2.Mục đích của phân tích hoạt động kinh tế: Mục đích chung của những người làm công tác phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp gồm: - Đánh giá chung tình hình sản xuất kinh doanh ở
Trang 1Trang
LỜI MỞ ĐẦU 1
PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ §1: Mục đích chung, ý nghĩa chung của phân tích hoạt động kinh tế 2
§2: Các phương pháp phân tích sử dụng trong bài 4
PHẦN II: NỘI DUNG PHÂN TÍCH Chương I: Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu sản lượng xếp dỡ theo các chỉ tiêu sử dụng máy móc thiết bị 9
§1 : Mục đích, ý nghĩa 9
§2 : Phân tích: Lập biểu và phân tích 11
§3 : Tiểu kết 20
Chương II: Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu giá thành của xí nghiệp xếp dỡ theo khoản mục 23
§1 : Mục đích, ý nghĩa 23
§2 : Phân tích: Lập biểu và phân tích 24
§3 : Tiểu kết 37
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41
KẾT LUẬN 48
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, mọi vấn đề, mọi hiện tượng kinh tế - xã hội đều luôn luôn vận động, chúng tồn tại và phát triển trong mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại với nhau Khi mà xã hội càng phát triển thì mối quan hệ đó càng phức tạp và càng được biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau Đó là lí do vì sao mà trong mọi vấn đề khi đưa ra những quyết định thì cần phải xem xét, phải cân nhắc một cách kĩ lưỡng để có được những quyết định đúng đắn ,hợp lí và kịp thời Để làm được điều này thì chúng
ta phải có đầu óc biết phân tích và phán đoán Dễ hiểu việc phân tích các hoạt động nói chung và phân tích các hoạt động kinh tế nói riêng nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó chính là một trong những công cụ của nhận thức, có nhận thức đúng thì mới
có những quyết định đúng có như vậy mới thu được những kết quả tốt nhất trong mọi hành động
Ngành vận tải biển là ngành đem lại nhiều lợi ích cho đất nước không những đóng góp lớn về ngoại tệ mà còn phục vụ các nghành sản xuất khác Sản xuất của nghành vận tải biển là quá trình phức tạp gồm nhiều khâu hợp thành: Xí nghiệp vận chuyển, xí nghiệp xếp dỡ, xưởng sữa chữa…Có thể nói xí nghiệp xếp dỡ có vai trò quan trọng trong việc xếp dỡ hàng hóa ở cảng, thúc đẩy khả năng thông qua cảng Từ
đó mà việc phân tích được các hoạt động kinh tế diễn ra trong xí nghiệp xếp dỡ là một điều rất quan trọng, nhằm thấy khả năng tổ chức công tác xếp dỡ được thực hiện có hiệu quả không
Sau đây là bài phân tích của em về tình hình thực hiện chỉ tiêu sản lượng xếp dỡ theo các chỉ tiêu sử dụng máy móc thiết bị và chỉ tiêu giá thành xếp dỡ theo khoản mục Với sự hiểu biết chưa thật sâu sắc cùng với góc nhìn chưa thật toàn diện mà bài làm của em không tránh khỏi những sai sót mong thầy cô xem xét và chỉ bảo cho em
Em chân thành cảm ơn các thầy cô
Trang 3PHẦN I :
LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ
§1 Đối tượng, mục đích, ý nghĩa và nguyên tắc phân tích
Phân tích hoạt động kinh tế là việc phân chia, phân giải các hiện tượng, các quá trình và kết quả kinh doanh thành các bộ phận cấu thành sau đó dùng các phương pháp liên hệ, so sánh, đối chiếu và tổng hợp lại nhằm rút ra tính quy luật, xu hướng vận động, phát triển của hiện tượng nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của phân tích hoạt động kinh tế là các quá trình và kết quả sản xuất kinh doanh được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế mà gắn liền với các nhân tố ảnh hưởng
2.Mục đích của phân tích hoạt động kinh tế:
Mục đích chung của những người làm công tác phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp gồm:
- Đánh giá chung tình hình sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp thông qua việc đánh giá các chỉ tiêu kinh tế của doanh nghiệp
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích, tính toán mức độ ảnh hưởng của chúng
- Phân tích các nguyên nhân, các nhân tố ảnh hưởng đến các chỉ tiêu kinh tế và quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp qua đó mà phát hiện tiềm năng và năng lực của doanh nghiệp đối với nội dung phân tích
- Đề xuất các biện pháp và phương hướng sẽ áp dụng ở doanh nghiệp trong thời gian tới nhằm khai thác triệt để và hiệu quả các tiềm năng ấy
- Làm cở sở cho việc hoạch định các chiến lược phát triển, kế hoạch sản xuất và xây dựng các chỉ tiêu kinh tế của doanh nghiệp
Trang 4Các mục đích này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, cái này làm tiền đề cho cái kia và cái sau phải dựa vào cái trước Đồng thời các mục đích này cũng quy định nội dung của công tác phân tích hoạt động kinh tế.
