1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật thơ Thanh Tâm Tuyền

101 740 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 532 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2. Lịch sử vấn đề Thanh Tâm Tuyền là cây bút xông xáo, cách mạng trong công cuộc đổi mới thi ca Việt Nam theo hướng hiện đại. Hành trình thơ Thanh Tâm Tuyền là hành trình đầy hăng say, khao khát, tha thiết nhưng cũng đầy cô độc, mệt mỏi, đớn đau. Đó cũng là hành trình của mỗi thân phận con người đi qua cuộc sống này. Ngay từ khi tiếng thơ ông cất lên trên thi đàn, những bài báo, những ý kiến tranh luận về tác phẩm của Thanh Tâm Tuyền dường như chưa bao giờ dứt. Các bài viết đó đã khám phá được gì ở thế giới thơ độc đáo, mới lạ của Thanh Tâm Tuyền? Trước hết, về nội dung: Thơ Thanh Tâm Tuyền mang hơi thở cuộc sống đô thị Sài Gòn những năm 50, 60 của thế kỷ XX. Đó là tâm lí lo âu, hoang mang, chán nản; đó là cảm giác thất bại, tuyệt vọng, cô đơn rất giống với tâm thức của một thế hệ thanh niên châu Âu sau Thế chiến II. Chính những đổi thay của thời cuộc ấy đã trở thành những chấn thương dai dẳng trong tâm hồn con người, trở thành những ám ảnh không dứt trong thơ Thanh Tâm Tuyền. Thơ Thanh Tâm Tuyền thường xoay quanh các vấn đề chính như tình yêu, con người thất bại, chiến tranh, màu da... Đặng Tiến cho rằng: “Thơ Thanh Tâm Tuyền tự nó, là một thế giới và đồng thời một không gian nhìn ra thế giới...” . Từ không gian ấy, Thanh Tâm Tuyền nhìn thấy rõ “Ý thức thất bại của con người trước định mệnh mà cụ thể, là sự bất lực của giai cấp trí thức Việt Nam trước thời cuộc”. Thanh Tâm Tuyền không chối bỏ sự thật, “nói được những cái sự thật ấy là sống cái trận bão thổi qua chính mình và thấu hiểu được cái gọi là đời sống”. Quỳnh Giao trong bài viết Vòng tay bát ngát Thanh Tâm Tuyền có lý khi khẳng định rằng “Thơ Thanh Tâm Tuyền vượt khỏi hoàn cảnh và là vòng tay bát ngát ôm được nỗi đau của nhân thế, ở mọi nơi, mọi thời”. Đi sâu vào bút pháp, những người đọc và yêu thơ Thanh Tâm Tuyền đều nhận ra vẻ đẹp mới lạ trong nỗ lực cách tân nghệ thuật của ông. Các ý kiến đã cụ thể hóa mãnh lực sáng tạo, cách tân riêng của Thanh Tâm Tuyền như thế nào? Trong bài viết Kinh nghiệm đọc thơ Thanh Tâm Tuyền, nhà nghiên cứu Lê Huy Oanh đã đưa ra nhận định: “Thơ Thanh Tâm Tuyền không còn lệ thuộc vào những quy tắc văn phạm cố hữu, không lệ thuộc những hình thức thi ca sẵn có: sự cân đối không được đếm xỉa tới, phương pháp chấm câu bị hủy bỏ, vần vè không được chú ý tới. Thêm vào đó là những hình ảnh phong phú kì lạ, những ý tưởng xuất hiện đột ngột, tất cả những cái đó thường được xếp đặt với nhau một cách rời rạc, tạo cho bài thơ một nhịp điệu mới, một kiến trúc mới, một khả năng phát biểu mới, có nhiều sức gợi cảm hơn là truyền cảm”. Chính hình thức mới trong thơ Thanh Tâm Tuyền chứng tỏ thơ “luôn luôn ở trạng thái động”, khiến người đọc thơ cũng chính là người “đồng sáng tạo”. Lê Huy Oanh đặc biệt nhấn mạnh tới ngôn ngữ mới trong thơ tự do Thanh Tâm Tuyền: “... người ta đã gặp trong thơ Tuyền rất nhiều dụng ngữ và hình ảnh thật đặc sắc, tạo nên một cuộc chơi chữ và chơi hình ảnh đôi khi rất táo bạo...”. Sự táo bạo ấy thể hiện ở chỗ “Những ý tưởng và hình ảnh được đặt rời rạc bên nhau, không được liên kết bằng bàn tay kiến trúc của tác giả nhưng tự chúng, chúng liên kết với nhau”. Nguyễn Vy Khanh cũng lưu ý đến tính chất bất thường trong ngôn ngữ thơ Thanh Tâm Tuyền “Thanh Tâm Tuyền đã phá vỡ cái tĩnh, cái nền của ngôn ngữ, ông đã phá cái cấu trúc bình thường. Ngôn ngữ trong thơ Thanh Tâm Tuyền bất thường, bất ngờ, lẫm lạ, không thứ tự cũng không thông thường nhưng nhiều khi cũng rất bình thường như lời nói ngoài phố chợ”. Cũng tìm hiểu về ngôn ngữ thơ Thanh Tâm Tuyền, Thường Quán trong bài viết Vài cảm nghĩ về thơ Thanh Tâm Tuyền thì cho rằng “Thanh Tâm Tuyền muốn sử dụng một ngôn ngữ mới để khả dĩ nói được một đời sống của những sự thật. Nó là một ngôn ngữ không uốn lượn, không bị bóp méo bởi phép tu từ, một ngôn ngữ tự nhiên...”.

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 9

4 Phương pháp nghiên cứu 9

5 Đóng góp của Luận văn 10

6 Cấu trúc của luận văn 10

NỘI DUNG 11

CHƯƠNG 1: THANH TÂM TUYỀN TRONG NHÓM SÁNG TẠO VÀ HÀNH TRÌNH CÁCH TÂN THƠ VIỆT 11

1.1 Cơ sở của sự cách tân nghệ thuật ở Thanh Tâm Tuyền 11

1.1.1 Những tiền đề thời đại 11

1.1.2 Nhóm Sáng Tạo và hoạt động văn học của Thanh Tâm Tuyền 16

1.1.2.1 Nhóm Sáng Tạo 16

1.1.2.2 Hoạt động văn học của Thanh Tâm Tuyền 19

1.2 Quan niệm nghệ thuật của Thanh Tâm Tuyền 23

1.2.1 Quan niệm về nghệ thuật 24

1.2.2 Quan niệm về nhà thơ 28

1.2.3 Quan niệm về thơ 31

CHƯƠNG 2: NHỮNG TÌM TÒI VỀ CẤU TRÚC, SÁNG TẠO VỀ THI ẢNH TRONG THƠ THANH TÂM TUYỀN 37

2.1 Những tìm tòi về cấu trúc trong thơ Thanh Tâm Tuyền 37

2.1.1 Quan niệm về cấu trúc 37

2.1.2 Cấu trúc trong thơ Thanh Tâm Tuyền 38

2.1.2.1 Cấu trúc mở, phi tuyến tính 38

2.1.2.2 Cấu trúc theo kiểu cắt dán, lắp ghép 43

Trang 2

2.1.2.3 Cấu trúc lập thể 46

2.2 Những sáng tạo về thi ảnh trong thơ Thanh Tâm Tuyền 51

2.2.1 Thi ảnh trong thơ 51

2.2.2 Hệ thống thi ảnh trong thơ Thanh Tâm Tuyền 52

2.2.2.1 Thi ảnh mang màu sắc cực thực 52

2.2.2.2 Thi ảnh mang màu sắc siêu thực 57

2.2.2.3 Thi ảnh mang tính thể nghiệm mới và lạ 61

CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐÓNG GÓP ĐỘC ĐÁO VỀ CÚ PHÁP VÀ NGÔN NGỮ TRONG THƠ THANH TÂM TUYỀN 67

3.1 Cú pháp trong thơ Thanh Tâm Tuyền 67

3.1.1 Cú pháp trong thơ nói chung 67

3.1.2 Những đóng góp về cú pháp trong thơ Thanh Tâm Tuyền 68

3.1.2.1 Phá vỡ cú pháp truyền thống 68

3.1.2.2 Tổ chức từ ngữ theo hướng tự do 72

3.2 Ngôn ngữ thơ Thanh Tâm Tuyền 77

3.2.1 Khái niệm ngôn ngữ thơ 77

3.2.2 Những biểu hiện trong ngôn ngữ thơ Thanh Tâm Tuyền 78

3.2.2.1 Ngôn ngữ trần trụi, thô tháp, mang tính bạo động 78

3.2.2.2 Ngôn ngữ của giấc mơ 81

3.2.2.3 Ngôn ngữ mang âm hưởng phong khí Jazz 84

KẾT LUẬN 89

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ra đời năm 1956, tạp chí Sáng tạo quy tụ nhiều tên tuổi thuộc nhiều

lĩnh vực sáng tác như: Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Nguyên

Sa, Doãn Quốc Sĩ, Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Sĩ Tế, Quách Thoại, Duy

Thanh Họ đều mang trong mình khát vọng“làm thay đổi bộ mặt thơ văn

Việt Nam” (Thụy Khuê) Sáng tạo đã thành công trong việc hiện đại hóa văn

học, cả về lý thuyết lẫn sáng tác, giao hòa trong hai dòng tư tưởng lớn của thế

kỷ XX: Hiện sinh và Siêu thực

Trong số những gương mặt nổi bật của nhóm Sáng tạo, Thanh Tâm

Tuyền (1936 - 2006) được coi là người đổi mới thi ca tiêu biểu nhất, người bẻ

lái con tàu thơ, góp phần làm nên cuộc “thay máu” của thơ ca Việt Nam sau

1954 Người ta ca ngợi, người ta khẳng định tài năng và đòi phải xác lập vị trícủa Thanh Tâm Tuyền trong thơ ca Việt Nam hiện đại Thế nhưng, việc tìmhiểu những nỗ lực cách tân thơ của Thanh Tâm Tuyền vẫn chưa được quantâm đúng mức, dư luận vẫn còn dè dặt, dường như chưa có ai thâm nhập được

vào vùng “đất đai” thơ Thanh Tâm Tuyền: “Người đọc theo dõi, tìm hiểu,

chứ thật sự yêu thích thì không nhiều”; có bài báo chê trách thơ ông “lập dị,

bí hiểm, hũ nút”; có người xem lối thơ Thanh Tâm Tuyền đã “hành hạ óc thưởng ngoạn khiến tôi khổ sở đến độ có ác cảm” [81].

Có thể nói, Thanh Tâm Tuyền là một hiện tượng độc đáo Với Tôi

không còn cô độc (1956) và Liên, Đêm, Mặt trời tìm thấy (1964), ông đã đem

đến cho văn học Việt Nam những giá trị mới – những giá trị mang tầm thờiđại Việc tìm hiểu và đi sâu khai phá những đóng góp ấy là một việc làm cầnthiết, cũng là để hiểu sâu sắc hơn hành trình sáng tạo của một người nghệ sĩ

có khát vọng chân thật và tấm lòng gắn bó tha thiết với cuộc đời Trong hànhtrình sáng tạo thơ của Thanh Tâm Tuyền, chúng tôi đi sâu khám phá những

Trang 4

tìm tòi cách tân của ông về nghệ thuật để nhận diện rõ hơn gương mặt thơ độc

đáo này, cũng là một cách ghi nhận sự khác biệt của Sáng tạo với các khuynh

hướng thơ khác

Cho đến nay, vấn đề hình thức nghệ thuật không còn bị hiểu một cách

phiến diện như trước nữa Theo Bakhtin “Hình thức hoàn toàn không phải là

vỏ bọc, là bình chứa của nội dung, hình thức cũng không đơn giản là trò chơi của ngôn từ” Ngược lại, “đó là phần tinh đọng nhất của tác phẩm nghệ thuật, dồn nén trong nó thế giới quan, nhân sinh quan” của nhà văn, thể hiện

rõ nhất “tâm huyết của người nghệ sĩ trong quá trình cảm nhận, chiếm lĩnh

cuộc sống bằng những sáng tạo, đột phá ở phương diện nghệ thuật” [98, 7].

Từ phương diện nghệ thuật, có thể giải mã các hiện tượng văn học, nhìn nhậnlại những đóng góp của họ cho nền văn học nước nhà

Với đề tài “Nghệ thuật thơ Thanh Tâm Tuyền”, chúng tôi mong muốn

đem đến một cái nhìn khách quan, khoa học về hành trình cách tân thơ Việtcủa thi sĩ tài hoa, độc đáo: Thanh Tâm Tuyền Đó cũng là một lối nhỏ mở ranhững hướng nghiên cứu tiếp theo về văn học đô thị miền Nam 1954 – 1975nói riêng và nền văn học Việt Nam nói chung

ý kiến tranh luận về tác phẩm của Thanh Tâm Tuyền dường như chưa bao giờdứt Các bài viết đó đã khám phá được gì ở thế giới thơ độc đáo, mới lạ củaThanh Tâm Tuyền?

