền lương bình quân
Tiền lương bình quân của doanh nghiệp trong kỳ gốc là 6.071 nghìn đồng/người/tháng, trong kỳ nghiên cứu là 6.668 nghìn đồng/người/tháng Đây là biến động tăng Như vậy, so với kỳ gốc, tiền lương binh quân kỳ nghiên cứu tăng 598 nghìn đồng/người/tháng về mặt tuyệt đối và 7,79 % về mặt tương đối Biến động tăng này có thể là do các nguyên nhân sau:
1 Một số lao động của doanh nghiệp đến hạn lên lương , một số công nhân nâng cao tay nghề Nguyên nhân này ảnh hưởng tới tổng quỹ lương nên cũng tác động ít nhiều tới tiền lương bình quân của người lao động.
Đây là nguyên nhân khách quan, tích cực.
2 Kết cấu sản phẩm doanh nghiệp sản xuất trong kỳ nghiên cứu có sự thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng của các sản phẩm với yêu cầu kỹ thuật phức tạp để làm nên những sản phẩm có chất lượng cao hơn nên quỹ lương trả cho những lao động sản xuất các loại sản phẩm này tăng lên , tiền lương bình quân của họ cũng tăng theo.
Đây là nguyên nhân chủ quan, tích cực
3 Trong kỳ doanh nghiệp nhận thấy sự cố gắng làm việc của người lao động nên đã đưa ra chính sách khuyến khích người lao động bằng chế độ tiền thưởng cho những lao động hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao Việc làm này tác động tốt tới ý thức làm việc của người lao động , tạo tinh thần hăng say sản xuất , tích cực sáng tạo trong công việc Tuy đưa ra chế độ tiền thưởng cho người lao động có làm tăng chi phí tiền lương nhưng đây là một
Trang 23nhân tố mang tính tích cực , tác động tốt tới kết quả sản xuất của doanh nghiệp trong kỳ
Đây là nguyên nhân chủ quan, tích cực.
4 Doanh nghiệp tăng lương của bộ phận lao động thời vụ.Do tính chất mùa vụ của sản xuất, doanh nghiệp cần một lượng lao động khi số lượng đơn hàng tăng cao trong mùa cao điểm Số lao động này thường chỉ làm công việc chân tay, và chỉ làm tại doanh nghiệp từ 2 đến 3 tháng trong năm Sau khi doanh nghiệp cân đối lại các chỉ tiêu tài chính đã quyết định tăng lương của bộ phận này từ 100.000 đồng đế 150.000 đồng/người/tháng.
Đây là nguyên nhân chủ quan ,tiêu cực.
- Giả định nguyên nhân 1 là nguyên nhân khách quan chính.
- Giả định nguyên nhân 3 là nguyên nhân chủ quan chính
Biện pháp: công ty nên có những chính sách hỗ trợ thêm cho người lao động, khuyến khích họ tiếp tục tích cực lao động sản xuất, qua đó giúp cho doanh nghiệp ngày càng phát triển.
d, Năng suất lao động
Trong kỳ nghiên cứu , năng suất lao động là 1.637.853 nghìn đồng/người, tăng 0.06% so với kỳ gốc, tương đương tăng 1.058 nghìn đồng/người Có thể nói , năng suất lao động là một nhân tố hết sức quan trọng ảnh hưởng đến kết quả sản xuất Năng suất lao động là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả
có ích của lao động và là chỉ tiêu phản ánh chất lượng lao động cũng như kết quả tổ chức và quản lý lao động của doanh nghiệp
Năng suất lao động trong kỳ của doanh nghiệp tăng lên có thể là do một
số nguyên nhân sau:
1 Doanh nghiệp đã đầu tư thêm máy móc thiết bị hiện đại nên đã cơ bản giảm được những sai sót nhỏ trong sản xuất, vì vậy không cần phải tiến hành sửa lại gây mất thời gian làm tăng năng suất lao động của công nhân Đồng thời làm số thành phẩm sản xuất ra đạt tiêu chuẩn tăng nhiều hơn trước.
Đây là nguyên nhân chủ quan, tích cực
2 Trình độ tay nghề của công nhân được nâng cao hơn , có nhiều công nhân giỏi với nhiều kỹ năng , kỹ xảo Các công nhân được tuyển dụng làm việc có
Trang 24hiệu quả đã giúp ích rất nhiều và là một nhân tố tích cực làm cho năng suất lao động tăng lên
Đây là nguyên nhân khách quan, tích cực.
3 Trong kỳ nghiên cứu , doanh nghiệp còn đưa ra những chính sách về tiền lương , thưởng , trợ cấp , khuyến khích công nhân làm tốt nhiệm vụ của mình Qua đó đã góp phần động viên tinh thần làm việc của công nhân Khiến cho cán bộ công nhân viên tích cực làm việc , nhiệt tình hơn với công việc
Đây là nguyên nhân chủ quan, tích cực.
