1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đồ án phân tích hoạt động kinh tế

52 374 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 304,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các chỉ tiêu thuộc nhóm lao động tiền lương đều tăng giá trị so với kỳ gốc do một số nguyên nhân chủ yếu như doanh nghiệp tuyển dụng thêm lao động, công suất hoạt động của máy móc thiết

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Một doanh nghiệp khi hoạt động sản xuất kinh doanh thì mục tiêu lớn nhất của họ là tối đa hoá lợi nhuận Vậy để đạt được hiệu quả cao thì yêu cầu đặt ra đối với các nhà doanh nghiệp là cần nắm bắt và điều chỉnh được mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trên tất cả các phương diện Đồng thời phải thường xuyên điều tra tính toán, cân nhắc soạn thảo và đưa ra phương án tối ưu Cơ sở quan trọng để tìm ra phương án tối ưu là việc đánh giá thường xuyên kết quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh tìm ra các nguyên nhân gây ảnh hưởng, đề

ra các biện pháp khắc phục để không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

Và để ra các quyết định đúng đắn ,đem lại hiệu quả cao cho doanh ngiệp, các nhà quản lý đã và đang sử dụng một công cụ quan trọng của quản lý khoa học Đó là phân tích hoạt động kinh tế

Phân tích kinh tế đã trở thành công cụ quan trọng của quản lý khoa học, công cụ phát hiện khả năng tiềm ẩn trong kinh doanh

Khi nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước ,đặc biệt,hiện nay Việt Nam đang chuẩn bị gia nhập tổ chức WTO, tính cạnh tranh trên thị trường là vô cùng gay gắt Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp càng phải chú trọng hơn nữa trong các quyết định của mình Nó đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới hệ thống công cụ quản lý kinh tế Việc phân tích hoạt động kinh

tế đã giúp cho các nhà quản lý phần nào để thực hiện được công việc khó khăn đó

Trang 2

Chương 1 : Đánh giá chung tình hình sản xuất kinh doanh

§1 - Mục đích, ý nghĩa

1.1 Ý nghĩa

Hoạt động sản xuất kinh doanh là hoạt động tạo ra sản phẩm, doanh thu và lợi nhuận chủ yếu cho doanh nghiệp Với mục đích tạo ra nhiều lợi nhuận và lợi nhuận ngày càng tăng, các doanh nghiệp thuộc các loại hình và các hình thức sở hữu khác nhau hoạt động trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Nếu không tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp sẽ không bù đắp được chi phí bỏ ra, không có nguồn tích luỹ để tái sản xuất mở rộng, không đóng góp được cho ngân sách nhà nước, không tạo được công ăn việc làm cho người lao động và cũng không bảo đảm thu nhập cho người lao động cũng như cho các chủ sở hữu Do đó, nếu không tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp sẽ không có cơ sở để tồn tại và phát triển, không có điều kiện đóng góp cho xã hội

Hoạt động này chứa đựng trong mình các hoạt động cung cấp, sản xuất và tiêu thụ Các hoạt động này được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục, đan xen và kế tiếp nhau tạo nên hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thông qua hoạt động kinh doanh, vốn của doanh nghiệp biến đổi cả về hình thái và giá trị Theo nguyên tắc kinh doanh, số vốn của doanh nghiệp sẽ lớn lên sau một quá trình hoạt động, doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận, bù đắp được hao phí bỏ ra, có điều kiện đóng góp, tích luỹ và tái sản xuất mở rộng

Thông qua việc đánh giá chung tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh các nhà quản lý sẽ thấy được sự biến động của các chỉ tiêu giữa các kỳ, chỉ tiêu nào biến động mạnh nhất, chỉ tiêu nào biến động ít nhất, tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước ra sao Từ những phân tích đó sẽ phát hiện ưu nhược điểm, những mất cân đối trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, phát hiện những khả năng tiềm tàng về các yếu tố lao động chưa được sử dụng Qua phân tích sẽ thấy doanh nghiệp có hoàn thành kế hoạch đưa ra hay không, xu thế phát triển của doanh nghiệp như thế nào nên mở rộng hay thu hẹp, tốt hay xấu Từ đó đề ra các biện pháp nâng cao, cải thiện tình hình sản xuất kinh doanh

2

Trang 3

1.2 Mục đích

- Đánh giá khái quát tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Xác định sự biến động của các chỉ tiêu giá trị sản xuất, lao động tiền lương, tài chính, nghĩa vụ với ngân sách

- Đi sâu phân tích chi tiết từng chỉ tiêu, các nguyên nhân dẫn tới sự biến động của chỉ tiêu, đánh giá xem nguyên nhân đó là chủ quan hay khách quan, mang tính tích cực hay tiêu cực

- Đề ra biện pháp khai thác các khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp, nâng cao giá trị sản xuất và chất lượng sản phẩm, tổ chức tốt công tác lao động tiền lương, thực hiện tốt nghĩa vụ với nhà nước

§2 Các phương pháp phân tích.

2.1 Phương pháp so sánh:

- So sánh là phương pháp được dùng rất phổ biến trong phân tích để đánh giá kết quả kinh doanh Kết quả so sánh sẽ cho ta biết xu hướng ,tốc độ phát triển của hiện tượng kinh tế, mức độ tiên tiến , lạc hậu giữa các đơn vị sản xuất, tỷ trọng cá thành phần trong tổng thể

Có các loại so sánh sau đây:

+ So sánh bằng số tuyệt đối: phản ánh qui mô, khối lượng mà doanh nghiệp đạt, vượt hay hụt của chỉ tiêu kinh tế giữa hai kỳ biểu hiện bằng tiền, hiện vật, giờ công

Công thức xác định: ∆y = y1 - y0

∆y: Chênh lệch tuyệt đối của chỉ tiêu hai kỳ

y1: Giá trị của chỉ tiêu ở kỳ nghiên cứu

y0: Giá trị của chỉ tiêu ở kỳ gốc

- So sánh bằng số tương đối: phản ánh kết cấu, mối quan hệ tổng thể, tốc độ phát triển, tốc độ phát triển, trình độ phổ biến của chỉ tiêu kinh tế Trong phân tích thường sử dụng các loại số tương đối sau:

- Số tương đối kế hoạch: Dùng để đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch của chỉ tiêu nào đó

Trang 4

Dạng đơn giản: KKH =

KH

1

yy

Dạng liên hệ:

Mức biến động tương đối = y1- yKH * Chỉ số liên hệ (hoặc hệ số tính chuyển)

Hệ số tính chuyển= mức độ của chỉ tiêu liên hệ kỳ thực hiện/ mức độ của chỉ tiêu liên hệ kỳ gốc

- Số tương đối động thái: Dùng để xác định tốc độ phát triển, xu hướng biến đổi của hiện tượng qua thời gian

%

*100

y

y t0

y

y d

2.2 Phương pháp chi tiết

a Phương pháp chi tiết theo thời gian:

Tiến hành chi tiết chỉ tiêu nghiên cứu theo các khoảng thời gian nhỏ hơn đó

là chi tiết chỉ tiêu năm thành từng tháng, quí, giờ tùy theo điều kiện có thể và ý

