Con đường từ biểu tượng tâm lí đến biểu tượng thẩm mỹ đòi hỏi người viết đào sâu vào tư tưởng của các nhà phân tâm học; nhưng trong phạm vi cho phép của luận văn thạc sĩ, chúng tôi hầu n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Võ Quốc Việt
BIỂU TƯỢNG THẨM MỸ TRONG THƠ THANH TÂM TUYỀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
TP Hồ Chí Minh – 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Võ Quốc Việt
BIỂU TƯỢNG THẨM MỸ TRONG THƠ THANH TÂM TUYỀN
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TP Hồ Chí Minh - 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lời biết ơn chân thành và sâu sắc đối với PGS.TS Đào Ngọc Chương Thầy luôn quan tâm, giúp đỡ hết lòng và tận tình chia sẻ cũng như
đã định hướng cho tôi trước rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện luận văn
Và sự giúp đỡ của thầy còn khơi dậy niềm đam mê đối với nghiên cứu văn học Đó chính là động lực giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Phòng Sau đại học đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi khắc phục khó khăn, tiếp tục chương trình đào tạo Và tôi muốn gửi lời cảm ơn đến Khoa Ngữ Văn Trường đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh cùng tất cả thầy cô đã hướng dẫn học viên qua nhiều chuyên
đề Tất cả trở thành định hướng lâu dài cho học viên trên con đường theo đuổi nghiên cứu khoa học
Tác giả luận văn cũng gửi lời cảm ơn bạn bè và những người thân trong gia đình đã động viên, giúp đỡ trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tp Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2013
Học viên
Võ Quốc Việt
Trang 5Chương 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG BIỂU TƯỢNG THẨM MỸ TRONG THƠ
THANH TÂM TUYỀN3 104
Trang 6ý nghĩa hiển nhiên trực tiếp, biểu tượng đã chi phối đến sự hình thành nội dung và giá trị của các hình thái ý thức ấy, đặc biệt là tác phẩm văn học nghệ thuật Cho nên, việc nghiên cứu biểu tượng nói chung là hướng tiếp cận phù hợp cho việc thâm nhập, lĩnh hội và phát hiện những quy luật nội tại của văn bản văn học cũng như văn hoá nghệ thuật nói chung
Như đã biết, hướng nghiên cứu biểu tượng đã trở thành một trào lưu rộng khắp
và kéo dài suốt thế kỷ XX trong giới nghiên cứu lí luận phê bình văn học phương Tây Hướng nghiên cứu này đóng góp đáng kể cho hoạt động nghiên cứu văn học thế giới Tại Việt Nam, nghiên cứu biểu tượng chỉ mới được quan tâm trong thời gian gần đây Chúng ta ghi nhận những đóng góp ấy Nhưng hơn hết, chúng tôi cho
là cần thiết xây dựng hệ thống và nền tảng lý luận về nghiên cứu biểu tượng Vì sự phát triển bền vững và toàn diện luôn bắt đầu từ nền tảng cụ thể Với năng lực và kinh nghiệm nghiên cứu, tôi không suy nghĩ nhiều đến việc xây dựng một hệ thống
lí luận về biểu tượng, nhưng điều làm cho tôi băn khoăn và là mục tiêu hướng đến:
đó là gợi mở thêm một vài quan điểm trên con đường đến với biểu tượng học Đây
là một lĩnh vực rộng lớn, đòi hỏi công sức của nhiều người Và chúng tôi mong
Trang 7muốn đóng góp, cũng như trân trọng những đóng góp nhiều phía đối với luận văn này Đó chính là những suy nghĩ trước nhất khi chúng tôi đến với nghiên cứu biểu tượng
Đối với thơ ca Việt Nam hiện đại, Thanh Tâm Tuyền lạ mà rất quen Khởi đi
từ Thơ mới, thành tựu của những tác giả giai đoạn này ngày càng được khẳng định Thơ mới đặt nền tảng cho những cuộc cách tân thơ ca về sau Phan Khôi mở lời, Thế
Lữ tiếp bước, và khuynh hướng lãng mạn nhất thiết phải nói đến Xuân Diệu Đẩy thơ ca đi xa hơn, Trường thơ Loạn đóng góp đáng kể về mặt thi pháp và thi liệu Hậu kì Thơ mới, chúng ta còn nhìn thấy những tia sáng chợt loé lên rồi phụt tắt Đó
là Xuân Thu, là Dạ Đài Tất cả đều là nỗ lực cách tân thơ Việt nói chung Gần đây, Trần Thanh Hiệp trò chuyện với Thuỵ Khuê trên RFI về những bạn văn “cùng một lứa bên trời lận đận” từ những lúc còn hoạt động ở Hà Nội cho đến khi vào Sài Gòn Qua đó, ông nhận định: “nếu cuộc đổi mới mà chúng tôi thực hiện, có đóng góp chút
ít gì cho văn học Việt Nam thì công của Thanh Tâm Tuyền là rất lớn”
Thanh Tâm Tuyền là tác giả có vị trí quan trọng trong văn học đô thị miền Nam trước 1975 Thành tựu của Thanh Tâm Tuyền trước hết là thơ Đóng góp quan trọng là ở thi pháp, cách tư duy và một phong cách thơ hoàn toàn mới Mặc dù vậy, Thanh Tâm Tuyền vẫn là cái tên ít ai biết đến, đặc biệt là độc giả trẻ Ngay cả khi còn hoạt động và sáng tác văn học tại miền Nam Việt Nam trước 1975, ông vẫn là tượng đài “kính nhi viễn chi” Tuy nhiên, thơ ca Thanh Tâm Tuyền vẫn tràn đầy sức sống và chưa hết mới mẻ Nghiên cứu thơ Thanh Tâm Tuyền là công việc cần thiết
vì những cách tân ở thế giới thơ của ông đã thúc đẩy sự phát triển của thơ Việt hiện đại, giúp thơ Việt hòa mình nhiều hơn vào dòng chảy chung của thơ ca thế giới Tìm hiểu thơ Thanh Tâm Tuyền, chúng tôi đặc biệt chú ý đến vật chất tưởng tượng và sức sống kì lạ của những biểu tượng khởi đi từ vô thức của một phong cách thơ cá tính và đầy ám ảnh Điều này lí giải tại sao chúng tôi đến với thơ Thanh Tâm Tuyền
từ hướng nghiên cứu biểu tượng trong luận văn này
Trang 82 Lịch sử vấn đề
Biểu tượng là vấn đề không mới Từ thời cổ đại, người ta đã quan tâm đến biểu tượng Đó còn là một chặng đường của tư duy Biểu tượng là bước phát triển của tư duy trong quá trình truyền đạt thông tin Đóng vai trò là phương thức tư duy, nó đi vào nhiều hoạt động tinh thần khác nhau Trong đó, văn học là không gian phù hợp cho sự tồn tại của hình ảnh, hình tượng, biểu tượng Nghiên cứu văn học theo hướng biểu tượng thực sự định hình từ thế kỷ XIX Tuy nhiên, giai đoạn này vẫn chưa có nền tảng lý thuyết vững chắc về khái niệm biểu tượng Có sự nhập nhằng giữa biểu tượng với hình tượng và những khái niệm liên quan Cuối thế kỷ XIX, với trào lưu Tượng trưng trong thơ ca Pháp, người ta chú ý nhiều hơn đến biểu tượng Mặc dù như Raymond Firth, đó chỉ là quãng thời gian của những tranh luận kéo dài
về ý nghĩa biểu tượng
Đến khi phân tâm học định hình do Sigmund Freud (1856-1939) xây dựng và Carl Gustav Jung (1875-1961) phát triển thì nghiên cứu biểu tượng mới có được những thành tựu đáng kể Đã có nhận định cho rằng: Jung là người vẽ bản đồ nội tâm con người đầy đủ nhất Đặt nền tảng trên tâm lí học, nghiên cứu biểu tượng hầu như động chạm đến tất cả các chuyên ngành khoa học xã hội Nghiên cứu biểu tượng ngày càng được quan tâm không chỉ trong lĩnh vực văn nghệ Đó là giai đoạn nửa sau thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI Tuy nhiên, biểu tượng vẫn là một khái niệm mang nhiều tính phổ quát Mặc dù có sự phân biệt với hình ảnh, hình tượng, kí hiệu,
cổ mẫu nhưng biểu tượng của Jung vẫn là một biểu tượng tâm lí hơn là biểu tượng thẩm mỹ Đi xa hơn, giới nghiên cứu thiết lập mối quan hệ giữa biểu tượng với các chuyên ngành khác trong đó có nghiên cứu văn học Nhưng việc hiểu về biểu tượng thẩm mỹ vẫn dừng lại ở cấp độ biểu tượng tâm lí
Tại Việt Nam, giai đoạn trước 1954 hầu như các khuynh hướng lí luận phê bình vẫn chưa thật sự tiếp cận và hoà nhịp với lí luận phê bình văn học thế giới Sau
1954, giới nghiên cứu văn học tại Sài Gòn có nhiều điều kiện giao lưu học tập nên
đã gặt hái được nhiều thành tựu đáng ghi nhận Tuy nhiên, để nói về một trào lưu
Trang 9nghiên cứu biểu tượng trong văn học đô thị Miền Nam thì theo như chúng tôi tìm hiểu vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu đối tượng này
Từ sau đổi mới, sáng tác văn học cũng như hoạt động lí luận phê bình văn học được tiếp thêm sinh lực mới, đạt được nhiều thành tựu nổi bật Việc giao lưu, tiếp biến, và ứng dụng các lí thuyết phê bình văn học nước ngoài được mở rộng Có thể
kể đến kí hiệu học, chủ nghĩa hậu hiện đại, thuyết người đọc và biểu tượng học Đưa vào nghiên cứu và giảng dạy biểu tượng ở bậc đại học có thể nói là bước tiến đáng
kể cho hoạt động nghiên cứu biểu tượng tại Việt Nam (cụ thể là Đại học Khoa học
xã hội và Nhân Văn Hà Nội, Khoa học xã hội và Nhân Văn Tp Hồ Chí Minh, Đại học Văn hoá Hà Nội) Có thể kể ra rất nhiều công trình và bài viết gần đây đề cập
đến biểu tượng trong văn học (- Biểu tượng nước trong thơ ca dân gian và thơ ca
hiện đại các dân tộc ít người; - Biển: biểu tượng của vũ trụ trong thơ Huy Cận; - Về biểu tượng Lửa trong thơ Nguyễn Quang Thiều; - Biểu tượng giấc mơ trong thơ Nguyễn Bính; - Biểu tượng trong thơ Lưu Quang Vũ; - Biểu tượng trong thơ thiền
Lý – Trần; - Nghiên cứu biểu tượng từ góc nhìn kí hiệu học; - Cấu trúc luận trong nghiên cứu biểu tượng….) Nghiên cứu biểu tượng cơ hồ là một trào lưu thời thượng
của giới nghiên cứu trong thời gian gần đây Nhưng dễ hiểu, hướng nghiên cứu này
bổ sung đáng kể cho diện mạo lí luận phê bình văn học Việt Nam Chúng tôi đến với nghiên cứu biểu tượng cũng với mục đích ấy Một phần hoà vào dòng chảy chung, nhưng hơn hết, chúng tôi - thông qua luận văn này – mong muốn gợi mở thêm một vài điểm nhìn về nghiên cứu biểu tượng trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam
Về Thanh Tâm Tuyền, đây là nhà thơ hầu như bị độc giả hiện nay quên lãng, thậm chí hoàn toàn xa lạ với người đọc trẻ Việc nghiên cứu tác phẩm của ông gặp phải rất nhiều khó khăn, trước hết là vấn đề tài liệu Bên cạnh đó, chúng tôi nhận thấy nghiên cứu về Thanh Tâm Tuyền đặt ra rất nhiều vấn đề với những thách thức chung cho nghiên cứu văn học đô thị miền Nam trước 1975 Bước vào thế giới thơ Thanh Tâm Tuyền, người đọc phải tuân thủ những luật lệ của ông Nhà thơ cũng là vua, là ông hoàng của cô độc Phải chăng vì thế mà có rất ít công trình tìm hiểu thơ Thanh Tâm Tuyền Có chăng là một vài bài viết tưởng niệm sau khi ông qua đời Đa