4 Trong kỳ nghiên cứu , doanh nghiệp tiến hành áp dụng quy trình quản lý mới nên đã khắc phục một cách có hiệu quả các khâu “thừa” và “lãng phí” trong quy trình sản xuất, tạo ra khả năng lao động cao nhất cho công nhân.
Đây là nguyên nhân chủ quan, tiêu cực.
- Giả định nguyên nhân 2 là nguyên nhân khách quan chính.
- Giả định nguyên nhân 1 là nguyên nhân chủ quan chính
Biện pháp : doanh nghiệp nên tiếp tục tạo điều kiện hơn nữa tới tình hình sản xuất , duy trì thường xuyên cải tiến nâng cấp máy móc thiết bị vì đây
là một yếu tố quan trọng của quá trình sản xuất Bên cạnh đó đẩy mạnh công tác quản lý tổ chức sản xuất, xây dựng chế độ khen thưởng khoa học , công bằng
1.2.3.3. Nhóm chỉ tiêu tài chính
a, Tổng doanh thu
Trong kì nghiên cứu , tổng doanh thu của doanh nghiệp là 128.186.591 nghìn đồng, tăng 6,57% so với kỳ gốc , tương ứng với 7.902.654 nghìn đồng Chỉ tiêu này tăng so với kỳ gốc có thể là do một số nguyên nhân sau:
1 Trong kỳ nghiên cứu , lãi suất cho vay của ngân hàng giảm, tạo điều kiện cho doanh nghiệp vay được nhiều vốn hơn Đây là một trong những biện pháp của Nhà Nước nhằm khuyến khích các doanh nghiệp vay nhiều hơn để đầu tư, sản xuất kinh doanh Tận dụng cơ
Trang 25hội này, doanh nghiệp vay vốn để mở rộng sản xuất, đáp ứng nhu cầu của thị trường
Đây là nguyên nhân khách quan, tích cực
2 Trong kỳ, doanh nghiệp tiến hành sản xuất một số sản phẩm với yêu cầu kỹ thuật phức tạp , có tính độc đáo hơn so với các doanh nghiệp khác nên giá bán của các sản phẩm này cao Các sản phẩm này được một bộ phận người tiêu dùng có thu nhập cao chấp nhận mua Điều này làm tăng tổng doanh thu cho doanh nghiệp trong kỳ nghiên cứu Tuy nhiên , nhân tố này chỉ mang tính tính cực trong ngắn hạn vì các doanh nghiệp khác sẽ nhanh chóng cho ra thị trường các sản phẩm tiên tiến hơn sản phẩm đang có mặt trên thị trường của doanh nghiệp Các sản phẩm này của doanh nghiệp mới chỉ được một bộ phận người tiêu dùng thu nhập cao sử dụng mà tâm lý của nhóm khách hàng này là luôn thích các sản phẩm mới lạ Do vậy , khi các doanh nghiệp khác đưa ra các sản phẩm độc đáo , thế hệ mới hơn sản phẩm của doanh nghiệp thì lúc này doanh nghiệp sẽ mất đi một lượng khách hàng đáng kể , khối lượng tiêu thụ sẽ bị giảm sút , ảnh hưởng tới kết quả sản xuất kinh doanh Vì thế , doanh nghiệp cần tiến hành nghiên cứu để phát triển mẫu mã của sản phẩm để có thể thu hút được bộ phận người tiêu dùng thu nhập cao song song với việc đó là không ngừng nâng cao chất lượng , thêm tính năng mới cho các sản phẩm mà doanh nghiệp đang có thị trường
Đây là nguyên nhân chủ quan, tích cực nhưng chỉ trong ngắn hạn.
3 Chất lượng nguyên vật liệu đầu vào cao làm cho quá trình sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp không bị gián đoạn , các sản phẩm làm ra đạt chất lượng tốt , theo đúng tiêu chuẩn Vì thế , sản phẩm của doanh nghiệp được người tiêu dùng trên thị trường ưa chuộng bởi chất lượng cao Do vậy mặc dù có sự giảm sút về tình hình xuất khẩu ở một số thị trường nhưng công ty vẫn đảm bảo được tình hình sản xuất kinh doanh phát triển vì đạt được doanh thu cao hơn khi tập trung vào phát triển chất lượng sản phẩm Với sự có mặt tại thị
Trang 26trường miền Nam , khối lượng sản phẩm doanh nghiệp sản xuất trong kỳ và được tiêu thụ tăng lên , điều này góp phần làm tăng tổng doanh thu của doanh nghiệp
Đây là nguyên nhân chủ quan, tích cực
4 Công tác tiếp thị , quảng cáo , marketing của doanh nghiệp đạt kết quả tốt
Bộ phận nghiên cứu thị trường cũng như kinh doanh đã làm tốt nhiệm vụ của mình khi bước đầu quảng bá được sản phẩm của doanh nghiệp vào thị trường trong nước, với các thị trường mới như trong Nam Nhiều người tiêu dùng biết đến sản phẩm của doanh nghiệp thông qua hình thức quảng cáo , tiếp thị hấp dẫn Đây là một nguyên nhân tác động tích cực tới tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Đây là nguyên nhân chủ quan, tích cực
- Giả định nguyên nhân 1 là nguyên nhân khách quan chính.