3 Ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh tế:
Phân tích hoạt động kinh tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cá nhân những người quản lí doanh nghiệp và với toàn bộ quá trình, kết quả, hiệu quả sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp, nó đóng vai trò là công cụ của nhận thức Từ việc phân tích các hoạt động kinh tế, các nhà quản lí mới có được sự hiểu biết một cách đầy đủ ,toàn diện
và sâu sắc về các đối tượng quản lí của mình.Có sự hiểu biết như vậy thì mới ra được những quyết định đúng đắn có tính khoa học ,khả thi, phù hợp và có tính kịp thời ,có vậy thì quyết định mới có chất lượng cao Tìm ra những hạn chế cũng như những tiềm năng của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh Nhờ vào đó doanh nghiệp mới hoạt động một cách liên tục và có hiệu quả
* Phân tích phải thực hiện trong mối quan hệ qua lại giữa các hiện tượng kinh tế, từ
đó thấy rõ nguyên nhân phát triển của hiện tượng
* Phải sử dụng các phương pháp phân tích thích hợp để thực hiện mục đích phân tích
* Phải đi sâu vào từng bộ phận cấu thành của hiện tượng kinh tế, mối liên hệ nội tại của hiện tượng kinh tế đó và thấy được bản chất cảu sự vận động và phát triển kinh tế
Trang 5§2 Các phương pháp phân tích sử dụng trong bài
1 Phương pháp chi tiết
a) Phương pháp chi tiết theo thời gian.
Chi tiết theo thời gian thông thường, chi tiết năm, tháng, ca, giờ Tuỳ theo điều kiện có thể và ý nghĩa của chỉ tiêu đó, kết quả kinh doanh là kết quả của một quá trình
do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau, tiến độ thực hiện, quy trình trong từng đơn vị thời gian xác định không đồng đều Do vậy ta phải chi tiết theo thời gian giúp ta đánh giá được kết quả kinh doanh được sát, đúng và tìm được giải pháp
có hiệu quả cho công việc kinh doanh
Tác dụng :
- Xác định được thời điểm mà hiện tượng kinh tế xảy ra tốt hay xấu
- Xác định tiến độ phát triển, nhịp điệu phát triển của hiện tượng kinh tế
b) Phương pháp chi tiết theo địa điểm.
Có những hiện tượng kinh tế xảy ra tại nhiều thời điểm khác nhau với những tính chất mức độ khác nhau Vì vậy cần phải chi tiết theo địa điểm
Tác dụng :
- Xác định được những đơn vị cá nhân tiên tiến hoặc lạc hậu
- Xác định được sự hợp lý hay không trong việc phân phối nhiệm vụ giữa đơn vị sản xuất hoặc cá nhân
c) Phương pháp chi tiết theo bộ phận cấu thành.
Các chỉ tiêu tổng thể thường bao gồm nhiều chỉ tiêu cá biệt Căn cứ vào sự cấu thành người ta chia chỉ tiêu tổng thể thành 2 loại :
- Chỉ tiêu tổng thể giản đơn : bao gồm các chỉ tiêu cá biệt có mối quan hệ tổng hoặc hiệu
Trang 6- Chỉ tiêu tổng thể phức tạp : là chỉ tiêu bao gồm chỉ tiêu cá biệt có mối quan hệ tích số hoặc thương số.
Chi tiết cho các bộ phận cấu thành giúp cho việc đánh giá được chính xác, cụ thể Qua đó xác định được nguyên nhân cũng như trọng điểm của công tác quản lý
2 Phương pháp so sánh
Là phương pháp được vận dụng phổ biến trong phân tích nhằm xác định vị trí và
xu hướng biến động của hiện tượng, đánh giá kết quả Có thể có các trường hợp so sánh sau:
- So sánh giữa thực hiện với kế hoạch để đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch
- So sánh giữa kỳ này với kỳ trước để xác định nhịp độ, tốc độ phát triển của hiện tượng
- So sánh giữa đơn vị này với đơn vị khác để xác định mức độ tiên tiến hoặc lạc hậu giữa các đơn vị So sánh giữa thực tế với định mức, khả năng với nhu cầu
a) So sánh bằng số tuyệt đối:
Cho ta biết quy mô khối lượng của hiện tượng nghiên cứu đạt hay vượt hoặc
hụt giữa 2 kỳ biểu hiện bằng tiền, hiện vật gia công
Mức biến động tuyệt đối : y = y1 - yo
Trong đó: y1 : Mức độ tuyệt đối kỳ nghiên cứu
yo : Mức độ tuyệt đối kỳ gốc
b) So sánh bằng số tương đối:
Có nhiều loại số tương đối, nhưng tuỳ theo yêu cầu phân tích mà sử dụng cho phù hợp So sánh bằng số tương đối cho ta thấy xu hướng biến động, tốc độ phát triển, kết cấu của tổng thể, mức độ phổ biến của hiện tượng