Trang 10số được viết bởi những bạn văn thân thiết, mến mộ tài thơ của ông (- Nhớ nghĩ về
Thanh Tâm Tuyền, những điều chợt đến… của Trần Thanh Hiệp; - Thanh Tâm Tuyền của Khánh Phương; - Nói thêm về Thanh Tâm Tuyền của Phan Lạc Phúc; - Thanh Tâm Tuyền trong văn học Việt Nam hiện đại của Bùi Ngọc Tuấn; - Thanh Tâm Tuyền và những người bạn trước khi có tạp chí Sáng Tạo của Dương Nghiễm
Mậu….) Nhìn chung viết về nhà thơ này, bài vở chỉ dừng lại ở mức giới thiệu, kể lại một vài kỷ niệm, hay những đánh giá bước đầu về thơ Thanh Tâm Tuyền Riêng
công trình của Trần Hữu Vinh với “Thi pháp thơ Thanh Tâm Tuyền qua Tôi không
c òn cô độc và Liên-Đêm-Mặt trời tìm thấy” phác hoạ được phần nào thế giới nghệ
thuật của nhà thơ Tuy nhiên, công trình chưa làm nổi bật được những gì được gọi là
“đặc sản”, hay những thành tựu cách tân, những đỉnh cao trong sáng tác của ông Nếu chỉ dừng lại ở những thủ pháp như tính hàm súc đa nghĩa, giàu tính văn xuôi hay các phép tu từ quen thuộc thì Thanh Tâm Tuyền vẫn chưa có nhiều đóng góp cho thơ ca Việt Nam Thông qua việc tìm hiểu và ghi chép, chúng tôi nhận thấy: nghiên cứu về Thanh Tâm Tuyền vẫn còn ít ỏi và hạn chế, riêng hướng tiếp cận biểu tượng đối với thơ ông thì hầu như không tìm thấy Đây cũng là một thách thức đối với chúng tôi trong luận văn này
Trang 11chúng tôi trình bày thêm một cách hiểu về biểu tượng thẩm mỹ và biểu tượng nghệ thuật
Luận văn xác định phải trình bày được quá trình hình thành và biểu hiện của biểu tượng thẩm mỹ đặc biệt trong lĩnh vực văn học Đây là vấn đề mà chúng tôi đặc biệt quan tâm trong chương thứ nhất Con đường từ biểu tượng tâm lí đến biểu tượng thẩm mỹ đòi hỏi người viết đào sâu vào tư tưởng của các nhà phân tâm học; nhưng trong phạm vi cho phép của luận văn thạc sĩ, chúng tôi hầu như tiếp cận được những khái niệm bước đầu và nền tảng Để có được góc nhìn toàn diện hơn, e rằng, chúng tôi cần phải có nhiều thời gian hơn Do đó, những phát biểu và suy nghĩ của chúng tôi ít nhiều xuất phát từ quan niệm và lập luận riêng với mong muốn học tập
và trao đổi
b Phần thứ hai:
Tìm hiểu thơ Thanh Tâm Tuyền bằng việc khảo sát thế giới biểu tượng và nghệ thuật thơ, chúng tôi muốn khơi dậy sự quan tâm nhiều hơn đối với nhà thơ này Theo tìm hiểu mà chúng tôi có được, Thanh Tâm Tuyền thực sự là một nhà thơ có nhiều đóng góp cho thơ ca Việt Nam hiện đại Qua luận văn này, chúng tôi muốn trình bày rõ hơn về những đóng góp ấy
Thông qua đó, chúng tôi phát hiện những biểu tượng thẩm mỹ trong thơ ông, xem như một hệ thống có mối liên hệ chặt chẽ và mang đến những biểu tượng thẩm
mỹ độc đáo Trong phần này, với mục đích đã nêu, chúng tôi trình bày hệ thống biểu tượng thẩm mỹ qua hai góc nhìn: 1 – dưới góc độ của khuynh hướng hiện sinh và 2 – quan điểm phân tâm vật chất
Thanh Tâm Tuyền và tạp chí Sáng Tạo cũng như những bạn văn từ trước khi đến với Sáng Tạo thật sự gây dựng được cuộc đổi mới mạnh mẽ trên thi đàn bấy giờ Tất nhiên, độ dài hơi và những giá trị mà họ đóng góp còn là việc chúng ta cần thêm thời gian để nghiên cứu nhưng những nỗ lực, đóng góp ấy nên được ghi nhận Ở đây, chúng tôi mong muốn trình bày quá trình cách tân ở thơ Thanh Tâm Tuyền Và cho thấy, quá trình này đã ảnh hưởng gì đến sự hình thành biểu tượng thẩm mỹ
Trang 12Vấn đề “cái mới” trong thơ Thanh Tâm Tuyền, có lẽ mỗi hướng nghiên cứu lại mang đến một nét riêng Luận văn này cũng chỉ dừng lại ở việc trình bày những nét mới của nhà thơ dưới góc nhìn biểu tượng Chúng tôi cho rằng nên xem xét những kết quả nghiên cứu khác biệt ấy là sự bổ sung hơn là mâu thuẫn Văn học cơ hồ là một bức tranh đa dạng, đa diện và nhiều màu sắc
4 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt cơ sở lí luận, chúng tôi tìm hiểu trong phạm vi thành tựu nghiên cứu biểu tượng của giới lí luận phê bình văn học Âu-Mỹ thế kỷ XX Mặc dù, sự quan tâm dành cho biểu tượng, hay sự manh nha cho chuyên ngành biểu tượng học đã xuất hiện từ lâu, nhưng phải đến thế kỷ XX thì nghiên cứu biểu tượng mới có được những thành tựu đáng kể Do đó, chúng tôi thiết nghĩ nên tập trung vào những thành tựu của giới nghiên cứu Âu- Mỹ giai đoạn này
Về Thanh Tâm Tuyền, ông là cây viết đa dạng Ông vừa làm thơ, viết truyện, viết báo, viết tiểu luận, tạp ghi Tuy nhiên, người ta nhớ đến ông nhiều nhất là thơ Tài sản thơ của ông quan trọng nhất là hai tập được xuất bản trước 1975 tại Sài Gòn
Riêng tập Thơ ở đâu xa được xuất bản ở hải ngoại không có nhiều đóng góp vào
con đường nghệ thuật của Thanh Tâm Tuyền Do đó, chúng tôi xác định đối tượng
nghiên cứu biểu tượng thơ thông qua hai tập : - Tôi không còn cô độc (1956); -
Liên- đêm- Mặt trời tìm thấy (1964) Mặc dù có tham khảo thêm một vài truyện
ngắn, truyện dài và tiểu thuyết của ông trước 1975 nhằm mục đích so sánh, nhưng trên hết vẫn là thơ và biểu tượng thẩm mỹ Và chúng tôi cũng xác định phạm vi chủ yếu của luận văn này là những biểu tượng đặc trưng nhất
5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
a Cơ sở lí luận
Trước hết đó là những thành tựu nghiên cứu biểu tượng của giới lí luận phê bình văn học Âu - Mỹ thế kỷ XX Phân tâm học đóng góp đáng kể cho lĩnh vực nghiên cứu văn học ở quan niệm về biểu tượng Chúng tôi xem đó là một trong những nền tảng lí luận quan trọng suốt quá trình thực hiện luận văn này
Trang 13Bên cạnh đó, trong sự liên hệ và mở rộng việc nghiên cứu biểu tượng thẩm mỹ trong thơ Thanh Tâm Tuyền, một tác giả đa dạng, chúng tôi còn quan tâm đến chủ nghĩa hiện sinh và khuynh hướng hiện sinh trong văn học đô thị miền Nam trước
1975 Đồng thời, tiếp biến các thành tựu văn học một cách rộng rãi và trực tiếp, Thanh Tâm Tuyền là ngọn gió mới của thi đàn thời bấy giờ, mà trước hết, đó là mạch nguồn siêu thực Trào lưu Siêu thực cũng là vấn đề lí luận mà chúng tôi xem
là cơ sở cho luận văn này Tiếp theo, những biểu hiện Tân hình thức trong thơ ông, lôi cuốn chúng tôi khảo cứu về thi pháp của trường phái này Quả thực, Thanh Tâm Tuyền là một vũ trụ thơ đa dạng, đa tầng, đa chiều trong cái toàn thể vừa chuyển động vừa tái tạo liên tục
b Phương pháp nghiên cứu cơ bản:
- Phương pháp khảo sát, thống kê:
Đến với các vấn đề quan niệm về biểu tượng hay tìm hiểu văn bản thơ Thanh Tâm Tuyền, phương pháp này là công việc bước đầu nhằm nắm bắt những quan niệm và liên hệ xung quanh biểu tượng, cũng như khám phá các chi tiết và hình ảnh nào đã thể hiện sự tồn tại và ảnh hưởng mạnh mẽ hơn cả Chính những dữ liệu khảo sát và thống kê được là nền tảng cho việc hình dung về biểu tượng và những biểu tượng nào thực sự nổi bật trong sáng tác của Thanh Tâm Tuyền
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát
Dựa trên dữ liệu khảo sát được, chúng tôi tiếp tục sử dụng những phương pháp
cơ bản như phân tích, tổng hợp, khái quát Biểu tượng nước và đất chẳng hạn, chúng tôi bắt đầu từ việc khảo sát các hình ảnh hệ lụy trong quỹ đạo của nó Và từ đó, phân tích các khía cạnh hình thức, tổng hợp và tìm ra mối liên hệ giữa chúng, nhằm đưa
tới khái quát về đặc tính của một biểu tượng chủ đạo cụ thể
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
Song song với tổng hợp, khát quát về đặc tính biểu tượng thì việc so sánh và đối chiếu biểu tượng ấy với những biểu tượng trong cùng môi trường của nó sẽ giúp ích cho việc phát hiện các liên hệ bên trong Những liên hệ này sẽ bị bỏ qua nếu chúng ta đặt biểu tượng trong thế khép kín như một đối tượng duy nhất Và thiếu đi
Trang 14việc liên hệ so sánh sẽ đánh mất khá nhiều đặc trưng thú vị của biểu tượng So sánh giữa những đặc trưng của chủ nghĩa Lập thể trong văn học và hội họa, chúng tôi nhìn thấy mối liên hệ giữa chúng mà hơn hết đã xác định được phương hướng tiếp cận thơ Thanh Tâm Tuyền Phương pháp so sánh đóng góp đắc lực vào khả năng hình thành khung tham chiếu trong quá trình nghiên cứu
- Phương pháp hệ thống
Thêm vào đó, nhìn thấy mối liên hệ giữa những biểu tượng thuộc về hình thức
và biểu tượng thuộc về bản thể nghĩa là đặt chúng trong một hệ thống Chính phương pháp hệ thống và quan điểm hệ thống đóng vai trò liên kết các khía cạnh đặc trưng của biểu tượng Phương pháp này giúp cho luận văn không rơi vào tình trạng rời rạc và gượng ép các mảng màu xô bồ, hỗn tạp Phương pháp này giúp cho những
ý tưởng được tiếp nhận thấu đáo hơn Cụ thể, trong khi trình bày về những biểu tượng nước và đất, chúng tôi vẫn không ngừng tìm đến mối liên hệ giữa chúng với biểu tượng thành phố và thể xác đã trình bày qua Phương pháp này giúp cho luận văn trở nên nhất quán và chặt chẽ hơn
- Phương pháp thi pháp học:
Với chương 2 và 3, chúng tôi sử dụng phương pháp thi pháp học với mục đích khám phá từng khía cạnh nội tại của biểu tượng thẩm mỹ cũng như sự hình thành của nó qua tư duy thơ Thanh Tâm Tuyền
- Phương pháp liên ngành:
Ở đây, trong phạm vi những biểu tượng mà chúng tôi khảo sát, đâu đó vẫn có những vấn đề đòi hỏi một cái nhìn liên ngành Vì Thanh Tâm Tuyền là một tư duy thơ rộng mở Sự tiếp nhận nơi ông cho thấy mối quan tâm sâu sắc đến văn nghệ nói chung Các loại hình nghệ thuật đã đi vào thơ Thanh Tâm Tuyền mà rõ nét nhất là
hội họa Hơn nữa, bầu không khí “hiện sinh” tại Sài Gòn trước 1975 đặt ra cho nhà thơ và giới văn nghệ sĩ nói chung rất nhiều suy tư Có thể hình dung, họ rơi vào vòng xoáy hiện sinh Thế nên, một cách nhìn liên ngành (xã hội học, triết học, nghiên cứu văn học) thực sự cần thiết cho việc tìm hiểu luận văn này