- Giả định nguyên nhân 2 là nguyên nhân chủ quan chính.
Biện pháp: để tiếp tục duy trì khả năng tiêu thụ tốt , doanh nghiệp cần phải có những kế hoạch , những quyết định chiến lược mang tính dài hạn Bộ phận nghiên cứu thị trường phải hoạt động mạnh hơn nữa để nắm bắt kịp thời những biến động về nhu cầu trên thị trường để giúp các nhà lãnh đạo đưa ra những quyết định sản xuất đúng đắn Nâng cao khả năng bán hàng cho đội ngũ nhân viên để tăng khối lượng tiêu thụ Doanh nghiệp nên đưa ra những chính sách giá phù hợp với từng giai đoạn của sản phẩm Đẩy mạnh công tác chăm sóc khách hàng , tiến hành các hoạt động bảo hành , bảo trì sản phẩm với chất lượng tốt.
b, Tổng chi phí
Qua bảng ta thấy tổng chi phí ở kì nghiên cứu của doanh nghiệp là 115.235.353 nghìn đồng, giảm 1,46% so với kì gốc, tương đương 1.707.363 nghìn đồng Chỉ tiêu này giảm có thể là do các nguyên nhân sau:
1, Kỳ trước doanh nghiệp ký kết hợp đồng xuất khẩu với khách hàng chủ yếu theo điều kiện CIF, theo điều kiện này doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm
về cước vận tải và bảo hiểm Tuy nhiên công ty chưa có kinh nghiệm về
Trang 27nghiệp vụ này nên công ty tốn khá nhiều chi phí do thuê vận chuyển với cước đắt Nhưng trong kỳ nghiên cứu, rút kinh nghiệm công ty tiến hành ký kết hợp đồng với điều kiện FOB Theo điều kiện FOB công ty chỉ chịu trách nhiệm đưa hàng lên tàu mà không phải trả cước vận chuyển do đó chi phí vận chuyển thuê ngoài giảm, công ty tránh được rủi ro đồng thời làm giảm tổng chi phí sản xuất
Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực
2, Trong quá trình sản xuất kinh doanh, công ty luôn phải vay vốn để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh một cách liên tục (vốn vay chủ yếu là từ ngân hàng).Việc thanh toán cho ngân hàng được công ty thực hiện sau khi thu được tiền hàng từ các đối tác Trong kỳ trước do thu được các khoản thanh toán của khách hàng cũ nên công ty đã tiến hành trả lãi cho ngân hàng Điều này làm giảm khoản lãi phải trả trong kỳ nghiên cứu cho ngân hàng đồng thời làm giảm tổng cho phí sản xuất cho công ty
Đây là nguyên nhân khách quan tích cực.
3, Chi phí cho nhân công giảm Phần lớn lao động công ty tuyển dụng đều là lao động giản đơn nên chi phí lương cho bộ phận này là không lớn, tuy nhiên các lao động đến tuổi nghỉ hưu đều là những cán bộ cao cấp, khi còn làm việc hưởng mức lương khá cao Vì vậy mặc dù góp phần làm giảm tổng chi phí nhưng công ty lại mất đi một bộ phận các lao động có kinh nghiệm, tay nghề làm ảnh hưởng đến năng lực sản xuất
Đây là nguyên nhân chủ quan tiêu cực.
4, Chi phí công cụ dụng cụ giảm Trong kỳ nghiên cứu do công tác quản
lý tốt, trong quá trình sản xuất được bảo dưỡng, sử dụng cẩn thận nên số lượng công cụ dụng cụ bị hỏng phải sửa chữa hoặc mua mới giảm, điều này góp phần làm giảm tổng chi phí cho sản xuất của công ty
Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.
- Giả định nguyên nhân 1 là nguyên nhân chủ quan chính
Trang 28Biện pháp: Trong quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng công ty nên lựa chọn điều kiện giao hàng sao cho phù hợp với điều kiện và khả năng của mình để tránh các rủi ro và chi phí không cần thiết ảnh hưởng đến quá trình phát triển của công ty.
- Giả định nguyên nhân 2 là nguyên nhân khách quan chính.
Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.
2, Kỳ trước khi thực hiện các hợp đồng xuất khẩu do không nghiên cứu, tìm hiểu kỹ về đối tác nên công ty đã gặp phải khó khăn trong việc thanh toán tiền hàng do đối tác trả chậm, không đồng ý thanh toán Tuy nhiên trong kỳ nghiên cứu với chính sách đối ngoại hợp lý kèm theo sự hợp tác từ phía khách hàng công ty đã thu được tiền phạt do vi phạm hợp đồng cũng như chậm thanh toán Điều này làm tổng lợi nhuận của kỳ nghiên cứu tăng so với
kỳ gốc.
Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.
3, Qua hoạt động chính là hoạt động xuất khẩu hàng hóa dịch vụ công ty thu về lượng ngoại tệ tương đối lớn và quy đổi thành nội tệ để tính lợi nhuận Trong kỳ nghiên cứu tỷ giá hối đoái trên thị trường quốc tế tăng từ 1USD đổi
Trang 29được 20.086 VNĐ lên thành 1 USD đổi được 21.095 VNĐ Như vậy một đồng ngoại tệ mua được nhiều VNĐ hơn nên khi quy đổi công ty được hưởng lợi và lợi nhuận tăng lên
Đây là nguyên nhân khách quan tích cực.
4, Như đã phân tích ở trên, trong kỳ nghiên cứu công ty tập trung nâng cao, cải thiện chất lượng sản phẩm và dịch vụ cung ứng Các sản phẩm dịch
vụ với chất lượng tốt hơn, đảm bảo hơn đã đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng một cách tốt nhất, thỏa mãn các yêu cầu khắt khe của thị trường do vậy việc xuất hiện các trường hợp hàng bán bị trả lại đã giảm một cách tối đa Khoản giảm trừ doanh thu giảm dẫn đến tăng tổng lợi nhuận cho công ty Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.
- Giả định nguyên nhân 1 là nguyên nhân chủ quan chính
Biện pháp: để tăng cường doanh thu cũng như lợi nhuận của công ty, ban điều hành cần tiếp tục phát huy và lên các kế hoạch đầu tư tài chính hợp
lý bên cạnh hoạt động sản xuất xuất khẩu chính.
- Giả định nguyên nhân 3 là nguyên nhân khách quan chính.
1.2.3.4 Chỉ tiêu quan hệ với ngân sách
a, Thuế giá trị gia tăng
Trong kì gốc chỉ tiêu thuế giá trị gia tăng là 6.014.197 nghìn đồng, trong kì nghiên cứu thuế giá trị gia tăng là 8.973.061 nghìn đồng, đạt 149,19%, biến động tăng 2.958.864 nghìn đồng so với kì gốc Chỉ tiêu này tăng có thể là do các nguyên nhân sau :
1, Trong kỳ nghiên cứu công ty có tung ra một số hàng hóa mới phục vụ nhu cầu của thị trường Các mặt hàng này có mức thuế VAT khác nhau, tuy nhiên công ty đã không kê khai riêng được mức thuế của các mặt hàng này,
do vậy công ty đã phải tính và nộp thuế theo mức thuế suất cao nhất làm tăng mức nộp thuế VAT
Đây là nguyên nhân chủ quan tiêu cực.
Trang 302, Trong kỳ nghiên cứu chính phủ ban hành chính sách tăng mức thuế VAT đối với một số mặt hàng chính của công ty, do vậy công ty đã phải nộp nhiều thuế VAT cho ngân sách Nhà nước hơn
Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.
3, Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh cố phiếu, chứng khoán để tăng thêm lợi nhuận Khi doanh nghiêp hoạt động kinh doanh như vậy tức là ngoài hoạt động chính là sản xuất hàng hóa xuất khẩu, doanh nghiệp có thêm một
số hoạt động kinh doanh khác Điều này làm tăng thuế VAT phải nộp.
Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực
4, Trong kỳ nghiên cứu, doanh nghiệp đã được một công ty nước ngoài thuê làm gia công cho sản phẩm của họ.
Doanh nghiệp thực hiện gia công nên không phải mua nguyên vật liệu đầu vào và chỉ nộp thuế VAT trên phần doanh thu mà doanh nghiệp nhận được trên phần gia công Do đó đã làm tăng số thuế VAT nộp vào ngân sách Nhà nước trong kỳ nghiên cứu.
Đây là nguyên nhân khách quan, tích cực.
- Giả định nguyên nhân 1 là nguyên nhân chủ quan chính
Biện pháp: để tránh lãng phí chi phí và các khoản nộp không cần thiết, doanh nghiệp cần kê khai rõ ràng, chi tiết các mặt hàng chịu mức thuế suất
là bao nhiêu cũng như bảo đảm việc lưu trữ các hóa đơn một cách cẩn thận.
- Giả định nguyên nhân 2 là nguyên nhân khách quan chính.
b, Thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế TNDN doanh nghiệp phải nộp ở kỳ gốc là 3.843.756 (10 3 đồng), ở
kỳ nghiên cứu là 4.073.038 (10 3 đồng) Đây là biến động tăng Như vậy, so với
kỳ gốc, thuế TNDN tăng lên 229.281 (10 3 đồng) về mặt tuyệt đối và 5,97 % về mặt tương đối Biến động tăng này do các nguyên nhân sau:
1 Lợi nhuận của doanh nghiệp tăng.
Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế đánh vào lợi nhuận của doanh nghiệp Vì thế lợi nhuận ở kỳ nghiên cứu của doanh nghiệp tăng dẫn đến thuế thu nhập doanh nghiệp ở kỳ nghiên cứu tăng
Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.