4

Trang 5

nghĩa của chỉ tiêu đó, kết quả kinh doanh là kết quả của một quá trình do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau mức độ thực hiện trong từng đơn

vị thời gian không đồng đều vì vậy ta chi tiết theo thời gian giúp cho việc đánh giá kết quả kinh doanh được sát, đúng và tìm được các giải pháp có hiệu quả cho sản xuất kinh doanh Từ việc nghiên cứu hiện tượng kinh tế theo thời gian ta có thể rút

ra được một vài qui luật nào đó theo thời gian

b Phương pháp chi tiết theo địa điểm

Kết quả hoạt động của một đơn vị ta nghiên cứu là kết quả tổng hợp hoạt động của các đơn vị thành phần tạo nên Ví dụ số lượng sản phẩm của toàn doanh nghiệp là tổng cộng số lượng sản phẩm của các bộ phận, phân xưởng sản xuất thành phần

Khi chi tiết kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một đơn vị sản xuất theo các đơn vị thành phần sẽ cho phép ta đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động của mỗi đơn vị thành phần Mặt khác, kết quả hoạt động của mỗi đơn vị do những nguyên nhân khác nhau, tác động không giống nhau Mọi điều kiện về tổ chức, kỹ thuật của mỗi đơn vị không giống nhau, nên biện pháp khai thác các tiềm năng ở các đơn vị không thể như nhau, cần phải chi tiết để có những biện pháp riêng phù hợp với từng đơn vị riêng biệt

Tác dụng nữa của chi tiết theo địa điểm là qua phân tích ta tìm được những điển hình, từ đó rút kinh nghiệm cho những đơn vị khác Đồng thời xác định được mức độ hợp lý trong việc phân phối nhiệm vụ giữa các đơn vị

Ví dụ sản lượng xếp dỡ của xí nghiệp có thể chi tiết theo các tàu, các đội công nhân các loại thiết bị xếp dỡ chính

c Phương pháp chi tiết theo các bộ phận cấu thành chỉ tiêu

Ta biết rằng các chỉ tiêu kinh tế phát sinh, biến động không phải một cách ngẫu nhiên, tách rời các chi tiết khác mà chúng có liên hệ phụ thuộc lẫn nhau theo những qui luật nhất định Chi tiết chỉ tiêu theo các bộ phận hợp thành cho ta biết rõ kết quả của chỉ tiêu nghiên cứu được tạo ra do tác động của bộ phận nào; chỉ tiêu nào Mỗi bộ phận hợp thành có những xu hướng biến động riêng và chịu tác động của những nguyên nhân riêng Cần phải chi tiết theo các bộ phận để nghiên cứu sâu

ở mỗi bộ phận để nghiên cứu sâu ở mỗi bộ phận ta coi đó là các nhân tố - các chỉ

Trang 6

tiêu cá biệt ảnh hưởng đến chỉ tiêu tổng thể đang nghiên cứu Ví dụ khi nghiên cứu chi phí sản xuất ta dùng chỉ tiêu giá thành và chi tiết chỉ tiêu giá thành theo các khoản mục chi phí, yếu tố chi phí

Tóm lại phương pháp chi tiết có 3 hình thức, các hình thức này bổ sung cho nhau Trong phân tích muốn đạt yêu cầu toàn diện và triệt để ta cần sử dụng đồng thời ha hình thức này Chỉ tiêu nghiên cứu càng được chi tiết nhiều, liên tục thì sự phân tích càng sâu sắc và đầy đủ

2.3 Phương pháp cân đối

- Là phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu nghiên cứu khi các nhân tố có mối quan hệ tổng hoặc hiệu

Khi xác định độ ảnh hưởng tuyệt đối của nhân tố nào thì đúng bằng chênh lệch giữa giá trị kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc của nhân tố đó

- Khái quát: Giả sử chỉ tiêu y có quan hệ với các nhân tố ảnh hưởng theo công thức

Y = a + b - c+ Giá trị của chỉ tiêu ở kỳ gốc y0 = a0 + b0 - c0

+ Giá trị của chỉ tiêu ở kỳ nghiên cứu y1 = a1 + b1 - c1

+ Xác định đối tượng phân tích: Là chênh lệch của chỉ tiêu giữa hai kỳ

∆y = y1 - y0+ Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích

- Ảnh hưởng của nhân tố a→ y

Ảnh hưởng tuyệt đối: ∆ya = a1- a0

Ảnh hưởng tương đối:

100 y

y y

- Ảnh hưởng của nhân tố b→ y

Ảnh hưởng tuyệt đối: ∆yb = b1- b0

Ảnh hưởng tương đối:

100 y

y y

- Ảnh hưởng của nhân tố c→ y

Ảnh hưởng tuyệt đối: ∆yc = c1- c0

6

Trang 7

Ảnh hưởng tương đối:

100 y

y y

Tỷ trọng (%)

Qui mô

Tỷ trọng (%)

1 Nhân tố thứ 1 a0 da0 a1 da1 δa ∆a δya

2 Nhân tố thứ 2 b0 db0 b1 db1 δb ∆b δyb

3 Nhân tố thứ 3 c0 dc0 c1 dc1 δc ∆c δcc

Tổng thể y0 100 y1 100 δy ∆y

Trang 8

PHẦN II : NỘI DUNG PHÂN TÍCH Chương 1 : Đánh giá chung tình hình sản xuất kinh doanh

§1 - Mục đích, ý nghĩa

1.1 Ý nghĩa

Hoạt động sản xuất kinh doanh là hoạt động tạo ra sản phẩm, doanh thu và lợi nhuận chủ yếu cho doanh nghiệp Với mục đích tạo ra nhiều lợi nhuận và lợi nhuận ngày càng tăng, các doanh nghiệp thuộc các loại hình và các hình thức sở hữu khác nhau hoạt động trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Nếu không tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp sẽ không bù đắp được chi phí bỏ ra, không có nguồn tích luỹ để tái sản xuất mở rộng, không đóng góp được cho ngân sách nhà nước, không tạo được công ăn việc làm cho người lao động và cũng không bảo đảm thu nhập cho người lao động cũng như cho các chủ sở hữu Do đó, nếu không tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp sẽ không có cơ sở để tồn tại và phát triển, không có điều kiện đóng góp cho xã hội

Hoạt động này chứa đựng trong mình các hoạt động cung cấp, sản xuất và tiêu thụ Các hoạt động này được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục, đan xen và kế tiếp nhau tạo nên hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thông qua hoạt động kinh doanh, vốn của doanh nghiệp biến đổi cả về hình thái và giá trị Theo nguyên tắc kinh doanh, số vốn của doanh nghiệp sẽ lớn lên sau một quá trình hoạt động, doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận, bù đắp được hao phí bỏ ra, có điều kiện đóng góp, tích luỹ và tái sản xuất mở rộng

Thông qua việc đánh giá chung tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh các nhà quản lý sẽ thấy được sự biến động của các chỉ tiêu giữa các kỳ, chỉ tiêu nào biến động mạnh nhất, chỉ tiêu nào biến động ít nhất, tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước ra sao Từ những phân tích đó sẽ phát hiện ưu nhược điểm, những mất cân đối trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, phát hiện những khả năng tiềm tàng về các yếu tố lao động chưa được sử dụng Qua phân tích sẽ thấy doanh nghiệp có hoàn thành kế hoạch đưa ra hay không, xu thế phát triển của doanh

8

Trang 9

nghiệp như thế nào nên mở rộng hay thu hẹp, tốt hay xấu Từ đó đề ra các biện pháp nâng cao, cải thiện tình hình sản xuất kinh doanh.