Trang 156 Đóng góp của luận văn
Chúng tôi mong rằng qua luận văn này đã góp thêm một phần nhỏ vào việc tìm hiểu biểu tượng thẩm mỹ trong tác phẩm văn học, mong muốn mang lại vài suy nghĩ tiếp theo về hướng nghiên cứu biểu tượng tại Việt Nam hiện nay Chúng tôi không quá chú ý đến việc phải xác lập hệ thống lí luận về biểu tượng (việc này dường như vượt quá yêu cầu của một luận văn thạc sĩ) Cụ thể hơn, điều mà chúng có thể làm được là gây dựng được nhiều quan tâm hơn đến nghiên cứu biểu tượng, cũng như đối với thơ Thanh Tâm Tuyền
Trình bày những thành tựu đáng kể trong thơ Thanh Tâm Tuyền, luận văn ít nhiều đã mang lại thêm vài ý kiến giúp ích cho việc hiểu biết về nhà thơ này Chúng tôi chỉ mong sao bài viết này góp một phần nhỏ để tìm lại những tài năng văn học đa đạng và độc đáo của văn học đô thị miền Nam nói riêng
Cho thấy những đặc sắc trong thơ Thanh Tâm Tuyền về mặt biểu tượng thẩm
mỹ, nghệ thuật xây dựng biểu tượng trong thơ Thanh Tâm Tuyền là tiểu mục mà chúng tôi đặt nhiều tâm huyết và công sức Mặc dù, có thể bên cạnh đó, nghệ thuật thơ Thanh Tâm Tuyền vẫn còn nhiều khía cạnh đặc sắc và đặc trưng hơn; nhưng các quan điểm mà chúng tôi phát biểu với tinh thần trao đổi cũng gợi ra một vài hướng tiếp cận khả dĩ phù hợp đối với thế giới thơ Thanh Tâm Tuyền Công việc này có thể giúp ích cho việc hiểu về thơ Thanh Tâm Tuyền toàn diện hơn
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, công trình được chia làm
ba chương:
Chương 1: Biểu tượng thẩm mỹ - những vấn đề lịch sử và lí luận
Chướng 2: Những biểu tượng thẩm mỹ nổi bật trong thơ Thanh Tâm Tuyền Chương 3: Nghệ thuật xây dựng biểu tượng thẩm mỹ trong thơ Thanh Tâm
Tuyền
Trang 16Chương 1: BIỂU TƯỢNG THẨM MỸ -
NHỮNG VẤN ĐỀ LỊCH SỬ VÀ LÍ LUẬN
1.1 Những nét chủ yếu trong hoạt động nghiên cứu biểu tượng thẩm mỹ 1.1.1 Hoạt động nghiên cứu biểu tượng thẩm mỹ trong lí luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ XX
“Biểu tượng và huyền thoại là phương thức khám phá Chúng là sự biểu lộ cho tiến trình của cấu trúc trong các mối quan hệ giữa chúng với tự nhiên và chính sự tồn tại này, đồng thời biểu lộ một phương thức thẩm mỹ mới”[45;tr.45] Biểu tượng,
do đó, có thể nói là đối tượng không chỉ của lí luận phê bình văn học mà còn đối với nhiều chuyên ngành khác Biểu tượng đóng vai trò là phương thức của tư duy người Biểu tượng là một vấn đề quan trọng của văn hóa Biểu tượng thâm nhập vào hầu hết những khía cạnh của đời sống, từ sinh hoạt thường nhật đến những hình thái ý thức xã hội như văn học, triết học, tôn giáo, …Con người từ lâu đã quan tâm đến biểu tượng Hoạt động nghiên cứu biểu tượng, bởi thế, có một quá trình phát triển lâu dài
Từ thời Trung cổ, hoạt động chú giải Kinh thánh phần nào đụng chạm đến
những vấn đề đầu tiên của biểu tượng học
“Biểu tượng trong nghệ thuật dựa trên phương pháp biểu hiện ý tưởng hoặc (của) việc liên kết hình ảnh Lý thuyết thời Trung cổ và lý thuyết cổ điển về biểu tượng cho rằng nhiều tác phẩm chứa đựng những tầng kép phức hợp về ý nghĩa Chúng và những thứ tương tự có thể được xem là văn chương, có tính biểu tượng, là sự chú giải Kinh thánh, hoặc những hình thức phổ thông hơn và ngay cả trong đạo đức Biểu tượng còn có thể được hiểu như là cái bản chất hoặc là cái quy ước Những thứ vốn có làm nảy sinh những cái khác; hoặc một số lại tùy thuộc vào mối quan hệ
đã quy ước hóa từ trước Chiếc nón trắng có thể là biểu tượng cho một
Trang 17anh chàng lịch thiệp ở Tây phương, nhưng màu trắng cũng tự nó biểu hiện cho khoảng màu sắc giản dị và do đó lại gần với sự thanh khiết Biểu tượng, do đó, như là nhân tố ưu trội của nhiều loại hình nghệ thuật, chúng đã tự phân tách ra khỏi những hình thức phản ánh được xác nhận
là duy thực và những cách lý giải hiện thực khác, mặc dù lý luận về nghệ thuật đã xác định rằng ngay cả hiện thực cũng phải sử dụng những hiểu biết mang tính quy ước và do đó đã là tượng trưng”[56;p.310]
Trải qua thời gian lâu dài nhưng nghiên cứu biểu tượng hoạt động tách rời, thiếu đi phương pháp khoa học thích hợp khiến cho nghiên cứu biểu tượng trở thành
“cuộc tranh luận kéo dài” cho đến tận đầu thế kỷ XIX Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX, nghiên cứu biểu tượng mới thật sự trở thành một khoa học Và cũng ở giai đoạn này trở về sau, nghiên cứu biểu tượng nói chung đạt được nhiều thành tựu đáng kể, khiến chúng ta có cái nhìn thấu đáo và sâu sắc hơn về biểu tượng trong rất nhiều lĩnh vực đời sống
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Tượng trưng đã trở thành một phong trào có tầm ảnh hưởng rộng rãi trong tư duy thơ Tây phương Đi sâu vào những khía cạnh đặc sắc của trào lưu này, theo đó, hoạt động nghiên cứu văn học hình thành xu hướng nghiên cứu biểu tượng trong thế giới nghệ thuật của những nhà thơ Tượng trưng Pháp Ở Mỹ, còn có những nghiên cứu về E.A.Poe, N Hawthorne, W.Whitman… Bên cạnh đó, chúng ta thấy nhiều học giả quan tâm đến giải thích những hình ảnh, biểu tượng, các khía cạnh biểu tượng, các hình ảnh tượng trưng trong nhiều tác phẩm kinh điển, chẳng hạn như trường hợp của J.B.Fletcher với
Thần khúc hay W.R Price với Zadig
Chính trong giai đoạn này, sự phát triển của khoa tâm lý học với những thành tựu to lớn của S.Freud (1856-1939) và C.Jung (1875-1961), mang lại nền tảng cần thiết và vững chắc cho việc tìm hiểu biểu tượng và sự hình thành biểu tượng trong tư duy người Phân tâm học góp phần xác lập sự hình thành, tồn tại và ý nghĩa của biểu tượng Nghiên cứu biểu tượng thật sự trở thành một ngành khoa học
Trang 18Trong phạm vi ảnh hưởng của phân tâm học, Gaston Bachelard (1884-1962)
thật sự là “ngọn núi đứng riêng một cõi” mang lại nhiều điều thú vị cho hoạt động nghiên cứu biểu tượng Những tác phẩm của Bachelard giàu chất thơ, uyên thâm và gần với văn chương hơn bao giờ hết Dựa trên này tảng ấy, chưa bao giờ biểu tượng lại được quan tâm nhiều như thế Hầu như hướng nghiên cứu này diễn ra trên rất nhiều phương diện Nghiên cứu biểu tượng đi vào từng khía cạnh vấn đề Đặc biệt,
từ phân tâm học, hoạt động nghiên cứu biểu tượng trong địa hạt văn chương thật sự
nở rộ
Song song việc chú giải Kinh thánh, các biểu tượng của tôn giáo đi vào trong đời sống và do đó đã trở thành một bộ phận của văn hóa Tây phương Biểu tượng tôn giáo cũng là biểu tượng của văn hóa Sau nữa, hướng nghiên cứu này gắn liền với sự phát triển của văn hóa học, nhân học, xã hội học, dân tộc học…khi nó đi sâu nghiên cứu đời sống văn hóa tộc người (vượt ra khuôn khổ đời sống Âu châu) Trong tình hình nghiên cứu biểu tượng triển khai rộng rãi ở nhiều lĩnh vực khác nhau, việc này đòi hỏi các nhà khoa học cần có tiếng nói chung Và do đó, dù mỗi chuyên ngành có những đặc điểm tư duy và phương pháp khác nhau, nhưng nghiên cứu biểu tượng vẫn cần thiết xác lập nền tảng chung về thuật ngữ, phân loại, định tính và phương pháp tiếp cận Khoảng những thập niên 1950-1960 của thế kỷ
XX, nghiên cứu biểu tượng có cơ hội nhìn lại và rút ra tổng quan về mặt lí luận, đồng thời xây dựng quan niệm về biểu tượng trong nhiều khoa học khác nhau W Y.Tindall nghiên cứu biểu tượng trong văn học F.W.Dillistone tìm hiểu mối quan
hệ giữa Thiên Chúa giáo và biểu tượng R May chủ biên cho những nghiên cứu về biểu tượng trong tôn giáo và văn học Chính sự mở rộng biên độ từ biểu tượng tâm
lý sang biểu tượng thẩm mỹ, như là đối tượng của văn nghệ cũng như những hình thái ý thức xã hội khác, khiến cho diện mạo lí luận về biểu tượng trở nên đa dạng Từng khía cạnh biểu tượng được trình bày cụ thể và đóng góp đáng kể cho việc nắm bắt biểu tượng nói chung
Khởi đi từ nền tảng tâm lý, biểu tượng trở thành đối tượng nghiên cứu của hầu hết các ngành khoa học xã hội Nghiên cứu biểu tượng trở thành một hoạt động
Trang 19mang tính chất liên ngành Chính giai đoạn này, những năm 80 trở đi, cũng là lúc xét lại những khía cạnh nội dung của biểu tượng, góp thêm hiểu biết về biểu tượng Nhiều nhà nghiên cứu đứng từ vị trí của một lý thuyết khác nhìn về biểu tượng (Elzbieta Halas, Barbara Foley, ), hoặc nghiên cứu biểu tượng trong mối liên hệ với chuyên ngành khác (Nick Ciceotosto, Craig Leroux, Rodger Morrison….) Một lần nữa, nghiên cứu biểu tượng lại được mở rộng biên độ và đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận
1.1.2 Nghiên cứu biểu tượng thẩm mỹ ở Việt Nam từ 1986 đến nay
Theo Tiến sĩ Đinh Hồng Hải: “Cho đến nay, các nghiên cứu khoa học xã hội trên bình diện văn bản học (như văn học, sử học, triết học, ngôn ngữ học, ) đã đạt được khá nhiều thành tựu, trong khi nghiên cứu biểu tượng (như ký hiệu học, nhân học biểu tượng, ) dường như vẫn đang là một mảnh đất còn bỏ trống với số lượng các công trình nghiên cứu chỉ đếm được trên đầu ngón tay Thậm chí trong số những nghiên cứu ít ỏi đó, chưa một công trình nào thực sự “đặt nền móng” cho một khoa học nghiên cứu về biểu tượng”[71] Và ông nhận xét thêm, thực trạng ấy bắt nguồn
từ chỗ chúng ta chưa có nền tảng lí luận cần thiết Trong những năm gần đây, nghiên cứu biểu tượng hay cụ thể là biểu tượng trong văn học nghệ thuật đang trở thành một trào lưu bổ khuyết cho diện mạo lí luận phê bình văn học Việt Nam Nhưng rõ ràng ý kiến nêu trên vẫn có chỗ xác đáng, vì trong nhiều nghiên cứu, nhiều luận án
