Riêng về thơ, ởmiền Bắc có Nguyễn Đình Thi, Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng...Vì nhiều lí do khác nhau mà những sáng tác của họ không tạo được sự cộng hưởngtrong công chúng, nói cách kh
Trang 1TRẦN HỮU VINH
THI PHÁP THƠ THANH TÂM TUYỀN
QUA HAI TẬP TÔI KHÔNG CÒN CÔ ĐỘC
VÀ LIÊN, ĐÊM, MẶT TRỜI TÌM THẤY
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2012
Trang 2TRẦN HỮU VINH
THI PHÁP THƠ THANH TÂM TUYỀN
QUA HAI TẬP TÔI KHÔNG CÒN CÔ ĐỘC
VÀ LIÊN, ĐÊM, MẶT TRỜI TÌM THẤY
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS PHAN HUY DŨNG
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi tư liệu khảo sát 7
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của luận văn 8
7 Cấu trúc của luận văn 9
Chương 1 BỐI CẢNH THƠ VIỆT NAM LÚC THANH TÂM TUYỀN BƯỚC VÀO THI ĐÀN 10
1.1 Điểm dừng của Thơ mới 10
1.1.1 Đóng góp của Thơ mới cho quá trình hiện đại hóa nền thơ dân tộc 10
1.1.2 Những giới hạn của Thơ mới 19
1.2 Những tìm tòi theo hướng hiện đại chủ nghĩa sau Thơ mới 23
1.2.1 Nguyễn Xuân Sanh và nhóm Xuân Thu nhã tập 23
1.2.2 Những tìm tòi tượng trưng từ Bích Khê đến Đinh Hùng 27
1.3 Các thể nghiệm thơ từ 1945 đến 1954 35
1.3.1 Thơ tự do, không vần của Trần Mai Ninh, Nguyễn Đình Thi 35
1.3.2 Những chuẩn bị của Trần Dần cho cuộc cách tân thơ 43
1.4 Nhóm Sáng tạo và hoạt động văn học của Thanh Tâm Tuyền 48
1.4.1 Nhóm Sáng tạo 48
1.4.2 Hoạt động văn học của Thanh Tâm Tuyền 51
Chương 2 CON NGƯỜI - THỰC TẠI TRONG HAI TẬP TÔI KHÔNG CÒN CÔ ĐỘC VÀ LIÊN, ĐÊM, MẶT TRỜI TÌM THẤY 56
2.1 Quan niệm văn học, quan niệm thơ của Thanh Tâm Tuyền 56
Trang 52.1.1 Quan niệm về sáng tác văn học nói chung của Thanh Tâm Tuyền 56
2.1.2 Quan niệm về thơ của Thanh Tâm Tuyền 61
2.2 Cái tôi trữ tình trong Tôi không còn cô độc và Liên, Đêm, Mặt trời tìm thấy 68
2.2.1 Tính đa ngã 68
2.2.2 Tính bi kịch 72
2.3 Thực tại trong Tôi không còn cô độc và Liên, đêm, mặt trời tìm thấy 83
2.3.1 Tính chủ thể 83
2.3.2 Tính biến động 89
Chương 3 CẤU TRÚC VÀ NGÔN NGỮ THƠ THANH TÂM TUYỀN QUA HAI TẬP TÔI KHÔNG CÒN CÔ ĐỘC VÀ LIÊN, ĐÊM, MẶT TRỜI TÌM THẤY 95
3.1 Cấu trúc thơ Thanh Tâm Tuyền 95
3.1.1 Cấu trúc tập thơ 95
3.1.2 Cấu trúc bài thơ 97
3.1.3 Tính liên văn bản 103
3.2 Ngôn ngữ thơ Thanh Tâm Tuyền 110
3.2.1 Nhãn quan mới về ngôn ngữ thơ 110
3.2.2 Tu từ trong thơ 121
3.2.3 Nhịp điệu thơ 132
3.3 Những dấu ấn của chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa hiện sinh trong thơ Thanh Tâm Tuyền 137
3.3.1 Dấu ấn của chủ nghĩa siêu thực 137
3.3.2 Dấu ấn hiện sinh 141
KẾT LUẬN 154
DANH MỤC TÁC PHẨM DÙNG ĐỂ KHẢO SÁT 157
TÀI LIỆU THAM KHẢO 158
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Thanh Tâm Tuyền, tên thật là Dư Văn Tâm (1936 - 2006), sinh ởthành phố Vinh, tỉnh Nghệ An Ông là một trong những người đi tiên phongtrong việc đổi mới thơ giữa những năm 50 của thế kỷ XX Thời kì sáng tác màThanh Tâm Tuyền khẳng định tên tuổi của mình là giai đoạn 1954 - 1975 với
hai tập thơ Tôi không còn cô độc (1955) và Liên, Đêm, Mặt trời tìm thấy
(1964) từng gây xôn xao dư luận một thời Cũng trong giai đoạn này Thanh
Tâm Tuyền còn cho ra đời những cuốn tiểu thuyết: Cát lầy (1966), Mù khơi (1970), Tiếng động (1970), các tập truyện ngắn: Bếp lửa (1957), Khuôn mặt (1964), Dọc đường (1967) tất cả đều thể hiện một khuynh hướng sáng tạo,
- 1945 không có những cuộc cách mạng tương tự để đưa văn học tiếp tục bắtkịp với xu thế vận động của văn học thế giới Mặc dù vậy vẫn có một số tácgiả dấn thân trên con đường nhiều thử thách và trở ngại đó Riêng về thơ, ởmiền Bắc có Nguyễn Đình Thi, Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng Vì nhiều
lí do khác nhau mà những sáng tác của họ không tạo được sự cộng hưởngtrong công chúng, nói cách khác, các tác giả ấy không đến được với côngchúng nên không có sự ảnh hưởng, không có tác động đến đời sống văn học
Trong khi đó, sáng tác của Thanh Tâm Tuyền nói chung, Tôi không còn cô
độc và Liên, Đêm, Mặt trời tìm thấy nói riêng là những tác phẩm có sức tác
động không nhỏ tới công chúng văn học miền Nam trong một thời gian dài
Trang 71.3 Việc nghiên cứu Thanh Tâm Tuyền ít nhiều có thể động chạm đếnnhững vấn đề chính trị “nhạy cảm” Nhưng thiết nghĩ trong xu thế hiện nay,Đảng và Nhà nước ta đang có những chính sách tích cực nhằm hoà giải, hoàhợp dân tộc thì việc nghiên cứu một nhà thơ có đóng góp không nhỏ cho vănhọc Việt Nam trong tiến trình tiếp cận văn học thế giới là điều cần thiết, nênlàm Hơn nữa kể từ khi rời đất nước sang định cư ở Mỹ cho đến cuối đời,Thanh Tâm Tuyền đã lặng lẽ sống, không có những phát ngôn hay hoạt độngchính trị nào.
1.4 Việc nghiên cứu Thanh Tâm Tuyền cũng góp phần phục vụ chohoạt động dạy - học chương trình ngữ văn Trung học phổ thông Từ những bài
như Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử), Đất nước (Nguyễn Đình Thi), đoạn trích
Mặt đường khát vọng (Nguyễn Khoa Điềm) đến Đàn ghi ta của Lorca (Thanh
Thảo) đều ít nhiều cần vận dụng đến kiến thức lí luận về trào lưu văn học,trường phái văn học, khuynh hướng văn học, thơ tự do, chủ nghĩa hiện đại,chủ nghĩa hậu hiện đại với những so sánh đối chiếu gần gũi thú vị
2 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu về thơ Thanh Tâm Tuyền, từ trước tới nay có nhiều khuynhhướng Người khen cũng nhiều, người chê không ít Có sự khen chê đó phảichăng do thơ Thanh Tâm Tuyền quá phức tạp và quá mới, cái mới không phảibao giờ cũng dễ dàng được chấp nhận
2.1 Từ những năm sau Đổi mới, theo chính sách hoà giải, hoà hợp dântộc của Đảng và Nhà nước, các diễn đàn trực tuyến trong và ngoài nướcthường xuyên đăng tải các bài viết về Thanh Tâm Tuyền Các bài viết màchúng tôi chú ý là những công trình nghiên cứu tin cậy của các học giả têntuổi, uy tín trong và ngoài nước, dược dư luận đánh giá cao Nhìn chung cácbài viết này thể chia thành 2 nhóm lớn: (1) Các bài viết gợi lại những câuchuyện văn chương, những kỉ niệm về đời văn, đời người của nhà văn Thanh
Trang 8Tâm Tuyền; (2) Các bài viết bình luận, đánh giá về các sáng tác của ThanhTâm Tuyền Ở nhóm (2) này lại có thể chia làm hai loại: loại bài viết phân tíchbình luận đánh giá về thơ và loại bài đánh giá về truyện, tiểu thuyết Trongkhuôn khổ luận văn chúng tôi sẽ tập trung trình bày kĩ hơn các ý kiến thuhoạch được ở mảng thứ (2).
2.2 Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi thấy ở mảng tư liệu này có thể
nhắc đến một số bài viết đáng chú ý của một số tác giả sau: Thanh Tâm Tuyền,
người thi sĩ ấy (Bùi Vĩnh Phúc - 2005), Thanh Tâm Tuyền: Từ Liên, Đêm, Mặt trời tìm thấy đến Thơ ở đâu xa (Nguyễn Mạnh Trinh - 2005), Thơ Thanh Tâm Tuyền (Nguyễn Vy Khanh - 9/2006), Biến cố thứ nhất của văn học thời hậu chiến: Thanh Tâm Tuyền (Phạm Xuân Nguyên - 6/2006), Biệt khúc cho thơ
(Bùi Vĩnh Phúc - 4/2006), Thanh Tâm Tuyền (Đặng Tiến - 4/2006), Thanh
Tâm Tuyền trong văn học Việt Nam (Bùi Ngọc Tuấn - 9/2006), Tôi có còn cô độc? (Kiệt Tấn - 8/2006), Sự lập lờ trong đánh giá về Thanh Tâm Tuyền (Vũ
Đức Tấn 9/2006), Vài cảm nghĩ về thơ Thanh Tâm Tuyền (Thường Quán 9/2007), Thanh Tâm Tuyền- thi sĩ tuyệt vọng trần truồng (Bùi Công Thuấn - 7/2007), Thanh Tâm Tuyền, người đi tìm tiếng nói (Đỗ Lai Thuý -8/2010),
-Thanh Tâm Tuyền, bước đầu nhập cuộc (Du Tử Lê - 10/2011), Thơ -Thanh Tâm Tuyền, từ siêu thực đến ca dao (Lê Phụng 7/2011)
Một cách tương đối, có thể tạm thời sơ kết các bài viết trên và rút ra một
số nhận xét như sau: các bài viết nghiên cứu về Thanh Tâm Tuyền có thể chiathành 3 xu hướng cơ bản:
2.2.1 Xu hướng thứ nhất là điểm một bài, một số bài đơn lẻ, các tác giả
đi vào bình luận những vấn đề nhỏ Tác giả Hoàng Ngọc Tuấn [101] đi sâu
tìm hiểu bài thơ Đen Tác giả xem xét bài thơ trong quan hệ với âm nhạc, từ
đó kết luận Đen là bài thơ jazz đầu tiên và có thể là duy nhất của Việt Nam.