1.2 Mục đích

- Đánh giá khái quát tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Xác định sự biến động của các chỉ tiêu giá trị sản xuất, lao động tiền lương, tài chính, nghĩa vụ với ngân sách

- Đi sâu phân tích chi tiết từng chỉ tiêu, các nguyên nhân dẫn tới sự biến động của chỉ tiêu, đánh giá xem nguyên nhân đó là chủ quan hay khách quan, mang tính tích cực hay tiêu cực

- Đề ra biện pháp khai thác các khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp, nâng cao giá trị sản xuất và chất lượng sản phẩm, tổ chức tốt công tác lao động tiền lương, thực hiện tốt nghĩa vụ với nhà nước

§2 – Phân tích

2.1 Lập bảng phân tích

Trang 10

BẢNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH

3 Chi tiêu tài chính

Trang 11

- Về lao động tiền lương: các chỉ tiêu đều tăng giá trị trong đó chỉ tiêu năng suất lao động tăng mạnh nhất, vượt 8,69% so với kỳ gốc; chỉ tiêu tăng ít nhất là tổng số lao động đạt 100,98% so với kỳ gốc Ta thấy chỉ tiêu tiền lương bình quân tăng không nhiều nhưng trong kỳ nghiên cứu, tốc độ tăng năng suất lao động nhiều hơn tốc độ tăng của tiền lương bình quân, điều này đã cho thấy mức

độ hợp lý trong quá trình sử dụng lao động của doanh nghiệp Các chỉ tiêu thuộc nhóm lao động tiền lương đều tăng giá trị so với kỳ gốc do một số nguyên nhân chủ yếu như doanh nghiệp tuyển dụng thêm lao động, công suất hoạt động của máy móc thiết bị trong quá trình sản xuất tăng lên, công tác tổ chức sản xuất của doanh nghiệp được cải thiện

- Về các chỉ tiêu tài chính: trong năm qua, các chỉ tiêu này đều tăng giá trị trong đó, lợi nhuận tăng 106,3% so với năm trước Qua bảng phân tích số liệu về chỉ tiêu tài chính, ta thấy tổng chi phí của doanh nghiệp trong năm qua có tăng lên nhưng tốc độ tăng của chi phí lớn hơn tốc độ tăng của doanh thu Điều này đã cho thấy tình hình quản lý, sử dụng tài chính của doanh nghiệp chưa đạt được hiệu quả tối ưu

- Trong quan hệ với ngân sách: các chỉ tiêu đều tăng trong đó thuế TNDN

là nhân tố tăng mạnh nhất, bằng 106,3% kỳ gốc Vì doanh thu cũng như lợi nhuận của doanh nghiệp đều tăng giá trị nên giá trị của thuế VAT và thuế TNDN nộp cho Nhà nước đều tăng Điều này cho thấy doanh nghiệp thực hiện tốt nghĩa

vụ của mình với ngân sách Nhà nước

Như vậy, nhìn chung tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong năm qua đạt kết quả tốt Mặc dù nền kinh tế đang trong giai đoạn khó khăn với lạm phát xảy ra nhưng với chính sách quản lý, tổ chức sản xuất phù hợp,

Trang 12

doanh nghiệp vẫn đạt được sự khả quan về tình hình sản xuất kinh doanh Để thấy rõ hơn tình hình sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp ta tiến hành phân tích chi tiết từng chỉ tiêu mà doanh nghiệp đã đạt được.

2.3 Phân tích chi tiết

2.3.1 Giá trị sản xuất

Kỳ nghiên cứu, giá trị sản xuất của doanh nghiệp là 258.697.987 nghìn đồng đạt 109,75% so với kỳ gốc 235.714.613 nghìn đồng Tức là giá trị sản xuất tăng 9,75% tương ứng với 22.983.374 nghìn đồng Giá trị sản xuất của doanh nghiệp tăng lên ở kỳ nghiên cứu do một số nguyên nhân sau:

Nguyên nhân khách quan

- Do nhu cầu về sản phẩm của doanh nghiệp tăng cao, tính chất sản phẩm của doanh nghiệp được sử dụng chủ yếu vào mùa lạnh Mà năm nay, thời tiết lạnh kéo dài, khiến cho nhu cầu sử dụng sản phẩm của người tiêu dùng tăng cao Hơn thế nữa, thời tiết lạnh không chỉ ảnh hưởng ở miền bắc mà còn ảnh hưởng đến một số tỉnh miền nam Nắm bắt được cơ hội, doanh nghiệp đã mở rộng thị trường sang thị trường miền nam, đưa vào các sản phẩm loại phù hợp với thời tiết chỉ hơi se lạnh trong này Và đã nhận được những phản hồi tích cực từ phía khách hàng về chất lượng sản phẩm Đây là một nguyên nhân tích cực ảnh hưởng tốt đến giá trị sản xuất của doanh nghiệp

- Nguyên nhân khách quan thứ hai giúp giá trị sản xuất của doanh nghiệp tăng hơn kỳ gốc là do các chính sách hỗ trợ của Nhà nước Nền kinh tế quốc dân đang gặp khó khăn đã ảnh hưởng khá lớn tới khả năng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp như vấn đề vay thêm vốn để sản xuất kinh doanh hay nguồn vật

tư cung ứng khan hiếm …Đứng trước những khó khăn của nền kinh tế, Nhà nước

đã đưa ra một số chính sách nhằm hỗ trợ, khuyến khích thị trường như chính sách

hỗ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp, chính sách kích cầu tiêu dùng Điều này đã tạo điều kiện rất lớn cho các doanh nghiệp có thể vay thêm vốn để tiến hành sản xuất, mua nguyên liệu đầu vào Với chính sách kích cầu tiêu dùng của Nhà nước

đã giúp cho sức mua của người tiêu dùng được tăng lên, nhu cầu về sản phẩm của

12

Trang 13

họ tăng cao Đây là một nguyên nhân mang tính tích cực bởi những chính sách này đã hỗ trợ rất nhiều cho các doanh nghiệp.