- Số tương đối động thái : biểu hiện sự biến động về tỷ lệ của chỉ tiêu kinh tế qua một khoảng thời gian nào đó Nó được tính bằng cách so sánh chỉ tiêu kỳ nghiên cứu với chỉ tiêu kỳ gốc Chỉ tiêu kỳ gốc có thể cố định hoặc liên hoàn, tuỳ theo mục đích phân tích Nếu kỳ gốc cố định sẽ phản ánh sự phát triển của chỉ tiêu kinh tế trong thời gian dài Nếu kỳ gốc liên hoàn phản ánh sự phát triển của chỉ tiêu kinh tế qua hai thời
Trang 7t = y1*100/ y0 (%)
- Số tương đối kết cấu : thể hiện chênh lệch về tỷ trọng của từng bộ phận chiếm trong tổng số giữa kỳ nghiên cứu với kỳ gốc của từng chỉ tiêu phân tích Nó phản ánh biến động bên trong của chỉ tiêu
d = ybp*100/ytt (%)
- Số tương đối cường độ :
Phản ánh trình độ phổ biến của hiện tượng hay phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh được tính bằng cách so sánh chỉ tiêu chất lượng với chỉ tiêu khối lượng của tổng thể với nhau
c) So sánh bằng số bình quân:
Khi so sánh bằng số bình quân sẽ cho biết mức độ mà đơn vị đạt được so với số bình quân chung của tổng thể, của ngành
3 Phương pháp chi tiết theo các bộ phận cấu thành:
- Ảnh hưởng tuyệt đối: là đơn vị của chỉ tiêu phân tích và được tính bằng nhiều phương pháp tuỳ vào mối quan hệ cấu thành giữa nhân tố với chỉ tiêu phân tích
- Ảnh hưởng tương đối: lấy mức độ ảnh hưởng tuyệt đối của mỗi thành phần bộ phận cần tính chia cho trị số kì gốc của chỉ tiêu phân tích và nhân với 100%
a, Phương pháp cân đối
Dùng để tính toán, xác định mức độ ảnh hưởng tuyệt đối và tương đối của các thành phần bộ phận đến chỉ tiêu phân tích khi giữa chúng có mối quan hệ tổng số
Khi đó chênh lệch của mỗi thành phần bộ phận chính là ảnh hưởng tuyệt đối đến chỉ tiêu phân tích
Khái quát nội dung của phương pháp:
Trang 8+ Xác định đối tượng phân tích: Δy = y1 –y0
+Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích:
- Ảnh hưởng của nhân tố a đến y:
Ảnh hưởng tuyệt đối: Δya= a1 – a0
Ảnh hưởng tương đối: δya= (Δya*100)/y0 (%)
- Ảnh hưởng của nhân tố b đến y:
Ảnh hưởng tuyệt đối: Δyb = b1 – b0
Ảnh hưởng tương đối: δyb = (Δyb*100)/y0 (%)
-Ảnh hưởng của nhân tố c đến y:
Ảnh hưởng tuyệt đối: Δyc = - (c1- c0)
Ảnh hưởng tương đối: δyc = (Δyc*100)/y0 (%)
* Tổng ảnh hưởng của các nhân tố:
Δya + Δyb + Δyc = Δy
δya + δyb + δyc = δ =(Δy*100)/y0 (%)
- Chỉ tiêu cá biệt : a,b,c
+Phương trình kinh tế : y = abc
-Giá trị chỉ tiêu kì gốc : y0 = a0b0c0
-Giá tị chỉ tiêu kì nghiên cứu : y1 = a1b1c1
+Xác định đối tượng phân tích : Δy = y1 –y0
Trang 9- Ảnh hưởng của nhân tố a đến y :
Ảnh hưởng tuyệt đối : Δya =( a1 – a0 )b0c0
Ảnh hưởng tương đối : δya = (Δya*100)/y0 (%)
- Ảnh hưởng của nhân tố b đến y :
Ảnh hưởng tuyệt đối : Δyb = a1(b1 – b0)c0
Ảnh hưởng tương đối : δyb = (Δyb*100)/y0 (%)
- Ảnh hưởng của nhân tố c đến y :
Ảnh hưởng tuyệt đối : Δyc = a1b1(c1 – c0)
Ảnh hưởng tương đối : δyc = (Δyc*100)/y0 (%)
* Tổng ảnh hưởng của các nhân tố :
Δya+ Δyb + Δyc = Δy
δya + δyb + δyc = δ = (Δy*100)/y0 (%)
Trang 10PHẦN II: NỘI DUNG PHÂN TÍCH Chương I: Phân tích tình hình thực hiện sản lượng xếp dỡ theo các chỉ
tiêu sử dụng máy móc thiết bị
§1: Mục đích, ý nghĩa
1, Mục đích:
Việc phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu sản lượng theo các chỉ tiêu sử dụng
máy móc thiết bị của doanh nghiệp nhằm mục đích:
- Đánh giá tình hình thực hiện sản lượng xếp dỡ cũng như giá trị sản xuất của doanh nghiệp theo số lượng thiết bị bình quân
- Đánh giá tình hình thực hiện sản lượng xếp dỡ cũng như giá trị sản xuất theo thời gian làm việc của thiết bị bình quân trong doanh nghiệp
- Đánh giá tình hình thực hiên sản lượng xếp dỡ cũng như giá trị sản xuất theo năng suất giờ bình quân của thiết bị
- Xem xét nhân tố ảnh hưởng đến sản lượng xếp dỡ cảu doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu sử dung máy móc thiết bị
- Đề xuất các kiến nghị để nâng cao sản lượng xếp dỡ của doanh nghiệp nhờ việc
sử dụng một cách có hiệu quả hơn máy móc thiết bị