Phân tích những biểu hiện của tiết tấu, âm thanh và "phong khí da đen" của
Trang 9bài thơ, so sánh với thơ da đen của Mĩ và Phi Châu, thơ lục bát của Việt Nam,thơ Haiku của Nhật, so sánh với nhạc jazz, Hoàng Ngọc Tuấn cho rằng thơ lụcbát không thể mang âm hưởng jazz do nhịp thơ đều đặn, thơ Haiku thì thích
hợp hơn do nhịp thay đổi của nó, chính vì vậy Đen là một bài thơ jazz bởi tiết
tấu tự do Tác giả đã phân tích và chứng minh qua sự xuất hiện nhiều lần củacác nhạc tố bằng phương thức điệp rồi tiếp tục mở rộng, phát triển theo nhữngđường hướng không thể đoán định
2.2.2 Xu hướng thứ hai, các tác giả đi vào từng tập thơ hoặc điểm
chung cả hai tập thơ Tôi không còn cô độc và Liên, Đêm, Mặt trời tìm thấy.
Qua đó các nhà nghiên cứu khái quát một, một số đặc điểm lớn về nội dung,hình thức Tiêu biểu cho xu hướng này có các tác giả: Bùi Công Thuấn [92],Đặng Tiến [96], Đỗ Lai Thuý [91] Các tác giả này nêu lên một số đặc điểm
về ngôn ngữ thơ, cấu trúc câu thơ, bài thơ bị chia cắt, gián đoạn chỉ ra đặcđiểm thơ Thanh Tâm Tuyền là thơ dòng ý thức Bùi Công Thuấn chú ý đếngiọng trầm buồn, nhẹ nhàng và sâu lắng, một số so sánh, ẩn dụ, biểu tượng,dấu ấn chủ nghĩa hiện sinh, siêu thực trong thơ Thanh Tâm Tuyền
Thụy Khuê trong công trình Cấu trúc thơ [33] đã đánh giá về sự ra đời
cuả nhóm Sáng tạo, một phong trào sáng tác mà Thanh Tâm Tuyền rất tíchcực tham gia và làm nên tên tuổi của ông Từ sự đổi mới quan niệm nghệ thuật
đã dẫn đến thực tế sáng tác, nhóm Sáng Tạo nói chung, Thanh Tâm Tuyền nóiriêng đã có nhiều cách tân, đột phá Tác giả cho rằng thơ Thanh Tâm Tuyền làthơ siêu thực, so với đương thời câu thơ siêu thực của Thanh Tâm Tuyền đãđạt đến độ hoàn chỉnh, đã thoát khỏi sự kiểm duyệt của lí trí Ngoài ra tác giảThụy Khuê còn khẳng định câu thơ của Thanh Tâm Tuyền là câu thơ tươngphản, nhà thơ Thanh Tâm Tuyền là nhà thơ của sự tương phản bởi những ýkiến của ông thường tạo nên những ý kiến đa chiều Mặt khác bản thân ThanhTâm Tuyền lại sống trong nhiều chiều kích tư tưởng: sống hai thực tại - thực
Trang 10tại hiện sinh và thực tại siêu thực, tư tưởng hoài nghi và sứ mệnh anh hùng.Bài viết cũng chú ý đến cấu trúc câu thơ, tính chất gián đoạn của thơ Tuyền,cái tôi Thanh Tâm Tuyền bị xé đôi, phân thân bởi những giằng xé giữa hai nửahiện thực và siêu thực.Về nội dung bài viết chú ý đến những đề tài phổ biến:tình yêu, màu da.
Thường Quán [62], qua một số bà thơ để chỉ ra "phép thông công" - ýthức dám nhìn thẳng vào sự thực mà cụ thể là dám nhìn vào bản ngã conngười, cái phần ai cũng muốn che đậy Về đặc điểm sáng tác, tác giả bài viếtchỉ ra: ''Thanh Tâm Tuyền muốn sử dụng một ngôn ngữ mới để khả dĩ nóiđược một đời sống của những sự thật Nó là một ngôn ngữ không uốn lượn,
không bị bóp méo bởi phép tu từ, một ngôn ngữ "tự nhiên" (anh cố gắng viết
những lời thơ thật tự nhiên)'' Thơ Thanh Tâm Tuyền, Theo Thường Quán, rất
giàu tính nhạc nhờ nhịp điệu của hình ảnh và những khoảng âm thanh chìm,
Thanh Tâm Tuyền ''đề xướng và thực hành hơi thơ tự do Mở giác quan, mở
những ngõ lạ xuống linh hồn, phải được hiểu cả trong bối cảnh con người
đang tìm tới kiến tạo và sáng tạo''
Lê Phụng nhìn nhận thơ Thanh Tâm Tuyền trong quan hệ với ca dao
qua nhan đề Thơ Thanh Tâm Tuyền, từ siêu thực đến ca dao Bài viết cho rằng
thơ Thanh Tâm Tuyền không hoàn toàn đoạn tuyệt với truyền thống, vẫn còn
đó, dẫu chỉ là phảng phất, cái phong vị ca dao, điều kết nối nhà thơ với quákhứ và hôm nay
2.2.3 Xu hướng thứ ba, các tác giả đi tìm sự chuyển biến về mặt thi
pháp từ Tôi không còn cô độc đến Liên, Đêm, Mặt trời tìm thấy, tìm sự thay
đổi của hai giai đoạn sáng tác trước và sau năm 1975 Tác giả Nguyễn Mạnh
Trinh [97], khái quát sự thay đổi từ Tôi không còn cô độc đến Thơ ở đâu xa Ông cho rằng nếu nhìn bề ngoài thì đó là hai diện mạo khác biệt: Liên, Đêm,
Mặt trời tìm thấy: "mang một kiểu cách tri thức, phức tạp nhiều suy tư, nặng
Trang 11cách khai phá" còn Thơ ở đâu xa "giản dị, chân thật, có khi còn cổ điển".
Nhưng xét đến cùng bản chất chỉ là một, được biểu hiện bằng hai phương cáchkhác nhau
2.3 Nhìn chung các bài viết đều đánh giá cao sự mới mẻ độc đáo củahai tập thơ, khẳng định vị trí quan trọng của Thanh Tâm Tuyền trong dòngchảy của thơ ca miền Nam nói riêng, thơ ca dân tộc nói chung Có thể nóinghiên cứu về Thơ Thanh Tâm Tuyền bước đầu đã thu được những thành tựuđáng kể Nhưng có lẽ do hầu hết các bài viết là bài nghiên cứu dung lượngngắn chỉ đủ để đăng tải trên các trang báo, hơn nữa cũng chỉ là giai đoạn đầucủa quá trình đổi mới (khoảng 25 năm tính từ 1986, chưa phải là nhiều đối vớilịch sử của một nền văn học) nên nghiên cứu về Thanh Tâm Tuyền, cho đếnnay, vẫn còn những hạn chế cơ bản như sau: 1) Hầu hết các bài có dung lượngnhỏ Các nhà nghiên cứu chỉ điểm một số bài trong một tập, hai tập thơ, tuy
"điểm đúng huyệt" nhưng chưa đủ Phần lớn các tác giả chỉ đi vào những vấn
đề nhỏ Trong khi cái hay, cái đặc sắc của thơ Thanh Tâm Tuyền cần phải xemxét trong tính toàn diện của nó; 2) Có những bài viết khá quy mô, có chú ý đếnmột số nét thi pháp tác giả, những bài viết này có khả năng khái quát nhưngvẫn chưa thực sự toàn diện, những bài viết công phu nhất cũng chỉ nói đượcvài, ba khía cạnh mà chưa đầy đủ mọi góc độ về đặc trưng thi pháp tác giả.Mặt khác trong phân tích, chứng minh chưa thực sự thuyết phục vì không cónhững con số thống kê tin cậy, chưa thực sự hệ thống hoá những biểu hiện vềcác đặc điểm, tính chất thơ Thanh Tâm Tuyền Nói vậy không có nghĩa hạnchế về nghiên cứu Thanh Tâm Tuyền là do năng lực Nhiều công trình thểhiện cái nhìn về thơ Thanh Tâm Tuyền với một tầm tư duy sắc sảo, kiến thứcrộng rãi, cơ sở lí luận, cơ sở khoa học tin cậy Những tài liệu này đã gợi mởcho luận văn của chúng tôi nhiều phương hướng tiếp cận đáng quý, định hình
cả về phương pháp luận và những vấn đề then chốt Tuy nhiên với lợi thế đi
Trang 12sau, chúng tôi sẽ cố gắng nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ, đảm bảo sựkhách quan trung thực, thể hiện đúng, đủ đặc trưng thi pháp tác giả, đánh giáđúng mức những đóng góp của nhà thơ với văn học.
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi tư liệu khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn chúng tôi, như tên đề tài đã xác định
rõ, là: Thi pháp thơ Thanh Tâm Tuyền qua hai tập Tôi không còn cô độc và
Liên, Đêm, Mặt trời tìm thấy
Nói cụ thể hơn, luận văn sẽ đi sâu vừa tìm hiểu "lớp hình thức tổ chứcvật liệu của chỉnh thể tác phẩm" vừa tìm hiểu lớp "hình thức của cái nhìn''
trong hai tập thơ Tôi không còn cô độc và Liên, Đêm, Mặt trời tìm thấy để chỉ
ra được những đặc trưng thi pháp của thơ Thanh Tâm Tuyền
3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát
Tư liệu khảo sát chính của luận văn là hai tập thơ của Thanh Tâm
Tuyền: Tôi không còn cô độc và Liên, Đêm, Mặt trời tìm thấy Bên cạnh đó
chúng tôi còn sử dụng một số bài thơ, tập thơ của một số tác giả trước và cùngthời với Thanh Tâm Tuyền như Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Nguyễn Xuân Sanh,Trần Mai Ninh, Nguyễn Đình Thi, Trần Dần để có thêm cứ liệu đối sánh,nhằm làm rõ đặc điểm thi pháp thơ Thanh Tâm Tuyền
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong giới hạn cho phép của luận văn chúng tôi sẽ cố gắng tập trung
làm rõ những đặc điểm thi pháp thơ Thanh Tâm Tuyền qua hai tập thơ Tôi
không còn cô độc và Liên, Đêm, Mặt trời tìm thấy Cụ thể:
4.1 Khái quát về bối cảnh phát triển của thơ Việt Nam lúc Thanh TâmTuyền bước vào thi đàn (cả bối cảnh chính trị - xã hội lẫn bối cảnh thẩm mỹ)
4.2 Phân tích tính đặc thù của hình ảnh của con người và thực tại trong
hai tập thơ Tôi không còn cô độc và Liên, Đêm, Mặt trời tìm thấy.