Trang 5

Trước hết, về nội dung: Thơ Thanh Tâm Tuyền mang hơi thở cuộcsống đô thị Sài Gòn những năm 50, 60 của thế kỷ XX Đó là tâm lí lo âu,hoang mang, chán nản; đó là cảm giác thất bại, tuyệt vọng, cô đơn rất giốngvới tâm thức của một thế hệ thanh niên châu Âu sau Thế chiến II Chínhnhững đổi thay của thời cuộc ấy đã trở thành những chấn thương dai dẳngtrong tâm hồn con người, trở thành những ám ảnh không dứt trong thơ ThanhTâm Tuyền Thơ Thanh Tâm Tuyền thường xoay quanh các vấn đề chính như

tình yêu, con người thất bại, chiến tranh, màu da Đặng Tiến cho rằng: “Thơ

Thanh Tâm Tuyền tự nó, là một thế giới và đồng thời một không gian nhìn ra thế giới ” Từ không gian ấy, Thanh Tâm Tuyền nhìn thấy rõ “Ý thức thất bại của con người trước định mệnh mà cụ thể, là sự bất lực của giai cấp trí thức Việt Nam trước thời cuộc” Thanh Tâm Tuyền không chối bỏ sự thật,

“nói được những cái sự thật ấy là sống cái trận bão thổi qua chính mình và

thấu hiểu được cái gọi là đời sống” Quỳnh Giao trong bài viết Vòng tay bát

ngát Thanh Tâm Tuyền có lý khi khẳng định rằng “Thơ Thanh Tâm Tuyền vượt khỏi hoàn cảnh và là vòng tay bát ngát ôm được nỗi đau của nhân thế, ở mọi nơi, mọi thời”.

Đi sâu vào bút pháp, những người đọc và yêu thơ Thanh Tâm Tuyềnđều nhận ra vẻ đẹp mới lạ trong nỗ lực cách tân nghệ thuật của ông Các ýkiến đã cụ thể hóa mãnh lực sáng tạo, cách tân riêng của Thanh Tâm Tuyềnnhư thế nào?

Trong bài viết Kinh nghiệm đọc thơ Thanh Tâm Tuyền, nhà nghiên cứu

Lê Huy Oanh đã đưa ra nhận định: “Thơ Thanh Tâm Tuyền không còn lệ

thuộc vào những quy tắc văn phạm cố hữu, không lệ thuộc những hình thức thi ca sẵn có: sự cân đối không được đếm xỉa tới, phương pháp chấm câu bị hủy bỏ, vần vè không được chú ý tới Thêm vào đó là những hình ảnh phong phú kì lạ, những ý tưởng xuất hiện đột ngột, tất cả những cái đó thường được

Trang 6

xếp đặt với nhau một cách rời rạc, tạo cho bài thơ một nhịp điệu mới, một kiến trúc mới, một khả năng phát biểu mới, có nhiều sức gợi cảm hơn là truyền cảm” Chính hình thức mới trong thơ Thanh Tâm Tuyền chứng tỏ thơ

“luôn luôn ở trạng thái động”, khiến người đọc thơ cũng chính là người “đồngsáng tạo” Lê Huy Oanh đặc biệt nhấn mạnh tới ngôn ngữ mới trong thơ tự doThanh Tâm Tuyền: “ người ta đã gặp trong thơ Tuyền rất nhiều dụng ngữ vàhình ảnh thật đặc sắc, tạo nên một cuộc chơi chữ và chơi hình ảnh đôi khi rấttáo bạo ” Sự táo bạo ấy thể hiện ở chỗ “Những ý tưởng và hình ảnh đượcđặt rời rạc bên nhau, không được liên kết bằng bàn tay kiến trúc của tác giảnhưng tự chúng, chúng liên kết với nhau”

Nguyễn Vy Khanh cũng lưu ý đến tính chất bất thường trong ngôn ngữ

thơ Thanh Tâm Tuyền “Thanh Tâm Tuyền đã phá vỡ cái tĩnh, cái nền của

ngôn ngữ, ông đã phá cái cấu trúc bình thường Ngôn ngữ trong thơ Thanh Tâm Tuyền bất thường, bất ngờ, lẫm lạ, không thứ tự cũng không thông thường nhưng nhiều khi cũng rất bình thường như lời nói ngoài phố chợ”.

Cũng tìm hiểu về ngôn ngữ thơ Thanh Tâm Tuyền, Thường Quán trong

bài viết Vài cảm nghĩ về thơ Thanh Tâm Tuyền thì cho rằng “Thanh Tâm

Tuyền muốn sử dụng một ngôn ngữ mới để khả dĩ nói được một đời sống của những sự thật Nó là một ngôn ngữ không uốn lượn, không bị bóp méo bởi phép tu từ, một ngôn ngữ tự nhiên ”.

Ngoài ngôn ngữ, các phương diện nghệ thuật có tính cách tân để ThanhTâm Tuyền “thực hành hơi thơ tự do Mở giác quan, mở những ngõ lạ xuốnglinh hồn” mà các nhà nghiên cứu thường nhắc đến là cấu trúc và hình ảnh Ở

Biệt khúc cho Thanh Tâm Tuyền, Bùi Vĩnh Phúc đã khẳng định lối viết của

Thanh Tâm Tuyền chủ yếu dựa vào “những khuôn âm lạ, những hình ảnh lạ,

những kết hợp lạ về ngữ nghĩa và âm điệu”.

Trang 7

Còn theo Bùi Bảo Trúc, “Thanh Tâm Tuyền không chỉ từ bỏ những mô

thức cũ, những cái khung cũ của thơ Việt Nam trước ông, mà ông còn chọn cho mình một thứ ngôn ngữ và những hình ảnh mới vào đúng lúc nền văn học Việt Nam cần những thứ máu mới, khác và lạ” Đỗ Lai Thúy cũng đã có những

phát hiện độc đáo khi chỉ ra cấu trúc tác phẩm thơ Thanh Tâm Tuyền qua bài

viết Thanh Tâm Tuyền, người đi tìm tiếng nói: “Cấu trúc thơ Thanh Tâm

Tuyền là một cấu trúc mở (Prigozhin) hay cấu trúc động Nghĩa là nó còn có một lực ly tâm, cũng mạnh mẽ không kém gì lực hướng tâm, khiến nhiều khi cấu trúc thơ trở nên xộc xệch, để cho các từ vượt thoát khỏi hấp lực của trường ngữ nghĩa nguyên thủy đi lang thang ra ngoài tìm những trò chơi mới”.

Tác giả Thụy Khuê trong Cấu trúc thơ đã đặt thơ Thanh Tâm Tuyền

trong dòng mạch siêu thực để thấy rằng tính chất thơ tự do Thanh Tâm Tuyền

được gia tăng nhờ ảnh hưởng của chủ nghĩa siêu thực: “ ảnh hưởng siêu thực

khiến ông phá vỡ những bến bờ cấm cản của lí trí, để đưa ra những câu thơ đớn đau tột độ Kĩ thuật tạo hình của siêu thực giúp ông hình thành một cách lập ngôn mới, và như thế, Thanh Tâm Tuyền đã nắm bắt được khá toàn diện những trào lưu tư tưởng Tây phương đương thời, để thể hiện trong văn học Việt Nam ” Thụy Khuê nhấn mạnh yếu tố siêu thực trong thơ Thanh Tâm

Tuyền ở các phương diện: trạng thái sáng tạo mơ tỉnh trong vô thức, cách nhìn thực tại là một chuỗi liên tục những đứt đoạn, hình ảnh tân kì biện pháp siêu

thực tận dụng đến kiệt cùng khiến Thanh Tâm Tuyền “là một trong những nhà thơ giàu hình ảnh nhất Việt Nam Ông là một tác giả phức tạp, tương phản Một đặc trưng hiếm hoi trong văn học Việt Nam từ trước đến giờ”.

Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hải trong Luận văn Thạc sĩ Thanh Tâm

Tuyền trong tiến trình thơ Việt hiện đại đã có những cảm nhận về hành trình

sáng tạo của Thanh Tâm Tuyền Tác giả khẳng định tính bước ngoặt của thơThanh Tâm Tuyền phải kể đến trên hai phương diện quan trọng: đó là một cái

Trang 8

Tôi mới lạ độc đáo và đó là dấu ấn hiện sinh, màu sắc siêu thực trong thơ ông.

“Thanh Tâm Tuyền là bước ngoặt đưa thơ ca Việt Nam tiến vào sân chơi hiện đại của thơ ca thế giới nói chung và nghệ thuật nói riêng”.

Có thể nói, giá trị di sản thơ ca Thanh Tâm Tuyền đã và đang ngàycàng được khẳng định chắc chắn trong nền văn học Việt Nam Thơ ông đãđược giới thiệu trong ngày thơ Việt Nam lần thứ V tại Văn Miếu và xuất hiện

trong một tuyển tập thơ Việt Nam thế kỷ XX Mặc dù ông đã đi vào cơn lâm

lụy nhưng những bài thơ ông để lại “có lẽ là những bằng chứng đẹp nhất về một cuộc đời tha thiết mà ông đã đi qua Nó như một tấm áo mà người ta có thể cởi ra và để lại với đời!” Xin mượn lời của nhà nghiên cứu Bùi Vĩnh

Phúc để viết lên Biệt khúc cho Thanh Tâm Tuyền, cũng là khép lại những ý kiến nhận xét, đánh giá về một con người – một nhà thơ đã tạo nên “bước

ngoặt trong nghệ thuật và tâm thức Việt Nam” (Đặng Tiến).

Trên đây, chúng tôi đã điểm qua những bài nghiên cứu tìm hiểu về thơThanh Tâm Tuyền Có thể xem đó là những ý kiến khoa học, nghiêm túc, xácđáng, những gợi mở khá thú vị về thơ Thanh Tâm Tuyền Tuy nhiên, phầnnhiều các bài nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở các nhận diện lẻ tẻ, thiếu tínhchất hệ thống, chưa phân tích, triển khai sâu rộng, cụ thể qua văn bản thơ Vìvậy, chúng tôi thấy cần phải đi sâu vào văn bản tác phẩm – đi sâu vào thế giớinghệ thuật của tác phẩm để thấy rõ hơn những tìm tòi, cách tân nghệ thuật độcđáo của Thanh Tâm Tuyền

Với đề tài Nghệ thuật thơ Thanh Tâm Tuyền, chúng tôi muốn góp

thêm một tiếng nói trong hành trình giải mã thơ Thanh Tâm Tuyền, mở ramột cánh cửa để thâm nhập sâu hơn vào lâu đài thơ, mà ở đó, Thanh Tâm

Tuyền là vị hoàng đế đầy đủ quyền uy, đầy tài năng, bản lĩnh và khát vọng

sáng tạo

Trang 9

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là nghệ thuật thơ Thanh Tâm

Tuyền Dõi theo hành trình của Thanh Tâm Tuyền trong nhóm Sáng tạo và

trong hành trình cách tân thơ Việt, Luận văn đi sâu vào một số phương diện

cơ bản của sự cách tân ấy: đó là cấu trúc, thi ảnh, cú pháp và ngôn ngữ

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Sự nghiệp thơ ca của Thanh Tâm Tuyền được nhận diện qua ba tập thơ:

Tôi không còn cô độc (1956), Liên, Đêm, Mặt trời tìm thấy (1964) và Thơ ở đâu xa (1990) Trong khuôn khổ Luận văn này, người viết sẽ chỉ tập trung

nghiên cứu những cách tân nghệ thuật của Thanh Tâm Tuyền trong các sáng

tác trước năm 1975 Cụ thể là hai tập thơ Tôi không còn cô độc và Liên, Đêm,

Mặt trời tìm thấy Đây cũng là hai tác phẩm đã xác lập vị trí của Thanh Tâm

Tuyền trong tiến trình văn học dân tộc

Những bài thơ làm trong thời gian tù đày cải tạo được xuất bản với tựa

đề Thơ ở đâu xa (1990) vận động theo một hướng khác, nên người viết sẽ

không khảo sát Trong quá trình nghiên cứu, người viết chỉ sử dụng để sosánh, đối chiếu, nhận diện những thay đổi trong thơ Thanh Tâm Tuyền

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Thế giới nghệ thuật của mỗi nhà thơđều tồn tại như một hệ thống, một chỉnh thể Do vậy, sử dụng phương pháp nàyvới các thao tác: thống kê, khảo sát, phân loại giúp người người viết nhận radiện mạo phong phú, đa dạng của hình thức nghệ thuật thơ Thanh Tâm Tuyền

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Từ sự phân tích cụ thể cái hay, cáiđẹp trong mỗi tác phẩm thơ Thanh Tâm Tuyền, người viết tổng hợp khái quát

Trang 10

để có những kết luận khách quan, tránh những áp đặt chủ quan không bám sátvăn bản thơ.