- Làm cơ sở cho những dự báo, dự đoán về sản xuất trong tương lai, đồng thời làm cơ sở cho việc hoạch định chiến lược phát triển và việc xây dựng các kế hoạch khác phục vụ cho việc phát triển, làm tăng sản lượng xếp dỡ đáp ứng nhu cầu xếp dỡ hàng hóa trong tương lai
2, Ý nghĩa:
Chỉ tiêu sản lượng hay giá trị tổng sản lượng của các doanh nghiệp phản ánh kết quả của công tác hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nó nói lên khối lượng và kết quả các công việc mà doanh nghiệp đã thực hiện trong kỳ Qua đó phản ánh năng lực sản xuất của doanh nghiệp Sản xuất phản ánh việc sử dụng các yếu tố
Trang 11đều lấy sản xuất làm cơ sở để tăng lợi nhuận có nghĩa là lấy việc tăng quy mô và chất lượng sản xuất làm điều kiện tăng lợi nhuận của doanh nghiệp và do vậy kế hoạch sản xuất bao giờ cũng là kế hoạch trung tâm, chủ đạo, quan trọng của doanh nghiệp
Từ vai trò của chỉ tiêu sản lượng ( giá trị tổng sản lượng ) mà việc phân tích chỉ tiêu này có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác phân tích kinh tế của doanh nghiệp
Nó là nội dung phân tích không thể thiếu khi phân tích về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu phân tích đạt yêu cầu sẽ giúp doanh nghiệp nhận thức đúng đắn về phương án sản xuất kinh doanh, về việc đầu tư cơ sở vật chất – kĩ thuật,
về lao động… và về việc sử dụng hợp lí hiệu quả các yếu tố của quá trình sản xuất Qua đó đề ra biện pháp nhằm nâng cao năng lực sản xuất, nâng cao kết quả hiệu quả sản xuất, tăng về số lượng, chất lượng sản xuất và trên cơ sở đó tăng lợi nhuận không ngừng cho doanh nghiệp
Trang 12Trong đó: M : Số thiết bị bình quân ( chiếc)
T: Số ngày làm việc bình quân của một thiết bị (ngày/người)
C: Số ca làm việc bình quân của một thiết bị trong ngày (ca/ngày)
t: Số giờ làm việc bình quân của một thirets bị trong ngày (giờ/ca)
P h: Năng suất giờ bình quân của một thiết bị ( Txd /giờ)
- Xác định đối tượng phân tích:
Trang 13- Đánh giá chung:
Qua bảng phân tích, ta thấy tổng sản lượng xếp dỡ ở kì nghiên cứu tăng so với kì gốc, cụ thể tổng sản lượng xếp dỡ ở kì gốc là 1.413.041 (Txd), kì nghiên cứu là 1.526.530 (Txd), chênh lệch là 113.489 (Txd), tăng 8,03% so với kì gốc Sự tăng của chỉ tiêu tổng sản lượng xếp dỡ là do sự biến động tăng của các nhân tố là số thiết bị bình quân, số giờ làm việc bình quân trong kì nghiên cứu Trong đó, tăng nhiều nhất là nhân tố thiết bị bình quân: tăng 6,25 % so với kỳ gốc (ứng với 1 chiếc), ảnh hưởng tuyệt đối đến tổng sản lượng xếp dỡ là 88.315 (Txd), ảnh hưởng tương đối là 6,25 %
Có duy nhất chỉ tiêu số ca làm việc bình quân kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc là không đổi ( 1,6 ca/ngày) Nhưng nhân tố về số ngày làm việc bình quân, năng suất giờ bình quân giảm, nhân tố giảm mạnh nhất là số ngày làm việc bình quân, giảm 2,79 % ( ứng với 7 ngày/chiếc ), ảnh hưởng tuyệt đối đến tổng sản lượng xếp dỡ là -41.870 (Txd), ảnh hưởng tương đối là -2,96 %
Để thấy rõ được sự biến động, nguyên nhân biến động của từng nhân tố cũng như ảnh hưởng của từng nhân tố đến tổng sản lượng xếp dỡ ta đi vào phân tích chi tiết từng nhân tố
∗ Phân tích chi tiết:
I) Số thiết bị bình quân : M ( chiếc)
Kỳ gốc đạt 16 chiếc, kỳ nghiên cứu đạt 17 chiếc, nhân tố này tăng so với kỳ gốc
là 6,25 % ( tăng 1 chiếc) Ảnh hưởng đến tổng sản lượng xếp dỡ là tăng 6,25 % ( tương ứng tăng 88.315 Txd) Đây là chỉ tiêu tăng nhiều nhất làm tăng tổng sản lượng xếp dỡ đáng kể Sự biến động này có thể do một trong những nguyên nhân sau:
1 Do doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất
2 Do số máy móc thiết bị bảo dưỡng, sửa chữa ở kỳ gốc được đưa vào sử dụng ở
kỳ nghiên cứu
3 Doanh nghiệp nhận lại máy móc, thiết bị đã cho thuê hay góp liên doanh
4 Do doanh nghiệp thực hiện nạo vét luồng lạch ra vào cảng
5 Do lưu lượng hàng hóa đến cảng nhiều
Trong năm nguyên nhân, ta giả định hai nguyên nhân chính là nguyên nhân thứ nhất và nguyên nhân thứ hai
Trang 14* Nguyên nhân thứ nhất: Do doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất.