Trang 134.3 Khảo sát đặc điểm cấu trúc và ngôn ngữ thơ Thanh Tâm Tuyền qua
hai tập Tôi không còn cô độc và Liên, Đêm, Mặt trời tìm thấy.
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng phối hợp những phương pháp nghiên cứu chính sau
để giải quyết đề tài:
+ Phương pháp tổng hợp tư liệu nhằm có được một cái nhìn khái quát
về những tìm tòi thể nghiệm cách tân thơ này
+ Phương pháp phân loại nhằm xác định những biểu hiện đặc trưng củahiện tượng thơ ca này
+ Phương pháp so sánh đối chiếu nhằm nhận diện những nét khác biệt,bứt phá của những tìm tòi thể nghiệm này so với thơ những giai đoạn trước đó
và cả những dòng hướng thơ ca khác cùng thời
+ Phương pháp phân tích tác phẩm, cố gắng khắc phục việc chỉ nêu ranhững nhận định chung chung cảm tính như khá nhiều những tư liệu khác
+ Phương pháp cấu trúc - hệ thống
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống, chi
tiết đặc điểm thi pháp Thanh Tâm Tuyền qua hai tập thơ Tôi không còn cô
độc và Liên, Đêm, Mặt trời tìm thấy Qua đó, công trình góp phần làm sáng
tỏ hơn những đặc trưng của thơ hiện đại, thơ đương đại, bộ phận rất quantrọng trong đời sống văn học, văn hoá nước nhà nhưng vẫn còn nhiều ý kiếntranh cãi trái chiều
Nghiên cứu về Thanh Tâm Tuyền - đại diện quan trọng của văn họcmiền Nam thời kì đất nước bị chia cắt, một bộ phận của văn học Việt Nam - làbước khởi đầu mang tính chất đột phá để về sau chúng ta có cái nhìn đầy đủ,dân chủ, khách quan về tổng thể nền văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975
Trang 147 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1 Bối cảnh thơ Việt Nam lúc Thanh Tâm Tuyền bước vào
Trang 15Chương 1 BỐI CẢNH THƠ VIỆT NAM LÚC THANH TÂM TUYỀN
BƯỚC VÀO THI ĐÀN
1.1 Điểm dừng của Thơ mới
1.1.1 Đóng góp của Thơ mới cho quá trình hiện đại hóa nền thơ dân tộc
1.1.1.1 Thơ mới là tên gọi của một phong trào sáng tác đầu thế kỉ XX.
Tên gọi này được Phan Khôi lần đầu tiên sử dụng với ý "tạm dùng" Thơ mới
là một hiện tượng văn học đặc sắc và phong phú Tên gọi thơ mới nhằm hàm ýđối lập với "thơ cũ", thơ trung đại về thi pháp biểu hiện Phong trào Thơ mới
đã manh nha từ đầu thế kỉ XX nhưng được xem là chính thức ra đời với bài
Tình già của Phan Khôi năm 1932 Đến năm 1945, vận mệnh lịch sử của nó
kết thúc Phong trào Thơ mới đã tạo nên bước đột phá về thi pháp, có thể nóinhững hàng rào ngăn cách của thi pháp thơ ca trung đại đã bị xô đổ Rất nhiềucách tân được thực hiện trong một giai đoạn không dài của lịch sử văn học Vềđại thể chúng ta có thể xét những đóng góp về thi pháp của Thơ mới trên một
số phương diện sau:
1.1.1.2 Về thể loại, so với thơ ca trung đại, rất nhiều thể loại mới ra đời
như thơ tự do có vần, thơ tự do không vần, thơ 5 chữ, lục ngôn, thơ văn xuôi,cùng với sự cách tân các thể loại luật Đường thành thơ 4 chữ, thơ 7 chữ, cáchtân thể hát nói thành thơ 8 chữ, lục bát vẫn tiếp tục phát triển
Thơ bảy chữ trong Thơ mới đã không còn bị quy định về số câu trongmột bài thơ, cũng không còn bị gò bó bởi những niêm luật chặt chẽ đến mứckhắt khe như trước nữa Tuy nhiên một số thủ pháp cổ điển vẫn được sử dụngmột cách cởi mở như phép đối, hình ảnh thơ
Phổ biến nhất vẫn là thơ bảy chữ, tám chữ, thơ tự do có vần Thơ tự do
Trang 16không vần về sau mới xuất hiện như một khuynh hướng tìm tòi mới (Nguyễn
Vĩ, Nguyễn Xuân Sanh ) Cũng phải kể đến kịch thơ của Huy Thông (Anh
Nga), Hàn Mạc Tử (Duyên kì ngộ, Quần tiên hội) Thể hành được Thâm Tâm
sử dụng đầy sáng tạo, với tên gọi thể loại là "hành" nhưng Tống biệt hành là
một bài thơ hiện đại mang âm hưởng cổ điển
1.1.1.3 Xét về mặt đề tài, thi hứng, phong trào Thơ mới cũng đã tạo nên
những đột phá đáng kể Thơ mới không còn bị giới hạn trong những đề tàitruyền thống vốn cao sang nhưng hạn hẹp như: vịnh cảnh vịnh vật, tỏ chí, đạo
lí, quân vương, quốc gia, xã tắc của thơ cũ nữa Những đề tài của cuộc sốngđời thường đã được đi vào văn chương chính thống Thơ mới xúc cảm về tất
cả những gì tồn tại trong cuộc sống, những gì trước đây người ta xem là đồitrụy là thiếu nghiêm túc như: tình yêu đôi lứa, nhục cảm thể xác, vẻ đẹp ngườiphụ nữ, đề tài hành lạc, gái giang hồ
Xuân Diệu, qua cuộc đời người kĩ nữ mà gởi gắm nỗi cô đơn buồn tủi
về thân phận mình, thân phận những người phải sống trong một xã hội ngột
ngạt, tối tăm Lời kĩ nữ không còn là lời của một người mà là lời của những ai
cô đơn cô độc, mất phương hướng, lời tủi nhục của một kiếp nhân sinh gặpcơn bĩ cực Ngoài lời cảm thông chia sẻ ta con thấy được sự đồng cảm, thấybóng dáng tác giả qua lời phân trần của người kĩ nữ:
Lòng kĩ nữ cũng sầu như biển lớn, Chớ để riêng em phải gặp lòng em
(Lời kĩ nữ - Xuân Diệu)
Vũ Hoàng Chương thì say sưa trong cõi tình với tràn trề cảm xúc xácthịt Nhà thơ ru mình trong nững điệu nhạc lãng du, những điệu nhảy quaycuồng, đê mê mà vẫn tỉnh Đôi khi người muốn quên đi thực tại nên phải ngụplặn trong cõi tình, cõi chơi, nhưng chẳng thể nào giải thoát được trong cõi ấy,chắc đó chỉ là cách thi nhân bày tỏ lòng mình, thể hiện sự phản ứng cực đoan
Trang 17theo cách của những nhà thơ mới, "Người say đủ thử thứ: say rượu say đàn,say ca, say tình đong đưa Người lại còn "hơn" cổ nhân những thứ say mớinhập cảng: say thuốc phiện, say nhảy đầm" [78; 352 - 353].
Ánh đèn tha thướt Lưng mềm não ruột dáng tơ
Hàng chân lả lướt
Đê mê hồn gửi ánh trăng hờ.
(Say đi em - Vũ Hoàng Chương)
Cảm hứng trong Thơ mới là cảm hứng của một thời đại mà ở đó nềntảng xã hội đã có nhiều biến động Những tư tưởng triết học, lối sống Tâyphương bén rễ trong đời sống xã hội Việt Nam So với thế hệ cha anh, cảmhứng sáng tác đã biến đổi do khác biệt về ý thức hệ Nho giáo đã đi và thoáitrào, đời sống vật chất, tinh thần cũng thay đổi từng ngày Lưu Trọng Lư cólần nói ở nhà học hội Quy Nhơn: ''Các cụ ta ưa những màu đỏ choét; ta lại ưanhững màu xanh nhạt các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya; ta naonao vì tiếng gà lúc đúng ngọ Nhìn môt cô gái xinh xắn ngây thơ, các cụ coinhư đã làm một điều tội lỗi; ta thì cho là mát mẻ như đứng trước một cánhđồng xanh Cái tình của các cụ thì chỉ là sự hôn nhân, nhưng đối với ta thìtrăm hình muôn trạng: cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gụi,cái tình xa xôi cái tình trong giây phút cái tình ngàn thu " [dẫn theo: 78; 17]
Cũng là một hình ảnh thơ: cánh cò, thế nhưng ẩn chứa trong câu thơ sự
khác biệt thời đại:
Mây biếc về đâu bay gấp gấp, Con cò trên ruộng cánh phân vân.
Hoài Thanh - Hoài Chân đã có những nhận định thật xác đáng: "Từ con
cò của Vương Bột lặng lẽ bay với ráng chiều đến con cò của Xuân Diệu khôngbay mà cánh phân vân có sự cách biệt của hơn một ngàn năm và của hai thế
Trang 18kỉ" [78; 107].