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh thơ Thanh Tâm Tuyền vớithơ của các tác giả cùng thời để tìm ra những nét chung mang tính thời đại vànhững nét đặc sắc, riêng biệt, bứt phá trong những tìm tòi thể nghiệm củaThanh Tâm Tuyền

- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng thêm các phương pháp liên ngành: thipháp học, loại hình học, văn hóa học như một biện pháp hữu hiệu nhằm nhậndiện những đặc điểm chủ yếu trong thế giới nghệ thuật thơ Thanh Tâm Tuyền

5 Đóng góp của Luận văn

- Vận dụng những kiến thức lí luận đã có để đưa ra những nhận định vềđặc điểm cấu trúc, thi ảnh, cú pháp và ngôn ngữ trong thơ Thanh Tâm Tuyền

- Từ đó khẳng định rõ hơn những đóng góp của Thanh Tâm Tuyềntrong quá trình đổi mới thi ca Việt Nam theo hướng sáng tạo và tích cực

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Thanh Tâm Tuyền trong nhóm Sáng Tạo và hành trình cách

tân thơ Việt

Chương 2: Những tìm tòi về cấu trúc, sáng tạo về thi ảnh trong thơThanh Tâm Tuyền

Chương 3: Những đóng góp độc đáo về cú pháp và ngôn ngữ trong thơThanh Tâm Tuyền

Trang 11

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: THANH TÂM TUYỀN TRONG NHÓM SÁNG TẠO VÀ

HÀNH TRÌNH CÁCH TÂN THƠ VIỆT

1.1 Cơ sở của sự cách tân nghệ thuật ở Thanh Tâm Tuyền

1.1.1 Những tiền đề thời đại

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơnevơ về Đông Dươngđược ký kết vào tháng 7 năm 1954 Nhưng tiếng súng chỉ tạm ngưng trên dảiđất hình chữ S này Do sự can thiệp của Mỹ, đất nước ta tạm thời bị chia cắtlàm hai miền, lấy vĩ tuyến 17 – sông Bến Hải – làm ranh giới Sau hai năm, cảnước sẽ tiến hành tổng tuyển cử, thống nhất đất nước Bản Hiệp định chưa ráomực, Mỹ đã dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam với chiêu bài

tự do, chống lại chế độ cộng sản ở miền Bắc, phá vỡ hiệp định Giơnevơ

Cũng chính trong giai đoạn này, một sự kiện để lại dấu ấn đậm néttrong lịch sử dân tộc là cuộc di dân của hơn một triệu người từ Bắc vào Nam.Theo bước chân những người di cư, văn hóa các vùng miền hội tụ về đây, đặcbiệt tại Sài Gòn và những thành phố lớn Những đổi thay bên ngoài như môitrường, điều kiện sống, văn hóa, phong tục tập quán đã tạo nên những xáotrộn bên trong mỗi tâm hồn người Nó gieo vào lòng người những chia rẽ,hoài nghi, những hi vọng, thất vọng, những niềm tin tưởng, sự hụt hẫng Và

nó còn được coi là dấu mốc, mở đầu cho một nền văn học – “nền văn họcgiữa hai cuộc di cư” Trong khoảng hai mươi năm (1954 - 1975), văn họcmiền Nam tồn tại giữa hai thời điểm lịch sử dứt khoát, chỉ có khởi đầu và kếtthúc, không có quãng chuyển tiếp Nói như Võ Phiến, “giữa hai thời điểm lịch

sử dứt khoát, tại miền Nam, một nền văn học thành hình thật nhanh, phát triển

Trang 12

tưng bừng và vội vã, rồi bị vùi dập một cách tức tưởi” [83] Văn học miềnNam như ngôi sao chổi vụt lóe sáng, vừa kịp để lại dấu ấn hưng thịnh, hoàngkim rồi vụt biến mất, chỉ còn lại ánh hồi quang về cái thời một đi không trởlại Hai điểm dứt khoát ấy là hai cuộc di cư 1954, miền Nam trở thành điểmđến của hơn một triệu di dân miền Bắc và hai mươi năm sau, cũng chính tạimảnh đất này, miền Nam lại trở thành điểm tiễn đưa, điểm giã từ, đúng hơn,điểm trốn chạy của dòng người di dân ra hải ngoại khi Chính phủ miền NamCộng hòa sụp đổ Hai cuộc di dân, những biến động dữ dội của lịch sử, nhữngchấn thương tâm lí của thời đại đã khiến miền Nam trở thành một đặc khu vănhóa được bao phủ bởi bầu khí quyển đặc thù.

Sự đổ bộ của quân đội Hoa Kỳ vào miền Nam Việt Nam, ba nền Cộnghòa đệ nhất, đệ nhị, đệ tam chóng vánh được dựng lên rồi nhanh chóng sụp

đổ, một mặt đem đến cho miền Nam sự hào nhoáng giả tạo, lối sống xa hoanửa vời được du nhập từ Hoa Kỳ, mặt khác đem đến những bất an triền miênbao trùm toàn xã hội Sự khốc liệt của chiến tranh, sự xảo trá núp dưới nhữngchiêu bài chính trị, những thay ngôi đổi vị chóng vánh, những biến động lớnliên tiếp diễn ra, người dân như sống trong vòm trời bất an tột độ “Mỗi conngười Việt Nam đều phải sống cùng một lúc hai thân phận Thân phận chiếntranh và thân phận bình thường của nhân loại Nó như một loài lạc đà haibướu gánh nặng một hành trang quá tải đi qua cuộc sống này” [78]

Chiến tranh vốn không còn xa lạ với người dân Việt nhưng chưa baogiờ hệ lụy của chiến tranh lại đặt con người vào tình thế đau đớn, giằng xé và

bi đát như cuộc chiến này Xã hội phân mảnh tung tóe như một trò chơi ghéphình trong tay những kẻ mưu đồ trong và ngoài nước, mạng sống của conngười như cỏ rác trong guồng máy chiến tranh, thân phận con người khi bị đặtbên hố tuyệt vọng, giữa sự sống – cái chết Tất cả mọi giá trị, mọi truyềnthống đều bị đem ra thử thách, để rồi bị gạt sang một bên “Một thế hệ lớn lên

Trang 13

không được ngày thanh bình, những nét tốt đẹp nhất của dân tộc bị thay thếbằng thù hận, bom đạn, tuyên truyền xảo trá, chiêu bài giả dối Thế hệ đó nhưsắp đánh mất quá khứ và căn cước của mình, sau bao nhiêu đổi thay đổ vỡquê hương chỉ còn là đống gạch vụn nát không thể trở về Một nền văn minhkhác đang đe dọa tiến vào xóa đi những truyền thống cũ” [17] Đây là giai

đoạn mà nhạc sĩ Phạm Duy gọi là “thần đồng gãy cánh, cõi tiên lạc lõng,

nhạc trời đứt đoạn”, còn Nguyên Sa gọi là “thế kỉ buồn”:

Thế kỉ chúng tôi trót buồn trong mắt Dăm bảy nụ cười không đủ xóa ưu tư Tay quờ quạng cầm tay vài tiếng hát Lúc xòe ra chẳng có một âm thừa

(Bây giờ - Nguyên Sa)

Trong hoàn cảnh chia cắt và chiến tranh ấy, xã hội miền Nam sau 1954

có những nét đặc thù, hội tụ mọi điều kiện để hình thành và phát triển một nềnvăn học mới Văn học miền Nam thời kỳ này chịu ảnh hưởng sâu sắc của cácluồng tư tưởng hiện đại, chủ yếu là: phân tâm học Freud, chủ nghĩa hiện sinh,chủ nghĩa siêu thực, văn học phi lý Trong đó đáng kể nhất là sự ảnh hưởngcủa hai trào lưu lớn, hai trụ cột của lâu đài thi ca thế giới: chủ nghĩa hiện sinh

và chủ nghĩa siêu thực

Chủ nghĩa hiện sinh ra đời sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất nhưng

sau chiến tranh thế giới lần thứ hai nó mới phát triển và đạt tới đỉnh cao Chủnghĩa hiện sinh là sự phản ứng đối lập lại chủ nghĩa duy lý thống trị trong vănhọc phương Tây hiện đại Chủ nghĩa duy lý đã khuếch trương rằng: khoa học

kỹ thuật là “chiếc đũa thần”, là “cẩm nang”, là biện pháp duy nhất và vạnnăng để giải quyết mọi vấn đề của xã hội, là phương tiện tạo nên sự hài hòacủa xã hội Xã hội duy lý hóa ở phương Tây đã sa vào khủng hoảng, suy đồi

khi nó làm phi nhân tính con người, con người chỉ còn là “một lực lượng vật

Trang 14

chất đơn thuần” theo cách nói của Mác, con người bị “tha hóa”, con người

trở thành bần cùng và kiệt quệ trong bộ máy kỹ thuật khổng lồ của xã hội hiệnđại Một xã hội phương Tây giàu có về vật chất nhưng lại nghèo nàn về vănhóa tinh thần, tăng trưởng nhanh chóng về kinh tế lại suy thoái nhanh về vănhóa, đạo đức Chủ nghĩa hiện sinh chính là sự phản ánh của con người trướctình trạng bất ổn về xã hội trong thời kì khủng hoảng toàn diện của chủ nghĩa

tư bản như lo sợ chiến tranh, không tin vào khoa học, đau khổ, phiền não,tuyệt vọng Họ nhìn cuộc đời là một chuỗi phi lí, đầy hư ảo, phù du Tâmthức này rất giống tâm thức của con người miền Nam ngày ấy: lo âu, hoangmang trước cuộc chiến ngày càng bùng vỡ, xót xa và nhục nhã bởi phậnngười thoi thóp trong chiến tranh, buồn chán và hoảng sợ trước nguy cơ mấtnhân tính của con người Cả một thế hệ đang trong tình thế khắc nghiệt củalịch sử đã tìm đến chủ nghĩa hiện sinh như một triết thuyết để xoa dịu cho tâmhồn, như một điểm tựa cho cõi tinh thần đang lạc lõng bơ vơ Sự đồng điệu từsâu thẳm tâm hồn đó khiến triết học hiện sinh trở thành thứ triết học thịnhhành nhất ở miền Nam Việt Nam Chưa bao giờ sự tiếp nhận triết học ở ViệtNam lại diễn ra đồng thời với thế giới đến vậy: “Công chúng đọc F.Sagan tạiSài Gòn cùng lúc với Paris Trên hè phố, nhất là tại các quán cà phê, người tabàn luận về Malraux, Camus, cả về Faulkner, Gorki, Huserl, Heidegger”[117] Triết học hiện sinh đã thấm rất sâu vào nhận thức, tâm hồn của thế hệthanh niên đô thị miền Nam Bởi nó không đến bằng con đường xâm lăng,cưỡng bức văn hóa mà đến bằng sự đồng điệu tâm hồn của những con ngườicùng sống trong bao hệ lụy của chiến tranh tàn khốc Các tác giả miền Nam

đã bắt đầu cầm bút nơi hố thẳm cuộc đời ấy để ghi lại cái nhìn của họ về đờisống Đời sống được họ miêu tả như một thảm kịch, một hư vô, con người bịtreo chơi vơi, hoàn toàn bất lực trên miệng sâu vực thẳm Từ nhãn quan ấy,

Thanh Tâm Tuyền nhìn đời, thấy đời như một bãi cát lầy, ở đó chỉ có những

Trang 15

kiếp sống nhầy nhụa, lầm lỗi trong tuyệt vọng và tôi không tìm thấy tôi – mộtbãi cát lầy bị bỏ quên trong tuyệt vọng Còn Nguyễn Thị Hoàng ví cuộc sốngnhư là một “thành lũy hư vô”, ở đó ngày lại ngày mọc lên những nấm mồmới Mọi cảm xúc đã lịm chìm, chỉ còn lại một con người kéo lê cái thân xáctrong cõi hồng trần mà thôi Trong thơ, Nguyễn Bắc Sơn cũng tự thú:

Ta mắc bệnh ung thư thời chiến Thoi thóp còn một trái tim khô

Sợ hãi con người hơn thú dữ Nhìn nơi nào cũng thấy hư vô

(Căn bệnh thời chiến - Nguyễn Bắc Sơn)

Cuộc đời là nhạt nhẽo, là vô vị, là phi lý và cuộc đời thật đáng buồn

Phải chăng đó là những “chứng từ có thật” để định vị cho thân phận của con

người trong đất trời ở một miền mịt mù và khét lẹt khói súng – thân phận củacon người miền Nam những năm 1954 – 1975

Cùng với chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa siêu thực trở thành một trong

hai trào lưu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến văn học miền Nam giai đoạn này

Cơ sở xã hội hình thành chủ nghĩa siêu thực cũng giống như các trào lưu kháccủa chủ nghĩa hiện đại Đó là thời kỳ phát triển rực rỡ của khoa học kỹ thuậtnhưng đi cùng với nó là sự hoang mang của xã hội loài người Đại chiến thếgiới thứ nhất đã để lại di chứng nặng nề cho cả “một thế hệ mất mát” Bầukhông khí tăm tối, phi lí bao phủ khắp Châu Âu và cả tâm thức con người Họ

lo âu trước sự đe dọa của một cuộc chiến tranh mới, họ day dứt trước bao điềutrái ngược trong cuộc sống thực tại, họ muốn đi tìm một cách nhìn mới về thế

giới Và chủ nghĩa siêu thực trở thành sự cố thơ trọng đại nhất của thời hiện

đại bởi nó đem đến một bước đột phá mới trong nhận thức về thế giới và con

người Từ thuyết phân tâm học của Freud và thuyết trực giác của Bergson,chủ nghĩa siêu thực đã khai mở một địa hạt mới cho nghệ thuật Breton xứng