Ở kỳ này, doanh nghiệp đang mở rộng quy mô sản xuất bằng cách xây dựng thêm một cầu tàu nữa nhằm đáp ứng hàng đến cảng với khối lượng lớn Việc mở rộng quy
mô là cho lượng hàng hóa thông qua cảng, khối lượng hàng hóa xếp dỡ tăng, do vậy
để đảm bảo và làm tốt công tác xếp dỡ hàng cảng cần đầu tư, mua sắm thêm một số thiết bị xếp dỡ Do đó mà số thiết bị tham gia sản xuất tăng lên Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực
Biện pháp:
Trước khi có kế hoạch trang bị máy móc thiết bị đáp ứng cho nhu cầu mở rộng sản xuất cần phải nghiên cứu và tìm hiểu kỹ thuật cũng như công nghệ, đào tạo thêm cho người lao động về cách sử dụng những thiết bị có công nghệ mới
* Nguyên nhân thứ hai: Do số máy móc thiết bị bảo dưỡng, sửa chữa ở kỳ gốc được đưa vào sử dụng ở kỳ nghiên cứu
Vào cuối kỳ gốc một số máy móc thiết bị xuống cấp, doanh nghiệp quyết định đưa số máy móc thiết bị này vào sửa chữa.Đến đầu năm nghiên cứu công việc sửa chữa đã hoàn thành, máy móc được đưa vào sản xuất với khả năng làm việc cao hơn tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh tốt Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực
Biện pháp:
Doanh nghiệp cần thường xuyên kiểm tra, sửa chữa máy móc hư hỏng kịp thời để năng cao khả năng làm việc của máy móc thiết bị, đồng thời phải quan tâm đến chất lượng làm việc của các máy móc đó
II, Số ngày làm việc bình quân của một thiết bị: T ( ngày/ chiếc)
Qua bảng phân tích ta thấy ở kỳ gốc đạt 251 ngày/chiếc, kỳ nghiên cứu đạt 241 ngày/chiếc, tức là kỳ nghiên cứu đã giảm đi 2,79 % so với kỳ gốc, tương ứng giảm 7 ngày/chiếc, ảnh hưởng đến tổng sản lượng xếp dỡ làm giảm 2,96 % ( tương ứng giảm
Trang 1541.870 Txd) Đây là chỉ tiêu giảm nhiều nhất, sự biến động này có thể do một trong những các nguyên nhân sau:
1 Do thời tiết có nhiều sự biến động ảnh hưởng trưc tiếp đến ngày làm việc của thiết bị
2 Tổ chức lao động bất hợp lý làm tăng thời thời gian chờ đợi làm thủ tục
3 Hàng hóa đến cảng không đều đặn, có những ngày không có hàng nên việc xếp
số ngày làm việc bình quân giảm Sự biến động giảm của nhân tố này là do nguyên nhân thời tiết nên đây là nguyên nhân khách quan Và điều kiện thời tiết không thuận lợi sẽ ảnh hưởng tiêu cực cho hoạt động sản xuất kinh doanh, không gây cản trở và đình trệ sản xuất, thúc đẩy hiệu quả sản xuất, tăng doanh thu và lợi nhuận Vì vậy đây
là nguyên nhân khách quan tiêu cực
* Nguyên nhân thứ hai : Tổ chức lao động bất hợp lý làm tăng thời thời gian chờ đợi làm thủ tục
Công tác tổ chức lao động bất hợp lý ở đây là thiếu sự kết hợp đồng bộ, nhịp nhàng giữa các bộ phận liên quan giúp cho việc làm thủ tục cho tàu vẫn còn chậm, việc điều động nhân lực không kịp thời, thiếu số lượng Điều này dẫn đến tính liên tục trong sản xuất giảm đi dẫn tới số ngày làm việc bình quân trong kỳ giảm, từ đó giảm
đi tính hiệu quả của quá trình lao động Đây là nguyên nhân chủ quan tiêu cực
Trang 16* Biện pháp:
Để cải thiện việc này, doanh nghiệp cần phải cải tiến quá trình làm thủ tục, giảm bớt một số thủ tục không cần thiết, đồng thời tăng cường sự phối kết hợp giữa các bộ phận liên quan để sản xuất được diễn ra liên tục, nhịp nhàng
III, Số ca làm việc bình quân của một thiết bị: C(ca/ ngày)
Từ bảng phân tích đây là chỉ tiêu không có biến động, kỳ gốc và kỳ nghiên cứu đều giữ nguyên là 1,6 ca/ngày Sự giữ nguyên như vậy có thể là do một trong những nguyên nhân sau:
1 Kế hoạch sản xuất chưa có sự nhạy bén
2 Doanh nghiệp tổ chức thực hiện thi đua giảm ca, tăng năng suất lao độngtrong
ba tháng cuối kỳ nghiên cứu kỷ do kỷ niệm 40 năm thành lập doanh nghiệp
3 Trong kỳ hàng hóa tới cảng nhiều nhưng trong đó chiếm số lượng lớn là hàng hóa theo thời vụ
4 Thời tiết vào mùa đông xuất hiện sương mù, gió lớn vào ban đêm, sáng sớm ảnh hưởng tiêu cực đến thời gian xếp dỡ hàng hóa
5 Khắc phục được hiện tượng công nhân đi muộn vào cuối kỳ nghiên cứu
Trong các nguyên nhân trên thì ta giả định nguyên nhân chính là nguyên nhân thứ nhất và nguyên nhân thứ ba
* Nguyên nhân thứ nhất: Kế hoạch sản xuất chưa có sự nhạy bén