1.1.1.4 Thơ mới tỏ ra tôn trọng dòng chảy tự nhiên, sống động của cảmxúc cá nhân Ngược lại thì thơ cũ, thơ cổ điển, không đề cao cảm xúc tự nhiên,cảm xúc trong thơ cổ điển bị chi phối, bị gò bó bởi những cái khuôn chật hẹp.Các nhà thơ mới muốn những dòng cảm xúc của thi sĩ được tuôn trào từ cõilòng mà không hề bị trói buộc Sự tôn trọng dòng cảm xúc tự nhiên dẫn đếnkhả năng giải phóng nội dung thơ khỏi những ràng buộc máy móc Chính vìvậy kết cấu bài thơ trữ tình cũng linh hoạt: có kết cấu trùng điệp, kết cấu vòngtròn sự thể hiện bài thơ cũng phong phú đa dạng hơn: câu thơ, bài thơ dàingắn tuỳ mạch cảm xúc, cách gieo vần, ngắt nhịp, chia khổ là bất định Tôntrọng dòng chảy cảm xúc tự nhiên, các nhà thơ mới dễ dàng tìm thấy tứ thơ vàbiểu đạt nó Một rung động bất chợt đến từ một đề tài giản dị, gần gũi cũng có
thể nên thơ Có thể kể đến các bài: Trình bày, Vỗ về, Mây trắng, Gió chuyển
mùa, Em về nhà, Chiều mưa (Huy Cận) Say đi em (Vũ Hoàng Chương), Lời
kĩ nữ (Xuân Diệu), Vu vơ (Tế Hanh), Chợ tết (Đoàn Văn Cừ), Đám ma đi (Lan
Sơn) những nhan đề có vẻ dễ dãi nhưng đã phản ánh được tâm trạng thi nhân
trong những hoàn cảnh cụ thể Buồn đêm mưa của Huy Cận nghe như một xúc
cảm bất chợt, tưởng như chẳng có gì ngoài những suy nghĩ vẩn vơ mông lung:
Đêm mưa làm nhớ không gian Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la.
Tai nương nước giọt mái nhà
Nghe trời nặng nặng nghe ta buồn buồn.
Cũng do nguyên tắc tôn trọng dòng chảy tự nhiên mà Thơ mới tìm đếncâu thơ điệu nói, khác với thơ cổ điển là câu thơ điệu ngâm Thơ điệu nói giúpnhà thơ dễ dàng truyền tải tình cảm, cảm xúc, tư tưởng của chủ thể trữ tình.Thơ điệu nói còn tạo nên giọng điệu riêng, câu thơ do mạch cảm xúc chứkhông phải do những phương tiện hoà âm của niêm luật chi phối Thành phần
Trang 19lời thơ cũng đa dạng bởi hệ thống những phương tiện diễn đạt phong phú như
hư từ trợ từ ngữ khí, lập luận, khẩu hiệu, đối đáp trong câu thơ điệu nói chấtvăn xuôi cũng được phát huy
1.1.1.5 Thơ mới nhấn mạch sự tồn tại độc lập của khách thể miêu tả,không còn nữa sự thống nhất giữa chủ thể và khách thể như trong thơ trungđại Nhà thơ luôn ý thức sự khác biệt giữa chủ và khách cũng có nghĩa là ýthức về "mình", ý thức về "kẻ khác" Trong Thơ mới, cảm xúc, tâm trạng củachủ thể cần được miêu tả như một khách thể độc lập Cái tôi cá nhân nhà thơđược tách ra để đối thoại, người nghệ sĩ có thể tự quan sát cái tôi của mình:
Chàng Huy Cận khi xưa hay buồn lắm,
- Gió trăng ơi nay còn nhớ người chăng?
Hơn một lần chàng đã gởi cho trăng
Nỗi hiu quạnh của lòng buồn không cớ
(Mai sau - Huy Cận)
Giữa Huy Cận chủ thể và một Huy Cận khách thể vừa thống nhất vừatách biệt Một Huy Cận thi sĩ đang nhìn về chính mình, ở cái góc khuất tâmhồn, đang đối thoại với mình
Nhấn mạnh sự tồn tại độc lập của khách thể còn làm tăng "tính tự sự",
"yếu tố truyện" trong thơ Những bài thơ có chuyện là một cách để thi sĩ quansát cuộc sống nội tâm của mình ở vị thế khách quan Người nghệ sĩ lúc ấyphân thân thành hai nửa: chủ thể quan sát và cũng là đối tượng quan sát để bày
tỏ, phân trần, để hiểu mình Rất nhiều nhà thơ có lối diễn đạt tự sự như:
Nguyễn Bính (cô hái mơ, Lỡ bước sang ngang, Chân quê, Tương tư, Quan
trạng ), T.T.KH (Hai sắc hoa Tigôn), Thế Lữ (Nhớ rừng), Thâm Tâm (Tống biệt hành)
1.1.1.6 Thơ mới đề cao cái tôi cá nhân cá thể, con người cô đơn cô độc.Tiếp thu tư tưởng phương Tây, các nhà thơ mới mang một khát vọng mãnh
Trang 20liệt, khát vọng giải phóng cái tôi, thể hiện con người cá nhân để tự do sống, tự
do sáng tạo Thơ trung đại đề cao con người bề tôi, con người trong thơ trungđại là con người ''vô ngã'', "phi ngã'', con người bị cương toả bởi hệ thống giáo
lí hà khắc của Nho giáo Nhà thơ không được thể hiện mình, dấu ấn cá nhân bịhạn chế Tất cả phải theo một trật tự từ trên xuống dưới, bất di bất dịch Thơmới ra sức chống lại trật tự đó, chống lại những trói buộc, gò bó
Ta là một là riêng là thứ nhất
Không có chi bè bạn nổi cùng ta.
(Hy Mã Lạp Sơn - Xuân Diệu)
Sống trong một xã hội ngột ngạt, chủ quyền đất nước đã không còn, conngười, một cá thể nhỏ bé của xã hội cũng cảm thấy bơ vơ, bất an, mất điểmtựa Thi nhân lại chạy trốn thực tại bằng cách tìm đến cõi mơ, cõi tình, tìm đếnthế giới của hồn ma, của quá khứ, tìm đến những miền đất xa xôi ngoài cõithực Mỗi tác giả biểu hiện một cái tôi riêng, Hoài Thanh - Hoài Chân viết:
"Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng
Lư, ta điên cuồng cùng Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng XuânDiệu " [78; 47]
Trong tình yêu, Xuân Diệu trở nên lạc lõng bơ vơ và hoài nghi bởi mấtniềm tin Mất niềm tin trong tình yêu bởi mất thăng bằng trong cuộc sống:
Kiếm mãi nghi hoài hay ghen bóng gió,
Anh muốn vào dò xét giấc em mơ
(Xa cách - Xuân Diệu)
Đôi khi con người trong Thơ mới hiện lên thật tội nghiệp - đúng nhưHoài Thanh - Hoài Chân nói vậy:
Em sợ lắm giá băng tràn mọi nẻo, Trời đày trăng lạnh lẽo suốt xương da
(Lời kĩ nữ - Xuân Diệu)
Ý thức cái tôi, nhà thơ ý thức về mình: tài năng, nghề nghiệp, tâm trạng,
Trang 21quyền được sống, quyền khẳng định mình và rồi dần về sau cái tôi thi nhânchoán ngợp, với nhiều cung bậc, nhiều trạng thái Có cái tôi buồn, vui, kiêuhãnh, giận dữ, cái tôi tủi hổ, cái tôi hăm hở đam mê, cái tôi cô đơn khắc khoải,cái tôi hy vọng đợi chờ tất cả làm nên một bức tranh tâm trạng chung củathời đại.
1.1.1.7 Thơ ca trung đại vốn ít quan tâm đến vẻ đẹp hình thể của conngười, nhất là vẻ đẹp người phụ nữ Họ không xem cái đẹp của hình thể là đốitượng của nghệ thuật, thậm chí họ xem đó là vấn đề nhục dục tầm thường, dothơ ca trung đại không có ý thức cá nhân Ngược lại tình yêu, nhục thể, là đềtài mà Thơ mới không ngần ngại đặt ra Họ không hề né tránh, thậm chí cònsay sưa ca ngợi, say sưa tận hưởng vẻ đẹp tuyệt đích mà tạo hoá ban cho loàingười Thế Lữ đã phát biểu như một tuyên ngôn:
Tôi muốn làm nhà nghệ sĩ nhiệm màu, Lấy "thanh sắc" trần gian làm tài liệu
(Cây đàn muôn điệu )
Có lúc hình ảnh người thiếu nữ được miêu tả với một sự trong sáng,thanh cao, vể đẹp dân giã như ta đã từng bắt gặp trong ca dao, dân ca:
Lá rợp cành xoài bóng ngả ngang,
Cô em dừng bước nghỉ bên đường.
Cởi khăn phẩy giọt mồ hôi trán, Gió mát lòng cô cũng nhẹ nhàng.
(Cô gái xuân - Đông Hồ)
Trong thơ Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, tình yêu nhục thể được đẩylên những cung bậc cao hơn bởi cách nói táo bạo của họ Ba phạm trù: tìnhyêu - nhục thể - hưởng lạc, luôn song hành cùng nỗi cô đơn của thi sĩ Trong
cô đơn tuyệt vọng có cái gì đó hoang mang, chính vì vậy dấu ấn hiện sinh vàphân tâm học Freud ngày càng ảnh hưởng đến đề tài này:
Ta đặt em lên ngai thờ nữ sắc,
Trang 22Trong âm thầm chiêm ngưỡng một làn da.
Buổi em về da thịt tẩm hương hoa,
Ta sống mãi thở lấy hồn trinh tiết.
Ôi cám dỗ cả mình em băng tuyết, Rợn xuân tình trên bộ ngực thanh tân.