- Tình hình cạnh tranh ngày càng phức tạp Trên thị trường xuất hiện một

số loại sản phẩm có mẫu mã tương tự và gía cả cạnh tranh với sản phẩm của doanh nghiệp Chiến lược quảng cáo của các doanh nghiệp này vô cùng đa dạng

và được đầu tư cẩn thận, điều này đã khiến cho doanh nghiệp bị mất một số thị trường Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực ảnh hưởng đến giá trị sản xuất của doanh nghiệp

Nguyên nhân chủ quan

- Quá trình cung ứng nguyên vật liệu cho sản xuất được doanh nghiệp đảm bảo hơn cả về mặt số lượng và chất lượng Doanh nghiệp tìm được một số nhà cung ứng nguyên nhiên vật liệu mới có chất lượng tốt, khả năng cung ứng nguyên vật liệu ổn định Nguồn nguyên vật liệu ổn định, quá trình sản xuất được diễn ra liên tục, không còn tình trạng bị ngắt quãng như năm trước Đây là một nguyên nhân có ảnh hưởng tích cực đến giá trị sản suất

- Cộng với việc có được nguồn nguyên vật liệu chất lượng tốt, doanh nghiệp còn bổ sung một số trang thiết bị mới hiện đại, đảm bảo chất lượng cho sản phẩm đầu ra, giảm tỷ lệ sản phẩm lỗi, hỏng Nhờ đó mà giá trị sản xuất trong năm nay tăng lên

- Song song với việc tăng chất lượng đầu vào chung cho tất cả sản phẩm thì có một loại sản phẩm đang ở giai đoạn suy thoái trong chu kỳ sống sản phẩm Doanh nghiệp đã quyết định ngừng sản xuất sản phẩm này, vì vậy giá trị sản xuất của sản phẩm này giảm mạnh so với kỳ trước, làm cho giá trị sản xuất chung của doanh nghiệp giảm Đây là một yếu tố có ảnh hưởng tiêu cực đến giá trị sản xuất chung của doanh nghiệp trong năm nay

Giá trị sản xuất là một chỉ tiêu quan trọng, qua chỉ tiêu này các nhà quản

lý sẽ thấy được kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình như thế nào Trong năm qua, giá trị sản xuất của doanh nghiệp đạt được kết quả tốt, khả quan

Để duy trì và tăng cao hơn nữa giá trị sản xuất của mình trong những năm tiếp theo, doanh nghiệp cần quan tâm hơn nữa tới quá trình cung ứng cũng như dự trữ nguồn nguyên vật liệu một cách hợp lý, đầy đủ Doanh nghiệp nên có một số

Trang 14

chính sách như thưởng, trợ cấp cho bộ phận nhân viên thu mua nguyên vật liệu đầu vào để họ làm tốt hơn nữa công việc của mình Bộ phận nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp phải thường xuyên tiến hành điều tra xem thị hiếu, nhu cầu của người tiêu dùng như thế nào để giúp các nhà quản lý có thể đưa ra được những quyết định sản xuất tốt hơn nữa

Tóm lại, kỳ nghiên cứu, giá trị sản xuất của doanh nghiệp có xu hướng biến động tăng và đây là dấu hiệu tốt của doanh nghiệp khi nền kinh tế đang trong giai đoạn khó khăn

2.3.2 Lao động tiền lương

a) Tổng số lao động

Trong kỳ nghiên cứu, số lượng lao động của doanh nghiệp là 722 người, tăng 7 người so với kỳ gốc 715 người, tương đương với mức tăng 0,98% Ta thấy rằng, số lượng lao động của doanh nghiệp tăng không nhiều nhưng cũng đáp ứng

đủ khối lượng công việc được giao

Tổng số lao động của doanh nghiệp tăng lên trong kỳ nghiên cứu do một

số nguyên nhân sau:

Nguyên nhân khách quan

- Trong kỳ nghiên cứu một số lao động được doanh nghiệp cử đi học tập, nghiên cứu từ những năm trước trở về, làm cho tổng số lao động tăng lên Những lao động này trở về đã giúp cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp được tiếp cận với một số tiến bộ về khoa học, kỹ thuật Mặt kỹ thuật trong quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm được thực hiện dễ dàng hơn Doanh nghiệp có thể sản xuất được một số sản phẩm có độ tinh xảo với kỹ thuật khó hơn Việc một số lao động tham gia học tập, nghiên cứu trở về mang tính tích cực đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Nguyên nhân chủ quan

- Doanh nghiệp quyết định tuyển dụng thêm một số công nhân với bậc thợ cao để khắc phục tình trạng thiếu nguồn lao động chất lượng đồng thời đáp ứng được kế hoạch tăng khối lượng sản xuất trong kỳ nghiên cứu Đây là những công nhân được trang bị tốt về mặt kỹ thuật, tay nghề cao, nhiều năm kinh nghiệm nên trong quá trình làm việc của họ có thể giúp đỡ, chỉ bảo cho các công nhân khác

14

Trang 15

giúp họ hoàn thành tốt công việc được giao Không chỉ vậy, việc doanh nghiệp tuyển dụng thêm một số thợ bậc cao đã giúp cho chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp được đảm bảo Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực.

- Một số công nhân lành nghề có nhiều kinh nghiệm sản xuất nhưng đã đến tuổi nghỉ hưu nên doanh nghiệp ra quyết định cho họ về hưu Điều này khiến cho tổng số lượng công nhân và chất lượng lao động chung của toàn doanh nghiệp giảm Như vậy đây là một yếu tố có tác động tiêu cực đến doanh nghiệp

Với việc tuyển dụng thêm các thợ bậc cao từ bên ngoài có ưu điểm vì đây

là những người được trang bị kiến thức có hệ thống Họ là những người có cái nhìn mới về tổ chức và có khả năng làm thay đổi cách làm cũ của phân xưởng sản xuất mà không sợ những công nhân trong phân xưởng phản ứng Để khai thác tốt những khả năng này, doanh nghiệp nên đưa ra các chính sách khuyến khích công nhân bằng vật chất, có chế độ khen thưởng hợp lý Ngoài ra với các công nhân trực tiếp sản xuất làm việc với chất lượng, hiệu quả công việc cao thì doanh nghiệp có thể ký hợp đồng làm việc lâu dài, điều đó sẽ giúp họ an tâm làm việc, tạo điều kiện rèn luyện nâng cao kỹ năng, kỹ xảo làm việc và gắn bó hết lòng với sự phát triển của doanh nghiệp Về phía doanh nghiệp sẽ có một nguồn công nhân sản xuất ổn định, trung thành Kinh nghiệm của lực lượng này sẽ trở thành tài sản quý báu của doanh nghiệp để có thể khai thác tối đa tiềm năng của

họ trong suốt thời gian làm việc

- Trong kỳ nghiên cứu, doanh nghiệp đồng ý nhận một số nhân viên từ doanh nghiệp khác chuyển sang để bổ sung vào những vị trí còn trống thuộc bộ phận lao động gián tiếp Việc làm này của doanh nghiệp làm tăng tổng số lao động nhưng không góp phần làm tăng khối lượng sản phẩm được sản xuất ra Những vị trí trống đó không có yêu cầu quá cao về tính chất công việc Bên cạnh