2 Đổi mới máy móc, khoa học kỹ thuật
Trang 31Doanh nghiệp đã mạnh tay đổi mới thiết bị, máy móc và công nghệ sản xuất Và thu lại được lợi nhuận khá lớn từ việc này.
Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.
3 Doanh nghiệp nhận được một số khách hàng nước ngoài thuê gia công sản phẩm
Doanh nghiệp thực hiện gia công nên không phải mát chi phí nguyên vật liệu đầu vào mà lại có thêm doanh thu trên phần gia công Do đó đã làm tăng lợi nhuận trong kỳ nghiên cứu cứu của doanh nghiệp, tăng dẫn đến thuế thu nhập doanh nghiệp ở kỳ nghiên cứu tăng
Đây là nguyên nhân khách quan, tích cực.
4 Cầu về sản phẩm cuối kỳ biến động tăng.
Trong cả kỳ nghiên cứu, xu hướng chung của cầu sản phẩm trên thị trường là tăng lên Đây cũng là một nguyên nhân làm tăng thuế TNDN mà doanh nghiệp phải nộp trong kỳ nghiên cứu.
Đây là nguyên nhân khách quan tích cực.
- Giả định nguyên nhân 1 là nguyên nhân chủ quan chính
Biện pháp: Cân đối thu chi để không ngừng làm tăng lợi nhuân, lập bảng
dự kiến thu chi để quản lí chặt che tránh thất thoát tiền và tài sản của doanh nghiệp.
- Giả định nguyên nhân 4 là nguyên nhân khách quan chính.
c, Thuế xuất khẩu
Trong kì nghiên cứu chỉ tiêu thuế xuất khẩu là 5.326.462 nghìn đồng , biến động giảm 4,35% so với kì gốc, chỉ đạt 95,65%, tương đương giảm 242.239 nghìn đồng Chỉ tiêu này có biến động giảm có thể là do các nguyên nhân sau:
1, Nhà nước đưa ra chính sách trợ giúp dành cho các công ty ,điều chỉnh
hạ thấp thuế xuất khẩu Vì vậy, khoản thuế xuất khẩu phải nộp của công ty có biến động giảm.
Đây là nguyên nhân khách quan tích cực.
2, Do nhu cầu nhập khẩu giảm của thị trường nước ngoài, công ty không
kí kết được nhiều hợp đống xuất khẩu hàng hóa như kì trước vì vậy công ty
có tổng kim ngạch xuất khẩu giảm xuống Vì vậy, khoản thuế xuất khẩu mà công ty phải nộp cũng giảm xuống
Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.
Trang 323, Công ty có hướng phát triển kinh doanh hướng tới sản xuất phục vụ nhu cầu trong nước Vì vậy, có sự chủ động dành nguồn vốn cho việc đầu tư phát triển sản phẩm nội địa, giảm sản lượng hàng hóa xuất khẩu ra nước ngoài,
từ đó số thuế xuất khẩu phải nộp của doanh nghiệp giảm xuống.
Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.
4, Trong kì nghiên cứu giá bán các mặt hàng chịu thuế xuất khẩu giảm, trị giá tính thuế theo đơn đặt hàng nhận được cũng giảm, làm cho thuế xuất khẩu giảm
Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.
- Giả định nguyên nhân 1 là nguyên nhân khách quan chính.
- Giả định nguyên nhân 3 là nguyên nhân chủ quan chính.
Biện pháp: Công ty tiếp tục đầu tư phát triển để sản xuất đầu tư phát triển kinh doanh sản phẩm trong nước Đồng thời có biện pháp mở rộng thị trường để làm tăng thêm lợi nhuận cho công ty.
d, Bảo hiểm xã hội
Qua bảng ta thấy ở kì nghiên cứu bảo hiểm xã hội có biến động tăng đạt 1.256.051 nghìn đồng, đạt 111,54%, tương đương với mức tăng tuyệt đối 129.971 nghìn đồng, tăng tương đối 11,54% Chỉ tiêu này có thể có biến động tăng là do các nguyên nhân sau :
1, Tiền lương doanh nghiệp trả cho người lao động trong kỳ cao hơn năm trước do doanh nghiệp có chính sách khuyến khích người lao động, quan tâm tới đời sống người lao động hơn các năm trước Do đó bảo hiểm xã hội cũng tăng theo Đây là một nhân tố làm tăng chi phí tiền lương nhưng ngược lại góp phần giúp cho cuộc sống của người lao động được ổn định hơn , mức thu nhập của họ phù hợp với mức tăng giá của thị trường Từ
đó người lao động sẽ có được tinh thần tốt hơn để lao động sản xuất, nâng cao năng suất lao động.