(Kĩ nữ - Đinh hùng)
Nếu các nhà thơ trung đại, hoặc không dám nói đến vẻ đẹp thể chất củangười phụ nữ, hoặc chỉ dám nói xa xôi bằng những hình ảnh thiên nhiên, trừmột vài cá tính, thì Thơ mới nói về vẻ đẹp ấy một cách trực diện như ở trước
nó, như có thể chạm tới được bằng nhiều cách như kể, tả, cảm Trong Thơmới xuất hiện hàng loạt những danh từ chỉ thân thể người phụ nữ: đôi mắt,mái tóc, ngực, lưng cong, đôi má hồng, môi, răng, bàn tay Vẻ đẹp người phụ
nữ trong Thơ mới là đối tượng mô tả, là nguồn cảm hứng và cũng là phươngtiện dãi bày tình cảm, cảm xúc thi nhân
1.1.1.8 Thi pháp Thơ mới, ngoài những phương diện như đã nói trêncòn phải kể đên nét mới về phương tiện diễn đạt của ngôn ngữ thơ Trong Thơmới, nghệ thuật hài thanh không còn bị quy định bởi luật bằng trắc như trongthơ cổ điển Trong một câu thơ tác giả có thể sử dụng hoàn toàn thanh bằng,hoàn toàn thanh trắc, hoặc đan xen theo dòng tâm trạng chủ thể, đặc điểmkhách thể:
Sương nương theo trăng ngừng lưng trời, Tương tư nâng lòng lên chơi vơi
(Tương tư - Xuân Diệu)
Thơ mới đã xuất hiện những cách diễn đạt theo cú pháp Phương Tây vàđem đến cho thơ Việt những sắc thái mới Theo khuynh hướng đóng góp nàyphải kể đến lối diễn đạt và đặt câu trong thơ Xuân Diệu Ta bắt gặp một số câuthơ "lạ", một số cách dùng từ mới, chắc độc giả đương thời cũng phải có thời
Trang 23gian để làm quen Hoài Thanh - Hoài Chân viết: "Người đã tới giữa chúng tavới một y phục tối tân và chúng ta đã rụt rè không muốn làm thân với conngười có hình thức phương xa ấy Nhưng rồi ta cũng quen dần vì ta thấy người
cùng ta tình đồng hương vẫn nặng" [78; 105] Một số câu trong Đây mùa thu
Trong Thơ mới lại có Thơ mới đã xuất hiện những cách diễn đạt theo cú
pháp Phương TâyCâu thơ vẫn gợi một điều gì đó xa xăm, diệu vợi, thật khócắt nghĩa nhưng không hoàn toàn phi lí:
Nâng lên núm vú đồi,
Sữa trăng nhi nhỉ giọt:
Bay quqa cụm liễu phơi, Những cườm tay điểm hột
(Xuân tượng trưng - Bích Khê)
Những đóng góp của Thơ mới diễn ra trên hầu hết mọi phương diện, từ
tư tưởng đến hình thức nghệ thuật, ở cả những thể loại mới cho đến những thểloại cách tân thơ cũ Quá trình đổi mới đa dạng, phong phú có nhiều thành quảvới hàng loạt tên tuổi lớn như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận,Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính nên nhanh chóng được côngchúng văn học hưởng ứng, vị trí của Thơ mới trong đời sống văn hoá, văn học
Trang 24nước nhà ngày càng được nâng cao.
1.1.2 Những giới hạn của Thơ mới
Thơ mới đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của nó Yêu cầu của lịch sử vănhọc Việt Nam đặt ra là tiếp tục cách tân Xét về mặt thi pháp bên cạnh sự đổimới, Thơ mới vẫn còn những giới hạn chưa thể vượt qua
1.1.2.1 Thơ mới vẫn còn câu nệ việc gieo vần và vần là một yếu tố quy
định nhạc điệu, âm hưởng câu thơ trong Thơ mới Những tác giả "cao tay" thìgieo vần cách, vần thông, làm cho câu thơ bớt đi tính khuôn sáo, bớt đi sự
gượng ép của kĩ thuật, câu thơ tự nhiên hơn Nhưng dẫu sao "vần" cũng là một
yếu tố không thể thiếu, thậm chí là yếu tố sống còn của thơ
Trong Thơ mới nhiều tác giả cố tình tạo nên những câu thơ đậm chất kĩ
thuật, mỗi câu thơ mang một thanh điệu như Hoài tình của Thế Lữ Không
phủ nhận đây là cách mà các nhà Thơ mới thể hiện sự chống đối lại thi phápthơ cũ, nhưng vô tình sự cực đoan, lạm dụng đã không đem lại một kết quảthực sự thuyết phục:
Ảo tưởng chỉ để khổ để tủi, Nghĩ mãi gỡ mãi lỗi vẫn lỗi.
Thương thay cho em căm cho anh, Tình hoài càng ngày càng tày đình
1.1.2.2 Về mặt thể loại, trong giai đoạn 1932 - 1945, thơ tự do đã hìnhthành và phát triển, nhưng không phải là thể loại chiếm đa số trong các sángtác của phong trào Thơ mới Lục bát, một thể loại dân gian, đã trở thành thểloại cổ điển trong sáng tác của Nguyễn Du, nay tiếp tục được sử dụng trongThơ mới Lục bát có tính ổn định cao, thậm chí có thể nói là bảo thủ bởi lụcbát không cho phép thay đổi một số nguyên tắc như số chữ trong câu, vị trígieo vần, cách gieo vần Xét cho cùng sáng tạo, cách tân trong thể lục bát chỉ
là thứ yếu
Ở các thể loại thơ 4 chữ, 7 chữ, 8 chữ, bên cạnh những nét mới về thi
Trang 25pháp, vẫn còn nhiều "dấu vết cũ" còn sót lại như: số chữ trong câu luôn phảituân thủ đúng đặc trưng thể loại, cách ngắt nhịp cũng khá chặt chẽ theo một số
nguyên tắc: thường là nhịp chẵn (thơ 4 chữ), nhịp chẵn / lẻ (thơ 7 chữ), nhịp
lẻ/chẵn/lẻ (thơ 8 chữ) Trong các thể loại cách tân thơ luật Đường một số thủ
pháp cổ điển vẫn con tồn tại như thủ pháp đối, sự hài hoà cân xứng giữa các
vế trong câu, giữa từng cặp hai câu tạo nên sự đối ứng của câu văn biền ngẫu:
Cụ đồ Nho dừng lại vuốt râu cằm, Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ.
Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ, Nước thời gian gội tóc trắng phau phau.
(Chợ tết - Đoàn Văn Cừ)
1.1.2.3 Dĩ nhiên Thơ mới không hoàn toàn đoạn tuyệt với truyền thống,
dấu ấn thơ cũ vẫn tồn tại trong đề tài, thi tứ, hình ảnh thơ Thơ mới vẫn còn
đó lối vịnh cảnh - tả cảnh ngụ tình, trong tả cảnh vẫn sử dụng nhiều bút pháp
cổ điển Đọc Đây mùa thu tới ta bắt gặp không ít những hình ảnh quen thuộc
của thơ cổ điển, bức tranh thơ như một bức tranh sơn thuỷ mà nhiều "hoạ sĩĐường thi" đã chấp bút:
Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ,
Non xa khởi sự nhạt sương mờ.
Đã nghe rét mướt luồn trong gió,
Đã vắng người sang những chuyến đò.
(Đây mùa thu tới - Xuân Diệu)
Thi liệu cổ điển còn biểu hiện ở cả hình tượng con người Hình ảnh
người ra đi trong Tống biệt hành của Thâm Tâm mang phong thái của bậc anh
hùng ra đi vì nghĩa, cái tư thế Kinh Kha bên bờ Dịch Thuỷ xuyên suốt bài thơ:
- Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ,
Chí nhớn chưa về bàn tay không Thì không bao giờ nói trở lại !
Trang 26Ba năm mẹ già cũng đừng mong.
Đọc Nàng con gái họ Dương ta nghe quen lắm, như đã đọc đâu đó trong Đường thi, phải chăng cái ý tứ ấy ta đã gặp trong Khuê oán của Vương Xương Linh hay Đề Đô thành nam trang của Thôi Hộ:
Năm xưa ta lại chốn này,
Hồ thu nước mới chau mày với thu.
Nàng Dương mười bốn hái dâu, Hoa non đâu đã biết sầu vì thu.
Năm sau ta đến chốn này, Nàng Dương tóc đã đến ngày cài trâm.
Chiều xuân hoen hoẻn trăng rằm, Con ong lén gởi thơ thầm ngoài hiên ( )
(Nàng con gái họ Dương - Phan Văn Dật) Qua một vài hình ảnh, ý tứ, tương ứng giữa hai bài thơ ta bắt gặp: "Hoa
non đâu đã biết sầu vì thu’’ với "Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu’’; "Nàng Dương’’ với " thiếu phụ’’ (Khuê oán) Hoặc cái tứ "chốn này": "Năm nay ta lại chốn này’’ "Năm sau ta lại chốn này’’ với "Khứ niên kim nhật thử môn trung’’ (Đề Đô thành nam trang), cái tứ ''người đâu": "Năm nay ta lại chốn này, Lầu không chim vắng, chim bay đằng nào’’ so với "Nhân diện bất tri hà
xứ khứ, Đào hoa y cựu tiếu Đông phong’’ (Đề Đô thành nam trang).
Lối mượn thi liệu cổ điển làm gia tăng chất Đường thi không xa lạ gìtrong Thơ mới Đôi khi ta khó mà phân biệt đâu là bài Thơ mới, đâu là bàiĐường thi chính hiệu:
Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng,
Thu sông Xích Bích nguyệt mơ màng, Bồn chồn thương kẻ nương song bạc.
Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng.
Trang 27(Đêm thu nghe quạ kêu - Quách Tấn)
1.1.2.4 Câu trong Thơ mới đã có nhiều cách tân, đổi mới Nhiều tác giả
đã học tập cú pháp phương Tây nhưng hầu hết vẫn là cú pháp xuôi chiều, từliên kết với từ, câu liên kết với câu cả bài thơ vẫn là một kết cấu hoàn chỉnh,
rõ ràng, trọn vẹn Kết cấu tự sự đòi hỏi một lối ngữ pháp xuôi chiều với đầy
đủ quan hệ từ làm giảm đi tính "siêu văn bản", ít "khoảng trống", "khoảngtrắng" trong thơ:
Người ấy thường hay vuốt tóc tôi Thở dài những lúc thấy tôi vui, Bảo rằng: "Hoa dáng như tim vỡ, Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!