mà chúng ta thực hiện, hầu như vẫn chưa có tài liệu nào định hướng một cách vững chắc cho hoạt động nghiên cứu biểu tượng Tình hình chung là biểu tượng ngày càng được chú ý, nhưng một khoa học hệ thống với đầy đủ nền tảng lí luận về biểu tượng vẫn chưa thật sự định hình ở Việt Nam Và đó cũng là điều mà giới nghiên cứu ở nước ta đang cố gắng thực hiện
Chúng tôi xin trình bày thêm một ý kiến khác “Ranh giới đích thực phân biệt con người và các động vật cao cấp khác chính là khi vượn người xuất hiện một khả năng đặc biệt – khả năng biểu trưng hóa (symbolizing) trong hoạt động trí thức để trở thành người vượn”[73] Đó là lời nhận xét của PGS.TS Đỗ Thu Hà ( công tác tại
Trang 20Khoa Đông phương học – Đại học KHXH & NV Hà Nội) Dẫn ý kiến này, chúng tôi nhận thấy sự quan tâm ngày càng nhiều của giới nghiên cứu khoa học Việt Nam về vấn đề biểu tượng nói chung Trong đó, chúng ta cũng nhận thấy “biểu trưng hóa” là một đặc trưng tồn tại về mặt tư duy của con người từ buổi sơ khai và ảnh hưởng nhiều đến hoạt động ý thức của chúng ta Nghiên cứu biểu tượng trong các hình thái
ý thức xã hội là cần thiết Trong đó, nghiên cứu biểu tượng trong văn học là khía cạnh thú vị Dành nhiều quan tâm nhưng cũng có rất nhiều lí do ảnh hưởng khiến cho nghiên cứu biểu tượng ở Việt Nam hiện nay hầu như phân tán rời rạc
Nhìn chung, biểu tượng học vẫn là mảnh đất ít người tìm đến Mặc dù hiện nay đã có không ít công trình nghiên cứu về lĩnh vực này nhưng vẫn chưa góp phần định hình nền tảng lí luận cần thiết Thiết nghĩ, vẫn luôn cần một nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững tiếp theo Nghiên cứu biểu tượng hiện nay thật sự trở thành trào lưu Chúng tôi không chỉ đơn thuần hòa vào dòng chảy chung, mà hơn hết muốn đóng góp thêm vài ý kiến vào quan niệm chung về biểu tượng Đây là hướng nghiên cứu sâu rộng mà chúng ta cần phải chú trọng nhiều hơn nữa
1.2 Những vấn đề khái niệm
1.2.1 Về biểu tượng
a Về khái niệm biểu tượng nói chung
Trước hết, chúng tôi xin trình bày qua về nguồn gốc thuật ngữ Biểu tượng trong nguồn gốc Hy Lạp là symbolon (συμβoλον); - Latin: symbolus/symbolum; - Pháp: symbole [35],[42],[43],[58] Theo Từ điển Latin của Charlton T Lewis: symbolus là kí hiệu hoặc phù hiệu mà nó mang lại một cái khác, nhằm để hiểu thấu bất cứ gì đằng sau nó[42;p.825].Theo Henry G Liddell và Robert Scott [43; p1174]:
“συμβoλον” có nghĩa là: 1- là một kí hiệu hoặc dấu hiệu mà từ nó cho biết hoặc suy ra/ hàm ý một thứ khác; 2- Vật tượng trưng hoặc phù hiệu; 3 – là dấu hiệu bên ngoài của ý thức hoặc cảm giác; 4 - ở Athens, còn có nghĩa là vé, ngân phiếu, bàn tính Có thể nói thêm rằng, biểu tượng trong nguồn gốc Hy Lạp có nghĩa đen là dẫn đến, so sánh với một thứ khác Hay “cái biểu hiện, vật làm tin, dấu hiệu mà từ nó có thể suy
Trang 21luận/suy ra/ gợi ý/ hàm ý thứ gì đó” [58;p.1529] Nó bắt chúng ta đặt giả thuyết ngay từ đầu về một nội dung nào đó phía sau, những ý nghĩa được mang vào cho nó Nghĩa là biểu tượng cho phép và tạo điều kiện cho chúng ta bắt được mối liên kết với những gì đứng phía sau nó
Cùng chung ý kiến trên, George J Hagar: biểu tượng “vật tượng trưng hoặc dấu hiệu đại diện cho một thứ gì khác; một biểu hiện hoặc đặc trưng dùng như sự tóm lược vào….”[33;p.749] Những điều phía sau nó được triển khai thông qua sự tóm lược ấy Ý kiến này phần nào làm rõ quá trình hình thành biểu tượng Đó là quá trình thâu tóm nghĩa vào bản thân vật đại diện Tại sao quá trình ấy lại xuất hiện trong tư duy người ? Nhu cầu tư duy nhanh gọn và chính xác, cũng như việc tri nhận tổng hợp thúc đẩy chúng ta có những “vật làm tin”, vật đại diện cho hơn một thông tin Điều này giúp cho việc trao đổi, truyền đạt thông tin hiệu quả hơn Quá trình ấy
là sự tóm lược những đặc trưng mà sau đó trở thành nghĩa của biểu tượng Nó sẽ chỉ
là “cái vỏ ốc” trống không nếu không có những đặc trưng được tóm lược vào Nhìn chung, ý kiến này trình bày được những nét cơ bản nhất trong việc hiểu về biểu tượng
Vậy những gì sẽ được tóm lược vào ? Theo Webster’s New World Dictionary
of the American Language, biểu tượng: 1- là thứ đại diện hoặc tượng trưng cho một thứ gì khác; đặc biệt, có thể là một đối tượng/vật thể đại diện cho thứ gì đó mang tính trừu tượng; 2 – một nhãn hiệu, kí tự, sự ước lược được viết hoặc in ra nhằm đại diện cho một đối tượng, phẩm tính, quá trình hay phẩm lượng…; 3 – trong phân tâm học, đó là một hành động hay một đối tượng tượng trưng cho những khát vọng từ trong vô thức Quan niệm này hầu như trình bày cụ thể và cơ bản về những thông tin được thâu tóm vào bản thân biểu tượng Đó rất có thể là những ý niệm trừu tượng: lượng tính, phẩm tính, quá trình và các hình dung tràn từ cõi vô thức
Tương tự, dẫn theo Gedion Juba G Mncube, ý kiến J.M Hawkins về biểu tượng như sau: “thông thường nó được xem như cái điển mẫu, cái đại diện hoặc vật triệu hồi đến thứ gì đó, đặc biệt là một ý niệm hay một phẩm tính nào đấy”[46;p.25], [36;p.1464] Và Mncube nói thêm rằng “Biểu tượng điển hình cho thứ gì khác bởi lẽ
Trang 22nó có thể là đồng dạng về đặc tính hoặc hình thức” [46;p.25], và nó chỉ có thể là vật
ám chỉ hay triệu hồi khi nó đã gây được sự tri nhận ở đối tượng tiếp nhận trước khi một lần nữa anh ta gặp lại nó để có thể thông qua đó hiểu được nghĩa mà biểu tượng hàm chứa hay mang lại Không chỉ là vật đại diện hoặc bị quy ước, biểu tượng và nội dung mà nó tóm lược vào luôn tồn tại mối liên hệ nhất định Sự gần gũi giữa nó
và nội dung cho phép sự tóm lược vào được triển khai Và cái đáng ghi nhận ở Mncube là đã chú ý đến việc tiếp nhận biểu tượng Từ chỗ quan tâm khả năng triệu hồi mà biểu tượng gây ra trong hoạt động tri nhận, Mncube cho thấy biểu tượng chỉ
có thể thể hiện phạm vi ảnh hưởng sau khi đã tác động vào đối tượng và có một lượng nghĩa hiển ngôn xác định Chúng ta gặp gỡ một biểu tượng, điều đó có nghĩa
là chúng ta đã gặp gỡ nó trước đấy rồi và lần trước chúng ta biết nó với một ý nghĩa khác Nhưng bây giờ chúng ta gặp lại nó như một đối tượng có sự sống và chuyển động Hoàn cảnh mới khiến nó có thêm lượng nghĩa mới Hoàn cảnh mới ở đây vừa
là hoàn cảnh của văn bản, vừa là hoàn cảnh của người đọc Đây lại là một vấn đề rộng lớn hơn Ở khía cạnh này, biểu tượng gần như cuộc hội ngộ với nhân tình cũ hơn là cái mặt nạ đơn thuần Và người tình ấy ngoài những chuyện đá vàng quá khứ còn có nhiều nếp nhăn mới ở hiện tại
Cũng là những ý kiến gần đây, theo Dictionary of Symbols của C.G.Liungman
thì “những gì được gọi là biểu tượng khi nó được một nhóm người đồng ý rằng nó
có nhiều hơn một ý nghĩa, là đại diện cho chính bản thân nó” [44;p.25] Và Symbology được hiểu là Biểu tượng học Với định nghĩa này chúng ta dường như nhận thấy một bất cập ngay lập tức Theo như Ju.M Lotman, “biểu tượng vừa ở bình diện biểu hiện, vừa ở bình diện nội dung bao giờ cũng là một văn bản, tức là có một ý nghĩa thống nhất đóng kín ở bên trong nó, và có một ranh giới biểu hiện rõ ràng cho phép tách biệt nó khỏi ngữ cảnh kí hiệu xung quanh Điều này là đặc biệt quan trọng để có thể “trở thành biểu tượng”” [67] Biểu tượng nói chung gần với kí hiệu vì nó cần bảng mã quy chiếu, hệ quy chiếu cho việc xác lập nghĩa của nó bên cạnh một biểu tượng khác nhưng biểu tượng trong nghệ thuật lại là một ngoại lệ, một “electron” trật khỏi quỹ đạo Chính điều đó làm cho biểu tượng trong nghệ thuật
Trang 23trở nên độc đáo và khác biệt, tách bạch khỏi kí hiệu Biểu tượng trong nghệ thuật có thể không cần một nhóm người đồng ý sử dụng Nó khước từ bảng mã mang tính xã hội và tự xác lập mối ràng buộc nghĩa với những yếu tố khác trong chính bản thân
nó Vậy là biểu tượng trở là một hành tinh vận chuyển theo quy luật nội tại về ý nghĩa của tác phẩm hơn là quy luật của ý nghĩa về mặt xã hội Đồng thời, lại có những vệ tinh khác quay quanh nó, cố định, cô kết nghĩa cho nó (đó là những hình ảnh hệ lụy) Chính cơ chế vận hành kép ấy định vị biểu tượng, định vị về mặt nghĩa cho nó Nó không cần đến những ràng buộc nghĩa từ cộng đồng nào đó, hay như một
khế ước của xã hội ( thậm chí điều đó còn có hại)
Biểu tượng trong tác phẩm nghệ thuật có giá trị tự thân, độc lập tương đối Vì trước hết nó là một hình ảnh, tồn tại trong văn bản như một kí hiệu đặc biệt Tóm lại, với hệ thống, biểu tượng có được một bảng mã tự định vị ý nghĩa của nó Ví dụ một nhà thơ luôn có những luật lệ riêng Và nhà thơ nói chung có thể có những biểu tượng mang ý nghĩa không hoàn toàn được chấp nhận bởi số đông Nhưng với tính
hệ thống, khả năng xác định chính bản thân nó trong bảng mã hình ảnh liên quan giữa miền tưởng tượng đã không ngừng xây dựng ý nghĩa cho nó Biểu tượng không cần ai thừa nhận, vì nó đã hoàn toàn có nghĩa với chính thế giới của nó Đây cũng chính là luật lệ giấc mơ ở biểu tượng thẩm mỹ mà chúng ta sẽ bàn ở phần sau
Và cũng từ ý kiến Ju M Lotman, có thể khẳng định hơn nữa việc thiết lập vũ trụ nghĩa nội tại bên trong biểu tượng Trong quá trình hình thành, biểu tượng đã tách khỏi kí hiệu, từ bỏ tính võ đoán Khiến cho cái được biểu đạt của kí hiệu trở nên năng sản, đa tầng nghĩa và thiết lập lại việc tạo nghĩa cho chính nó Vén màn bước vào vũ trụ nghĩa nội tại của biểu tượng, đó là hệ thống đa cấp về ý nghĩa trong mối liên hệ giữa chúng
“Tách biệt nó khỏi ngữ cảnh kí hiệu xung quanh”, làm thế nào mà biểu tượng
có được sự định vị của mình Nó – BIỂU TƯỢNG - buộc lòng phải có môi trường của nó (đặc biệt biểu tượng thẩm mỹ chỉ hình thành trong điều kiện nhất định) Đó