Đây là nguyên nhân chủ quan, tích cưc
Trang 332, Trong kỳ nghiên cứu, nhiều lao động lâu năm của công ty đã đến hạn tăng bậc lương Những lao động này đều là những người có kinh nghiệm và tay nghề tốt, tận tâm với công việc Việc tăng bậc lương sẽ giúp các lao động này yên tâm làm việc và cống hiến cho công ty Lương trả cho các lao động này tăng lên đồng nghĩa với việc tổng quỹ lương tăng nên việc trích nộp BHXH của công ty tăng
Đây là nguyên nhân khách quan tích cực.
3, Trong kỳ nghiên cứu công ty đã bổ nhiệm được những vị trí còn khuyết thiếu từ kỳ trước (trợ lý giám đốc, trưởng phòng kinh doanh…) Công
ty đã lựa chọn được những người có kinh nghiệm và khả năng để bổ nhiệm nên việc sản xuất trong kỳ có những cải thiện đáng kể Những vị trí này đều rất quan trọng nên có bậc lương cao vì thế mức đóng BHXH của công ty trong kỳ nghiên cứu cũng tăng.
Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.
4, Trong kỳ nghiên cứu, số lao động nữ nghỉ thai sản giảm đi so với kỳ gốc.
Theo quy định tại khoản 2, điều 35, Luật BHXH: “Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được tính là thời gian đóng BHXH Thời gian này người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng BHXH” Nếu như trong kỳ gốc, số lao động nữ nghỉ thai sản nhiều nên doanh nghiệp nộp ít BHXH, còn trong kỳ nghiên cứu có ít lao động nghỉ hơn nên phải nộp nhiều hơn Vì vậy, số tiền mà doanh nghiệp phải nộp cho quỹ BHXH tăng lên.
Đây là nguyên nhân khách quan tích cực.
- Giả định nguyên nhân 2 là nguyên nhân khách quan chính.
- Giả định nguyên nhân 3 là nguyên nhân chủ quan chính.
Biện pháp: Để duy trì sản xuất và đảm bảo doanh thu công ty cần lựa chọn cẩn thận và kỹ càng những cá nhân có năng lực và kinh nghiệm để bổ nhiệm vào các vị trí khuyết thiếu quan trọng (trợ lý giám đốc, trưởng phòng kinh doanh…)
e, Thuế và các loại phí khác
Trang 34Chỉ tiêu thuế và nộp khác bao gồm các khoản thuế như: thuế bảo vệ môi trường, thuế môn bài, thuế tài nguyên… Ở kỳ nghiên cứu ta thấy thuế và các loại phí khác giảm 12.904 nghìn đồng, chỉ đạt 91,87% so với kỳ gốc Biến động giảm này có thể do các nguyên nhân:
1 Nhân viên kế toán mới chưa nắm được đặc điểm hoạt động của công
ty nên kê khai các loại thuế chưa đủ Từ sau đợt thay đổi nhân sự, các kế toán mới trong công ty chưa nắm bắt được đặc điểm hoạt động của công ty nên có nhầm lẫn, bỏ sót khi ghi sổ kế toán và gây ra nộp thiếu thuế Do vậy mà tổng thuế phải nộp trong kỳ nghiên cứu giảm nhưng điều đó lại cho thấy công ty chưa hoàn thành tốt nghĩa vụ đóng thuế với Nhà nước.
Đây là nguyên nhân chủ quan tiêu cực.
2. Nhà nước điều chỉnh một số loại thuế giảm đi Với mục đích thúc đẩy sản xuất phát triển, đẩy mạnh xuất khẩu Nhà nước điều chỉnh giảm một số loại thuế như thuế bảo vệ môi trưởng, thuế môn bài… Do đó mà thuế phải nộp trong kỳ nghiên cứu của công ty giảm so với kỳ gốc
Đây là nguyên nhân khách quan tích cực.
3. Một số các khoản phí và lệ phí được điều chỉnh giảm so với kỳ gốc Ở kỳ nghiên cứu, Nhà nước ban hành một số chính sách các khoản phí và lệ phí phục vụ công việc quản lý hành chính của Nhà nước được điều chỉnh giảm
so với kỳ gốc với mục đích hỗ trợ giúp đỡ các doanh nghiệp trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế Đó cũng là một trong những nguyên nhân làm khoản thuế và nộp khác giảm ở kỳ nghiên cứu
Đây là nguyên nhân khách quan tích cực.
4. Thuế bảo vệ môi trường mà công ty phải nộp giảm Công ty có tiến hành khai thác và xuất khẩu mặt hàng dầu thô – là mặt hàng nằm trong danh sách đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường nên công ty phải tiến hành nộp loại thuế này Ở kỳ nghiên cứu, do chuyển đổi mặt hàng xuất khẩu chủ lực nên lượng khai thác dầu thô của công ty giảm, số thuế phải đóng cho ngân sách cũng giảm Do đó làm cho tổng thuế phải nộp ở kỳ nghiên cứu của công ty giảm đi.