Trang 16

đáng là một “giáo hoàng” khi ông khải thị cho văn chương những điều trướcđây nghệ thuật mới chỉ manh nha mơ hồ chứ chưa từng ý thức Về cái nhìnthế giới, chủ nghĩa siêu thực đã khai mở một thế giới thực – ảo hỗn độn, phi

lí, mọi ranh giới bị xóa nhòa Về cái nhìn con người, chủ nghĩa siêu thực đã đivào thế giới của vô thức, tâm linh, thế giới của những giấc mơ Chủ nghĩasiêu thực cũng tạo nên bước đột phá trong phương pháp sáng tác khi đề ra lốiviết tự động và phương pháp tạo hình với những hình ảnh ngẫu hứng, tự do

Ở miền Nam, những năm 1954 – 1975, văn hóa phương Tây và văn hóa

Mỹ đã thổi những luồng gió mới vào văn học ở các đô thị Khác với thời tiềnchiến, thơ miền Nam giai đoạn này đã đón nhận chủ nghĩa siêu thực phươngTây một cách có ý thức Hơn nữa, việc bảo lưu những hạt mầm văn nghệ tiền

chiến và những hướng cách tân của nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm ở miền Bắc

cho thấy văn học miền Nam đã nối lại nguồn mạch siêu thực bị đứt đoạn dobiến cố lịch sử Chủ nghĩa siêu thực đến với văn học miền Nam, do đó, khôngphải đến trên một mảnh đất trống mà đã có cội nguồn từ trước, không phảiđến như một thứ chủ nghĩa độc tôn như chủ nghĩa lãng mạn thời kỳ đầu Thơmới mà đến trong sự tương tác mạnh mẽ với chủ nghĩa hiện sinh Siêu thực

trong Nam phát triển khá mạnh mẽ mà tâm điểm là nhóm Sáng Tạo Trên

thực tế, Sáng Tạo đã thành công trong việc giao hòa hai dòng tư tưởng lớncủa thế kỷ XX: Hiện sinh và Siêu thực

1.1.2 Nhóm Sáng Tạo và hoạt động văn học của Thanh Tâm Tuyền

1.1.2.1 Nhóm Sáng Tạo

Cuộc di cư của đồng bào miền Bắc vào năm 1954 đã để lại nhiều dấu

ấn cho dân tộc và sự chuyển đổi này đã hình thành những biến cố có tính chấtlịch sử, trong đó phải kể đến sự thành lập nhóm Sáng Tạo Nhóm gồm nhữngsinh viên từ miền Bắc di cư vào Nam thời gian đầu của năm 1954 “Chúng tôidăm ba người gốc miền Bắc vào miền Trung, tuổi khác nhau trên dưới ba

Trang 17

mươi nhưng không quá cách biệt, vì tình cờ do chiến tranh, đã gặp nhau vàomột thời điểm – năm 1954 – và một nơi không định trước của miền Nam –Sài Gòn” [32] Những người “cùng một lứa bên trời lận đận” ấy đầu tiên họp

nhau trong tờ báo Người Việt (tiền thân của tờ Sáng Tạo), rồi đến tháng 10 năm 1956, nguyệt san Sáng Tạo chính thức ra đời Mặc dù có những ý hướng,

chủ trương nghệ thuật khác biệt ở từng cây bút, nhưng qua 38 số cả bộ cũ lẫn

bộ mới (Sáng Tạo cũ ngừng ở số 27, tháng 12 năm 1958 và bộ mới tiếp tục

đến số 7, tháng 3 năm 1962) [50] người ta vẫn thấy trọn vẹn một Sáng Tạo với ý thức văn nghệ mới và hành động làm mới văn học thời đó Trên Sáng

Tạo xuất hiện những tên tuổi: Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sỹ,

Nguyễn Sỹ Tế, Trần Thanh Hiệp, Duy Thanh, Lữ Hồ, Ngọc Dũng, Thái Tuấn,Quách Thoại, Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên,Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đức Sơn… Họ đã thổi vào không khí văn nghệmiền Nam đương thời những luồng gió mới, khơi dậy một không khí tranhluận “vị nghệ thuật” sôi động Trong bài “Nhìn lại tạp chí Sáng Tạo” đăng

trên tờ Khởi Hành số 61 tháng 11 năm 2001, Nguyễn Sỹ Tế có viết rằng: “Có

thể nói chủ trương của Sáng Tạo là dùng phương tiện văn chương và nghệ thuật đấu tranh cho tự do, thúc đẩy sự đổi mới, dung nạp những dị biệt cá tính trong một nền văn hóa phong phú và cởi mở hơn…” Để khai phá cái

mới, thúc đẩy sự đổi mới, Sáng Tạo đã phải nói lời đoạn tuyệt với mọi công thức ước lệ cũ, “chặt đứt quá khứ”, “chôn tiền chiến” để làm nghệ thuật hôm nay Và họ cũng biết rằng: “Có thể thế hệ sau chúng ta sẽ làm lại hành động

này với thế hệ chúng ta Và chúng ta chấp nhận đó là một hành động tất yếu cho sự tiến hóa của nghệ thuật Nghệ thuật là một vận động biện chứng của hủy diệt và sáng tạo” [80].

Ngoài những sáng tác để lại cho đời sau, Sáng Tạo thường tổ chức

những cuộc hội thảo nhằm tìm hướng đi cho nhóm của mình Nhìn lại các

Trang 18

cuộc hội thảo của nhóm Sáng Tạo về văn nghệ tiền chiến, về thơ, về văn, về họa tập hợp in trong cuốn Thảo luận (Sáng Tạo, 1965) người ta thấy những tuyên bố đầy tính chất “nổi loạn” như: “Nghệ thuật tiền chiến là một nghệ

thuật của những rung cảm hời hợt, giả tạo” (Nguyễn Sỹ Tế), “Âm nhạc tiền chiến không tạo được tiết điệu nào mới, chỉ là những bài hát lai Tây” (Trần

Thanh Hiệp), “Văn chương tiền chiến đã lùi hẳn một thế kỷ, so với trào lưu

thế giới thì hội họa tiền chiến lùi xa hơn nữa Lùi xa đến vài ba thế kỷ” (Thái

Tuấn) Trong con mắt của các tác giả nhóm Sáng Tạo, văn nghệ tiền chiến đã

kết thúc sứ mạng của mình, cần phải loại bỏ nó trong đời sống văn học hôm

nay bởi ảnh hưởng của tiền chiến là “ảnh hưởng xấu, ảnh hưởng của một nền

nghệ thuật đã lỗi thời” (Mai Thảo) Thanh Tâm Tuyền mạnh mẽ hơn khi khi

nói rằng nông cạn của nghệ thuật tiền chiến, lỗi chính vẫn là ở những ngườisáng tác, không phải ở hoàn cảnh

Các thành viên trong tạp chí Sáng Tạo khẳng định Thơ mới là thứ văn

chương nông cạn, không có tính tư tưởng và ủy mị, không nhìn thấu suốt đời

sống Nhà thơ Tô Thùy Yên chỉ trích “Cho nên Thơ mới đã chẳng vượt qua

được giới hạn của một thứ tình cảm sướt mướt, ỉ ôi, không bộc lộ được sự lớn lao của con người, theo ý tôi là ở chỗ nó đau đớn, ê chề mà vẫn giữ được điềm tĩnh, sáng suốt trước đời sống thù nghịch, khảo sát nó và chinh phục nó Còn kẻ bận khóc than thì không thể nhìn thấy đời sống” [96] Họ còn cho

rằng, Tự Lực Văn Đoàn vẫn hạn chế trong việc khai phóng một nền vănchương thật sự cho đất nước, những thành tựu của Tự Lực Văn Đoàn cần phải

xét lại bởi “Tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn được quần chúng thời đó tán

thưởng, một phần cũng bởi vì tiểu thuyết đó đã đánh trúng vào thị hiếu quần chúng mà thôi” [96].

Trong quan niệm về ngôn ngữ thơ, các tác giả Sáng Tạo mong muốn

thơ ca phải thoát li khỏi những giới hạn, những lối mòn cũ kĩ Nhà thơ phải

Trang 19

nói được một cái gì đó trong chiều sâu của lớp ngôn từ Người đọc chỉ có thểcảm nhận thơ chứ không thể hiểu thơ như văn chương truyền thống Nhà thơdẫn dắt độc giả tới miền cực lạc, kì thú để khám phá những vẻ đẹp muôn hìnhmuôn vẻ của những rung cảm thẩm mĩ mà bấy lâu nay, các nhà thơ lớp trước

chưa thể làm được “Nghệ thuật ngày nay đòi hỏi phải đoạn tuyệt với các

phương tiện cũ, nếu không được, thì người làm nghệ thuật phải khuấy động

và phá vỡ những phương tiện cũ ấy” [96].

Sáng Tạo đã có những định hướng về mặt lí luận và đóng góp đáng kể

trên thực tế sáng tác, “đã gây ngọn triều lớn trong giai đoạn 54 – 60… thổi

luồng gió mới vào sinh hoạt văn nghệ, làm thay đổi bộ mặt thơ văn ViệtNam” [52] Xuất phát từ con đường di cư nhưng lớp người bị lịch sử giày vò,

bị thời cuộc quật lên quật xuống ấy đã mở ra một con đường mới cho văn họcnghệ thuật miền Nam tự do, cất lên tiếng nói chân thật nhất của thế hệ mình

Điều mà Sáng Tạo để lại cho đời sau, đúng như nhạc sĩ Cung Tiến - một

thành viên trong nhóm đã nhận xét – “đó là điều mà họ cố đạt tới là lý tưởng

tự do, tự do trong sáng tạo” Và “ngọn cờ đầu của Sáng Tạo”, “người khởixướng thơ tự do tại Việt Nam” chính là Thanh Tâm Tuyền

1.1.2.2 Hoạt động văn học của Thanh Tâm Tuyền

Thanh Tâm Tuyền tên thật là Dzư Văn Tâm, bút hiệu khác: Đỗ ThạchLiên, sinh ngày 13/3/1936 tại Vinh – Nghệ An Năm mười sáu tuổi (1952)ông đi dạy học ở trường Minh Tân (Hà Đông) và có truyện ngắn đăng trên

tuần báo Thanh Niên, Hà Nội Năm mười bảy tuổi, truyện ngắn Viên đạn cuối

cùng của ông đã đạt giải Nhất trong cuộc thi do báo Thần Chung tổ chức Sau

đó, 1954 ông cùng với Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Sỹ Tế, Doãn Quốc Sỹ chủtrương nguyệt san Lửa Việt và hoạt động trong Tổng Hội Sinh viên Hà Nội di

cư Tại Sài Gòn, 1955, ông viết cho các tuần báo Dân Chủ, Người Việt và nổi

tiếng từ những tác phẩm đầu tay: tập thơ Tôi không còn cô độc (1956), và

Trang 20

truyện Bếp lửa (1957) Ông tích cực tham gia biên tập và là một thành viên

tích cực của tạp chí Sáng Tạo (1956 - 1960)

Năm 1962, Thanh Tâm Tuyền bị động viên vào trường Sĩ quan ThủĐức Sau khi tốt nghiệp, ông phục vụ tại các đơn vị: Trường Võ bị Đà Lạt,báo Tiền Tuyến của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, tập san Quốc Phòng củatrường Cao đẳng Quốc Phòng Năm 1966 giải ngũ, năm 1969 tái ngũ, ở trongquân đội cho đến 1975 Sau 1975, đi học tại tập tại nhiều trại cải tạo miềnBắc Cuối cùng sang định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO từ tháng 4 năm 1990.Ông qua đời trưa ngày 22 tháng 3 năm 2006 tại thành phố Saint Paut, tiểubang Minnesota vì bệnh ung thư phổi

Thanh Tâm Tuyền đã đi cả một chặng đường trong hành trình của Sáng

Tạo cũng như trong dòng chảy của văn học dân tộc Trong hành trình đó, có

lúc ông được ca ngợi, có lúc ông bị công kích, chê bai… nhưng Thanh TâmTuyền vẫn miệt mài, bền bỉ với khát vọng đi tìm cái mới cho nghệ thuật Vànhững tác phẩm ông để lại chính là thứ nghệ thuật đích thực ông gửi gắm chocuộc đời Các tác phẩm chính của Thanh Tâm Tuyền gồm:

Thơ:

- Tôi không còn cô độc (1956)

- Liên, Đêm, Mặt trời tìm thấy (1964)

Trang 21

số phận của một cá nhân mà là vận mệnh của nhiều người, của cả một thế hệtrong vòng xoáy lịch sử:

như bầy cừu được nhốt trong chuồng lớn rào gai sắc chết người người bị móc con ngươi trái tim tinh thần ném vào thú dữ

cấu xé nhau

(Tôi không còn cô độc)