là văn bản với khả năng truyền chuyển thông tin một cách đa dạng, đa tầng Trong
đó, ngữ cảnh triển khai truyền và nhận thông tin giúp định vị biểu tượng là quá trình
Trang 24“phân giải” mà mỗi mắc xích trên chặng đường ấy lại là một biểu tượng hệ lụy chung quanh một biểu tượng lớn hơn, sâu kín hơn Có thể nói, quan niệm này đặc biệt đáng lưu tâm không chỉ ở chỗ giúp khu biệt kí hiệu và biểu tượng mà còn đề đặt vấn đề tồn tại của biểu tượng song song với quá trình phân giải văn bản
Trong tiếng Việt, biểu tượng là một từ gốc Hán được dùng lẫn lộn với hình tượng và kí hiệu Biểu tượng có 2 nghĩa: 1-hình ảnh tượng trưng; 2- hình ảnh của nhận thức cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt [15;tr.26],[71] Và theo Cung Kim
Tiến trong Từ điển Triết học: “biểu tượng là hình ảnh trực quan cảm tính, khái quát
về sự vật hiện tượng của hiện thực, được giữ lại và tái tạo trong ý thức và không có
sự tác động trực tiếp của bản thân các sự vật hiện tượng đến giác quan” [19;tr.86] Chúng ta chú ý đến những điểm sau: là hình thức phản ánh cảm tính, được giữa lại
và tái tạo Vậy là biểu tượng như hạt mầm không ngừng nảy nở, xác lập, tái tạo lại
nó để bản thân nó có thể chứa đựng một lượng nghĩa năng động Điều này cho phép biểu tượng chuyển động không ngừng trong môi trường tư duy cũng như môi trường người tiếp nhận thông tin Ngoài ra, “mặc dù biểu tượng là hình thức phản ánh cảm tính của cá nhân, nhưng ở con người, nó có mối liên hệ mật thiết với những nghĩa do
xã hội tạo ra, đã được tạo ra một cách gián tiếp qua ngôn ngữ, mang đầy nội dung xã hội và bao giờ cũng lĩnh hội được, nhận thức được” [19;tr.86] Điều này khẳng định biểu tượng không thể từ bỏ nguồn gốc xã hội của nó, nhưng có vẻ đây chỉ là một trong những khía cạnh của biểu tượng Tất nhiên biểu tượng vẫn chịu sự ràng buộc ít nhiều với quy phạm xã hội Đó là một quãng sinh hoạt tinh thần rộng rãi, từ ý thức đến vô thức tập thể Có thể nói, nhờ vào ý nghĩa xã hội mà biểu tượng định vị được
nó, bắt được sóng truyền đạt, tạo được kênh truyền đạt cho thông tin Tuy nhiên, phần nhiều biểu tượng trở nên độc đáo do sự vượt thoát khỏi mối ràng buộc với quy phạm xã hội Với nghệ thuật, biểu tượng hoàn toàn tự do và không ngừng nảy nở trong môi trường cá nhân như đã trình bày ở phần trên Nguồn gốc xã hội của biểu tượng khi nảy mầm một cách “cá nhân” đã rũ bỏ ít nhiều ý nghĩa xã hội của nó, dần dần phát sinh thêm những ý nghĩa mới nhờ kết nối được với những yếu tố bên trong
Trang 25tác phẩm Nói khác đi, biểu tượng bị cá thể hóa, rơi vào quỹ đạo cái tôi, dần xa ý thức xã hội và “tập quán bầy đàn” sẽ phát triển với ít nhiều phẩm tính thẩm mỹ Nó gắn liền với khát khao và những ám ảnh cá nhân nhiều hơn (Phần này sẽ được trình bày ở phần tiếp theo)
Thêm một ý kiến nữa, chúng ta hình dung cụ thể hơn nguồn gốc hình thành biểu tượng (xuất phát từ thực tiễn đời sống) Theo Đoàn Tiến Lực:
“Khởi nguyên, biểu tượng là một vật được cắt làm đôi, mảnh sứ, gỗ, hay kim loại Hai người mỗi người giữ một phần (có thể là chủ và khách, người cho vay và kẻ đi vay, hai kẻ hành hương, hai người sắp chia tay nhau lâu d ài…Sau này, ráp hai mảnh lại với nhau, họ sẽ nhận ra mối thân tình xưa hoặc món nợ cũ, tình bạn ngày trước Biểu tượng chia ra
và lại kết lại với nhau như vậy nên nó chứa hai ý tưởng phân ly và tái hợp Điều ngày cũng có nghĩa mọi biểu tượng đều chứa đựng dấu hiệu bị đập vỡ; ý nghĩa của biểu tượng bộc lộ ra trong cái vừa gãy vỡ, vừa là nối kết những phần của nó” [63]
Rõ ràng biểu tượng tạo nên bởi hai phần, khi nào có đủ hai phần mới có sự kết nối, nghĩa là sự hoàn thiện để trở thành biểu tượng Ở đây, người viết đặt ra vấn đề
về mối liên hệ song phương giữa biểu tượng Cả hai là cần thiết Mất một trong hai điều nguy hại cho sự tồn tại biểu tượng Nó phải có cái cho nó ý nghĩa Nó cho lại sự hình dung và đối tượng thao tác của tư duy Ý kiến của người viết trong trường hợp này, đáng nói, ở chỗ khẳng định mối liên hệ biện chứng giữa biểu tượng và cái song hành cùng biểu tượng tạo nên khả năng tồn tại của chính nó
Qua phần trên, chúng tôi đã phác họa phần nào những quan niệm chính về biểu tượng Tiếp theo, chúng tôi trình bày quan niệm của phân tâm học Chính ở đây, nghiên cứu biểu tượng có được nhiều thành tựu đáng kể và sâu sắc Như S Freud: “Chúng ta gọi những mối liên hệ bất biến giữa môi trường giấc mơ và sự chú giải của nó là “symbolic” Những yếu tố trong mơ tự nó đã là biểu tượng của suy tưởng mộng mơ thuộc về vô thức” [32;p.123] Với suy nghĩ này, có vẻ Freud đánh đồng toàn bộ hình ảnh xuất hiện trong mơ với biểu tượng Tất nhiên, ông vẫn có cái
Trang 26lí của mình Ông cho rằng bất kì một chi tiết nào nảy nở trong giấc mơ đều là sự giải phóng hay vụt thoát của bản ngã (id) trước tình trạng lõng lẽo của tay kị sĩ tự ngã (ego) Giấc mơ do đó là lúc bản ngã mang tính chất của một “tiểu quỷ” thể hiện rõ rệt và mạnh mẽ nhất Thế nên, bất kì một chi tiết nào của giấc mơ cũng là những chiêu trò của “tiểu quỷ” Nó luôn mang một hàm ý nào đó, chứa đựng trong nó một dung lượng nghĩa nhất định Ý kiến của Erich Kahler nói rõ thêm quan điểm của Freud:
“Trương độ của phương thức hình ảnh, “những tưởng tượng hư cấu” có nguồn cội sâu xa hơn trong tâm lý người, hoặc giả xa hơn nữa là trong tâm thức thú hoang Trong tiềm thức của nó, cơ chế hoạt động tự phát trong giấc mơ đã trở thành tâm điểm chú ý của nhà tâm lý học từng sử dụng thuật ngữ “symbolize” (biểu tượng hóa) về sự chuyển đổi vô thức của cá nhân hoặc một ý nghĩ mơ mộng thuộc về cổ mẫu (archétype) trong những hình ảnh mơ mộng riêng lẽ (theo như cách dùng từ của Freud) và
đó gọi là những hình ảnh kết quả hay biểu tượng” [45;p.58]
Và giữa “biểu tượng” với nội dung phía sau nó có một mối liên hệ vừa gần gũi vừa tượng trưng Chẳng hạn, dẫn theo Phương Lựu [9;tr.281], Freud cho rằng chi tiết leo cầu thang trong mơ là biểu tượng cho ước ao dục tình, là cơn bộc phát của những người đói khát tình dục Và hình ảnh leo cầu thang do đó đã là biểu tượng cho hàm ý về hoạt động tính dục ở con người Kì thực, cách hiểu về biểu tượng của Freud còn dừng lại ở những trường hợp bệnh lý và mang nặng màu sắc tính dục Điều này gần như ai cũng dễ dàng nhận thấy Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc kí thác nghĩa cho một hình ảnh để trở thành biểu tượng thì giữa kí hiệu, phù hiệu và biểu tượng cơ hồ chẳng còn ranh giới nữa Trong khi, biểu tượng không chỉ là một
kí hiệu (Về sự phân định ranh giới giữa biểu tượng và kí hiệu xin gác lại phần sau
sẽ trình bày cụ thể hơn) Riêng ở đây, phải ghi nhận, sự khẳng định nguồn cội tâm lí của biểu tượng mà Freud có lẽ là người đầu tiên đề đặt một cách vững chắc và có lập luận hoàn thiện đã là nền tảng cho những khám phá tiếp theo ở C Jung
Trang 27Đến với C Jung: “vì thế một từ hay một hình ảnh là biểu tượng khi nó cung cấp một thứ gì đó hơn cả chính ý nghĩa hiển nhiên và trực tiếp của nó” [38;p.4] Và theo Jung, quá trình hình thành biểu tượng gắn liền với vô thức hay chính xác hơn là
vô thức cá nhân Có thể, đó là một phần của tôn giáo hay có nguồn gốc từ thần thoại
và truyền thuyết cổ đại, những niềm tin dân gian, dần dà trở thành mặc định trong cộng đồng hay một nhóm người nào đó Từ những yếu tố như thế, khi con người thực hiện cuộc sống cá nhân, các tác động trực tiếp và cụ thể của đời người gây ra cuộc va chạm giữa hai vũ trụ riêng và chung, giữa tâm thức giống nòi với nội tâm cá nhân độc đáo tạo ra sự ly khai hoặc ra đời của biểu tượng Ở điểm này, Jung lí giải
sự hình thành biểu tượng dựa trên “những dấu vết cổ xưa” hay từ vô thức tập thể khác với sự luận giải của Freud dựa trên dục năng libido Sự khác biệt này bắt nguồn
từ cách hiểu về libido của Jung thoáng và cởi mở hơn Freud (Freud cho rằng libido
là dục năng thúc đẩy các cơ chế hành vi ở người Nhưng Jung không dừng lại ở đó, ông cho rằng Libido còn hơn thế, là cái động năng sống nói chung, không chỉ có màu sắc tính dục đơn thuần Và động năng sống ở đây khác với cái đà sống - élan vital - ở Henri Bergson)
Có vẻ suy nghĩ này tích cực và dàn hòa được những ai lên tiếng phản đối màu sắc tính dục ở học thuyết của Freud Nếu Freud xây dựng quan niệm biểu tượng dựa trên những dồn nén và xu thế bù đắp của vô thức cá nhân thì Jung cũng thừa nhận môi trường tồn tại (vô thức cá nhân) của biểu tượng nhưng đã truy hồi nguồn gốc khởi sinh của nó từ trong tâm thức giống nòi hay vô thức tập thể Thế nên, biểu tượng của Jung cho thấy cái nhìn toàn diện và triệt để hơn Nhìn chung, quan niệm của Jung về biểu tượng gắn liền với kí ức của nhân loại và cho thấy mối liên hệ giữa biểu tượng và cổ mẫu Trước đấy, F Engels cũng có ý kiến khá gần gũi: “Nếu lịch
sử tiến hóa của cái bào thai trong bụng mẹ chỉ là sự tái diễn thu ngắn lại của hàng triệu năm lịch sử tiến hóa về thể chất của loài vật tổ tiên chúng ta, thì sự tiến hóa về trí tuệ của một em bé cũng vậy Nó chỉ là sự tái diễn thu ngắn lại hơn nữa của sự tiến hóa trí tuệ của tổ tiên ấy, hay ít ra cũng là của những tổ tiên gần đây nhất” [18;tr.99-100] Vậy thì biểu tượng không chỉ là một hình ảnh đơn thuần xuất hiện trong mơ,
Trang 28mang hàm ý tính dục và tuân thủ nguyên tắc thỏa mãn đơn thuần Mà hơn thế, biểu tượng là sự tái sinh và hiển hiện ở một trương độ khác của những dấu vết trí tuệ tổ tiên hình thành trong suốt chiều dài lịch sử giống nòi Cơ bản, biểu tượng cũng là những hình ảnh được tái hiện lại trong cảm tính, đặc biệt là trong giấc mơ và khởi đi