(Hai sắc hoa Tigôn - T.T.KH)
Các so sánh ẩn dụ cũng rõ ràng, câu Thơ mới không khác gì câu ca dao:
- Gió mưa là bệnh của trời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng
(Tương tư - Nguyễn Bính)
- Lòng em như quán bán hàng Dừng chân cho khách qua đàng mà thôi
(Hai lòng - Nguyễn Bính)
Có thể nói, liên kết trong Thơ mới đa số là liên kết trực tiếp Giúp ngườiđọc hiểu khá trọn vẹn câu thơ, bài thơ Các quan hệ từ trong Thơ mới giữ vaitrò "hướng đạo" không nhỏ để độc giả tiếp cận ý thơ Nhà thơ như không yêntâm khi thiếu đi các quan hệ từ
Trên đây chúng tôi xét một số phương diện thi pháp để thấy được nhữnggiới hạn của Thơ mới trong tiến trình bắt nhịp cùng thơ hiện đại thế giới.Những cách tân đổi mới đã xuất hiện và thật đáng trân trọng nhưng tàn dư củathơ cũ cũng không ít Những đặc điểm này vừa là sự kế thừa cần thiết mang
Trang 28tính lịch sử vừa là điểm giới hạn đòi hỏi đổi mới để phát triển Tiếp tục sựnghiệp của Thơ mới, một số tác giả đã có những tìm tòi riêng mang tính chấtthể nghiệm và thu được nhiều thành tựu Có thể kể đến một số tên tuổi tiêubiểu như: Hàn Mạc Tử, Bích Khê, Đinh Hùng, đặc biệt là Nguyễn Xuân Sanh
và nhóm Xuân Thu nhã tập, giai đoạn sau Thơ mới có Trần Mai Ninh, Nguyễn
Đình Thi, Trần Dần, Hữu Loan Đóng góp của họ không những đáng trântrọng vì sự mới mẻ mà còn ở chỗ họ dám dấn thân tiên phong trong nhữngđiều kiện khách quan không mấy thuận lợi
1.2 Những tìm tòi theo hướng hiện đại chủ nghĩa sau Thơ mới
1.2.1 Nguyễn Xuân Sanh và nhóm Xuân Thu nhã tập
Xuân Thu nhã tập ra mắt bạn đọc vào năm 1942, là một tập hợp thơ,
văn, nhạc, hoạ của những văn nghệ sĩ có cùng tâm huyết gồm nhà giáoNguyễn Lương Ngọc, các nhà thơ Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Xuân Sanh, Phạm
Văn Hạnh, hoạ sĩ Nguyễn Đỗ Cung, nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát Xuân Thu
nhã tập tiếp tục con đường của Thơ mới nhưng đã có dấu hiệu "chệch quỹ
đạo" Họ chống lại lối mòn mà Thơ mới đã khai thác họ là người bắc nhịp cầu
từ Thơ mới sang thơ hiện đại Nói đến Xuân Thu nhã tập là ta nói đến Buồn
xưa, Bình tàn thu, Hồn ngàn mùa của Nguyễn Xuân Sanh, Màu thời gian
của Đoàn Phú Tứ, Thư thơ, Người có nghe, Giọt sương hoa của Phạm Văn Hạnh, Bức tranh vẽ gốc cây già trổ hoa của Nguyễn Đỗ Cung, bản nhạc Màu
thời gian của Nguyễn Xuân Khoát
Tiếp thu những trào lưu thơ hiện đại phương Tây, các tác giả Xuân Thu
nhã tập vừa đúc kết về mặt lí luận vừa vận dụng trong sáng tác Xuân Thu nhã tập có ý thức về giới hạn của Thơ mới và đề ra đường lối sáng tác trong tuyên
ngôn của mình Về mặt lí luận Xuân Thu nhã tập liên kết mối tương quan giữa
các ngành nghệ thuật như thơ hội hoạ, âm nhạc, điêu khắc, kiến trúc
Thực ra thơ Xuân Thu nhã tập mới chỉ đi bằng có một chân hiện đại, chân
Trang 29kia vẫn là truyền thống Nói cách khác, giữa phát biểu về mặt tuyên ngôn lí luận
và thực tiễn sáng tác của họ chưa hoàn toàn thống nhất Thơ Xuân Thu nhã tập
như một nàng tiên cá đang muốn thoát kiếp mà vẫn chưa thành nên suốt đờinàng vẫn còn vướng lại cái đuôi của tiền kiếp (hình ảnh Đỗ Lai Thuý dùng).Trong sáng tác, họ vẫn dùng các thể thơ cũ, mỗi bài lại được chia thành các khổkhá mẫu mực, "Các tác giả trình bày ý tưởng, nhiều khi rất phương Tây củamình bàng ngôn từ Đạo học và lối diễn đạt phương Đông" [87; 244] Tuy vậy
thơ Xuân Thu nhã tập đã xuất hiện nhiều bước cách tân về thi pháp so với các
tác giả Thơ mới cùng thời (mặc dầu họ, xét về thực chất, cũng chỉ là một phầncủa Thơ mới, họ đi trên con đường Thơ mới ở những chặng cuối cùng)
Thơ Xuân Thu nhã tập về cơ bản đã tiếp thu chủ nghĩa tượng trưng một
cách bài bản Từ dấu ấn tượng trưng đậm đà đẫn đến những cách tân về hìnhthức và ngôn từ
Xuân Thu nhã tập, phá vỡ tính liên tục của mạch cảm xúc và mạch liên
tưởng Thơ truyền thống đứng trên hai chân logic và hữu thực nên cách đọcthơ truyền thống là cách đọc tuyến tính nên dòng cảm xúc, mạch suy nghĩ, liêntưởng cũng diễn ra liên tục Bàn về cách tiếp cận thơ hiện đại nhà phê bìnhvăn học Đỗ Lai Thuý viết: "Nếu bóc mãi những lớp lá ngôn từ của một bánhthơ mà không nhìn thấy chiếc nhân tư tưởng đâu cả thì người ta cho đó khôngphải là thơ, mà là một sự lừa gạt Họ có hay đâu, thơ có thể nằm ngay ở nhữnglớp lá mà họ vừa vứt bỏ, thậm chí nằm ngay trong hành động bóc" [88; 1]
Trong vương quốc thơ ca lãng mạn, Buồn xưa của Nguyễn Xuân Sanh
như một ốc đảo tách mình đứng yên trong bao la trống vắng Nó bị cho là thứthơ kì bí bởi độc giả cứ chạy theo mà đuổi bắt cái bóng chữ nhưng không thểnào chạm tới được:
Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi Hồn xanh ngát chở dấu xiêm y
Trang 30Rượu ngát bầu vàng cung ướp hương Ngón hường say tóc nhạc trầm mi Lẵng xuân
Bờ giũ trái xuân sa Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà
Trong Buồn xưa, cái logic hữu thực bị cắt đứt, bị gián đoạn, nhường chỗ
cho vô thức, cho sự tự do của xúc cảm, xúc cảnh Vì vậy cấu trúc xuôi chiềutrong câu thơ bị phá vỡ, khả năng tự diễn của các hình vị được khai thác Mốiliên hệ trong thơ lúc này không phải một chiều mà là đa chiều Để hiểu được ýthơ quả thức không dễ dàng tìm thấy mối quan hệ nào giữa các từ, cụm từđứng bên cạnh nhau Mỗi từ, tự bản thân nó mang một nghĩa nếu kết hợp với
từ bên cạnh theo logic thông thường thì trở nên vô nghĩa Người đọc, vì vậy,cần vận dụng kinh nghiệm, tưởng tượng để đồng sáng tạo, tái tạo văn bản Cho
nên "chiều" không thể kết hợp với "đọng", "hồn" không thể kết hợp với" xanh
ngát, ''chở" không thể kết hợp với "dấu xiêm y’’, ''rượu" không kết hợp với
"ngát" Một câu thơ mở ra nhiều kiểu kết hợp:
- Hoa Quỳnh buổi chiều lắng đọng âm nhạc, hương trầm, mi mắt
- Nhạc, trầm, mi như lắng đọng trên hoa quỳnh buổi chiều
- Hoa quỳnh, buổi chiều, nhạc êm, trầm thơm ngát, mi đắm say
Bằng hữu hạn những con chữ, tác giả mở ra vô hạn những mối liên hệngữ nghĩa Bất chấp cái giới hạn thông thường, bài thơ đem đến cho độc giả
những ngoại hàm thú vị: buổi chiều trở nên hữu hình và ngưng đọng (chiều
đọng), hồn người như có màu sắc (xanh ngát), và ngón tay như những búp hoa
Trang 31Chén vàng/ dâng ướp /nhạc lòng đời
- Bình tàn/ thu/ vai /phấn/ nghiêng rơi
Chén/ vàng/ dâng ướp /nhạc lòng/ đời
- Bình tàn thu/ vai phấn/ nghiêng rơi
Chén vàng dâng/ ướp nhạc lòng đời
- Bình tàn thu/ vai /phấn/ nghiêng rơi
Chén vàng dâng/ ướp nhạc/ lòng đời .
Câu chữ không phải chỉ liên hệ theo khoảng cách tương cận mà quan hệnhảy cóc Nói cách khác sợi dây liên hệ bị gián đoạn, để hiểu được buộc người
ta phải khôi phục những khoảnh trống, khoảng trắng của văn bản Người ta
thường đặt câu hỏi: Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà nghĩa là gì? Có thể cắt nghĩa bằng cách khôi phục văn bản: nhìn vào đĩa ngũ quả (Đáy đĩa), mỗi mùa mỗi loại quả mà biết được mùa gì (mùa đi), nhịp hải hà là nhịp điệu, dòng chảy
của thời gian, của vũ trụ Bài thơ như một bức tranh trừu tượng, từ nhữngmảng ghép đứt đoạn, từ nhịp điệu của màu sắc, sự tượng phản sáng tối mà gợilên cho người đọc những hình ảnh của tưởng tượng Câu thơ không phải làmột diễn ngôn hoàn chỉnh nhưng sức gợi của nó lại có giá trị đa ngôn
Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ, cũng liên kết những ý thơ bằng những
hình ảnh gián tiếp, tính liên văn bản, trong một văn bản, cần được chú ý.Những câu thơ ở xa nhau lại có liên hệ với nhau về tứ, làm nên một mạch cảm
xúc có tính ngẫu hứng Trong Màu thời gian yếu tố truyền thống đậm hơn
những sáng tác của Nguyễn Xuân Sanh Trong câu thơ thì những từ từ ngữcạnh nhau vẫn có liên hệ về nghĩa, cái logic hữu thực vẫn tồn tại Nhưng tácgiả họ Đoàn sử dụng khả năng chuyển đổi cảm giác của từ dẫn đến sự chuyển
nghĩa, tạo nên những liên tưởng bất ngờ thú vị: tiếng chim thanh; gió xanh;
ngàn xưa không lạnh nữa; màu thời gian tím ngát, hương thời gian thanh thanh Trong Màu thời gian, các yếu tố nhạc, hoạ sân khấu đan cài vào nhau,
Trang 32bổ sung cho nhau, cùng hoà điệu, cùng ngân vang: yếu tố hoạ - gió xanh; thời
gian tím ngát yếu tố nhạc - tiếng chim thanh; gió xanh; thoảng xuân tình
yếu tố sân khấu - phụng quân vương, thiếp phụ chàng
Nhưng dẫu sao cũng không thể cắt nghĩa bài thơ một cách rõ ràng,
những tín hiệu liên văn bản mở ra lớp nghĩa tiềm ẩn của bài thơ Màu thời
gian là một tín hiệu mở: gợi nhớ chuyện xưa, không gian xưa ngưng đọng
trong hồi tưởng (ngàn xưa; không lạnh nữa; tần phi; nàng; tóc mây; dao
vàng; phụng quân vương ) tất cả xâu chuỗi lại, liên kết những câu chuyện
xưa của người để nói về chuyện xưa của mình Từ chuyện Lý phu nhân khôngmuốn Hán Võ Đế nhìn mặt nàng trước khi chết do sợ dung nhan tiều tụy sẽlàm vua mất vui Chuyện Dương Quý Phi khi ở trong cấm cung gửi món tóccho Đường Minh Hoàng đỡ nhớ [chú thích 78; 102 - 103] Nhưng người đọc
phải hoà mình vào quá trình sáng tạo: câu chuyện gợi ý nghĩa gì? "Màu thời
gian không nồng", "màu thời gian thanh thanh"," màu thời gian tím ngát" gợi
những cảm xúc gì? độc giả cần tự khám phá Phải chăng người phụ nữ muốnchống lại quy luật nghiệt ngã của thời gian, thời gian trôi chảy chẳng đợi chờ
ai và cuốn theo tất cả Cách duy nhất nàng có thể làm là hi sinh mình, hướng
về phu quân, như vậy tình yêu là bất diệt Trong Màu thời gian, thời gian như
có âm thanh, sắc màu, hương vị
Chúng ta có thể kết luận rằng Xuân Thu nhã tập là một hiện tượng thú vị
của văn học Việt Nam hiện đại Các nhà thơ trong nhóm xứng đáng được ghidanh trong bảng vàng danh dự của thơ ca Việt Nam, những người đã dám vượtqua chính mình, vượt qua lực cản của thời đại để sáng tạo, để rồi phải ghánh
chịu không ít búa rìu dư luận Về sau con đường mà Xuân Thu nhã tập khai
phá cũng chính là con đường mà nhiều thi sĩ tiếp tục dấn thân, con đường ấy
dù đã bớt đi ít nhiều chông gai nhưng vẫn còn đó những thử thách
1.2.2 Những tìm tòi tượng trưng từ Bích Khê đến Đinh Hùng
Trang 331.2.2.1 Bích Khê (1916-1946) là một trong những nhà thơ tượng trưng
điển hình của văn học Việt Nam Ông làm nhiều thơ, nhưng tác phẩm để đời
thực sự của ông chính là tập Tinh huyết, tập thơ được sáng tác trong thời kỳ
tuổi trẻ còn chứa chan bầu nhiệt huyết: tình yêu, khát vọng, niềm đam mê Nhưng gặp phải bệnh nan y, ông sớm qua đời ở tuổi 30, những dòng “tinhhuyết” ông để lại cho đời đã tạo ra một bước dài dẫn dắt các thế hệ nhà thơ sauđến với chủ nghĩa tượng trưng, thậm chí là tới miền siêu thực Hàn Mặc Tử vàBích Khê là những tác giả đã có những sáng tác chệch hướng chủ nghĩa lãngmạn nhưng Bích Khê có ý thức cách tân nghệ thuật rất rõ, sáng tác của ông rất
có chủ ý (Tên các tập, các bài thơ: 2 tập Tinh huyết; Tinh hoa, bài Sọ người;
Tranh loã thể; Xuân tượng trưng; Duy tân đã hàm chứa yếu tố tượng trưng).