Đi trong cơn bão tố lịch sử ấy, con người không thể trốn chạy mà phải

hành động, phải phản kháng, phải dấn thân Thanh Tâm Tuyền đọc “Marx tìm thấy giấc mộng biến cải thế giới, đọc Rimbaud tìm thấy giấc mộng thay đổi

cuộc đời, đọc Dostoievski tìm thấy thái độ tất cả hay không có gì hết, đọc Gide

tìm thấy đời sống thành khẩn trung thực, đọc Malraux tìm thấy hào quang của trí tuệ đối đầu với Định Mệnh, đọc J.P Sartre tìm thấy cuộc hiện sinh và chọn

lựa Hắn lớn lên cùng bè bạn vượt qua mau tuổi trẻ để suy nghĩ và ước mơ

hành động Mỗi đứa lăn mình theo mối cám dỗ lớn lao của hư vô” (Tựa Bếp

Trang 22

lửa) Bằng cách đọc trực tiếp, Thanh Tâm Tuyền ảnh hưởng phương Tây một

cách tự do và sáng tạo Với ông, tinh thần tự do còn phải đi liền với tiêu chí giữcho trung thực với cuộc sống, nói được sự thật của đời sống Thanh Tâm Tuyền

và các nhà văn thế hệ ông đã tìm thấy cho mình một hơi thở mới, một tiếng nóimới, một cái nhìn mới trên mảnh đất mới của miền Nam

Thanh Tâm Tuyền sáng tác truyện, kịch và có nhiều đóng góp về líluận… Nhưng có lẽ thơ mới là sở trường, là vùng trời tự do tuyệt đối của ông,tạo nên “một bước ngoặt trong nghệ thuật và tâm thức Việt Nam” (Đặng

Tiến) Ông đã làm choáng váng thi giới khi tung ra hai tập thơ Tôi không còn

cô độc (1956) và Liên, Đêm, Mặt trời tìm thấy (1964) Người ta nhận thấy sự

mới mẻ, táo bạo trong hành trình sáng tạo của Thanh Tâm Tuyền là ở chỗ:ông đã phá vỡ cái tĩnh, cái nền của ngôn ngữ, ông đã phá đi cái cấu trúc thơbình thường để tạo ra một trường ngôn ngữ riêng mang hơi thở của đời sốngđương đại Ẩn sau câu chữ còn hiện lên một cái tôi cô đơn, cô độc trong sựgiằng xé, giày vò tuyệt vọng Có lúc khép mình, có lúc hét lớn phủ nhận địnhmệnh song cái tôi ấy vẫn không thôi hi vọng và tiếp tục cuộc hành trình đầysôi nổi, thiết tha

Sau Tôi không còn cô độc (1956) và Liên, Đêm, Mặt trời tìm thấy

(1964), Thanh Tâm Tuyền viết ít hơn nhưng vẫn thể hiện những nỗ lực tìm

tòi, sáng tạo Bốn mươi bảy bài thơ làm trong thời gian tù đày cải tạo được xuất bản với tựa đề Thơ ở đâu xa (1990) như một sự nhận diện nữa về con

người nhà thơ Mặc dù không mãnh liệt và đậm nét như thời kì đầu, nhưngvẫn một hồn thơ ấy, như con sông đã qua ghềnh thác, lại tiếp tục chảy trôi đếnnhững miền đất mới, giấu những sục sôi xuống tận đáy lòng để mặt nước hiềnhòa và tĩnh lặng hơn Vượt qua định mệnh, vượt qua những trở ngại của sốphận, tiếng thơ Thanh Tâm Tuyền vẫn vang vọng và khát vọng đổi mới ở ôngvẫn luôn là nguồn cảm hứng cho những thế hệ sau bởi “Thơ Thanh Tâm

Trang 23

Tuyền cho tôi nhiều cảm xúc Mỗi lần trở lại với thơ ông, tôi đều tìm ra mộtnét gì mà tôi chưa hề thấy trước đó…” [87].

1.2 Quan niệm nghệ thuật của Thanh Tâm Tuyền

Quan niệm nghệ thuật là một khái niệm đã được sử dụng khá phổ biến

trong nghiên cứu phê bình văn học Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa:

“Quan niệm nghệ thuật chính là nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con ngườivốn có của hình thức nghệ thuật, đảm bảo cho nó khả năng thể hiện đời sốngvới một chiều sâu nào đó Là sự miêu tả hữu hạn của thế giới vô hạn là cuộcđời, hình tượng văn học phải được mở đầu và kết thúc ở đâu đó, con người vàcảnh vật phải được nhìn ở giác độ nào đó ( ) Quan niệm nghệ thuật thể hiệncái giới hạn tối đa trong cách hiểu thế giới và con người của một hệ thốngnghệ thuật, thể hiện khả năng, phạm vi, mức độ chiếm lĩnh đời sống của nó(…) Quan niệm nghệ thuật là hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống,

là sự quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật, nó gắn với các phạm trùphương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật, làm thành thước đo của hìnhthức văn học và là cơ sở của tư duy nghệ thuật”

Như vậy, quan niệm nghệ thuật luôn là kim la bàn cho sự sáng tạo củangười nghệ sĩ, dẫu không phải lúc nào quan niệm cũng có thể ôm trùm đượcthực tiễn sống động trong sáng tác của thi nhân Có những thi sĩ hình thànhquan niệm trước khi sáng tác Quan niệm khi ấy thực sự trở thành một thứ ánhsáng khải thị cho sáng tạo Nhưng cũng có những quan niệm chỉ đến saunhững chiêm nghiệm khi thi nhân trải qua bao nỗ lực tìm tòi Song dù ở góc

độ nào, quan niệm nghệ thuật vẫn là định hướng cho sự sáng tạo của ngườinghệ sĩ Có thể xuất phát từ đây để thâm nhập vào cõi thơ

Thanh Tâm Tuyền là một trong những nhà thơ tiên phong đổi mới tưduy thơ, một nhà thơ có bóng bao trùm một miền thơ rộng của thế kỷ XX.Đọc Thanh Tâm Tuyền có thể nhận thấy một bằng chứng khá thuyết phục

Trang 24

rằng: kẻ làm thơ muốn đổi mới thơ cần có một quan niệm mới, một suy tưthật mới, một cách nghĩ khác, một tiếng nói khác Và “mỗi phen cầm bút viếtvăn chương”, Thanh Tâm Tuyền luôn có ý thức lập ngôn cho tư tưởng sángtạo của mình Những tư tưởng ấy được thể hiện chủ yếu qua các bài viết vàcác tác phẩm như:

- Nỗi buồn trong thơ hôm nay (1955)

- Nhân nghĩ về hội họa (1956)

- Định nghĩa một bài thơ hay (Thơ, in trong tập Tôi không còn cô độc - 1956)

- Một bài thơ (Thơ, in trong tập Tôi không còn cô độc - 1956)

- Trèo lên cây bưởi hái hoa (1957)

- Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (1960 - 1965)

- Kinh nghiệm sáng tác trong tù (1993)

Với những quan niệm có khi được phát biểu trực tiếp, có khi gián tiếpthể hiện trong tác phẩm, Thanh Tâm Tuyền đã bày tỏ những suy tư giàu tính líluận, độc đáo, sâu sắc của mình về nghệ thuật nói chung, về thơ ca nói riêng

1.2.1 Quan niệm về nghệ thuật

Trên bốn số đầu tiên của Sáng Tạo (bộ mới) đã diễn ra cuộc thảo luận thẳng thắn, cởi mở của các thành viên nhóm Sáng Tạo Mong muốn của họ là

nhằm chỉ ra, xóa đi tàn dư của nền văn nghệ cũ và suy tư về các vấn đề cần cócủa nền văn nghệ mới, tìm hướng đi cho nhóm của mình Thanh Tâm Tuyền

đã thể hiện một phần các quan điểm cơ bản của mình về nghệ thuật, mà cùngvới đó, ông cũng trình bày một tiểu luận công phu, có giá trị như một tuyên

Trang 25

ngôn: Nghệ thuật đen Có thể thấy rằng, Nghệ thuật đen tập trung vào các vấn

đề chủ yếu trong tư tưởng nghệ thuật của Thanh Tâm Tuyền: định nghĩa về

Nghệ thuật đen, xác lập cơ sở và đặc trưng của Nghệ thuật đen từ chỗ chỉ ra

mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống trên nhiều phương diện như cáchnhận thức của nghệ thuật về đời sống, ranh giới giữa nghệ thuật và triết lý,nghệ thuật và luân lý

Mở đầu tiểu luận, Thanh Tâm Tuyền đã đưa ra định nghĩa về nghệthuật đen: “Gọi nghệ thuật đen là thứ nghệ thuật bi đát phẫn nộ, thứ nghệthuật dục tình suồng sã, thứ nghệ thuật vô luân trắng trợn Thứ nghệ thuật bịcác nhà đạo đức lên án, bị con người văn minh chối nhận, bị những ngườimác-xít dè bỉu – những hạng người rất nghịch nhau lại gặp nhau ở điểm này

Gọi nghệ thuật đen là nghệ thuật bị hắt hủi, một nghệ thuật mọi của những tên mọi trong xã hội Nhưng hãy nhận lấy một sự thực: mọi cũng là người và nghệ thuật của mọi cũng là nghệ thuật của người Và bọn mọi ấy

cũng muốn được phát biểu ý kiến như các ngài vậy”

Bằng lối văn hùng biện, Thanh Tâm Tuyền đã tấn công vào quan niệmxem thường thứ nghệ thuật bị cho là tôi mọi, là “phản động, phản tiến hóa,phản nhân loại”… mà người ta gán cho nghệ thuật đen dưới cái nhìn xã hội.Thanh Tâm Tuyền muốn đi tìm căn nguyên “tiến bộ, tiến hóa, nhân loại” của

nó từ bề sâu sự sáng tạo tinh thần cá nhân Với ông, “nghệ thuật trước hết làmột lối nhận thức đời sống Nhận thức nào cũng bắt đầu bằng sự chia lìa cầnthiết giữa một ý thức và đối tượng của nó Cấp độ của sự nhận thức cao thấptùy theo sự chia lìa ấy sâu xa hay hời hợt” Điều đó có nghĩa nhận thức nghệthuật xa lạ với nhận thức giản đơn trong “một trật tự được tự nhiên hóa”, nóxuất hiện ở những cơn địa chấn xã hội, xuất phát từ ý thức về sự bơ vơ, trơtrọi của con người với đời sống xung quanh khi bị hất tung ra khỏi trật tự

cuộc đời Sự chia lìa ghê gớm ấy chính là “khởi nguyên của ý thức, mầm

Trang 26

mống của thay đổi, của sáng tạo” Thanh Tâm Tuyền nhận thấy triết học và

nghệ thuật luôn đứng ở hàng tiền vệ của quá trình tiến hóa: “Triết lý luôn luôn

là một sự khởi đầu, kẻ tới sau muốn lật đổ áp lực người thuở trước Nghệthuật đối với các tác giả lớn cũng là một sự khởi đầu Nghệ thuật gần gũi vớitriết lí ở điểm này”

Chấp nhận nghệ thuật là một ý thức siêu hình về đời sống, giống nhưtriết lý, nhưng Thanh Tâm Tuyền cũng phát hiện và chỉ ra giới tuyến giữa

triết lý và nghệ thuật Theo ông, nhận thức nghệ thuật “thiên về cụ tượng, cố

gắng thâu tóm lấy sự toàn thể của thực tế lúc xuất hiện trong một ý thức khởi nguyên thông suốt – một thứ trực giác” còn nhận thức triết lý “thiên về quan niệm, cố gắng vượt từ những kinh nghiệm riêng tư đạt tới những ý tưởng chân xác phổ biến nhờ sự can thiệp của lý tính trong ý thức bằng sự sử dụng luận lý” Nếu nhà văn muốn đồng hóa văn chương với triết lý thì bao giờ

cũng dẫn tới sự thất bại trên bình diện nghệ thuật Chỉ ra bước tự sát của nghệ

thuật, Thanh Tâm Tuyền muốn làm rõ sự khác biệt của nghệ thuật xưa với

nghệ thuật hôm nay Nghệ thuật hôm nay tước bỏ hết những rung động thuầnkhiết – những rung động đẩy con người xa lìa sự sống hiện hữu để gắn bó mậtthiết với đời sống, để “chụp lấy trong những tình thế nhất định bằng những

kinh nghiệm độc nhất” Nghệ thuật hôm nay là nghệ thuật đen, “nghệ thuật

đen chính là cái ý thức siêu hình trước những cảnh ngộ trong đời sống hôm nay, là biểu thị sự tự do của những con người bằng xương bằng thịt trong những tình thế có thực của kiếp người, là lời kêu gọi cất lên cùng mọi người trong cuộc hành trình lịch sử phải sống.

Bởi đó nó bi đát phẫn nộ, nó suồng sã dục tình, nó vô luân trắng trợn”.