từ vô thức (vô thức tập thể), rồi được nâng cấp thành kí hiệu nhờ một hàm ý nhất định Tuy nhiên, trong quá trình đó, biểu tượng lại tách ra khỏi phạm vi của kí hiệu
ở tính chất phi lí tính Biểu tượng thoát khỏi vòng kiểm soát của lí trí, và luôn luôn trong quá trình tái cơ cấu dung lượng nghĩa (sự đập vỡ - kết nối) Biểu tượng, cụ thể hơn là biểu tượng trong giấc mơ, là kết quả tương tác thường xuyên giữa động năng
ý thức di truyền từ tổ tiên với cuộc sống của chính bản thân mỗi con người; là cuộc
va chạm giữa hai vũ trụ riêng và chung, giữa vô thức cá nhân và vô thức tập thể Do thế, biểu tượng luôn luôn trên hành trình xác định ý nghĩa hay nói khác đi là quá trình ý nghĩa gồm thâu trong một biểu tượng diễn ra vô tận Mối quan hệ giữa biểu tượng và hệ thống nghĩa của nó không còn mang tính chất võ đoán, quy ước như kí hiệu mà là mối quan hệ thuộc về trường liên tưởng khởi đi từ hai cơ chế dồn nén-hoán vị Nói thêm rằng, tất nhiên chúng ta không thể phủ nhận vai trò chi phối của siêu ngã (superego) – đại diện là những lý tưởng chung và riêng - đối với sự hình thành biểu tượng và đặc tính của nó Tuy nhiên, yếu tố này không là chính yếu, không là chủ đạo, thậm chí rất hạn chế
Chung quy, biểu tượng thuộc về “tính ngụ ý một cái gì đó lớn hơn, ám chỉ một điều gì đó chưa nói hết”, mang khả năng truyền chuyển đến một hệ thống ý nghĩa trong văn bản cụ thể Hay biểu tượng là tiêu biểu, đại diện cho một hình dung trừu tượng, một khái niệm còn mơ hồ chẳng hạn hay một nhận thức có nhiều mối quan
hệ phức tạp Bản thân sự hình dung trừu tượng ấy là quá tải trong chính bản thân nó, nên nó cần tiếp chuyển bởi một vật thể hay một ý niệm nào đó Nó – chính ý niệm trừu tượng ấy - cần đến biểu tượng để có thể biểu hiện nó đầy đủ nhất có thể Nhưng biểu tượng nhất là biểu tượng trong văn học lại không nhất thiết có những bờ rào vững chắc Đó là sự hình thành của biểu tượng Biểu tượng, do đó, chỉ là một sinh thể mở không ngừng trao dồi nghĩa, đồng thời tương tác lẫn nhau trong toàn thể các
Trang 29biểu tượng khác cùng tồn tại trong môi trường của chính nó Biểu tượng, vì thế, đặc trưng ở khả năng thiết lập đường truyền động
b) Phân loại biểu tượng
Dựa vào tiêu chí mối liên hệ bên ngoài: Biểu tượng khép kín và biểu tượng
mở
Dựa trên tiêu chí trương độ: Biểu tượng không gian và thời gian
Dựa trên cơ chế hoạt động của tư duy: Biểu tượng thay thế và biểu tượng trí nhớ[2;tr.42]
Dựa trên việc sử dụng biểu tượng trong các chuyên ngành khác nhau: - Biểu tượng trong đại số và logic học (những biểu tượng ước định, lựa chọn theo sự thỏa thuận chung);- Biểu tượng trong các lĩnh vực nghệ thuật nói chung; – Biểu tượng tôn giáo và triết học
Dựa trên bản chất tồn tại: - Biểu tượng quy ước hóa; - Biểu tượng tâm lí; – Biểu tượng thẩm mỹ
Dựa vào đặc điểm hình thành: Biểu tượng tự nó và Biểu tượng quy phạm hóa (theo Dabney Townsend)
Dựa theo quan niệm của Jung về sự biến đổi qua một quá trình lâu dài của biểu tượng: “Khi nhà tâm lí y khoa chú ý đến biểu tượng, trước hết anh ta động
chạm đến biểu tượng “bẩm sinh” và biểu tượng “văn hóa” Vấn đề trước bắt nguồn
từ nội dung vô thức của tâm lí, và vì thế chúng đại diện cho một số lượng lớn biến thể trong những hình ảnh cốt yếu thuộc về cổ mẫu Một số trường hợp chúng có thể được vạch ra lại theo hướng những cội rễ cổ xưa, vạch ra theo những ý tưởng và hình ảnh mà chúng ta từng gặp trong nhiều ghi chép cổ đại và trong xã hội nguyên thủy Biểu tượng “văn hóa” lại là một phương diện khác, chúng được sử dụng để miêu tả “eternal truths”, và rằng vẫn được dùng trong nhiều tôn giáo Chúng đã trải qua nhiều biến đổi và thậm chí một quá trình lâu dài chủ yếu là sự phát triển của ý thức, và vì thế đã trở thành những hình ảnh tập thể được chấp nhận bởi xã hội văn minh.” [38;p.83] Qua đây chúng ta hình dung được cách phân loại của Jung đối với biểu tượng Cụ thể, đó là biểu tượng bẩm sinh và biểu tượng văn hóa, và thông qua
Trang 30trích dẫn này có thể hiểu phần nào về hai loại biểu tượng trong quan niệm của Jung như là quan niệm tiêu biểu cho phân tâm học Ngoài ra, nói về biểu tượng bẩm sinh, Jung cho thấy mối liên hệ giữa biểu tượng và cổ mẫu Có thể nói, cổ mẫu là “tế bào gốc” biểu hiện trong địa hạt phi ý thức như những biến thể Và Jung gọi những biến thể ấy là biểu tượng Vậy nên giữa biểu tượng và cổ mẫu có một ranh giới nhất định nhưng vẫn tồn tại mối liên hệ gắn bó mật thiết Biểu tượng, do đó, là bằng chứng cho cổ mẫu Trên con đường tìm về cổ mẫu, biểu tượng cơ hồ là một trong những ngã đường chính yếu
1.2.2 Những phân biệt cần thiết
a) Biểu tượng và hình ảnh
Vì sự tồn tại cùng vai trò đặc biệt của biểu tượng và hình ảnh trong tâm lí người nên chúng tôi cho rằng cần thiết phải phân biệt ranh giới giữa chúng Hơn nữa, việc trình bày mối liên hệ giữa chúng đặc biệt hỗ trợ cho những diễn giải về biểu tượng thẩm mỹ trong phần tiếp theo Không chỉ thế, đề đặt vấn đề nghiên cứu một đối tượng cụ thể, hầu như khoa học nào cũng xác định ranh giới giữa những đối tượng liên quan; và xem đó là nhiệm vụ trước hết Chúng tôi không có ý định xác lập một khoa nghiên cứu biểu tượng ở Việt Nam; nhưng việc phân biệt và xác lập mối liên hệ giữa biểu tượng với hình ảnh, kí hiệu, cổ mẫu thật sự cần thiết Vì công việc này giúp chúng tôi tránh được những hiểu lầm khi trình bày các tiểu mục tiếp theo
Nhìn chung qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy cách hiểu về hình ảnh như sau :
“image” trong tiếng Anh và tiếng Pháp, “imago” trong tiếng Latin, “imagine” trong tiếng Ý, “bild” trong tiếng Đức: là sự phối ứng (scheme) tinh thần mà ở đó cảm giác hoặc nhiều yếu tố cảm giác của nhận thức (hay một hình ảnh trước đó) được hồi sinh Những hình ảnh của tinh thần được mang lại trong dạng tập hợp được biết đến như là hình tượng”[26;p.516] Và “hình ảnh”: “Một phẩm chất thuộc về cảm giác được khôi phục lại bởi trí não khi kích ứng cảm giác ấy đã không còn
Trang 31nữa”[53;p.141] Chung quy, hình ảnh được hiểu là cái được tái tạo lại trong trí não
ta khi các tác động gây ra nó đã không còn nữa
“Trong tâm lí học, từ “hình ảnh” biểu thị một sự tái tạo về trí tuệ, - hồi ức – và không nhất thiết nhìn thấy được của một kinh nghiệm đã qua về tình cảm, hoặc được khắc sâu trong các cảm giác” [25;tr.333] Theo đó, hình ảnh không nhất thiết phải được nhìn thấy khi chúng ta sử dụng nó vào việc gì đó Có thể thấy, không nhất thiết người thầy học cũ hiển hiện trước mặt, nhưng tôi vẫn có thể bất chợt nhớ về quá khứ
rõ ràng đến mức chạm tay vào được Ngoài ra, hình ảnh còn thể hiện kinh nghiệm đã qua về tình cảm, hoặc được khắc sâu trong các cảm giác Và hình ảnh vẫn ở mức khả tri và có độ chính xác cơ bản của giác năng, dễ dàng nắm bắt bằng giác năng
“Ezra Pound xác định hình ảnh không phải “như một bức tranh được tái tạo mà như như một sự tái tạo cái tổng hợp tinh thần và tình cảm trong một thời điểm riêng biệt”, như một sự gắn kết “các tư tưởng rất xa lạ với nhau làm một”” [25;tr.334] Bên cạnh đó, chúng tôi đặc biệt chú ý đến quan điểm của I.A.Richards: “Mặt cảm giác của hình ảnh bao giờ cũng có rất nhiều ý nghĩa Cái mang lại sức mạnh cho hình ảnh không chỉ là tính sinh động của nó như của một hình ảnh, mà còn là khả năng của nó trở thành một sự vật nhận thức, một khả năng có một mối liên hệ đặc biệt với sự cảm thụ cảm giác” [25;tr.334] Với ý kiến trên, quan niệm về sự tri nhận trực tiếp mà hình ảnh gây ra thật sự giúp ích hữu hiệu cho việc phân định với biểu tượng
Như Richards đã nêu, hình ảnh trở thành một sự vật nhận thức Nó được nắm bắt trực tiếp không thông qua bất cứ một phương thức truyền tải thông tin nào khác
Nó dung chứa nó, chỉ về nó, nó là cái biểu hiện cho nó thế thôi Nó là mục đích cuối cùng mà nó muốn truyền tải Thế thì, về cơ bản, hình ảnh mang một bản chất khác hẳn biểu tượng Vì biểu tưởng luôn trên đường trừu tượng hóa Biểu tượng không phải là cái cuối cùng, là mục đích của việc thông tin Nó truyền dẫn đến một cái gì khác Cái gì nằm ngoài ý nghĩa hiển nhiên và trực tiếp của nó, như quan điểm của phân tâm học
Trang 32Qua đó, biểu tượng ắt hẳn đã thiết lập rất nhiều mối liên hệ xung quanh nó, và chủ yếu là với nội dung mà nó truyền dẫn Trong khi hình ảnh chỉ có mối liên hệ cảm thụ về mặt cảm giác Và điều này cũng nằm ngay chính bản thân hình ảnh chứ không phải một cái gì khác ngoài nó
Tuy nhiên, giữa hình ảnh và biểu tượng vẫn có mối liên hệ nhất định Hình ảnh chính là tiền thân, chất liệu và môi trường của biểu tượng Đặc biệt, biểu tượng thẩm mỹ cần có vũ trụ riêng của nó Điều này là cần thiết để xác định giá trị và ý nghĩa Vậy nên bên cạnh những biểu tượng trong hệ thống của nó, các biểu tượng con cũng cần có nhiều hình ảnh trong mối quan hệ liên tưởng để xác định vị trí, vai trò của nó trong tác phẩm nghệ thuật và qua đó, biểu tượng có được ý nghĩa của mình Hình ảnh thật sự cần thiết cho sự tồn tại của biểu tượng
Không những thế, nếu hình ảnh chỉ mang tính rời rạc và khá độc lập với các yếu tố khác trong hệ thống của nó thì biểu tượng lại là một sinh thể sống thực thụ và