Mặc dù doanh nghiệp tổ chức nhiều cuộc hợp nhằm tìm ra phương hướng sản xuất mới đẩy mạnh năng suất xếp dỡ nhưng vẫn chưa có hiệu quả cao Do đó trong kỳ nghiên cứu, mà hàng hóa đến cảng lớn một cách đột ngột dẫn tới tình trạng ùn tắc làm cho việc xếp dỡ cho tàu phải ngưng lại để chờ các thiết bị khác chuyển hàng vào kho bãi của cảng để lưu trữ Từ đó mà số ca làm việc bình quân tính toán được không có
sự thay đổi nào Đây là nguyên nhân chủ quan tiêu cực
Biện pháp:
Trang 17Doanh nghiệp phải tìm hiểu và học hỏi từ những doanh nghiệp có những kế hoạch sản xuất tiên tiến Trên cơ sở đó, doanh nghiệp cần xây dựng những kế hoạch sản xuất tối ưu phù hợp với các mặt hàng sao cho vừa rút ngắn thời gian chu kỳ xếp
dỡ hàng vào kho bãi tránh tình trạng ùn tắc
* Nguyên nhân thứ hai: Doanh nghiệp tổ chức thực hiện thi đua giảm ca, tăng năng suất lao độngtrong ba tháng cuối kỳ nghiên cứu kỷ do kỷ niệm 40 năm thành lập doanh nghiệp
Không khí thi đua, hưởng ứng phong trào được cổ vũ mạnh mẽ Nhiều tổ công nhân đăng ký giảm ca, tăng năng suất lao động Tuy những tháng cuối kỳ nghiên cứu
có sự giảm mạnh nhưng những tháng còn lại có số ca làm việc nhiều nên khi tính toán
số ca làm việc bình quân không có sự thay đổi so với kỳ gốc Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực
Biện pháp:
Doanh nghiệp nên tổ chức nhiều phong trào như trên tạo không khí làm việc thoải mái, kích thích tinh thần làm việc cho người lao động nhằm tăng năng suất lao động
IV, Số giờ làm việc bình quân của thiết bị: t(giờ/ ca)
Qua bảng phân tích ta thấy đây là chỉ tiêu có biến động tăng, cụ thể là ở kỳ gốc đạt 5,2 giờ, kỳ nghiên cứu đạt 5,5 giờ, như vậy là tăng 5,77 % ( ứng với 0,3 giờ/ca), ảnh hưởng đến sản lượng xếp dỡ của doanh nghiệp làm tăng 5,96 % ( ứng với 84.201
Txd) Đây là chỉ tiêu tăng cao thứ hai trong các chỉ tiêu sử dụng máy móc thiết bị Sự biến động như vậy có thể là do một trong những nguyên nhân sau:
1 Do công tác phục vụ tổ chức cũng như kỹ thuật tốt hơn so với kỳ trước
2 Do trong kỳ nghiên cứu có những đợt hàng hóa đến cảng nhiều, doanh nghiệp phải tăng số giờ làm việc trong ca để đảm bảo lượng hàng hóa qua cảng
3 Do xây dựng thêm cầu cảng mới và các máy móc thiết bị mới mua về được đưa vào sản xuất
Trang 184 Do trong kỳ này doanh nghiệp điều chỉnh lại thời gian nghỉ ngắn trong ca và thời gian nghỉ giữa ca nên làm thời gian tác nghiệp tăng lên.
5 Do một số máy móc thiết bị mới được sữa chữa nên đã làm giảm bớt đi đáng
kể hỏng hóc làm trong quá trình sản xuất
Trong các nguyên nhân trên thì ta giả định nguyên nhân chính là nguyên nhân thứ nhất và nguyên nhân thứ hai
* Nguyên nhân thứ nhất: Do công tác phục vụ tổ chức cũng như kỹ thuật tốt hơn
so với kỳ trước
Việc điều chỉnh nhân lực ở các bộ phận phục vụ sản xuất đang đem lại sự hiểu quả cho sản xuất ở kỳ nghiên cứu, thời gian chuẩn bị công cụ, dụng cụ hay phân công công việc, sữa chữa nhanh… đều giảm so với kỳ gốc dẫn tới thời gian tác nghiệp tăng lên do khắc phục được thời gian chuẩn bị, phục vụ…Tất yếu khiến cho số giờ làm việc bình quân tăng lên Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực
Biện pháp:
Bộ phận quản lý doanh nghiệp nên đi sâu tìm hiểu hơn quá trình sản xuất một cách chi tiết, từ đó tìm cách giảm thiểu thời gian lãng phí trong giờ làm việc và tìm cách tăng giờ tác nghiệp lên
* Nguyên nhân thứ hai: Do trong kỳ nghiên cứu có những đợt hàng hóa đến cảng nhiều, doanh nghiệp phải tăng số giờ làm việc trong ca để đảm bảo lượng hàng hóa qua cảng
Trong kỳ nghiên cứu có những ngày hàng hóa đến cảng nhiều, việc bố trí số giờ làm việc bình quân như thường lệ sẽ không đảm bảo được lượng hàng hóa qua cảng kịp thời Đứng trước tình huống như thế doanh nghiệp phải tìm hướng giải quyết tăng
số giờ làm việc trong ca để đảm bảo khối lượng hàng hóa cũng như quá trình xếp dỡ được diễn ra đúng tiến độ cũng như không xảy ra tình trạng hàng hóa bị ùn tắc quá nhiều làm ảnh hưởng đến hoạt động của cảng Đây nguyên nhân chủ quan tích cực.Biện pháp:
Doanh nghiệp đã có những biện pháp giải quyết kịp thời trong những ngày hàng hóa đến cảng nhiều nhưng bên cạnh đó doanh nghiệp cần quan tâm lợi ích của người
Trang 19lao động cũng như chú ý đến chế độ làm việc của máy móc thiết bị tránh hiện tượng quá tải.