Thanh Tâm Tuyền đã chỉ ra những tính chất, đặc trưng cơ bản của nghệthuật đen, cái ưu thế cần thiết khiến nó trở thành nghệ thuật cần theo đuổi

trong hiện tại Ông khẳng định “Cái tính chất đen đầu tiên của nghệ thuật

Trang 27

ngày nay là sự bi đát đến phẫn nộ ít thấy ngày trước” Nghệ thuật đen đối

đầu với thực tế phũ phàng, tuyệt vọng nhưng không trốn chạy mà tìm cáchứng phó “Nghệ thuật đen đứng lại là một lời kêu gọi, ý thức siêu hình sángtạo của nó cố gắng đạt đến một nhận thức càng rộng rãi đầy đủ bao nhiêucàng hay bấy nhiêu, phô bày qua tác phẩm những thực kiện phức tạp cho thật

cụ thể chân xác, nỗ lực trong nhận thức triệt để về một cảnh ngộ là đã mở ranhững tầm chân trời để sự lựa chọn từng cá nhân đường lối thích hợp choriêng mình giải phóng mình khỏi cảnh ngộ Đối với xã hội, nghệ thuật đen giữvai trò là một ý thức dò hỏi phát hiện đến những vấn đề có liên quan đến kiếpsống con người, một ý thức siêu hình luôn luôn thức tỉnh hoạt động trongphạm vi của nó, không có tham vọng giải quyết Giải quyết thuộc phần vụ củacác ngành hoạt động khác trong xã hội nhân loại, nói cho đúng là công trìnhcủa cả một xã hội trong sự vận dụng hết mọi khả năng của xã hội ấy”

Đặc trưng thứ hai của nghệ thuật đen là “ý thức siêu hình về đời sống

thế tục, ý thức ấy có những nguồn mạch chằng chịt hút xuống đất” Vì thế

nghệ thuật đen khuyến khích những thử nghiệm, đề cao sự sáng tạo, chấpnhận sự nổi loạn để phiêu lưu trong cuộc chơi thú vị với ngôn từ “Trong nghệthuật đen đầy rẫy những xúc cảm đứng lại ở giác quan còn thô kệch xù xì khó

chịu, ý thức thuần túy băng hoại bám vào mở rộng ngoài da thịt thành một thứ

dục tình suồng sã” Thanh Tâm Tuyền đã xông vào mảnh đất cấm kị của nghệthuật để bày tỏ quan điểm của mình về bản năng, dục tình mà nghệ thuật đen

hướng tới Đó không phải là cái nhìn vừa e dè vừa khinh bỉ, như một khu đất

hoang chưa được khai thác trong nghệ thuật ở xứ ta một thời, Thanh Tâm

Tuyền đã đi vào khám phá những khắc khoải, dằn vặt sục sôi trong con người,kéo con người trở lại với chính mình “dục tình lại là điểm phát khởi của đờisống nhân loại lúc sơ khai và còn dự phần mãi mãi trong đời sống ấy, trong

nó có chứa đựng cái ý nghĩa siêu hình thiết thực của thế tục Không nhận thức

Trang 28

nào cụ thể mạnh mẽ hơn về sự sầu khổ hay hân hoan bằng sự sầu khổ, hânhoan hiện trong da thịt của một người, người ta không còn thể chối cãi rằng

đó chỉ là tưởng tượng” Đối với một vài cảnh ngộ, dục tình còn có thể coi nhưmột nguyên lý phát khởi cùng một lúc sự chối từ tất cả và sự yêu mến tất cả.Trong dục tình, người ta yêu cái chết cùng một lúc với sự sống Nói như J P

Sartre “dục tình ném con người vào trong lòng sôi sục của tự nhiên và đồng

thời nâng nó vượt khỏi tự nhiên do sự khẳng định cái quyền hạn của nó không được thỏa mãn”.

Có thể thấy, Thanh Tâm Tuyền đã tuyên bố một quan điểm khá mới mẻ

về vấn đề dục tình trong nghệ thuật Đó chính là sự thức nhận mới về conngười, về thế giới Đó cũng chính là mô hình nghệ thuật mới mà Thanh Tâm

Tuyền và lớp nhà văn lên đường như ông muốn gọi tên “Gọi nghệ thuật đen

không phải vì những ý nghĩa suy đồi lầm lạc người ta gán cho nó Gọi nghệthuật đen bởi liên tưởng tới một màu da của nhân loại, màu da đen Đen cóthể là một màu đẹp như đêm tối trong suốt vô cùng, như tròng mắt của ngườithiếu nữ Á Đông Nhưng hiện thời đen tiêu biểu hết nghĩa cho một cảnh ngộtrong ấy con người chịu đựng sức nặng đè ép của sự vật, của một trật tự mấynghìn đời (…) Và một nền nghệ thuật đã khai sinh với ý nghĩa giúp con người

giải thoát khỏi sức nặng đè ép cùng trật tự ấy chính là nghệ thuật hôm nay –

nghệ thuật đen”

1.2.2 Quan niệm về nhà thơ

Xưa nay, chân dung nhà thơ được định danh rất nhiều trong văn học

Nếu Xuân Diệu tự nhận mình là con chim đến từ núi lạ / Ngứa cổ hót chơi thì Hàn Mặc Tử lại cho mình là khách lạ đi giữa nguồn trong trẻo Nếu Thế Lữ xem mình là người bộ hành phiêu lãng thì Huy Cận lại thấy mình là một

chiếc linh hồn nhỏ/Mang mang thiên cổ sầu… Với Thanh Tâm Tuyền, ông

quan niệm thi sĩ là người có quyền lực đặc biệt – giống như một vị Hoàng đế

Trang 29

Nhưng khác với Hoàng đế của một vương quốc, Hoàng đế thi ca không cai trị

loài người bằng sự chuyên quyền, bạo ngược mà chỉ có những luật lệ tinh

thần Khi nhập được vào lãnh thổ thơ ông, người đọc hoàn toàn tự do Quan

niệm ấy thể hiện tinh thần quyết liệt đến cùng trong sáng tạo và thái độ tôn

trọng, đề cao vai trò của người tiếp nhận Bài thơ mở đầu tập Tôi không còn

cô độc được xem như một tuyên ngôn thơ của Thanh Tâm Tuyền:

Ở đây tôi là vị hoàng đế đầy đủ quyền uy bởi vì người vào trong đất đai của tôi người hoàn toàn tự do

để cai trị tôi có những luật lệ tinh thần mà người phải thần phục nếu người muốn nhập lãnh thổ

người hoàn toàn tự do

và có thể ném cuốn sách qua cửa sổ

(Ở đây tôi là vị hoàng đế)Trong hành trình sáng tạo của mình, Thanh Tâm Tuyền luôn nỗ lựccách tân, tìm tòi cái mới Lao động nghệ thuật đối với ông luôn đòi hỏi sự tậntâm, tận lực, chu đáo Người cầm bút, theo ông, phải gắn bó chặt chẽ với đờisống và nắm bắt nó bằng cái kinh nghiệm độc nhất của mình, không thể vaymượn ở bất kì đâu: “Người viết văn là người ràng buộc mật thiết với đời sống,một đời sống cụ thể hàng ngày đụng chạm quanh người hắn ngay khi hắnnhìn vào sự vật để tìm lấy cái bản thể hay đạt tới sự vĩnh viễn, cái khuynhhướng của hắn vẫn là phải chụp lấy những tình thế nhất định bằng những kinh

nghiệm độc nhất” Không chỉ đưa sinh mệnh mình để đảm bảo sự thành thật

của tác phẩm, người nghệ sĩ phải có động lực sáng tạo, phải tự tạo ra động

lực sáng tạo Thanh Tâm Tuyền cho rằng: “…nổi loạn là điều kiện sáng tạo”.

Sáng tạo cần thiết phải phá vỡ, chôn vùi những chuẩn thẩm mĩ đã tồn tại từ

lâu; phải chặt đứt quá khứ, đoạn tuyệt quá khứ để lên đường Nhưng điều đó

Trang 30

không hề đơn giản, bởi cái cũ bao giờ cũng ăn sâu bén rễ trong tâm trí mỗi

người và việc đoạn tuyệt nó sẽ gây nên những chấn thương, rỉ máu trong tâm

tâm hồn: “Người làm thơ hôm nay cũng vậy, cuộc đoạn tuyệt nào chẳng đauxót Nhiều lúc hắn cũng nhớ nhung những giấc mộng yên lành cũ, hắn thửquay về, những lúc ấy ví như mặt biển giông bão bỗng im bặt trong giây phútchờ đợi những nguồn cơn khiếp hãi hơn” Thanh Tâm Tuyền cũng lưu ý rằngsáng tạo không đồng nghĩa với thời thượng và cũng không chỉ dừng lại ở pháphách thuần túy Nó thực sự là những thí nghiệm của lịch sử, “là hành độngsiêu việt của nhân loại trong đời sống chính đáng”, là cánh cửa mở ra đại lộvăn học thế giới: “Người thơ bây giờ có thể chỉ làm được những thí nghiệm.Nghệ thuật họ là những thí nghiệm, nhưng là thí nghiệm cần thiết phải có cholớp nhà thơ sắp tới”

Mặc dù gánh trên vai sứ mệnh lịch sử cao cả của sự phụng kiến và sángtạo, nhưng thi sĩ cũng là những con người bình thường nhất, giản dị nhất

Thanh Tâm Tuyền nhìn thấy ở họ sự gần gũi, tự nhiên, thậm chí là sự “khờ

khạo” đáng yêu, đáng mến: “Thi sĩ Đó là một loài mắc cỡ dễ thương nhất

trên đời Hắn lẫn trong đời, giữa mọi người, cùng sống với mọi người nhưmột tên dại (anh nhớ là hắn dại, chứ không điên Tôi bảo đảm với anh Anhhãy đọc thơ của những người mà người ta bảo là điên xem Tất nhiên, đừng

đọc văn chương của họ)” (Nỗi buồn trong thơ hôm nay).

Thi sĩ, trước hết là một con người đến với mảnh đất trần gian nhiềuquyến rũ và gay cấn này để sống trọn, uống trọn những mật ngọt lẫn đắng caycủa cuộc đời Để làm một thi sĩ, con người ấy cũng phải trải qua mọi thăngtrầm khốc liệt, đem đến cho cuộc đời niềm vui, làm vơi đi sầu muộn Quanniệm này của Thanh Tâm Tuyền rất gần gũi với quan niệm của Bùi Giáng:

“Tôi sống trong cơn dại cơn điên Tôi làm thơ trong cơn điên cơn dại Nghĩa

là tôi chết hai ba lần trong trận sống Cái chết ấy chính là sự cháy hết mình

Trang 31

với thiên chức làm thơ của mình bởi “nếu người không chết trong cuộc tại

thế thì người sẽ mất tích sau khi qua đời”.

Những quan niệm của Thanh Tâm Tuyền thể hiện sự nhận thức của ông

về vai trò, sứ mệnh cao cả, toàn vẹn của nhà thơ trước cuộc đời Với ý nghĩa

đó, ông đã nâng vị thế của nhà thơ lên tầm cao nhất trong xã hội loài người:

“Con người sống trên mặt đất này, như một thi sĩ” (Holderlin).

1.2.3 Quan niệm về thơ

Ý thức cao về lập trường sáng tạo thơ, Thanh Tâm Tuyền đã có nhữngbài viết, những phát biểu bàn đến nhiều phương diện như bản chất, đặc trưngcủa thơ, cách định giá thơ… Có thể tìm thấy ở ông những quan niệm đáng ghinhận về lí luận sáng tạo và tiếp nhận thi ca

Dựa vào sự phân biệt của Nietzsche giữa hai quan niệm nghệ thuật đối

chọi nhau: nghệ thuật Apollon với những hình thức toàn vẹn minh bạch vững

vàng và nghệ thuật Dyonysos phá vỡ những hình thức sẵn có, Thanh Tâm

Tuyền theo cơn cuồng nộ bi thảm của Dyonysos, của cuộc đời hôm nay…Đó

là thứ nghệ thuật “phá vỡ những hình thức sẵn có hỗn loạn trong những niềm

cảm xúc, một nghệ thuật của say sưa, một vẻ đẹp hãi hùng mọi rợ, một nghệ thuật bắt nguồn từ nhân sinh quan bi thảm, đắm chìm trong khổ đau không bao giờ chịu chấp nhận” (Nỗi buồn trong thơ hôm nay) Cơn cuồng nộ của

Dyonysos là cơn cuồng nộ của thơ hôm nay trước thực tại Người làm thơhôm nay không thể “mơ mộng”, “tạo những hình dáng cho cuộc đời vốn đã là

một hình dáng” mà phải “nhìn thực tế bằng con mắt trợn tròn, căng thẳng

phá vỡ hết mọi hình dáng để sự vật hiện ra với cái thực chất hỗn loạn không che đậy” (Nỗi buồn trong thơ hôm nay) Qua con mắt của “người làm thơ

hôm nay”, có thể thấy cuộc đời đầy rẫy những đắng cay, đổ vỡ Thơ ca

“không còn dấu tích hiền hòa của thiếu nữ ẩn mình sau chiếc lá trúc, những lệ

vỡ tan nát người con gái sang ngang, đêm buồn canh vắng tỏ tình, trăng trên

Trang 32

đầu hai kẻ yêu nhau…” mà là “thơ ca của bom đạn, người chết, máu lửa, thựctrạng phi lý của xã hội, những mòn mỏi chờ đợi mùa xuân thanh bình…”[62] Người cầm bút như Thanh Tâm Tuyền không thể “giương mắt thảnnhiên nhìn ngắm những đau khổ” rồi tự huyễn hoặc mình trong những lối

thoát tưởng tượng,ông đòi “trả lại nàng thơ, trả lại nghệ thuật cho các người,

cho những thi sĩ thuộc dòng đầu bù tóc rối có nghệ thuật rạng ngời vững vàng như thần Apollon…” chấp nhận là “tên ăn mày lẫn giữa đám đông khốn cùng với một mẩu tự do còn sót lại” để nhận ra sự thật nghiệt ngã của cuộc

đời, ghi lại những “góc cạnh sần sùi”, “mở cho nhìn thấy những thực tại còn

lánh mặt, bị chôn vùi” Vậy người ta đã thấy những gì trong thực tại hôm

nay? Thanh Tâm Tuyền viết:

“Trong thơ hôm nay, người ta lạc vào cái thế giới có những đêm tối

nghẹn ngào, những ánh sáng của lộ liễu, những bệnh viện lạnh lẽo, những nấm mồ hoang vu, những thành phố đổ nát không chim muông…

Trong thơ hôm nay hoặc là thiên nhiên không được nhắc đến nhường chỗ cho những vỉa hè, cột đèn, gạch ngói, khối sắt, khối thép, da thịt, tay chân, mặt mũi hoặc là hiện ra thản nhiên lạnh lùng khó chịu nếu không muốn nhập với một ý thức…” (Nỗi buồn trong thơ hôm nay).