vì thế biểu tượng có khả năng tác động lại các yếu tố xung quanh, trong đó có hình ảnh Nhưng hình ảnh cũng có sự vận động nhất định Theo nhà nghiên cứu Francis Galton (1822-1911) thì hình ảnh trừu tượng hay các hình ảnh tổng hợp phần nào là những ước định trong văn học [25;tr.333] Khi đã có sự ước định, nghĩa là người ta trao cho hình ảnh đó trọng trách chuyển chở một cái gì khác ngoài nó Khi đó, đời sống của hình ảnh đã thay đổi Qua đây, chúng ta thấy hình ảnh trừu tượng hay những hình ảnh tổng hợp (mang dấu ấn của những cơn rối loạn tinh thần – theo cách nghĩ của Francis Galton) đã dần thay đổi bản chất và có những khả năng cơ bản đầu tiên để trở thành biểu tượng Nhưng trước khi trở thành biểu tượng, hãy còn một chặng đường khác
b) Biểu tượng với kí hiệu
F de Saussure đã cho rằng cần thiết phải phân biệt biểu tượng và kí hiệu
“Người ta đã dùng từ “biểu trưng” (symbole) để chỉ dấu hiệu ngôn ngữ, hay nói cho đúng hơn, để chỉ cái mà chúng ta gọi là dấu hiệu Nếu chấp nhận danh từ này thì có những chỗ bất tiện, mà như vậy, chính là do nguyên lý thứ nhất đã nói ở trên (tính
võ đoán) Biểu trưng có một đặc tính là không bao giờ hoàn toàn võ đoán, nó không
Trang 33phải là trống rỗng, ở đây có một yếu tố tương quan thô sơ nào đấy giữa năng biểu và
sở biểu” [16;tr.142] Saussure trình bày hết sức cơ bản và cụ thể sự khác biệt giữa kí hiệu (dấu hiệu) với biểu tượng (biểu trưng), trước hết là ở tính võ đoán của kí hiệu Trong khi biểu tượng lại có thêm yếu tố hình hiệu, có thêm mối liên hệ (dẫu là mơ hồ) giữa năng biểu và sở biểu Ở Việt Nam, PGS.TS Đỗ Thu Hà cũng chịu ảnh hưởng từ ý kiến của Saussure khi cho rằng “cũng là một tín hiệu nhưng các dấu hiệu chỉ là những sự biểu đạt để biểu nghĩa hoàn toàn mang tính chất võ đoán ( như ngôn ngữ, các công thức toán học…), còn biểu tượng có sự đồng nhất giữa cái biểu hiện
và cái được biểu hiện do thao tác của trí tưởng tượng của con người” [73] Dẫn theo Lotman, ý kiến của F Saussure trên Tạp chí Sông Hương: “Trong các trường hợp này, khi hiện diện một tương quan giữa biểu đạt và nội dung, và đặc biệt nhấn mạnh trong ngữ cảnh này là tính quy ước của quan hệ đó thì các nhà nghiên cứu thường nói đến chức năng biểu tượng và các biểu tượng Đồng thời Saussure đã đối lập các biểu tượng với kí hiệu quy ước, sau khi nhấn mạnh trong biểu tượng có yếu tố hình hiệu (ikon) Chúng ta nhớ lại, Saussure đã viết về vấn đề này rằng, cái cân có thể là biểu tượng của công lí, bởi vì về mặt hình hiệu, nó chứa đựng tư tưởng về sự công bằng, mà chiếc xe trượt thì không” [67] Cũng theo Lotman (nguồn đã dẫn) thì dựa trên một số hệ thống phân loại có ý kiến cho rằng biểu tượng được xác định như là
kí hiệu Trong đó, cái vỏ biểu đạt chứa ý nghĩa, mà ý nghĩa này lại là “một kí hiệu loại khác” Vậy thì rõ ràng, biểu tượng và kí hiệu có mối liên hệ mật thiết nhưng chúng hoàn toàn có thể và cần được phân biệt
Hình thành khoa nghiên cứu về biểu tượng nói chung, người ta cần phải xác định ranh giới giữa nó với các đối tượng liên quan (dẫu cho các ranh giới không phải lúc nào cũng rạch ròi, dứt khoát) Như đã biết, dấu hiệu không chỉ biểu lộ sự vật đối tượng mà còn đại diện cho đối tượng Hay “sign” là cái đại diện và đứng tên cho đối tượng, còn symbol là “cái truyền dẫn” cho việc hình dung khái quát về đối tượng Kí hiệu bị cô kết vào đối tượng phía sau nó Còn biểu tượng cho phép hình thành và truyền chuyển đến quan niệm về đối tượng; quá trình này hoàn toàn linh động Và trong đó, “Symbolization là hoạt động điển hình của trí não người, như là
Trang 34cái sơ đẳng, liên tục và tiếp thu những ấn tượng cảm tính” [30;p.374] Có thể nói, ngay khi hình thành lĩnh vực “symbology” đầu thế kỷ XX nhầm giải tỏa những cuộc tranh luận kéo dài về ý nghĩa biểu tượng thì ngay sau đó, người ta lại sử dụng nhầm lẫn và hiểu biết mơ hồ về ranh giới giữa biểu tượng và kí hiệu Để đến sau này, giữa biểu tượng học và kí hiệu học lại có sự xâm lấn ở đối tượng nghiên cứu
Kí hiệu học xem biểu tượng thuộc về phạm vi nghiên cứu của nó (Todorov, Eco ): “Kí hiệu như là bất cứ gì có thể được nắm bắt như một vật thay thế mang tính gợi mở đến một thứ khác….một kí hiệu là thứ (….) đại diện cho vật thể mà ở đó vật ấy bị vắng mặt” (U.Eco) [50;p.11] Theo Todorov, “Biểu tượng sau nữa trở thành một trường hợp đặc biệt của kí hiệu” [50;p.11]
Biểu tượng là một trường hợp đặc biệt của kí hiệu hay một chặng đường khác trong quá trình biến đổi của kí hiệu Kí hiệu đơn thuần chỉ là kẻ đứng tên hộ Mối quan hệ giữa nó và đối tượng mà nó đại diện có thể hoàn toàn võ đoán, hoặc giả có liên hệ thì hoàn toàn khô đét và hầu như bị quy định Trong khi đó, nếu sự cố định
ấy của kí hiệu bị phá vỡ và tạo đà cho cuộc tái thiết quan niệm về đối tượng thì khi
ấy kí hiệu đang chuyển hóa thành biểu tượng Biểu tượng trước hết cũng là kẻ đại diện, nhưng hơn thế, biểu tượng tác động ngược trở lại cái đã thuê mướn nó, buộc cái đứng sau lưng biểu tượng phải triển khai ý nghĩa của nó Chính ở điểm này, biểu tượng có khả năng truyền chuyển đến điều gì đó trừu tượng Chung quy, nếu xem
“Sign” và “Symbol” là một “Icon” trên màn hình vi tính, khi ta “click” vào “Sign”
sẽ hiện ra một đối tượng cụ thể đã cố định; còn khi “click” vào “Symbol” ta nhận được một đối tượng đang triển khai ý nghĩa Đáng nói ở các nhà kí hiệu học là cách nhìn biểu tượng như là một chặng đường tiếp theo của kí hiệu Biểu tượng là một bộ phận của kí hiệu, nhưng là một trường hợp đặc biệt, là chặng đường tiếp theo của kí hiệu (khi nó phá vỡ tính cố định và võ đoán đối với những gì đứng sau nó)
Và theo Trần Tố Loan: “Biểu tượng gần gũi với kí hiệu, ẩn dụ, phúng dụ… Nhưng nếu kí hiệu, ẩn dụ, phúng dụ tạo ra những mối liên hệ lâm thời, rời rạc, những quy ước đơn giản giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt, có tác dụng biểu nghĩa thì biểu tượng tạo được sự đồng nhất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt
Trang 35theo nghĩa một lực năng động tổ chức” [72] Như vậy chung quy, quan niệm chung nhất về sự khác biệt giữa kí hiệu và biểu tượng là ở tính lâm thời của mối quan hệ giữa năng biểu và sở biểu Trong đó, mở rộng ra, biểu tượng – kí hiệu - ẩn dụ - phúng dụ không chỉ là một đối tượng được tạo thành mà còn hàm ẩn ý nghĩa là một thao tác, một phương thức Khi Trần Tố Loan so sánh biểu tượng với ẩn dụ và phúng dụ thì những thuật ngữ ấy còn cho biết chúng như những thao tác kĩ thuật Và
dù ở bình diện thao tác đi chăng nữa, giữa biểu tượng và kí hiệu vẫn có những khác biệt cơ bản Hành động biểu tượng thuộc về khả năng gây ra ở tiếp nhận sự liên tưởng, gây ra một “vùng nghĩa áp thấp” chuyển động và càn quét vào tư duy người tiếp nhận Còn kí hiệu tạo ra “một chân trời tĩnh lặng”, ta nhận được những mảnh màu cố định trên nền trời Hành động kí hiệu cứ như cách người ta xé dán từng mảng màu với nhau, và điều đó bị chi phối mạnh mẽ bởi yếu tố ngẫu nhiên – mặc định – quy ước
Đối với phân tâm học, kí hiệu là kết quả của thói quen được xã hội chấp nhận
“Người ta cũng còn dùng những phù hiệu, những chữ chỉ chức tước, địa vị Tuy những chữ dùng như thế tự nó không có ý nghĩa gì, nhưng vì đã được phổ thông cho nên chúng trở nên có ý nghĩa đối với chúng ta, hay vì chúng ta đã có ý định gán cho chúng những ý nghĩa ấy Tuy nhiên, những chữ ấy không phải là biểu tượng đó chỉ
là những dấu hiệu, chỉ làm cho ta nghĩ đến những đồ vật liên quan tới chúng mà thôi” [12;tr.107] Ở đây, Freud còn nói thêm rằng biểu tượng “còn gợi lên những ý nghĩa khác thêm vào ý nghĩa ước định hiển nhiên của nó Biểu tượng gợi lên cái gì
mờ mịt, xa lạ hay tàng ẩn đối với chúng ta” [12;tr.107] Và ý kiến của Jung gần như thể hiện đầy đủ hơn cả, giữa biểu tượng và kí hiệu (dấu hiệu) hẳn nhiên có sự phân biệt rõ ràng Nhưng chúng ta nên hiểu rằng, biểu tượng đối với phân tâm học hơn hết vẫn là biểu tượng tâm lý Biểu tượng trong quan niệm của Jung, chính xác hơn,
là biểu tượng tồn tại như một thứ ngôn ngữ giấc mơ, là tiếng nói cội rễ của những ức chế - phức cảm – mặc cảm đè nén ở tầng vô thức được cơ hội trở đi trở lại trong sinh hoạt của chúng ta Và ở đây, chúng ta nhận thấy sự khác biệt càng thêm rõ ràng Tự bản thân kí hiệu, trước hết, là một vật đại diện (về điểm này nó cũng giống biểu
Trang 36tượng) Nhưng không dừng lại ở tính võ đoán như kí hiệu, biểu tượng tiếp tục vận động Sự vận động này có được vì bản thân biểu tượng còn mang vào trong nó yếu
tố hình hiệu Và trước khi làm vật đại diện, bản thân biểu tượng đã có một nội dung khả tri nào đó Tất nhiên, kí hiệu cũng có cùng một xuất thân như thế nhưng kí hiệu
đã hạn chế khả năng vận động của nó bởi tính võ đoán Kí hiệu rơi vào vòng vây của trạng thái “bị quy ước” Sự có mặt thêm yếu tố hình hiệu đã thúc đẩy vật đại diện (hay biểu tượng) vận động Vật đại diện kia chuyên chở thêm những ý nghĩa khác nữa (những ý nghĩa tàng ẩn và tố cáo chân thật nhất cho những gì bị chôn giấu vào địa hạt phi ý thức)
c) Biểu tượng và cổ mẫu (archétype)
Ở luận văn này, chúng tôi cho rằng sự phân biệt biểu tượng và cổ mẫu thật sự cần thiết Vì những gì được trình bày ở chương 2 về hai biểu tượng nước và đất dưới góc độ phân tâm vật chất mà nhiều người sẽ nhầm lẫn Tất nhiên Bachelard đã hình thành cho mình con đường nghiên cứu thật sự riêng biệt và độc đáo, nhưng chịu ảnh hưởng từ Freud, chất liệu tưởng tượng của Bachelard vẫn có thể khiến nhiều người nhầm lẫn với cổ mẫu Và thực tế cho thấy giữa biểu tượng và cổ mẫu rất khó xác định ranh giới cụ thể
Trong phần này, chúng tôi cho rằng trước tiên cần khảo sát và mang lại cái nhìn cơ bản về cổ mẫu Sau đó, dựa trên những hiểu biết vừa khảo sát và đánh giá, chúng tôi làm rõ nét khác biệt giữa cổ mẫu và biểu tượng cũng như mối liên hệ giữa chúng