Hàn Mặc Tử là một nhà thơ mà xuyên suốt hành trình thơ lãng mạn(1932 - 1945) không theo một trường phái nào Bắt đầu từ thơ cổ điển đến vớilãng mạn, bước sang tượng trưng rồi siêu thực, và cuối chặng đường thơ ông
đã gửi trọn đức tin thơ vào Thiên Chúa Trong lời giới thiệu tập Tinh huyết
của Bích Khê năm 1939, Hàn Mặc Tử đã thốt lên: “ta có thể sánh văn thơ củaBích Khê như một đoá hoa thần dị Lối tượng trưng và huyền diệu, ngời ánhnhư màu sắc Paul Valéry, cho ta nhận thấy thi sĩ đã chịu ảnh hưởng nhiều củatác giả tập thơ Charmes” [dẫn theo: 1; 5]
Trong phong trào Thơ mới Chế Lan Viên, Bích Khê và Hàn Mặc Tử,
chịu nhiều ảnh hưởng Baudelaire Trong thế giới Điêu tàn của Chế Lan Viên,
ta bắt gặp toàn những sọ người, hồn ma đầy ghê rợn Thơ Hàn Mạc Tử lại làmột thế giới đầy máu, rồi những thây người, cái chết, não cân Đó là thế giớichòng chành giữa hai bờ tượng trưng và siêu thực Ngược lại Bích Khê lại thi
vị hoá cái xấu, cái ghê rợn, nhuốc nhơ Không ai có thể tưởng tượng ra cái
sọ người trong thơ Bích Khê lại là một "khối mộng'', một "buồng xuân hơ hớ",
"chén ngọc đầy hương", hình ảnh sọ người với "miệng yêu kiều" thì quả thật
lạ lùng Nó như có hồn mà không gây cảm giác rùng rợn:
Trang 34Ôi khối mộng của hồn thơ chếnh choáng
Ôi buồng xuân hơ hớ cánh đào sương
Ôi bình vàng! Ôi chén ngọc đầy hương
Ôi hồ nguyệt dọng nhiều trăng lấp loáng (Sọ người - Bích Khê)
Sọ người, vật vô tri, gắn với thế giới tâm linh, vốn khủng khiếp trong
những câu chuyện ma quái lại có thể "hoà âm nhạc thơm tho" với chiếc "miệng
yêu kiều'', là bầu "sữa" làm ngọt ngào và xua tan cả "vạn sầu lo" Nếu không
phải là cách thi vị hoá của chủ nghĩa tượng trưng làm sao Bích Khê viết được
cái “sọ người” như thế Trong lời tựa tập Tinh huyết Hàn Mạc Tử viết: ''Thi sĩ
Bích Khê là người có đôi mắt rất mơ, rất mộng, rất ảo, nhìn vào thực tế thì sựthực sẽ biến thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao lại thấy xô sang địa hạthuyền diệu" [107; 12]
Trong Hiện hình, sự tương giao mầu nhiệm được diễn đạt bằng những
sự kết hợp ngôn từ thú vị: “Gió đi chới với”, “mặt hoa thơm tho mùi thịt”,
“người thiếu nữ hiện trong trăng”,“mát như xuân”, “người lộ mỏng như sương” Hiện hình có sự tương ứng giữa các giác quan hay sự tương giao
giữa những miền cảm xúc: “thơm tho mùi thịt”, “da thịt phô bày”, “ngọt tợ
hương”, “rào rạt nỗi cảm thương” Đến sự tương ứng về màu sắc: “khung trắng”, “khăn hồng”, “màu trăng”, “mây trắng” Đầu tiên là sự tương giao
trong cảm giác để rồi đi đến một sự tương giao tổng hoà: tương giao giữa conngười - thiên nhiên, tương giao giữa thơ - nhạc - hoạ, tương giao giữa hữuthực - vô thực, nhận thức - vô thức sự tương giao đan cài này khó mà táchbiệt, ta chỉ có thể nhận ra sự “Hiện hình” này bằng trực giác [dẫn ý: 1; 7]:
Nàng hé môi ra Bay điệu nhạc
Mát như xuân mà ngọt tợ hương Rào rạt như nỗi cảm thương Tiếng nhạc màu trăng quấn quýt nường
Trang 35Khá nhiều hình ảnh thơ Bích Khê cho thấy sự ảnh hưởng của nguyêntắc mỹ học và đặc điểm thơ tượng trưng Chủ nghĩa tượng trưng đề cao nhạctính trong thơ, họ quan niệm âm nhạc là nghệ thuật cao siêu nhất.Về nhạc tính
Xuân Diệu có Nhị hồ, Nguyễn Xuân Sanh có Tiếng địch Bích Khê đã thể
nghiệm sự cách tân qua hàng hàng loạt bài chỉ toàn vần bằng
Trong Hoàng hoa, những âm tố mang thanh bằng, đã tạo nên tính nhạc
cho toàn bài thơ, một âm hưởng du dương dìu dặt, âm thanh, màu sắc tươnggiao Thi nhân đã tạo nên những sắc màu của cảm giác, màu của tưởng tượng:
"màu lưng chừng", "màu phơi phới", "màu ôm vai gầy" những sắc màu
không thể pha chế, lại càng không thể tìm thấy trong đời thực Nhạc tính củathơ có được còn bởi sự vận dụng thủ pháp lặp: lặp từ, lặp ngữ, lặp cú pháp Sựtrở lại của các đơn vị ngữ âm tạo nên âm hưởng du dương, cảm giác êm tai.Câu thơ Bích Khê có thể hát lên được, hoặc chí ít cũng có thể đọc như hát Có
những câu thơ đầy ngân vang: Đây mùa hoàng hoa, mùa hoàng hoa Có khi
cấu trúc đồng đẳng cũng tạo nên hiệu quả thẩm mĩ:
- Ai xây bờ xanh trên xương người
- Ai xây mồ hoa chôn đời tươi
Thơ Bích Khê có sự tương giao giữa thơ và hoạ: "Khó phân biệt đượclúc nào ông dùng bút để viết, lúc nào ông vung cọ để vẽ, lúc nào ông vung đũa
để đánh nhạc Và cũng cần phân biệt nhạc trong thơ Bích Khê khác với nhạc
trong thơ Hàn Mặc Tử: nhạc trong thơ Hàn là nhạc thầm trong mỗi chữ, nhạc trong thơ Bích Khê là nhạc nổi trong thanh âm lạ, âm bằng Ở những bài thật
hay, thơ Bích Khê là sự hoà âm giữa các điệu nhạc cổ, như điệu hoàng hoa,điệu mộng cầm, bằng những màu sắc tân kỳ của hội hoạ hiện đại" [35; 1]
Thiên nhiên trong Hoàng hoa phần nhiều là ấn tượng, bằng vài đường
nét, như nét vẽ cây cọ, thi nhân cho ra đời những "bức tranh thơ'' với nghĩa
mơ hồ:
Trang 36Vàng phai nằm im ôm non gầy ;
Chim yên eo mình nương xương cây
Màu sắc tượng trưng trong Hoàng hoa còn thể hiện ở cách gợi những ý
niệm từ những liên hệ xa xôi Theo Thụy Kuê: ''Hoàng hoa'' nghĩa là hoa cúcvàng, cũng có thể hiểu là "hoàng hoa thú", người lính thú nơi chiến trường,hay "Hoàng hoa" là một điển cố, chỉ một miền đất Trung Hoa thời chiến quốc,nơi có giặc Hồ thường xuyên quấy phá, vì vậy ''hoàng hoa'' là biểu tượng củachiến trường, mùa cúc nở cũng là mùa trai tráng tòng quân, theo nghĩa này
"hoàng hoa", lại có thể hiểu, là ra trận, đi lính [dẫn ý: 35; 2- 3] Đọc Hoàng
hoa, người đọc phải phục hồi những nét nghĩa, lớp nghĩa đứt đoạn Có những
hình ảnh, những câu thơ tưởng như không thể hiểu nổi nhưng thơ tượng trưngBích Khê lại có thể nói được nhiều điều, ngôn từ Bích Khê là ngôn từ mở,
vừa rõ ràng lại vừa bí ẩn Thụy Khuê trong bài viết Nhạc và hoạ trong thơ
Bích Khê đã có những khám phá, đại ý: Có thể phục hồi sự gián đoạn trong Hoàng hoa bằng cách đối sánh với Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm:
Chinh phụ ngâm viết:
Thủa lâm hành oanh chưa bén liễu
Hỏi ngày về ước nẻo oanh ca
Còn thơ Bích Khê:
Oanh già theo quyên quên tin chàng !