Trang 35Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.
- Giả định nguyên nhân 1 là nguyên nhân chủ quan chính
Biện pháp: Doanh nghiệp cần đào tạo, bồi dưỡng các kế toán cũng như các bộ phận làm việc khác trong công ty một cách bài bản hơn nữa Hạn chế thấp nhất những sai sót đã từng gặp phải, tự rút kinh nghiệm hoặc công ty lập kiểm điểm cá nhân các thành viên làm việc không hiệu quả bằng cách trừ lương, Cần kiểm tra chi tiết hơn và đưa ra những chính sách quản lý chặt chẽ khi các cá nhân có những sai sót trong công việc hay ý thức trách nhiệm kém.
- Giả định nguyên nhân 2 là nguyên nhân khách quan chính.
1.3 Kết luận
1.3.1.Kết luận chung
Qua đánh giá chung tình hình sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp đạt kết quả tốt Đa số các chỉ tiêu đều tăng giá trị với những tác động tốt tới kết quả sản xuất kinh doanh, chỉ có một số chi tiêu có biến động giảm tuy nhiên, mức giảm này không ảnh hưởng nhiều tới kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Cụ thể :
- Tổng kim ngạch xuất khẩu giảm 4.844.770 nghìn đồng, chỉ đạt 95,65% so với kỳ gốc Điều này cho thấy quy mô sản xuất phục vụ xuất khẩu của công ty bị thu hẹp Do nhiều yếu tố mà công ty đã không duy trì, đảm bảo kim ngạch xuất khẩu như ở kỳ trước.
+ Nhóm chỉ tiêu lao động tiền lương có biến động tăng, ngoại trừ chỉ tiêu tổng số lao động Cụ thể trong đó: Tổng số lao động giảm 3 người, chỉ đạt 95,59% so với kỳ gốc; Tổng quỹ lương tăng 247.681 nghìn đồng, đạt 105% so với kỳ gốc; Năng suất lao động bình quân tăng 1.058 nghìn đồng/người, đạt 100,06% so với kỳ gốc; Tiền lương bình quân tăng 598 nghìn đồng/người/tháng, đạt 109,85 % so với kỳ gốc Điều này cho thấy chế độ đãi
Trang 36ngộ người lao động của công ty đã hoàn thành tốt và khả năng làm việc của các lao động hiệu quả Điều này góp phần ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm tăng doanh thu và lợi nhuận của công ty.
+ Tổng doanh thu tăng 7.902.654 nghìn đồng, đạt 106,57% so với kỳ gốc
do công ty đã tìm được hướng phát triển mới đồng thời đạt được những hiệu quả nhất định khi đầu tư tài chính.
+ Tổng chi phí giảm 1.707.363 nghìn đồng, chỉ đạt 98,54% so với kỳ gốc cho thấy công ty đã có chính sách cắt giảm chi phí hợp lý để tăng thu lợi nhuận.
+ Lợi nhuận tăng 9.610.017 nghìn đồng, đạt 387,62% so với kỳ gốc, trong điều kiện sản xuất kinh doanh khó khăn công ty vẫn duy trì được cho mình khoản lợi nhuận nhất định, cho thấy chiến lược kinh doanh phù hợp của công ty trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu
+ Nhóm chỉ tiêu quan hệ với ngân sách bao gồm: Thuế VAT tăng 2.958.864 nghìn đồng, đạt 149.19% so với kỳ gốc; BHXH tăng 129.971 nghìn đồng, đạt 111,54% so với kỳ gốc; thuế TNDN tăng 2.114.204 nghìn đồng, đạt 387,62% so với kỳ gốc; thuế XK giảm 242.239 nghìn đồng, đạt 95,65% so với
kỳ gốc; thuế và nộp khác giảm 12.904 nghìn đồng, đạt 95,13% so với kỳ gốc Công ty đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình với Nhà nước qua các khoản thuế và BHXH phải nộp
Như vậy tình hình sản xuất kinh doanh của công ty tại kỳ nghiên cứu không phát triển bằng kỳ trước ở việc xuất khẩu hàng hóa Tuy nhiên lại hiệu quả hơn bằng chứng là các tổng doanh thu tổng lợi nhuận đều có dấu hiệu tăng, trong khi đó chỉ tiêu tổng chi phí lại giảm xuống Bên cạnh đó công ty cũng đã hoàn thành nghĩa vụ với nhà nước một cách nghiêm túc khi thực hiện đầy đủ các khoản nộp thuế, BHXH…
Sự biến động tăng, giảm của các chỉ tiêu là do tác động của một số nguyên nhân chính bao gồm cả các nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân
Trang 37khách quan Trong đó có những nguyên nhân tích cực cần duy trì, phát huy đồng thời cũng có những nguyên nhân tiêu cực cần loại bỏ, hạn chế:
- Nguyên nhân chủ quan tích cực:
+ Do gặp phải sự cạnh tranh mạnh mẽ của các doanh nghiệp nước ngoài về các mặt hàng , dịch vụ cung ứng ra thị trường, họ đã đầu tư dây chuyền sản xuất để sản xuất ra các sản phẩm tương đương vơí chất lượng sản phẩm cũ của công ty nên trong kỳ nghiên cứu công ty quyết định phát triển sản xuất, tập trung nâng cao và cải thiện chất lượng của hàng hóa, dịch vụ, đưa ra những sản phẩm có mẫu mã và kiểu dáng đa dạng hơn Những sản phẩm có chất lượng cao được sản xuất ra đáp ứng yêu cầu cao của người tiêu dùng, tuy nhiên giá thành sản xuất ra chúng tăng cao mà nguồn vốn lại có hạn nên khối lượng hàng chất lượng cao cung ứng ra thị trường có phần giảm làm giảm giá trị kim ngạch xuất khẩu tại kỳ nghiên cứu nhưng đổi lại do thỏa mãn được yêu cầu của người tiêu dùng mà công ty đã có những khách hàng tiềm năng, trung thành.