đó, việc nhận những nhân viên của doanh nghiệp khác vào làm ở các bộ phận gián tiếp có thể gây ra tâm lý thất vọng cho những người làm trong doanh nghiệp

vì họ không có cơ hội để làm những vị trí khác nhau để thể hiện năng lức của mình Đây là một nguyên nhân chủ quan mang tính tiêu cực vì ngoài việc tạo tâm

lý thất vọng cho một bộ phận nhân viên trong công ty thì còn ảnh hưởng tới thời

Trang 16

gian làm việc vì những người mới phải mất một thời gian để quen với công việc

và lòng trung thành của họ chưa được thử thách

Để khắc phục hạn chế ở bộ phận lao động gián tiếp này, doanh nghiệp có thể tiến hành tuyển dụng nhân viên bộ phận lao động gián tiếp từ chính nguồn nhân lực bên trong của mình Doanh nghiệp có thể dựa vào năng lực của các thành viên trong tổ chức để có kế hoạch nhân sự phù hợp với năng lực của từng người Những người với năng lực làm việc tốt có thể đề bạt lên vị trí cao hơn, thuyên chuyển một số nhân viên vào các vị trí còn trống với yêu cầu tính chất công việc không cao thì một người có thể làm được công việc của hai vị trí Khi tuyển dụng nguồn nhân lực trong tổ chức sẽ tạo động cơ tốt cho tất cả những người đang làm việc trong doanh nghiệp vì họ biết họ sẽ được lựa chọn vào những vị trí cao, phù hợp với khả năng của mình Do đó, họ sẽ làm việc với động lực mới, thúc đẩy quá trình làm việc tốt hơn, tăng sự thoả mãn với công việc, tăng lòng trung thành và tình cảm với tổ chức Ngoài ra, việc làm này còn làm giảm chi phí tuyển dụng cho doanh nghiệp, thời gian làm việc không bị gián đoạn

b) Năng suất lao động

Năng suất lao động trong kỳ được tính theo công thức sau:

Trong kỳ nghiên cứu, năng suất lao động là 358.307 nghìn đồng/người, tăng lên 28.636 nghìn đồng/ người, tức là là hơn 8,69% so với kỳ gốc Có thể nói, năng suất lao động là một nhân tố hết sức quan trọng ảnh hưởng đến kết quả sản xuất Năng suất lao động là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả có ích của lao động và là chỉ tiêu phản ánh chất lượng lao động cũng như kết quả tổ chức và quản lý lao động của doanh nghiệp

Năng suất lao động trong kỳ của doanh nghiệp tăng lên do một số nguyên nhân sau:

Nguyên nhân khách quan

Năng suất lao động = Giá trị sản xuất

Tổng số lao động

16

Trang 17

- Trong năm qua, đơn vị cung ứng nguyên vật liệu đầu vào cho doanh nghiệp thực hiện tương đối tốt hợp đồng đã thảo thuận với doanh nghiệp Đơn vị cung ứng vật tư đúng số lượng, đúng thời hạn với chất lượng tốt Điều này có tác động tốt đến quá trình sản xuất của doanh nghiệp Việc sản xuất không bị gián đoạn vì thiếu nguyên vật liệu, chất lượng vật tư tốt còn giúp giảm thời gian lãng phí trong quá trình làm việc, hạn chế được tỷ lệ sản phẩm sai hỏng Với tác động tích cực như vậy, doanh nghiệp trong những năm tiếp theo phải cố gắng giữ vững hợp đồng với đơn vị cung ứng vật tư, thực hiện việc thanh toán đúng thời hạn Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải tích cực tìm kiếm những nguồn cung ứng nguyên vật liệu có thể thay thế cho nguyên vật liệu đang sử dụng sản xuất để tránh tình trạng khi nguồn vật tư trở nên khan hiếm có thể gây khó khăn cho quá trình sản xuất thì doanh nghiệp đã có những nguồn nguyên liệu thay thế mới Đây

là nguyên nhân khách quan mang tính tích cực

Nguyên nhân chủ quan

- Trong kỳ nghiên cứu, doanh nghiệp đã đầu tư thêm máy móc thiết bị Với việc đầu tư thêm máy móc thiết bị, doanh nghiệp tiến hành hiện đại hoá dây chuyền sản xuất, tăng mức độ cơ giới hoá cho người lao động Dây chuyền sản xuất được hiện đại hoá, số lượng máy móc tăng thêm đã tác động tích cực tới khối lượng sản phẩm được sản xuất của doanh nghiệp Nguyên nhân này góp phần làm tăng năng suất lao động trong kỳ của doanh nghiệp Không chỉ vậy, việc đầu tư thêm máy móc thiết bị còn phù hợp khi trong kỳ doanh nghiệp mới tuyển dụng thêm một số công nhân bậc cao và một số lao động của doanh nghiệp tham gia học tập, nghiên cứu trở về Họ sẽ là lực lượng khai thác tốt năng lực sản xuất của các loại máy móc hiện đại Từ đó giúp làm nâng cao giá trị sản xuất của doanh nghiệp trong kỳ Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực

- Mặc dù, số lượng máy móc và mức độ hiện đại hoá của dây chuyền sản xuất được nâng cao nhưng trong bộ phận công nhân vẫn còn tồn tại những nhóm công nhân không sử dụng thuần thục các thao tác với máy móc thiết bị Tuy đây chỉ là một nhóm nhỏ công nhân và năng suất lao động nói chung trong kỳ nghiên cứu của doanh nghiệp tăng nhưng đây vẫn là một nhân tố mang tính tiêu cực Bởi nếu tình trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm, năng suất lao

Trang 18

động bị giảm sút đồng thời các công nhân không theo kịp tiến độ công việc họ sẽ cảm thấy chán nản, không có hứng thú trong công việc nữa Do đó, bộ phận quản đốc nên chú ý hơn tới nhóm công nhân này, đồng thời nên cử một số công nhân thực hiện thuần thục các thao tác sản xuất, am hiểu về máy móc sang cùng tổ với những công nhân này để giúp họ trong quá trình sản xuất Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tiêu cực.

- Nguyên nhân tiếp theo tác động tới năng suất lao động chính là công tác

tổ chức nơi làm việc của doanh nghiệp trong năm qua đã có nhiều tiến bộ Dụng

cụ làm việc được sắp xếp gọn gàng, có khoa học, được phân loại một cách hợp lý

đã giúp cho quá trình sản xuất tiết kiệm được thời gian lãng phí, giảm thiểu các thao tác thừa khiến cho năng suất lao động tăng lên Điều kiện làm việc tại phân xưởng kỳ nghiên cứu được cải thiện Hệ thống đèn chiếu sáng được lắp đặt lại với chất lượng ánh sáng tốt hơn tạo điều kiện thuận lợi cho công nhân trong quá trình làm việc Không chỉ vậy, tiếng ồn được giảm thiểu vì máy móc được bảo dưỡng, mua mới nên công nhân đã giảm bớt sự căng thẳng và khó chịu từ tiếng

ồn của máy móc thiết bị Những điều kiện làm việc thuận lợi hơn so với kỳ gốc

đã giúp năng suất lao động tăng lên Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực

Năng suất lao động tăng thể hiện nỗ lực của doanh nghiệp trong năm qua Với kết quả đạt được, doanh nghiệp nên tiếp tục tạo điều kiện hơn nữa tới tình hình sản xuất, duy trì thường xuyên việc bảo dưỡng máy móc thiết bị vì đây là một yếu tố quan trọng của quá trình sản xuất Bên cạnh đó đẩy mạnh công tác tổ chức sản xuất, có sự phân công lao động hợp lý Quan tâm tới vấn đề nguyên vật liệu, bảo quản tốt để tránh tình trạng chất lượng vật tư đầu vào bị giảm, ảnh hưởng tới các công đoạn sản xuất

c) Tổng quỹ lương.