V, Năng suất giờ bình quân : P h (Txd/giờ)
Qua bảng phân tích ta thấy chỉ tiêu năng suất giờ bình quân có biến động giảm và
là chỉ tiêu giảm nhiều thứ hai, kỳ gốc đạt 42,29 Txd/giờ, kỳ nghiên cứu đạt 41,82 Txd/giờ, giảm đi 1,11 % (ứng với 0,47 Txd/giờ), ảnh hưởng đến tổng sản lượng xếp dỡ
là giảm 1,21 % ( tương ứng 17.157 Txd) Sự thay đổi có thể do một trong những nguyên nhân sau:
1 Do quy trình công nghệ xếp dỡ hàng hóa và việc tổ chức xếp dỡ chưa hợp lý, nên thời gian ngừng việc tăng lên và làm cho năng suất giờ bình quân giảm
2 Công tác quản lý, giám sát được thực hiện chưa tốt
3 Trình độ lành nghề của các công nhân mới tuyển dụng chưa đáp ứng yêu cầu của các quy trình xếp dỡ trong việc điều khiển máy móc thiết bị
Trong kỳ, doanh nghiệp mặc dù đã cải tiến kỹ thuật trong xếp dỡ song vẫn chưa
có hiệu quả, dẫn tới việc xây dựng quy trình công nghệ chưa hợp lý, phù hợp nhất với từng lợi hàng cũng như bố trí lao động, máy móc thiết bị chưa phù hợp với từng loại hàng, từng công việc xếp dỡ Do đó làm lãng phí về lao động và máy móc thiết bị trong quá trình xếp dỡ, làm cho năng suất giờ bình quân giảm xuống Đây là nguyên nhân chủ quan tiêu cực
Trang 20Biện pháp:
- Doanh nghiệp cần tăng cường nghiên cứu quá trình sản xuất nhằm đề ra các phương án xếp dỡ hợp lý, tăng năng suất lao động, đồng thời tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp
- Doanh nghiệp cần đầu tư cho đội ngũ kỹ thuật và đội ngũ quản lý để họ có điều kiện nghiên cứu, xây dựng quy trình và bố trí lao động tốt hơn
* Nguyên nhân thứ hai: Công tác quản lý, giám sát được thực hiện chưa tốt
Trong kỳ qua, các cán bộ quản lý, giám sát công việc thiếu mẫn cán trong công việc Không theo dõi chặt chẽ quá trình hoạt động của các thiết bị cũng như quá trình làm việc của công nhân để dẫn tới tình trạng hiệu quả sản xuất không cao do thời gian lãng phí tăng cao làm cho năng suất làm việc bình quân giảm, không hoàn thành nhiệm vụ được giao Đây là nguyên nhân chủ quan tiêu cực
Biện pháp:
Doanh nghiệp cần phải xem xét, nhắc nhở những các bộ quản lý, giám sát đó tránh nhiệm vụ sản xuất không hoàn thành Ngoài ra có thể có các hình thức kỷ luật đối với những cán bộ đó hoặc bố trí người khác thay để công ciệc giám sát được thực hiện một cách nghiêm túc
Trang 21§3: Tiểu kết chương I
I Kết Luận:
Sau khi phân tích tình hình thực hiện sản lượng xếp dỡ theo các chỉ tiêu sử dụng máy móc thiết bị, chỉ tiêu tổng sản lượng xếp dỡ tăng từ 1.413.041 TXD ở kỳ gốc lên 1.526.530 TXD ở kỳ nghiên cứu, tăng 8,03 % ( ứng với 113.489 Txd), do ảnh hưởng của các nhân tố thuận lợi về chủ quan, khách quan như lưu lượng hàng hoá đến cảng nhiều, giảm đi thời gian lãng phí trong ca làm việc Bên cạnh đó doanh nghiệp có những bước đi đúng đắn, thực hiện đúng các mục tiêu đề ra quan tâm đến trang thiết
bị xếp dỡ, xây dựng thêm cầu tàu phục vụ hàng hóa tốt hơn nhằm nâng cao uy tín của doanh nghiệp
Sự biến động tăng của tổng sản lượng xếp dỡ là do sự biến động của các nhân tố
về các chỉ tiêu sử dụng máy móc thiết bị, trong đó, ảnh hưởng lớn nhất là nhân tố số thiết bình quân: kỳ nghiên cứu tăng so với kỳ gốc 6,25 % (ứng với 1 thiết bị), ảnh hưởng đến tổng sản lượng xếp dỡ là tăng 6,25 % (ứng với 88.315 Txd) Ngoài ra còn
có sự biến động tăng của nhân tố số giờ làm việc bình quân, kỳ nghiên cứu tăng so với
kỳ gốc là 5,77 % ( 0,3 giờ/ca) Còn nhân tố số ngày làm việc bình quân biến động giảm nhiều nhất làm cho tổng sản lượng xếp dỡ giảm 2,96 %, tương ứng 41.870 Txd Nhân tố thứ hai có biến động giảm là năng suất giờ bình quân với kỳ nghiên cứu giảm
so với kỳ gốc là 1,11 % ( ứng với 0,47 Txd/giờ ), làm cho tổng sản lượng xếp dỡ giảm
đi 1,21 % (ứng với 17.157 Txd ) Riêng chỉ tiêu số ca làm việc bình quân của thiết bị là không thay đổi ( 1,6 ca/ngày)
Trang 22Sự biến động của các chỉ tiêu về sử dụng máy móc thiết bị làm ảnh hưởng đến tổng sản lượng xếp dỡ của doanh nghiệp là do những nguyên nhân sau:
1. Nguyên nhân chủ quan:
Nguyên nhân chủ quan tích cực:
1 Do doanh nghiệp đầu tư xây dựng thêm cầu tàu
2 Doanh nghiệp đưa về những máy móc thiết bị đã được sữa chữa ở kỳ gốc
3 Kỷ niệm 40 năm thành lập doanh nghiệp tổ chức thực hiện thi đua giảm ca, tăng năng suất lao động trong ba tháng cuối kỳ nghiên cứu
4 Công tác phục vụ về mặt tổ chức, kỹ thuật tốt hơn so với kỳ trước
5 Trong kỳ nghiên cứu có những đợt hàng hóa đến cảng nhiều, doanh nghiệp phải tăng số giờ làm việc trong ca để đảm bảo xếp dỡ lượng hàng hóa thông qua cảng
Nguyên nhân chủ quan tiêu cực:
6 Sự tổ chức lao động bất hợp lý
7 Kế hoạch sản xuất không nhạy bén
8 Quy trình công nghệ xếp dỡ hàng hóa và việc tổ chức xếp dỡ chưa hợp lý
9 Công tác giám sát, quản lý chưa chặt chẽ
Nguyên nhân khách quan:
Nguyên nhân khách quan tiêu cực:
10 Trong kỳ nghiên cứu, thời tiết có nhiều sự biến động ảnh hưởng trưc tiếp đến ngày làm việc của thiết bị xếp dỡ
Trang 232 Thường xuyên kiểm tra, sửa chữa máy móc hư hỏng kịp thời để năng cao khả năng làm việc của máy móc thiết bị cũng như chất lượng làm việc của các máy móc đó.
3 Doanh nghiệp nên tổ chức nhiều phong trào thi đua lao động mà lại tạo được không khí làm việc thoải mái, kích thích tinh thần làm việc cho người lao động nhằm tăng năng suất lao động
4 Doanh nghiệp cần đi sâu tìm hiểu hơn quá trình sản xuất, từ đó tìm cách giảm thiểu thời gian lãng phí trong giờ làm việc nhằm tăng thời gian tác nghiệp lên
5 Cần có những biện pháp giải quyết kịp thời trong những ngày hàng hóa đến cảng nhiều nhưng bên cạnh đó doanh nghiệp cần quan tâm lợi ích của người lao động cũng như chú ý đến chế độ làm việc của máy móc thiết bị tránh hiện tượng quá tải
6 Cải tiến quá trình làm thủ tục, giảm bớt một số thủ tục không cần thiết và tăng cường sự phối kết hợp giữa các bộ phận liên quan để quá trình sản xuất được diễn ra liên tục, nhịp nhàng, giảm thời gian chờ đợi không đáng có
7 Doanh nghiệp phải tìm hiểu và học hỏi từ những doanh nghiệp có những kế hoạch sản xuất tiên tiến Xây dựng những kế hoạch sản xuất tối ưu phù hợp với các mặt hàng sao cho vừa rút ngắn thời gian xếp dỡ hàng vào kho bãi nhiều nhất có thể, để giải phóng tàu nhanh nhất
8 Doanh nghiệp cần đề ra các phương án xếp dỡ hợp lý, tăng năng suất lao động,
do đó cần đầu tư cho đội ngũ kỹ thuật và đội ngũ quản lý để họ có điều kiện nghiên cứu, xây dựng quy trình và bố trí lao động tốt hơn
9 Doanh nghiệp cần xem xét, nhắc nhở những các bộ quản lý, giám sát thiếu mẫn cán Ngoài ra có thể có các hình thức kỷ luật đối với những cán bộ đó hoặc bố trí người khác thay để công ciệc giám sát được thực hiện một cách nghiêm túc
B Phương hướng:
Ngoài các biện pháp nêu trên, để nâng cao hiệu quả sản xuất, có thể đề suất một
số phương án sau :
Trang 24- Tích cực đào tạo nâng cao trình độ của công nhân, để việc sử dụng máy móc khai thác được công suất tối đa, nâng cao năng suất xếp dỡ.
- Bổ sung thêm dần dần máy móc, thiết bị mới, mở rộng khả năng xếp dỡ của doanh nghiệp
- Quản lý chặt chẽ, kỷ luật rõ ràng, thưởng phạt đúng người, đúng tội, kích thích công nhân nâng cao năng suất lao động
- Chia nhóm công nhân chuyên phục vụ một loại thiết bị máy móc, đồng thời họ phải có trách nhiệm sử dụng thiết bị đúng kỹ thuật, thường xuyên kiểm tra và giữ cho tình trạng máy móc, thiết bị luôn tốt
CHƯƠNG 2: Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu giá thành của xí
nghiệp xếp dỡ theo khoản mục
Trang 25Phân tích chi phí giá thành là cơ sở để doanh nghiệp phát hiện ra các nguyên nhân làm tăng chi phí và sau đó tìm ra các biện pháp khắc phục các nguyên nhân đó Giúp hạ giá thành, tiết kiệm chi phí và cải tiến được công tác quản lý giá thành Qua phân tích mà doanh nghiệp sẽ đánh giá được tình hình thực hiện chế độ , chính sách nhà nước liên quan đến chi phí như khấu hao TSCĐ, tiền lương…Trên cơ sở đó mà doanh nghiệp thực hiện tốt chế độ chính sách.