Lại nữa, Chinh phụ ngâm có câu:
Hỏi ngày về chỉ độ đào bông Nay đào đã quyến gió đông Phù dung lại đã bên sông bơ xờ
Bích Khê chỉ buông một câu mà đã gợi rất nhiều, gợi cả chuyện xưa và
chuyện nay:
Đào theo phù dung: thư không sang
Trang 37Có thể nói Bích Khê là thi sĩ chịu ảnh hưởng một cách sâu sắc nhất, có
ý thức nhất, chủ nghĩa tượng trưng trong số các nhà thơ thuộc phong trào Thơ
mới 1932 - 1945
1.2.2.2 Thời tuổi trẻ, Đinh Hùng (1920-1967) phải chịu nhiều chấn
thương tâm lý do cái chết của nhiều người thân: chị gái Tuyết Hồng, mộtthiếu nữ tài sắc, cái chết làm chấn động cả Hà thành, rồi chị gái Loan, ông bàHàn, song thân của Thạch Lam, người bạn thân thiết nhất của Đinh Hùng,cũng lần lượt ra đi Và đặc biệt là cái chết của Liên, cô em họ xa mà ĐinhHùng yêu tha thiết Thi nhân đã diễn tả nỗi đau lòng mình bằng một sức mạnhđặc biệt và kì dị Để tránh xa hiện thực phũ phàng Đinh Hùng đã đi tìm mộtthế giới tượng trưng và vĩnh cửu:
Khi miếu đường kia phá bỏ rồi
Ta đi về phía những ánh sao rơi Lạc loài theo dấu chân cầm thú Từng vệt dương sa mọc khắp người (Những hướng sao rơi)
Nói đến Đinh Hùng và quá trình đổi mới thơ ca không thể không nói
đến Dạ đài, nhóm sáng tác mà Đinh Hùng là một thành viên Dạ đài quy tụ
những cây bút tâm huyết và giàu khát vọng như Trần Dần, Vũ HoàngChương, Vũ Hoàng Địch, Trần Mai Châu, những người luôn ấp ủ hoài bãolàm mới thơ Việt Họ đã có ý thức vượt lên trên quan niệm sẵn có để làm mộtcuộc tiếp biến, trước hết, là cấp độ lý thuyết còn thực tiễn sáng tác thì chưa cóđiều kiện để thể nghiệm
Quan niệm về thơ của Dạ đài đậm chất tượng trưng Họ muốn dứt bỏ những ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn Dạ đài muốn thi ca phải “trở về
cái bản năng mà thế tình che đậy Hãy mơ những giấc mơ cầm thú Hãy gợilên những cõi sống âm thầm Hãy đánh thức hư không, nghĩa là cả tấm lòng
xưa man rợ” [8; 1 - 2] Dạ đài vốn tâm huyết và xuất phát từ thuyết “tương
Trang 38ứng giữa các giác quan” nên rất đề cao tính nhạc trong thơ nhờ các hìnhtượng Âm nhạc của họ cũng được quan niệm rất lạ và có tính phát hiện mới,hình tượng có thể làm nên những điều tuyệt vời nhất, có quyền năng vô biên
Thơ Đinh Hùng, cũng như các tác giả trong nhóm, để hiểu được phảicảm bằng trực giác, kinh nghiệm, tiềm thức Mỗi câu thơ, từ ngữ trong thơĐinh Hùng vốn là những từ rất bình thường quen thuộc, người đọc tưởng như
đã hiểu mà thực ra chưa hiểu, có cảm giác vừa quen vừa lạ, mỗi ngôn từ mang
một sắc điệu lung linh vừa ở gần lại vừa rất xa xôi Trong Những hướng sao
rơi, bài thơ đưa độc giả vào một thế giới cổ xưa qua câu chuyện Hồ Nguyệt
Cô hoá cáo: Hồ Nguyệt Cô bị lừa mất viên ngọc là biểu tượng của nhân tính,
do khổ công tu luyện ngàn năm mới có nên bị hoàn kiếp thành cáo Trong quátrình hoàn kiếp đó lông mọc dần lên khắp người Những yếu tố gợi chuyện
xưa: "dấu chân cầm thú","vệt"," mọc khắp người" Nhưng ở đây, trong thơ Đinh Hùng, là "vệt dương sa’’, vệt nắng, nghĩa là con người được thiên nhiên hoá
chứ không phải bị vật hoá [dẫn ý: 87; 157]
Ngôn từ trong thơ Đinh Hùng thường rất sáng tạo Trong Người gái
thiên nhiên, chữ "thiên nhiên’’ vốn được dùng chỉ môi trường tự nhiên, nhưng
khi tác giả kết hợp với ''người gái'' thì cụm từ đã được tạo sinh, được hoá kiếp
mới Thiên nhiên giờ đây không chỉ là cỏ cây, muông thú mà còn là conngười:
Từng buổi hoàng hôn xuống lạ kì
Ta nằm trên cỏ lắng tai nghe Thèm ăn một chút hoa man dại, Rồi ngủ như loài muông thú kia (Người gái thiên nhiên)
''Hoa man dại'' không chỉ là hoa dại mà là hoa từ buổi hồng hoang, hoachứa đựng sức mạnh gì thần bí, phép màu hay ma thuật để rồi ăn xong làm
Trang 39cho con người trở về thời cổ sơ - "Rồi ngủ như loài muông thú kia'', trong thế
giới hồng hoang ấy, con người như loài muông thú, mới trở lại cái bản ngãcủa chính mình, mới được sống chính kiếp sống của mình: không giả dối,không lo âu, mộng mị
Và Đinh Hùng đã lạc vào thế giới tượng trưng, tựa như Lưu - Nguyễn
vào chốn Thiên Thai Nhưng tiên cảnh không níu được chân người, thi nhân quyết định“bỏ thiên nhiên huyền bí” để trở về với chốn đô thị tục tĩu của loài
người Dù có được lên tiên sống sung sướng đủ đầy, "một ngày trên trời bằngmười năm hạ giới'' thì vẫn bất hạnh khi trở về, ông trở về trong thân phận côđơn lạc loài của kẻ bị bỏ rơi, khác Từ Thức xưa chỉ là kẻ xa lạ trên quê
hương, bi kịch của ông, và cũng là của một thế hệ, lớn hơn Từ Thức: "người
vong bản'',"mất tinh thần".
Miệng quát hỏi: Có phải ngươi là bạn?
Ôi ngơ ngác một lũ người vong bản Mất tinh thần từ những thuở xa xôi (Bài ca man rợ)
Đinh Hùng, Người kiến trúc chiêm bao, (chữ dùng của Đỗ Lai Thúy),
đã kiến trúc một thiên nhiên ảo diệu, thần bí Thiên nhiên tự buổi hồng hoang,
còn tinh khôi, nguyên thuỷ Trong chốn hồng hoang tiên cảnh ấy, người thơ
cùng Người gái thiên nhiên kết tình ân ái "làm đôi người cô độc thủa sơ khai" (Người gái thiên nhiên)
Với Đinh Hùng, những sáng tác đầu tay của ông, Mê hồn ca, đã
nghiêng sang trường siêu thực, ngôn ngữ thơ được trau chuốt, lời thơ trở nêntrang trọng, ý tưởng thơ kỳ lạ, bí hiểm, những kết hợp ngôn từ mang chút gì
đó ngẫu nhiên:
Nhỡn tiền chợt sáng thiên cơ,
Biết chăng ảo phố mê đồ là đâu?
Ta say ánh lửa tinh cầu,
Trang 40Dựng lên địa chấn, loạn màu huyền không.
(Sông Núi giao thần) Trong Mê hồn ca, thi nhân đưa ta vào một thế giới chiêm bao, thế giới
của những giấc mơ kì lạ, thế giới con người từ buổi hồng hoang Đó là một thế
giới của cõi vô thức, nơi thi nhân đã đến tự kiếp nào Không gian trong Mê hồn
ca là một không gian siêu thực, mộng mị, lẫn lộn giữa cõi dương và cõi âm:
Rồi những đêm sâu bỗng hiện về,
Vượn lâm tuyền khóc rợn trăng khuya.
Đâu đây u uất hồn sơ cổ, Từng bóng ma rừng theo bước đi.
(Những hướng sao rơi).
Thơ Đinh Hùng đã vượt qua giới hạn của thơ ca lãng mạn và tiếp cậnbến bờ siêu thực: "Mê hồn ca được kiến tạo không phải để phản ánh hoặc tô
điểm cho thế giới thực tại, mà độc lập với thế giới thực tại Đây là điều hầu như không có ở các nhà thơ lãng mạn" [87; 178]
Trong một giai đoạn không dài của lịch sử (1930 - 1945), văn học Việt
Nam đã trải qua nhiều trào lưu sáng tác Từ lãng mạn, đến tượng trưng rồi
siêu thực Ba trào lưu thơ đã tích hợp qua khá nhiều tác giả, tác phẩm, làmcho Thơ mới trở nên giàu có, đa sắc, đa thanh Nhiều thập kỷ trôi qua, ít aichú ý đến Đinh Hùng chỉ vì ông không được Hoài Thanh - Hoài Chân đưa
vào Thi nhân Việt Nam Nhưng tài thơ của ông thì không thể nào phủ nhận.
Tên tuổi của ông dần được hồi sinh khi những nhà thơ thế hệ sau chịu ảnhhưởng phong cách Đinh Hùng
1.3 Các thể nghiệm thơ từ 1945 đến 1954
1.3.1 Thơ tự do, không vần của Trần Mai Ninh, Nguyễn Đình Thi
1.3.1.1 Trần Mai Ninh (1917 -1947), quê gốc ở huyện Thanh Oai - Hà
Đông, gia đình lại định cư ở Thanh Hoá Ông được sinh ra tại Hương Khê
-Hà Tĩnh Lớn lên và học tiểu học ở Vinh, học trung học ở Thanh Hoá, ra -Hà