Trong kỳ nghiên cứu, tổng quỹ lương của doanh nghiệp tăng 2.113.560 nghìn đồng, đạt 106,29% so với kỳ gốc, tức là tăng 6,29%

Tổng quỹ lương trong kỳ của doanh nghiệp được xác định như sau:

Tổng quỹ lương = Tổng số lao động x Tiền lương bình quân x 12 tháng.Tổng quỹ lương tăng lên do một số nguyên nhân sau:

18

Trang 19

Nguyên nhân khách quan

- Trong năm qua, Nhà nước quyết định tăng mức lương cơ bản làm tăng tổng quỹ lương của doanh nghiệp Quyết định tăng mức lương cơ bản làm cho thu nhập của người lao động được tăng lên, nhu cầu tiêu dùng hàng hoá cũng tăng theo Đây cũng là một nhân tố làm cho lượng hàng tiêu thụ của các doanh nghiệp tăng lên Nhưng kéo theo đó là tỷ lệ lạm phát cũng sẽ cao hơn, bởi khi mức lương cơ bản tăng thì các mặt hàng trên thị trường tất yếu tăng giá Mặc dù, nhân tố này làm tăng lương cho người lao động cũng như lượng hàng tiêu thụ của các doanh nghiệp nhưng lại kéo theo là tỷ lệ lạm phát tăng cao ảnh hưởng không tốt tới tình hình sản xuất của doanh nghiệp Như vậy, đây là một nguyên nhân khách quan mang tính tiêu cực

- Hệ số cấp bậc của người lao động sẽ tăng lên theo thời gian làm việc của

họ nên lương của người lao động sẽ tăng lên theo hệ số cấp bậc lương Trong kỳ, một số lao động của doanh nghiệp đến hạn tăng hệ số cấp bậc lương nên đã làm cho tổng quỹ lương của doanh nghiệp tăng lên Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tích cực

Nguyên nhân chủ quan

- Trong kỳ nghiên cứu, số lượng lao động của doanh nghiệp tăng lên, điều này chắc chắn làm cho tổng quỹ lương tăng lên

Đối với bộ phận trực tiếp sản xuất, trong kỳ, doanh nghiệp đã tuyển thêm một số công nhân, quản đốc phân xưởng và một số công nhân tham gia học tập, nghiên cứu trở về nên chi phí tiền lương cho bộ phận này tăng lên Tuy nhiên, các công nhân được tuyển dụng đợt này đều là các thợ giỏi kết hợp với các công nhân mới tham gia học tập về đã giúp cho khối lượng sản phẩm tạo ra trong kỳ cao hơn kỳ trước Hình thức trả lương cho bộ phận này là tính theo sản phẩm nên mặc dù chi phí lương có tăng lên nhưng đây là điều tốt vì số lượng công nhân tăng lên đồng thời khối lượng cũng như năng suất lao động của doanh nghiệp được nâng cao Đây là một nhân tố tích cực đã cho thấy việc tăng số lượng công nhân sản xuất của doanh nghiệp là hợp lý

Với bộ phận lao động gián tiếp, doanh nghiệp áp dụng hình thức trả lương theo thời gian Đây là một hình thức trả lương cho người lao động căn cứ vào

Trang 20

trình độ và thời gian công tác của họ Trong kỳ, doanh nghiệp đã nhận một số nhân viên từ doanh nghiệp khác sang làm việc tại các vị trí trống Điều này làm tăng quỹ lương cho bộ phận lao động gián tiếp Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực.

- Kết cấu lao động có mức lương khác nhau thay đổi Vì trong kỳ, số lượng lao động chất lượng cao của doanh nghiệp tăng lên nên đã làm cho kết cấu lao động theo mức lương thay đổi, tỷ lệ lao động có mức lương cao tăng lên so với kỳ gốc Do đó đã tác động tới tổng quỹ lương của doanh nghiệp Đây là một nhân tố tích cực vì qua đó ta thấy chất lượng lao động của doanh nghiệp đã được nâng lên Ngoài ra, doanh nghiệp quyết định tăng lương cho người lao động vì giá cả thị trường leo thang Nguyên nhân này làm cho tổng chi phí về tiền lương của doanh nghiệp tăng lên nhưng lại khuyến khích người lao động vì họ thêm thu nhập có thể đảm bảo cuộc sống nên yên tâm làm việc hơn Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực

Mặc dù, tổng quỹ lương tăng có thể gây áp lực tới tổng chi phí của doanh nghiệp nhưng với hình thức trả lương phù hợp đã góp phần làm tăng giá trị sản xuất trong kỳ Với hình thức trả lương theo sản phẩm và áp dụng những mức lương khác nhau tuỳ theo trình độ của từng người, doanh nghiệp đã quán triệt nguyên tắc phân phối theo số và chất lượng lao động, gắn kết quả lao động với thu nhập của người lao động, khuyến khích nâng cao năng suất cá nhân Để phát huy những kết quả đã đạt được, trong tương lai doanh nghiệp phải xây dựng được mức sản lượng có căn cứ kỹ thuật tạo cơ sở để tính chính xác đơn giá tiền lương cho người lao động Đồng thời, doanh nghiệp cần làm tốt hơn công tác thống kê, kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm sản xuất ra và kết quả công việc tại bộ phận lao động gián tiếp

d) Tiền lương bình quân

Trong kỳ, tiền lương bình quân của mỗi lao động trong doanh nghiệp tăng thêm 206 nghìn đồng/Ng-Th, tức là tăng 5,26% so với kỳ gốc Điều này thể hiện

sự quan tâm của doanh nghiệp đối với người lao động Không chỉ vậy, tốc độ tăng năng suất trong kỳ của doanh nghiệp cao hơn tốc độ tăng về tiền lương bình

20

Trang 21

quân đã cho thấy sự hợp lý trong quá trình sử dụng lao động cũng như trả công lao động của doanh nghiệp.