Thanh Tâm Tuyền xác định thơ phải xuất phát từ đời sống, gắn với đời

sống Ông phản đối thứ nghệ thuật thoát ly cuộc sống, bởi vì “đời sống không

bao giờ xua đuổi nghệ thuật, chỉ có những kẻ muốn mang nghệ thuật ra khỏi đời sống, để dễ bề thao túng đời sống Nên mỗi tác phẩm phải là một hành động đòi gia nhập – một chặng trên đường trở về đời nhân loại – không phải

là một hình thức bỏ trốn… Người ta ai cũng phải nhận rằng nghệ thuật không phải chỉ cốt làm đẹp Nghệ thuật là hình thức biểu diễn đời sống, mục đích là đạt đến đời sống thực”.

Trang 33

Bản chất đời sống đã thay đổi thì thơ cũng không thể giữ nguyên gươngmặt ngày nào Thơ ca không thể sao chép cóp nhặt những cái xa lạ, những cáicủa hôm qua để làm chất liệu sáng tác cho hôm nay Mặc dù “Thơ bây giờvẫn giữ cái phần tinh túy của thi ca từ xưa đến giờ” nhưng nó vẫn không dừnglại trong hành trình tìm tòi, sáng tạo Vượt qua những rào cản của thơ catruyền thống, thơ hôm nay đã mang diện mạo khác: “Thơ hôm nay khôngdừng lại ở thơ phá thể, thơ hôm nay là thơ tự do”.

“Thơ tự do thật đúng với danh hiệu của nó, đã làm một cuộc tự thoát lynhư Thơ mới đã ly khai thơ Đường luật – để hướng tới một chân trời mới,một chân trời biệt lập” [73] Nhưng đả phá thơ luật, Thơ mới vẫn còn giữ lạivần làm nhạc, dùng ngôn ngữ cũ để diễn đạt nguồn ý mới Còn thơ tự do chủtrương sáng tạo, nhập cảng những ngôn ngữ lạ hoắc chưa từng có nó trong thơViệt Nam Thanh Tâm Tuyền quan niệm đổi mới thơ trước hết là đổi mới

ngôn ngữ “Thơ là một hiện tượng ngôn ngữ Khi tôi làm thơ, ngoài mối ám

ảnh chung về tư tưởng đức lý… còn theo đuổi một mối ám ảnh về ngôn ngữ Nhà thơ còn đóng một vai trò trong đời sống ngôn ngữ dân tộc Nhà thơ tầm thường là thợ ngôn ngữ Có tài là kẻ sáng chế ngôn ngữ…” Thanh Tâm

Tuyền và rất nhiều cây bút khác đã luôn trăn trở, lao tâm khổ tứ trong lao

động nghệ thuật để cày xới những cánh đồng ngôn ngữ, để lại những vân chữ của riêng mình Hành trình ấy chính là hành trình kiếm tìm sự thật và hủy diệt

sự thật Tác giả dùng lối diễn đạt nghịch lý để thể hiện quy luật của việc làm

thơ: khi thi sĩ bước vào hành trình đi tìm sự thật thì đồng thời cũng tự hủy diệtcái sự thật vốn đã thành hình trong tư tưởng mọi người và của chính mình;hoặc ghê gớm hơn, khi tìm thấy sự thật thì sau đó lại phải hủy diệt nó để tiếptục cuộc tìm kiếm bất tận Công việc này thật khó khăn bởi muốn thoát khỏinhững công thức, thói quen, những bóng ma quá khứ trên mỗi con chữ không

phải là điều đơn giản Nhiều khi nhà thơ phải bất lực “Một số lớn nhà thơ bây

Trang 34

giờ nghi ngờ ngay cả ngôn ngữ họ phát biểu Họ luôn luôn tìm đổi mới ngôn ngữ nhưng thất bại Vì thế mà có sự trống trải, vỡ nát của ngôn ngữ thơ Người ta phá hủy ngôn ngữ Không bằng lòng ngôn ngữ xưa, cũng không bằng lòng ngôn ngữ của cả chính mình Đó là sự bất lực của nhà thơ trước ngôn ngữ thơ” Với Thanh Tâm Tuyền, trò chơi với ngôn ngữ là trò chơi gian

khó, nhưng đó cũng là động lực để người nghệ sĩ chân chính như ông khôngdừng chân và ngừng nghỉ Những con chữ bí ẩn ấy luôn thách thức, mời gọinhà thơ tiếp tục hành trình sáng tạo của mình

Mỗi thời đại có một ngôn ngữ thơ riêng, nhà thơ phải sáng tạo songkhông có nghĩa là phải “đặt những chữ mới”, điều cốt yếu là phải mang đếnmột đời sống mới cho hệ ngôn từ đã cũ kỹ, “đã chết rồi” Thanh Tâm Tuyền

giải thích: “Tại sao bây giờ còn những người cảm được những bài thơ tiền

chiến của Xuân Diệu, Huy Cận, một thứ ngôn ngữ tôi xếp vào loại ngôn ngữ

đã chết rồi Lý do giản dị là ở người đọc chứ không phải ở nhà thơ Nhà thơ

đã không vượt qua được thời đại mà người đọc thì đã sống lùi thời đại mình Còn bảo rằng ngôn ngữ Xuân Diệu, Huy Cận hay bất cứ một nhà thơ nào thuở trước giống ngôn ngữ thời nay chỉ là vì đã quan niệm nhầm lẫn về ngôn ngữ thi ca Không nên quan niệm ngôn ngữ thi ca bằng những từ ngữ riêng

rẽ Nhà thơ nào cũng phải dùng những tiếng em, anh, chúng ta… một số ngữ vựng chung, không thể đặt những chữ mới Nhưng cái chứa đựng của từ ngữ

đã biến đổi theo toàn thể cơ cấu bài thơ, và ngôn ngữ thi ca là toàn thể cơ cấu đó Cho nên nhà thơ ngày nay có thể dùng những chữ rất cổ, nhưng những chữ ấy đã có một đời sống mới trong thơ bây giờ”.

Ở trong lãnh địa của thơ bây giờ: thơ tự do, Thanh Tâm Tuyền quanniệm không chỉ làm mới ngôn ngữ mà còn phải phá tung nốt cái vòng câuthúc của lối thơ phá thể bằng cách xóa bỏ vần điệu, hay đúng hơn, tìm đếnmột vần điệu mới Theo ông, “Thơ tự do không gieo vần lối đồng âm, đồng

Trang 35

thanh, vần của nó là vần ẩn giấu cách xa (có thể đi tới khác âm, nghịchthanh), nhịp điệu của nó là sự phối hợp của một toàn thể không khuôn trongmột số câu nhất định khiến cho hơi thơ tự do dễ kéo dài hơn các hơi thơ khác.Ngoài ra ông còn đề cập đến loại nhịp điệu của hình ảnh và ý tưởng, nóichung đó là “nhịp điệu của ý thức”.

Sự phá vỡ những hình thức sẵn có của thơ tự do đã làm xáo trộn chuẩnthẩm mĩ truyền thống Người làm thơ đớn đau, khắc khoải Người đọc thơcũng không ít băn khoăn khi đứng trước cách định giá thơ Đối với ThanhTâm Tuyền, tiêu chí cao nhất để khẳng định một tác phẩm có giá trị chính là ởchỗ nó phải là một khám phá về cuộc sống trong vẻ đẹp tự nhiên của nó Mộttác phẩm thực sự có giá trị khi nó thể hiện được góc nhìn riêng của nghệ sĩ:

“Tôi nghĩ rằng toàn bộ tác phẩm của một nhà văn phải hợp thành khuôn mặt của nhà văn ấy, thời gian đi qua rất xa hàng vài thế kỷ có khi người ta không phai mờ luôn luôn hiện đó là một nhà văn giá trị vậy” Mặc dù sáng tác của

Thanh Tâm Tuyền rất kén độc giả, nhưng Thanh Tâm Tuyền lại rất chú ý đến

mối quan hệ này Nhà thơ cho rằng “Thơ là cái gì người thơ làm ra và người

đọc thơ cảm nhận được Còn không nhận được thì có bao nhiêu định nghĩa cũng thừa” Nhà thơ không đóng khung tác phẩm của mình vào những khuôn

khổ nhất định, cũng không trói buộc độc giả vào một phạm vi cụ thể, nhưng

để cảm được tác phẩm, người đọc phải tiếp tục hành trình tự do sáng tạo ấy.

Và kiệt cùng của sự sáng tạo là hủy diệt Hủy diệt để tiếp tục sáng tạo bởi lẽmột nhà thơ hay một nhà văn, kể như đã chết, khi không làm mới được chính

mình Đúng như Thanh Tâm Tuyền đã viết trong Định nghĩa một bài thơ hay:

Hoàn thành bao nhiêu tác phẩm chỉ để sau rốt kết luận một lời anh hãy từ biệt mọi người bằng tác phẩm của anh một câu thơ hay tự nhiên như lời nói

Trang 36

bài thơ hay là cái chết cuối cùng

(Định nghĩa một bài thơ hay)

Có thể thấy, với một quan niệm thơ mang tính cách tân mạnh mẽ,Thanh Tâm Tuyền đã dũng cảm dấn bước trên con đường tìm tòi những đổimới về hình thức nghệ thuật thơ Mặc dù đi trên con đường tự do ấy, có khithành khi bại, có khi nhận được những lời công kích hay tán dương nhưng thơông vẫn mở ra cho người đọc một thế giới Từ thế giới ấy, mỗi người nhưđược hiểu đời, hiểu người và hiểu chính mình hơn…

* *

*Chiến tranh đã lùi xa gần 40 năm, đến thời điểm này, việc nhìn nhận vàđánh giá các hiện tượng văn học trước đây đã có sự công bằng, khách quan vàkhoa học hơn Riêng với bộ phận văn học ở miền Nam thời kỳ 1954 – 1975,chúng ta tin rằng không phải cái gì cũng thuộc văn hóa thực dân mới, là thứ

“rác rưởi” cần quét sạch Việc gỡ bỏ những định kiến, nhìn nhận thấu đáo bộphận văn học này là việc làm cần thiết nhưng không phải đơn giản, một sớmmột chiều Vì vậy, bắt đầu công việc này từ một hiện tượng văn học nổi bậtnhư Thanh Tâm Tuyền là hợp lý

Thanh Tâm Tuyền bước chân vào lãnh địa văn chương giữa lúc miềnNam Việt Nam những năm 1954 – 1975 chẳng khác nào một mảnh dư đồrách nát Những cuộc di cư, sự tàn phá của chiến tranh, hoàn cảnh đất nước

chia cắt, các trào lưu tư tưởng phương Tây ồ ạt đổ vào, nhóm Sáng Tạo thành

lập… Bấy nhiêu yếu tố đó có thể xem là những tiền đề tác động sâu sắc tớihành trình cách tân và sáng tạo của Thanh Tâm Tuyền Với những quan niệmnghệ thuật hết sức mới mẻ, Thanh Tâm Tuyền và các nhà thơ cùng chí hướnglúc bấy giờ đã làm những thí nghiệm, “những thí nghiệm cần thiết phải có cholớp nhà thơ sắp tới” Đi sâu vào tìm hiểu thơ Thanh Tâm Tuyền, chúng ta sẽ

Trang 37

thấy nhiều tìm tòi, đổi mới trong cả nội dung và hình thức thơ ca của tác giảnày.