Jung là người trình bày một cách rốt ráo về điều này Chúng tôi có ý định tiếp tục khảo sát ý kiến của Jung về cổ mẫu sau khi đã khảo sát về biểu tượng Sau đó, chúng tôi cho rằng nên đề cập thêm một vài ý kiến mà qua đó ít nhiều giúp cho vấn
đề được bổ sung hoàn thiện hơn Chính việc trình bày quan niệm về cổ mẫu, chúng tôi có dịp so sánh giữa nó và biểu tượng
Trước tiên, chúng tôi trình bày ý kiến của Jung “Chúng (nguyên tượng) tồn tại tiền ý thức (pre-consciously) và có lẽ chúng đã tạo thành các ưu trội trong cấu trúc của tinh thần nói chung”[41;p.25] Chính những ưu trội này cho thấy thiên
Trang 37hướng của tinh thần Một nhà nghiên cứu nào đó phát hiện rằng chú gà con vừa mở mắt, vỏ trứng còn dính lông, chợt thấy bóng diều hâu đã chạy nấp vào mẹ; trong khi chúng lại không phản ứng như thế nếu đụng độ một loài thú to lớn nào khác (ví dụ này chỉ nhằm giúp chúng ta hình dung về các điểm nhấn ưu trội) Đó chính là các ưu trội hay những điểm nhấn kích ứng trong cấu trúc tinh thần đã được cài đặt, hay nói khác đi, chúng đã được kế thừa từ giống nòi Tinh thần người, trong cấu trúc của nó, cũng có những điểm ưu trội mà nhờ đó xuất hiện các thiên hướng cho phép chúng ta hình thành diễn trình tư tưởng mang hình thức và nội dung phổ quát cho giống nòi
Cổ mẫu gần như là cái hằng số chung cho cơ cấu tinh thần Đó là tiếng nói siêu cá nhân, tiếng nói của giống nòi khi đứng trước tự nhiên và các mối liên hệ với tự nhiên Nói bằng cổ mẫu là nói bằng sự linh thiêng của tổ tiên
Jung cũng đã nói về “vết tích tối cổ” (mà Freud đã nhận thấy từ trước) bằng quan niệm: “Cái chúng ta gọi là “bản năng” chỉ là một khích động sinh lý mà giác quan chúng ta cảm giác được Nhưng những bản năng ấy cũng bộc lộ bằng những hình ảnh của giấc mơ mà chúng thường biểu lộ bằng những hình ảnh có tính cách biểu tượng Tôi gọi những cách biểu lộ ấy là siêu tượng” [7;tr.98] Bên cạnh đó, ông còn chỉ rõ môi trường tồn tại của cổ mẫu: “Nội dung của vô thức cá nhân chủ yếu là những cung bậc (tone) phức cảm chúng tạo thành phương diện cá nhân và riêng tư của đời sống tâm linh Nội dung của vô thức tập thể, mặt khác, được biết đến như là những nguyên tượng”[40;p.4] Đó là một đối tượng phức tạp Thế nên, đưa ra một vài ý kiến trao đổi, chúng tôi e rằng chỉ có thể hình dung cơ bản về cổ mẫu; và chủ yếu vẫn nhằm để làm rõ ranh giới giữa nó và biểu tượng Chung quy, qua những ý kiến vừa được trình bày, Jung cho thấy biểu tượng chỉ là một trong nhiều cách biểu
lộ của cổ mẫu Và cổ mẫu thuộc về vô thức tập thể Nó là cái khuynh hướng vận hành phản ứng tinh thần và khi đi vào phạm vi vô thức cá nhân thì nó được biểu lộ qua các biểu tượng Cổ mẫu là tiếng nói linh thiêng của giống nòi nhưng biểu tượng
là kết quả của sự va chạm với đời sống cá nhân và riêng tư Biểu tượng lại là tiếng nói thầm kín của một tâm hồn cụ thể và độc đáo
Trang 38Về mối quan hệ giữa biểu tượng và cổ mẫu, xin dẫn thêm một ý kiến của Jung: “Sự phản ứng tất yếu và cần thiết từ vô thức tập thể biểu thị chính nó trong những ý tưởng được hình thành một cách nguyên tượng ”[40;p.21] Hay cổ mẫu là cách hình thành các ý tưởng và các bộ phận của đời sống tâm linh (trong đó có biểu tượng) Tình trạng hình thành các bộ phận này là tất yếu và cần thiết Cho nên cổ mẫu cũng là cái lẽ đương nhiên của tâm linh Nó là điều kiện tất yếu cho sự triển khai tâm linh Và nó chính là cách triển khai các phản ứng như thế trong cấu trúc tinh thần Cơ hồ, cổ mẫu đã tạo ra các khuynh hướng vận hành đời sống tinh thần trong đó có biểu tượng Vậy nên, mối liên hệ giữa nguyên tượng và biểu tượng cũng tất yếu như con người sống nghĩa là phải có một trương độ Biểu tượng cũng là một đối tượng có lịch sử và nguồn gốc Cổ mẫu có lẽ chính là khởi nguyên vô hình của biểu tượng
Chúng ta cũng có thể hình dung mối liên hệ giữa chúng như giữa Có – Không
Có từ chỗ Không mà thành Nhưng Không chẳng phải là yên lặng Không nhưng trong lòng đã ngụ sẵn động năng gây ra biến chuyển Thành ở biến động nên Không
đã là Có Có chính là cái biến động của Không Không nhờ cái động năng siêu hình
mà thành Có Cổ mẫu thuộc về khoảng vô thức tập thể khó bề truy giải, tưởng là không, tưởng là một đại lượng siêu hình Nhưng bản chất của cổ mẫu đã có sẵn khuynh hướng vận hành Vì sự động ấy mà cổ mẫu được biểu hiện Một trong những biểu hiện của nó là biểu tượng Hay cổ mẫu là khuynh hướng, là cách biểu lộ dưới hình thức biểu tượng những bản năng nguyên thủy của tâm lí Hoặc một dẫn chứng nữa khả dĩ rõ ràng hơn “Siêu tượng (hay cổ mẫu) nằm trong khuynh hướng tạo ra những ý tượng như thế chứ không phải chính những ý tượng ấy; ý tượng ấy có thể khác nhau rất nhiều về chi tiết, nhưng vẫn giữ nguyên vẹn một ý chính yếu” [7;tr.97]
Kì thực, Jung không chỉ cho thấy sự khác biệt giữa biểu tượng và cổ mẫu mà còn nhìn thấy chúng liên hệ mật thiết với nhau Một cổ mẫu sâu xa nào đấy đã chi phối, đã xúi giục, đã lập trình việc triển khai ý tượng và biểu tượng trong hoạt động tâm lí; và nên nói thêm rằng không chỉ chi phối trong phạm vi vô thức mà còn trong
Trang 39quá trình tràn ra ý thức Vậy thì khả năng điều hành của cổ mẫu đối với biểu tượng, khi đã thể hiện ra, không phải khi nào cũng vượt khỏi tầm với của ý thức người Vậy nên việc truy hồi về cổ mẫu là công việc khả dĩ đối với chúng ta Công việc của người nghiên cứu cổ mẫu xem ra có vẻ gần gũi với công việc của nhà khảo cổ học Nhà nghiên cứu cổ mẫu trong văn bản văn học lần theo những dấu vết tiềm tích (các hình ảnh lặp đi lặp lại hoặc các motif và cả các bộ phận trào ra từ vô thức cá nhân)
để định vị vai trò và đặc trưng của nó trong cấu trúc tinh thần Đặc biệt, biểu tượng trong khuynh hướng vận hành của cổ mẫu cũng là một trong những manh mối giúp ích đắc lực cho cuộc truy hồi này
Tựu trung, Jung cho thấy cổ mẫu khởi đi và hình thành từ vô thức tập thể; là thiên hướng và cơ tầng chung của siêu cá nhân thúc đẩy thực thi hành vi tâm lí trong các quá trình sinh hoạt tinh thần Nhưng biểu tượng lại thiên về phương diện cá nhân
và riêng tư (biểu tượng tố cáo các ám ảnh và khát khao sâu kín của của tâm hồn người cụ thể và độc đáo), nó thuộc về cái vô thức cá nhân Biểu tượng là những nét rườm độc đáo trên phông nền chung là cổ mẫu
Tiếp theo chúng tôi muốn trình bày thêm vài ý kiến và trao đổi xung quanh vấn đề này Theo Jean Knox: “Jung mô tả cổ mẫu như là việc tổ chức những khuôn khổ không được kinh nghiệm một cách trực tiếp”[41;p.25] Trong khi đó, biểu tượng thuộc về vô thức cá nhân Đó lại là một chân trời khác Và khác với “collective unconscious”, vô thức cá nhân hình thành từ những kích ứng bị ý thức khước từ Nó hình thành vì sự dồn nén của những tương tác ít nhiều gây hấn với ý thức và những lúc như thế ý thức người thường có khuynh hướng nhượng bộ Nghĩa là vô thức cá nhân hình thành và tồn tại song hành cùng ý thức mà liên hệ giữa chúng là cơ chế dồn nén – hoán vị Nhưng ít nhất các yếu tố bị ý thức khước từ và chìm vào “đáy hồ” vô thức cá nhân cũng đã được kinh nghiệm một cách trực tiếp Ở phần trước, chúng tôi đã có đề cập rằng “có” biểu tượng nghĩa là chúng ta đã gặp nó trước đấy
rồi Thế nên, giữa biểu tượng và nguyên tượng là sự khác biệt về môi trường tồn tại cũng như nguồn gốc hình thành của chúng
Trang 40Thành viên của “International Association for Analytical Psychology”, Erich Neuman (1905-1960) cũng là một trong những học trò xuất sắc của Jung Ông đã tiếp tục quan niệm của Jung về cổ mẫu trong những nghiên cứu về “The Great Mother” Và đây là một trong số những quan niệm của ông (chúng tôi cho là có thể làm rõ hơn vấn đề trong mục này): “Biểu tượng của cổ mẫu là những biểu lộ bằng hình ảnh tinh thần đặc biệt được nhận thức bởi ý thức và rất khác nhau đối với mỗi
cổ mẫu riêng biệt Những khía cạnh khác biệt của cùng một cổ mẫu này lại cũng được biểu hiện qua nhiều hình ảnh rất khác nhau”[48;p.4] Ở đây chúng tôi nhận thấy Erich Neuman đã trình bày rất rõ về sự khác nhau của biểu tượng và cổ mẫu Vì
cổ mẫu là khuynh hướng tạo ra những biểu tượng trong môi trường vô thức cá nhân Những biểu tượng của cùng một cổ mẫu đã vô cùng khác nhau, nhưng đến lượt nó, biểu tượng lại biểu lộ bằng rất nhiều hình ảnh tinh thần mà ý thức có thể nắm bắt được Thế nên, chúng tôi cho rằng, tìm về cổ mẫu cần bắt đầu từ hình ảnh lặp đi lặp lại hoặc những motif nhằm xác định biểu tượng và ý nghĩa của một loạt biểu tượng rồi từ đó mới có thể truy hồi về chính cổ mẫu chủ yếu
Ngoài ra Erich Neuman còn xác định mối liên hệ giữa biểu tượng và cổ mẫu như sau: “Cấu trúc của cổ mẫu là một hệ thống tổ chức tâm linh phức tạp, bao gồm động năng (dynamism), biểu tượng (symbolism) và nội dung cảm giác, mà trung tâm và sự thống nhất vô hình giữa chúng là ở chính cổ mẫu ấy” ”[48;p.4] Vậy nên
cổ mẫu là cơ tầng hay là hằng số chung của những bộ phận tâm linh, cho phép chúng liên hệ và hợp tác vận hành tạo nên sự thống nhất nhịp nhàng giữa các phản ứng tinh thần Cụ thể, biểu tượng chính là một bộ phận của cổ mẫu
Tựu trung, sự phân biệt giữa biểu tượng và cổ mẫu đều bắt nguồn từ phạm vi tồn tại của chúng Nếu cổ mẫu gắn liền với những vết tích cổ sơ thì biểu tượng là kết quả của sự vận hành các thiên hướng như thế trong môi trường và phạm vi chủ yếu
là vô thức cá nhân
Ở Việt Nam, quyển “30 thuật ngữ nghiên cứu văn hóa” (Nxb Khoa học xã hội, 2008) do Bùi Quang Thắng chủ biên với bài viết của Bùi Lưu Phi Khanh về vô thức tập thể và cổ mẫu đưa ra một góc nhìn sơ lược về đối tượng mà chúng tôi quan tâm