Tiền lương bình quân trong kỳ của doanh nghiệp tăng lên do một số nguyên nhân sau:

Nguyên nhân khách quan

- Nhà nước thay đổi chính sách tiền lương, quyết định nâng mức lương cơ bản làm cho tổng quỹ lương của doanh nghiệp tăng lên, do đó tiền lương bình quân của người lao động cũng tăng theo Năm trước, do lạm phát tăng cao, lương của người lao động không đủ trang trải cuộc sống nên năm nay nhà nước có chính sách tăng lương Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tích cực

Nguyên nhân chủ quan

- Kết cấu sản phẩm doanh nghiệp sản xuất trong kỳ nghiên cứu có sự thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng của các sản phẩm với yêu cầu kỹ thuật phức tạp nên quỹ lương trả cho những lao động sản xuất các loại sản phẩm này tăng lên, tiền lương bình quân của họ cũng tăng theo Đây là một nguyên nhân mang tính tích cực vì doanh nghiệp đã tiến hành sản xuất những sản phẩm mang tính kỹ thuật khó hơn, đáp ứng nhu cầu ngày càng khắt khe của thị trường Không chỉ vậy, việc tiền lương bình quân của công nhân sản xuất các sản phẩm này tăng lên là một điều phù hợp với năng lúc mà họ bỏ ra và đã cho thấy chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp trong kỳ được nâng lên

- Trong kỳ doanh nghiệp nhận thấy sự cố gắng làm việc của người lao động nên đã đưa ra chính sách khuyến khích người lao động bằng chế độ tiền thưởng cho những lao động hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao Việc làm này tác động tốt tới ý thức làm việc của người lao động, tạo tinh thần hăng say sản xuất, tích cực sáng tạo trong công việc Tuy đưa ra chế độ tiền thưởng cho người lao động có làm tăng chi phí tiền lương nhưng đây là một nhân tố mang tính tích cực, tác động tốt tới kết quả sản xuất của doanh nghiệp trong kỳ

-Trong kỳ nghiên cứu, cùng với việc mở rộng thị trường doanh nghiệp đã xúc tiến ký kết được nhiều hợp đồng lớn Trong số những hợp đồng đó có phần lớn những hợp đồng có thời hạn giao hàng ngắn, tương đối gấp do nhu cầu của khách hàng về hàng hóa của doanh nghiệp trên thị trường đang tăng cao mà với

Trang 22

công suất hoạt động như kỳ gốc có thể doanh nghiệp sẽ không đủ hàng để kịp giao hàng cho khách Tuy nhiên, để giữ mối quan hệ làm ăn, doanh nghiệp vẫn chấp nhận ký kết hợp đồng và để giao hàng đúng theo hợp đồng, ngoài việc tăng

ca sản xuất, doanh nghiệp còn khuyến khích người lao động tích cực sản xuất bằng việc tăng tiền lương cho mỗi đơn vị sản phẩm sản xuất ra Do đó, tiền lương bình quân của doanh nghiệp ở kỳ nghiên cứu tăng so với kỳ gốc Việc tăng lên của tiền lương bình quân làm cho chi phí tiền lương tăng nhưng lại giúp doanh nghiệp nâng cao uy tín với khách hàng, từ đó tăng doanh thu và lợi nhuận

Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực

2.2.3 Chỉ tiêu tài chính

a) Tổng doanh thu

Kỳ nghiên cứu, tổng doanh thu của doanh nghiệp tăng 13,3% so với kỳ gốc, tương ứng với 29.950.609 nghìn đồng Chỉ tiêu này tăng so với kỳ gốc do một số nguyên nhân sau:

Nguyên nhân khách quan

- Nhu cầu trên thị thường tăng mạnh so với kỳ gốc, các sản phẩm của doanh nghiệp mở rộng được thị trường tiêu thụ vào cả trong miền Nam Điều này góp phần lớn vào việc làm tăng tổng doanh thu của doanh nghiệp trong kỳ Đây

là một nhân tố tác động tích cực tới kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Nguyên nhân chủ quan

- Chất lượng nguyên vật liệu đầu vào cao làm cho quá trình sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp không bị gián đoạn, các sản phẩm làm ra đạt chất lượng tốt, theo đúng tiêu chuẩn Vì thế, sản phẩm của doanh nghiệp được người tiêu dùng trên thị trường ưa chuộng bởi chất lượng cao Với sự có mặt tại thị trường miền Nam, khối lượng sản phẩm doanh nghiệp sản xuất trong kỳ và được tiêu thụ tăng lên, điều này góp phần làm tăng tổng doanh thu của doanh nghiệp

- Trong kỳ, doanh nghiệp tiến hành sản xuất một số sản phẩm với yêu cầu

kỹ thuật phức tạp, có tính độc đáo hơn so với các doanh nghiệp khác nên giá bán của các sản phẩm này cao Các sản phẩm này được một bộ phận người tiêu dùng

có thu nhập cao chấp nhận mua Điều này làm tăng tổng doanh thu cho doanh

22

Trang 23

nghiệp trong kỳ nghiên cứu Tuy nhiên, nhân tố này chỉ mang tính tính cực trong ngắn hạn vì các doanh nghiệp khác sẽ nhanh chóng cho ra thị trường các sản phẩm tiên tiến hơn sản phẩm đang có mặt trên thị trường của doanh nghiệp Các sản phẩm này của doanh nghiệp mới chỉ được một bộ phận người tiêu dùng thu nhập cao sử dụng mà tâm lý của nhóm khách hàng này là luôn thích các sản phẩm mới lạ Do vậy, khi các doanh nghiệp khác đưa ra các sản phẩm độc đáo, thế hệ mới hơn sản phẩm của doanh nghiệp thì lúc này doanh nghiệp sẽ mất đi một lượng khách hàng đáng kể, khối lượng tiêu thụ sẽ bị giảm sút, ảnh hưởng tới kết quả sản xuất kinh doanh Vì thế, doanh nghiệp cần tiến hành nghiên cứu để phát triển mẫu mã của sản phẩm để có thể thu hút được bộ phận người tiêu dùng thu nhập cao song song với việc đó là không ngừng nâng cao chất lượng, thêm tính năng mới cho các sản phẩm mà doanh nghiệp đang có thị trường

- Công tác tiếp thị, quảng cáo, marketing của doanh nghiệp đạt kết quả tốt

Bộ phận nghiên cứu thị trường cũng như kinh doanh đã làm tốt nhiệm vụ của mình khi bước đầu quảng bá được sản phẩm của doanh nghiệp vào thị trường trong Nam Nhiều người tiêu dùng biết đến sản phẩm của doanh nghiệp thông qua hình thức quảng cáo, tiếp thị hấp dẫn Đây là một nguyên nhân tác động tích cực tới tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Người tiêu dùng không chỉ biết đến sản phẩm của doanh nghiệp với chất lượng tốt mà còn nhờ những chính sách như chiết khấu thương mại cho nhóm khách hàng tiềm năng, những dịch vụ hậu mãi chu đáo Điều này có tác động rất tốt tới kết quả tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Doanh nghiệp bán được nhiều hàng hơn, có một lực lượng khách hàng trung thành, tăng doanh thu cũng như tăng khả năng quay vòng vốn cho doanh nghiệp Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực

Các nguyên nhân trên đều tác động tích cực tới kết quả tiêu thụ của doanh nghiệp, tổng doanh thu trong kỳ của doanh nghiệp tăng lên Do đó, để tiếp tục duy trì khả năng tiêu thụ tốt, doanh nghiệp cần phải có những kế hoạch, những quyết định chiến lược mang tính dài hạn Bộ phận nghiên cứu thị trường phải hoạt động mạnh hơn nữa để nắm bắt kịp thời những biến động về nhu cầu trên thị trường để giúp các nhà lãnh đạo đưa ra những quyết định sản xuất đúng đắn

Trang 24

Nâng cao khả năng bán hàng cho đội ngũ nhân viên để tăng khối lượng tiêu thụ Doanh nghiệp nên đưa ra những chính sách giá phù hợp với từng giai đoạn của sản phẩm Đẩy mạnh công tác chăm sóc khách hàng, tiến hành các hoạt động bảo hành, bảo trì sản phẩm với chất lượng tốt.