CHƯƠNG 2: NHỮNG TÌM TÒI VỀ CẤU TRÚC, SÁNG TẠO VỀ THI

ẢNH TRONG THƠ THANH TÂM TUYỀN

2.1 Những tìm tòi về cấu trúc trong thơ Thanh Tâm Tuyền

2.1.1 Quan niệm về cấu trúc

Cấu trúc văn bản nghệ thuật nói chung và cấu trúc thơ ca nói riêng tồntại như một “bản thiết kế” có hệ thống được phân tầng thành những cấp độkhác nhau, có các thành tố hợp thành chỉnh thể, vận động theo những quy luậtnội tại và thường xuyên diễn ra sự tương tác giữa các thành phần ấy Cấu trúcnày còn chịu sự chi phối của vô thức nhà văn và vô thức cộng đồng như hòaquyện của ba yếu tố: tác phẩm – nhà văn – cuộc sống

Trong “bản thiết kế” của cấu trúc bao giờ cũng gồm hai bộ phận: cấutrúc bề mặt và cấu trúc bề sâu Cấu trúc bề mặt là một chỉnh thể trọn vẹn củavăn bản nghệ thuật, là những dạng tổ chức của văn bản, cái mà chúng ta cóthể nhìn thấy, có thể tri giác được Đó là biểu hiện về mặt hình thức của vănbản tác phẩm, là phần tĩnh của văn bản Còn cấu trúc bề sâu là lớp cấu trúctiềm ẩn, trầm tích, là hoạt động tổ chức nội tại của các yếu tố cấu thành nênvăn bản Nói tới cấu trúc bề sâu là nói tới mối quan hệ giữa các yếu tố vàphương thức tổ chức những mối quan hệ đó Cấu trúc bề sâu là thành phầntrọng yếu tạo nên sự khác nhau căn bản giữa các loại cấu trúc, yếu tố tạo nênđặc sắc của mỗi tác phẩm nghệ thuật Tuy nhiên, cấu trúc văn bản là sự tổnghòa của cấu trúc bề mặt và cấu trúc bề sâu Cấu trúc bề mặt là vỏ ngoài củacấu trúc bề sâu Cấu trúc bề sâu là tổ chức ngầm ẩn dưới cấu trúc bề mặt Sự

Trang 38

thống nhất này tạo nên một cấu trúc chỉnh thể cho bất kì một văn bản nghệthuật nào.

Các thành phần của cấu trúc không tồn tại độc lập, rời rạc trong tácphẩm văn học mà bao giờ cũng được đặt trong những mối liên kết, theo mộtcách thức tổ chức nhất định Chính cách thức tổ chức này giúp cho các thànhphần liên kết lại với nhau, tạo nên một mạng lưới cấu thành nên cấu trúc củatác phẩm Cách thức tổ chức này sẽ mở ra một trường ý nghĩa và trường liêntưởng rộng đối với việc tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật, giống như “việc đặt kềnhau các bức hình hoặc chuỗi hình đã làm nảy sinh trong đầu người xem những

tư tưởng mà tự thân các bức hình, chuỗi hình đó không thể gợi lên” [23, 98]

Cấu trúc văn bản thơ được tạo nên từ rất nhiều cấp độ: từ, câu, văn bản,liên văn bản – nghĩa là ở cả hai bình diện: ngữ âm và ngữ nghĩa Ngoài ra, nócòn tiềm ẩn trong đó cấu trúc vô thức của nhà văn và cấu trúc vô thức cộngđồng Hai loại cấu trúc này nhiều khi không biểu hiện trực tiếp trên bề mặtcâu chữ, không được nhà văn phát biểu một cách trực tiếp trong tác phẩm.Tuy nhiên, những “ẩn ức cá nhân”, những uẩn khúc đè nén trong cuộc đời vàdấu ấn tâm lí cộng đồng cũng chi phối tâm lí sáng tạo của nhà thơ Nhà thơmang theo sự chi phối đó làm thành cấu trúc văn bản thơ, làm nên sự thănghoa trong sáng tạo nghệ thuật

2.1.2 Cấu trúc trong thơ Thanh Tâm Tuyền

2.1.2.1 Cấu trúc mở, phi tuyến tính

Mô hình cấu trúc đối ngẫu, song song hầu như thống trị thơ ca thời trungđại Theo đó, trật tự giữa các từ, các đoạn mang tính tương đồng hoặc đối xứng

về mặt ngữ âm, ngữ nghĩa, thể hiện sự đóng kín và ý niệm tuần hoàn của thếgiới Các nhà thơ lãng mạn đã phá vỡ tính đối xứng ấy để thể hiện dòng cảmxúc trực tiếp của tâm hồn Dựa trên cơ sở duy lí với quan niệm thời gian tuyếntính, cái nhìn và cách biểu đạt thế giới trong thơ lãng mạn thường diễn ra theo

Trang 39

chiều thời gian và lôgic nhân quả… Nhưng hiện thực cuộc đời nhiều khi chứađầy nghịch lí, phi lôgic, lý trí đành bất lực, không thể nhận thức được Lúc đócon người tìm đến sự lí giải từ thế giới tâm linh, vô thức Nhà thơ cũng khôngthể chủ động, không định hướng trước một điều gì Bài thơ được tổ chức mộtcách ngẫu hứng, theo hướng mở Nhiều bài tưởng như rất rời rạc, không gắnkết ở bề mặt nhưng lại nguyên phiến, nhất quán ở bề sâu.

Đọc hai tập thơ Tôi không còn cô độc và Liên, Đêm, Mặt trời tìm thấy

của Thanh Tâm Tuyền, ta không khó để nhận ra mối liên hệ, cái mạch chìm

nối liền cảm xúc tác phẩm Ở Tôi không còn cô độc là lời tâm sự của một cái

tôi cô đơn, cô độc đang đi tìm tự do, chân lí và hạnh phúc trong cuộc đời đầy

biến động Sau đó, đến Liên, Đêm, Mặt trời tìm thấy là niềm vui lớn khi tìm

thấy tình yêu, hạnh phúc, tìm thấy sự hòa hợp giữa tình cảm riêng và lẽ sốngchung Sự nhất quán ở bề sâu ấy đã liên kết những bài thơ riêng lẻ, làm nêntính chỉnh thể cho tập thơ, giúp tập thơ không bị phân tán, vỡ vụn “Chính cấutrúc đã tạo ra một lực hướng tâm thu hút, sắp xếp những yếu tố tản mạn, đốinghịch nhau thành một chỉnh thể Nhưng cấu trúc thơ Thanh Tâm Tuyền làmột cấu trúc mở (Prigozhin) hay cấu trúc động Nghĩa là, nó còn có một lực

ly tâm, cũng mạnh mẽ không kém gì lực hướng tâm, khiến nhiều khi cấu trúctrở nên xộc xệch, để cho các từ vượt thoát khỏi hấp lực của trường ngữ nghĩanguyên thủy đi lang thang ra ngoài tìm những trò chơi mới” [115]

Cấu trúc mở, phi tuyến tính thể hiện rõ trong thơ Thanh Tâm Tuyền ởmọi cấp độ - từ một câu thơ đến một đoạn thơ, bài thơ:

1 Hồn thảo mộc giấc ngủ

Nằm mơ những ngôi sao mặt trăng

lá đan mắt ngõ hôn vào môi vào má vào răng những lời thơ rất cũ

gõ cửa trái tim nàng

Trang 40

2 Mùa hè lên tiếng cười

trong bàn tay nước suối mùa tóc mun

đẹp những khu rừng không bóng cây

3 Em hoàng hôn trút áo

ngực gọi đêm về

vì còn đồi đá sỏi cần lửa hôn gót chân hành động tàn nhẫn sao vỡ trên môi

(Mai)Xét ngay trong từng câu thơ, những từ ngữ đứng cạnh nhau theo lối phigiải thích, bởi trước hết, lời thơ Thanh Tâm Tuyền bị tước bỏ hết các loại từlàm nhiệm vụ liên kết, chỉ còn hiện hữu những hình dung từ không rõ chiềuchuyển ý làm cho câu thơ mờ tối lại Xét giữa các câu thơ với nhau cũng thấyđiều tương tự Ở đây, đơn vị câu thơ không được tính đến, sự ngắt câu đượcngắt theo nhịp hình ảnh Cả bài thơ là những hình ảnh chồng xếp xáo trộn:hồn thảo mộc, giấc ngủ, ngôi sao, mặt trăng, lá, mắt ngõ, môi, má, răng…

Nếu khôi phục quan hệ liên kết trong câu, chẳng hạn: (mang) hồn thảo mộc (trong) giấc ngủ nằm mơ những ngôi sao (và) mặt trăng, lá đan (vào nhau) (như) mắt (đầu) ngõ… thì người đọc càng rơi vào mê hồn trận của từ ngữ.

Không thể khôi phục bài thơ bằng cách lấp đầy những khoảng trống đó, vì nó

là hình ảnh của đời sống, mà đời sống luôn luôn là những phiến đoạn rời rạc

Thơ Thanh Tâm Tuyền phá vỡ tính liên tục của dòng chảy cảm xúc,mạch liên tưởng, tạo nhiều khoảng trống, khoảng trắng Khoảng trống,khoảng trắng ấy có thể nhận ra từ cách mở đầu hay kết thúc bài thơ Bởithông thường, trong thơ ca truyền thống, nhiều khi chỉ cần đọc nhan đề, câu

mở đầu và câu kết thúc có thể nắm bắt cơ bản ý nghĩa tư tưởng của bài thơ thì

Ngày đăng: 12/04/2016, 12:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. André Breton (Nguyễn Bích Thủy dịch), (2004), Chủ nghĩa siêu thực và hội họa, Tạp chí Văn học nước ngoài số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa siêu thực vàhội họa
Tác giả: André Breton (Nguyễn Bích Thủy dịch)
Năm: 2004
2. André Breton (Phùng Ngọc Kiên dịch, 2002), Tuyên ngôn thứ nhất của chủ nghĩa siêu thực, Tài liệu in từ trang web evan.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên ngôn thứ nhất củachủ nghĩa siêu thực
3. Vũ Tuấn Anh, (1998), Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 – 1995, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 – 1995
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: NXB Khoahọc Xã hội
Năm: 1998
4. Lại Nguyên Ân, (2004), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2004
5. Mặc Bích, (tháng 5 và 6/2006), Một lần gặp gỡ, Tạp chí Văn số đặc biệt về Thanh Tâm Tuyền (số 113 và 114), Hoa Kỳ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một lần gặp gỡ
6. Cao Nghi Bình, (tháng 5 và 6/2006), Thanh Tâm Tuyền, Tạp chí Văn số đặc biệt về Thanh Tâm Tuyền (số 113 và 114), Hoa Kỳ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Tâm Tuyền
7. Nguyễn Thị Bình, (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975 – 1995 Những đổi mới cơ bản, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975 – 1995 Những đổimới cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
8. Nguyễn Phan Cảnh, (1987), Ngôn ngữ thơ, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: NXB Đại học và Trung họcchuyên nghiệp
Năm: 1987
9. Nam Chữ, (tháng 11/1973), Tôi không còn cô độc, Giai phẩm Văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi không còn cô độc
10. Nguyễn Văn Dân, (2002), Văn học phi lý, NXB Văn hóa thông tin, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học phi lý
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2002
11. Trần Dần, (2001), Ghi, 1954 – 1960, NXB Văn mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ghi, 1954 – 1960
Tác giả: Trần Dần
Nhà XB: NXB Văn mới
Năm: 2001
12. Trương Đăng Dung, (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn bản đến tác phẩm văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: NXBKhoa học Xã hội
Năm: 1998
13. Phan Huy Dũng, (1999), Kết cấu thơ trữ tình (nhìn từ góc độ loại hình), Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết cấu thơ trữ tình (nhìn từ góc độ loại hình)
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 1999
14. Phan Huy Dũng, (1999), Tổ chức bài thơ theo sự dẫn dắt của âm nhạc, Tạp chí Văn học số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức bài thơ theo sự dẫn dắt của âm nhạc
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 1999
15. Phạm Duy, (2011), Hồi ký III, www.saomai.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi ký III
Tác giả: Phạm Duy
Năm: 2011
16. Nguyễn Đăng Duy, (1996), Văn hóa tâm linh, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tâm linh
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1996
17. Friedrich Nietzche (Trần Xuân Kiên dịch), (2003), Zarathustha đã nói như thế, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Zarathustha đã nóinhư thế
Tác giả: Friedrich Nietzche (Trần Xuân Kiên dịch)
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2003
18. Đào Trung Đạo, (tháng 5 và 6/2006), Bài ai điếu cho Thanh Tâm Tuyền, Tạp chí Văn số đặc biệt về Thanh Tâm Tuyền (số 113 và 114), Hoa Kỳ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài ai điếu cho Thanh Tâm Tuyền
20. Võ Kỳ Điền, (2012) Thanh Tâm Tuyền tỉnh Bình Dương và những ngày dạy học, www. gio-o.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Tâm Tuyền tỉnh Bình Dương và những ngàydạy học
21. Nguyễn Đăng Điệp, (1994), Giọng điệu thơ trữ tình, Tạp chí Văn học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Năm: 1994

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w