+ Trong kỳ nghiên cứu công ty tiến hành điều chuyển công nhân viên đến các chi nhánh khác của công ty Công ty đã chọn lựa những công nhân viên có năng lực, tay nghề tốt để điều chuyển sang các chi nhánh đang thiếu nhân lực
và chưa tuyển được các vị trí phù hợp Do vậy số lượng lao động tại công ty giảm nhưng vẫn đảm bảo để duy trì sản xuất và đáp ứng chỉ tiêu cuối kỳ
+ Kết cấu lao động thay đổi, doanh nghiệp phải trả lương cao cho những người có trình độ cao , tay nghề cao Những người lao động có tay nghề cao
đã giúp doanh nghiệp tạo ra nhiều hơn nữa sản phẩm sản xuất, giúp doanh nghiệp tiết kiệm được một số chi phí không đáng có cho dù doanh nghiệp có phải trả lương cao cho những người này thì cũng vẫn là việc làm tốt.
+ Trong kỳ doanh nghiệp nhận thấy sự cố gắng làm việc của người lao động nên đã đưa ra chính sách khuyến khích người lao động bằng chế độ tiền thưởng cho những lao động hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao Việc
Trang 38làm này tác động tốt tới ý thức làm việc của người lao động , tạo tinh thần hăng say sản xuất , tích cực sáng tạo trong công việc Tuy đưa ra chế độ tiền thưởng cho người lao động có làm tăng chi phí tiền lương nhưng đây là một nhân tố mang tính tích cực , tác động tốt tới kết quả sản xuất của doanh nghiệp trong kỳ
+ Doanh nghiệp đã đầu tư thêm máy móc thiết bị hiện đại nên đã cơ bản giảm được những sai sót nhỏ trong sản xuất, vì vậy không cần phải tiến hành sửa lại gây mất thời gian làm tăng năng suất lao động của công nhân Đồng thời làm số thành phẩm sản xuất ra đạt tiêu chuẩn tăng nhiều hơn trước + Trong kỳ, doanh nghiệp tiến hành sản xuất một số sản phẩm với yêu cầu kỹ thuật phức tạp , có tính độc đáo hơn so với các doanh nghiệp khác nên giá bán của các sản phẩm này cao Các sản phẩm này được một bộ phận người tiêu dùng có thu nhập cao chấp nhận mua Điều này làm tăng tổng doanh thu cho doanh nghiệp trong kỳ nghiên cứu Tuy nhiên , nhân tố này chỉ mang tính tính cực trong ngắn hạn vì các doanh nghiệp khác sẽ nhanh chóng cho ra thị trường các sản phẩm tiên tiến hơn sản phẩm đang có mặt trên thị trường của doanh nghiệp Các sản phẩm này của doanh nghiệp mới chỉ được một bộ phận người tiêu dùng thu nhập cao sử dụng mà tâm lý của nhóm khách hàng này là luôn thích các sản phẩm mới lạ Do vậy , khi các doanh nghiệp khác đưa ra các sản phẩm độc đáo , thế hệ mới hơn sản phẩm của doanh nghiệp thì lúc này doanh nghiệp sẽ mất đi một lượng khách hàng đáng kể , khối lượng tiêu thụ sẽ bị giảm sút , ảnh hưởng tới kết quả sản xuất kinh doanh Vì thế , doanh nghiệp cần tiến hành nghiên cứu để phát triển mẫu mã của sản phẩm để có thể thu hút được bộ phận người tiêu dùng thu nhập cao song song với việc đó là không ngừng nâng cao chất lượng , thêm tính năng mới cho các sản phẩm mà doanh nghiệp đang có thị trường
+ Kỳ trước doanh nghiệp ký kết hợp đồng xuất khẩu với khách hàng chủ yếu theo điều kiện CIF, theo điều kiện này doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về