b) Tổng chi phí

Đây là chỉ tiêu tăng mạnh nhất trong tình hình sản xuất chung của doanh nghiệp Kỳ nghiên cứu bội chi thêm 27.500.367 nghìn đồng, tương ứng tăng 14,69% so với kỳ gốc

Chi phí của doanh nghiệp có thể chia thành các khoản mục và được xác định qua công thức sau:

ΣC = CNVL + CNC + CSXC + Cql + Cbh

Trong đó : CNVL: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

CNC : chi phí nhân công trực tiếp

CSXC: chi phí sản xuất chung

Cql : chi phí quản lý doanh nghiệp

Cbh : chi phí bán hàng

Chỉ tiêu tổng chi phí tăng lên do một số nguyên nhân sau:

Nguyên nhân khách quan

- Trong kỳ, giá nguyên vật liệu đầu vào có xu hướng tăng do nền kinh tế

có lạm phát nhẹ xảy ra Điều này ảnh hưởng không tốt tới công tác thu mua nguyên vật liệu của doanh nghiệp Các chi phí liên quan đến việc thu mua nguyên vật liệu tăng lên làm cho tổng chi phí tăng Tuy nhiên do lạm phát xảy ra nên đây là điều không tránh khỏi Trước đó, doanh nghiệp đã tiến hành tìm kiếm những nguồn nguyên vật liệu thay thế với chất lượng đảm bảo, tương đương với nguyên vật liệu cũ, do vậy, mặc dù lạm phát làm giá nguyên vật liệu đầu vào tăng lên, ảnh hưởng tới tổng chi phí là một nguyên nhân tiêu cực nhưng doanh nghiệp

đã có kế hoạch dự trữ nguồn nguyên vật liệu cũng như tìm kiếm nguồn thay thế phù hợp nên việc sản xuất không gặp nhiều khó khăn Đây là nguyên nhân tiêu cực

- Chi phí vận chuyển tăng lên do giá xăng dầu trên thế giới cũng như trong nước tăng cao Đây là một nguyên nhân mang tính tiêu cực, làm tăng tổng chi

24

Trang 25

phí, ảnh hưởng xấu tới tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì chi phí vận chuyển tăng lên sẽ làm hạn chế phạm vi tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc vận chuyển hàng hoá đi xa mà trong kỳ nghiên cứu này, các sản phẩm của doanh nghiệp được tiêu thụ vào cả thị trường trong Nam, khối lượng sản phẩm cung ứng sẽ bị hạn chế.

Nguyên nhân chủ quan

- Trong kỳ, doanh nghiệp tiến hành đầu tư thêm máy móc thiết bị Việc đầu tư này ảnh hưởng chủ yếu tới tổng chi phí trong kỳ của doanh nghiệp Tuy nhiên nhờ vào việc đầu tư thêm máy móc thiết bị đã giúp cho giá trị sản xuất của doanh nghiệp tăng lên, năng suất lao động được cải thiện Như vậy, doanh nghiệp tốn một khoản chi phí lớn cho việc đầu tư thêm máy móc thiết bị nhưng việc đầu

tư này là hiệu quả và hợp lý Ngoài ra song song với việc đầu tư thêm máy móc thiết bị, doanh nghiệp còn chi ra một khoản tiền để bảo dưỡng số máy móc hiện

có đang sử dụng cho sản xuất, hiện đại hoá dây chuyền sản xuất Nhân tố này cũng làm tăng chi phí nhưng lại tác động tốt tới tình hình sản xuất vì máy móc thiết bị làm việc tốt hơn, giảm thiểu thời gian lãng phí vì máy hỏng Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực

- Chi phí điện, nước và dịch vụ mua ngoài phục vụ cho sản xuất tăng lên trong kỳ do khối lượng hàng được sản xuất ra nhiều hơn, đòi hỏi phải tiêu tốn một lượng điên, nước cao hơn kỳ gốc Nhân tố này làm tăng tổng chi phí, mang tính tiêu cực Do đó, để hạn chế việc phát sinh những khoản chi phí này, doanh nghiệp nên quán triệt ý thức tiết kiệm điện, nước của công nhân Bộ phận sản xuất nên có định mức tiêu hao các dịch vụ mua ngoài để công nhân thực hiện Có những hình thức kỷ luật đối với những công nhân vi phạm sử dụng lãng phí điện, nước, các dịch vụ mua ngoài tại phân xưởng với mục đích không sử dụng cho sản xuất

- Chính sách trả lương cho bộ phận văn phòng còn hạn chế, vẫn tồn tại tình trạng một số người làm ít hưởng lương nhiều Tuy doanh nghiệp có sự quản

lý chặt chẽ hơn về khâu tiền lương nhưng vẫn chưa triệt để, gây lãng phí Đây là một nguyên nhân tiêu cực, làm tăng tổng quỹ lương và thể hiện sự yếu kém của doanh nghiệp trong khâu quản lý lao động gián tiếp Để tránh tình trạng này tiếp

Trang 26

diễn, các nhà quản lý doanh nghiệp phải thực hiện nghiêm các biện pháp kiểm tra kết quả làm việc của bộ phận văn phòng Đưa ra các hình thức xử phạt nghiêm khắc thậm chí là cho thôi việc đối với nhân viên nào không hoàn thành tốt nhiệm

vụ, công việc được giao phó, thái độ làm việc thiếu hợp tác, hiệu quả công việc thấp Đồng thời với khối văn phòng, doanh nghiệp nên tổ chức buổi tuyên dương khen thưởng các nhân viên làm việc xuất sắc để khích lệ họ làm việc tốt hơn, tạo không khí thi đua trong công việc giữa các thành viên

Trong kỳ, doanh nghiệp tiến hành nhiều hoạt động làm tăng tổng chi phí nhưng tốc độ tăng của chi phí lại thấp hơn tốc độ tăng của doanh thu Đây là một điều rất tốt và đã cho thấy doanh nghiệp đã bỏ ra các khoản chi phí là tương đối hợp lý

Nguyên nhân khách quan

- Kết cấu hàng bán của doanh nghiệp trong kỳ có sự thay đổi do thị hiếu của người tiêu dùng đang có xu hướng sử dụng các mặt hàng chất lượng cao, có nét độc đáo, tinh xảo, do đó tạo điều kiện cho một số hàng của doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu trên nhưng giá bán cao được tiêu thụ, làm cho lợi nhuận tăng lên Nhân tố này có tác động tích cực tới tình hình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Ngoài ra, doanh nghiệp có thêm thị trường tiêu thụ trong Nam Các sản phẩm của doanh nghiệp được người tiêu dùng trong Nam chấp nhận Đây là một nhân tố tích cực tác động làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp

Nguyên nhân chủ quan

26

Ngày đăng: 06/07/2016, 20:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH - đồ án phân tích hoạt động kinh tế
BẢNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH (Trang 10)
BẢNG PHÂN TÍCH CHỈ TIÊU DOANH THU THEO - đồ án phân tích hoạt động kinh tế
BẢNG PHÂN TÍCH CHỈ TIÊU DOANH THU THEO (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w