MỤC LỤCMỞ ĐẦU11.Lý do chọn đề tài11.1.Lý do khoa học11.2.Lý do thực tiễn12.Lịch sử vấn đề23.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu74.Đối tượng nghiên cứu, phạm vi tư liệu nghiên cứu75.Phương pháp nghiên cứu86.Bố cục luận văn8NỘI DUNG9CHƯƠNG 1: TIỀN ĐỀ LỊCH SỬ9VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG BÙI VĂN DỊ91.1.Tiền đề lịch sử91.1.1.Kinh tế chính trị91.1.2Văn hóa141.1.3.Văn học151.2.Cuộc đời và sự nghiệp Bùi Văn Dị181.2.1.Cuộc đời và sự nghiệp chính trị181.2.2.Sự nghiệp văn chương24Tiểu kết chương 1:27CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG THƠ BÙI VĂN DỊ282.1.Tâm sự trung quân “ưu quốc”292.1.1.Nỗi thẹn “quốc ân vị báo”302.1.2.Ca ngợi con người tài đức362.1.3.Khát vọng đất nước độc lập, thái bình382.2.Chân dung tâm hồn thi sĩ472.2.1.Tình yêu thiên nhiên482.2.2.Tình cảm riêng tư542.2.3.Nỗi niềm hoài cổ và tâm sự cô đơn57Tiểu kết chương 2:62CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT THƠ BÙI VĂN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
- -BÙI HƯƠNG DUNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG
VÀ NGHỆ THUẬT THƠ BÙI VĂN DỊ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Hoa Lê
HÀ NỘI, NĂM 2016
LỜI CẢM ƠN
Trang 2Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Trần Thị Hoa Lê
-người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình tôi trong suốt quá trình nghiêncứu và hoàn thành Luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy giáo cô giáo trong
tổ Văn học Việt Nam, ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, phòng Sau đại học trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoànthành Luận văn này
-Hà Nội, ngày … tháng …… năm 2016
Tác giả Luận văn
Bùi Hương Dung
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4và tác phẩm của họ là vô cùng quan trọng, nhất là những tác giả và tác phẩmvăn học chưa được phổ biến rộng rãi.
Thơ văn nửa sau thế kỉ XIX có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiếntrình văn học Việt Nam Các tác gia đã làm cho văn học nửa sau thế kỷ XIXhiện lên một cách phong phú, đa dạng và chân thực Bên cạnh những tên tuổinhư Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xươngcòn có rất nhiều những tác gia khác Ở luận văn này, chúng tôi sẽ đề cập đếnmột trong những tác giả ấy, đó là nhà thơ Bùi Văn Dị
Bùi Văn Dị thường được biết đến là một vị quan thanh liêm, chính trực,hết lòng vì nước, vì dân, nhưng đồng thời cũng là một nhà thơ yêu nước nửasau thế kỷ XIX – thời kỳ đầy biến động của dân tộc Nhiều người đánh giácao về thơ ông ở cả phương diện về nội dung và nghệ thuật như Hậu học LưGiang - Văn Đào tử Bùi Hữu Tạo, Tuy Lý quận vương Vi Dã lão nhân,Nguyễn Văn Huyền, Giáo sư Đinh Xuân Lâm, ngay cả Nhị phẩm Tú chínhđại phu Nghê Mậu Lễ và Tiến sĩ Long Văn Bân người Trung Quốc cũng hếtlời khen ngợi Hơn nữa, số lượng tác phẩm Bùi Văn Dị tương đối lớn (gần
600 bài) nhưng mới chỉ được nghiên cứu ở mức độ khái quát ngắn gọn hoặc
đi vào cụ thể từng tập thơ mà chưa bao quát được toàn bộ hệ thống tác phẩm
Vì vậy, việc nghiên cứu đặc điểm nội dung và nghệ thuật trong thơ ông sẽ gópphần vào sự nghiệp nghiên cứu văn học trung đại nước nhà, khẳng định thêm
sự phong phú của kho tàng văn học nghệ thuật dân tộc
1.2. Lý do thực tiễn
Trang 5Trong chương trình Ngữ văn các cấp, văn học yêu nước có vai trò vôcùng quan trọng Bộ phận văn học này góp phần nuôi dưỡng tinh thần yêunước, yêu hòa bình cho học sinh.
Thơ Bùi Văn Dị chưa được đưa vào chương trình đào tạo các cấp họcnhưng việc tìm hiểu đặc điểm nội dung và nghệ thuật trong thơ ông sẽ bổsung thêm nguồn tư liệu bổ ích cho việc so sánh, đối chiếu với các tác giả, tácphẩm đồng đại và lịch đại đã được đưa vào nhà trường
2. Lịch sử vấn đề
Các công trình nghiên cứu về Bùi Văn Dị được chia thành hai nhóm cơbản sau:
2.1. Công trình giới thiệu tác giả và văn bản thơ Bùi Văn Dị
Công trình của các học giả:
Năm 1962, trong sách Lược truyện các tác gia Việt Nam, Tập 1: Tác
gia các sách Hán Nôm [5], Trần Văn Giáp giới thiệu Bùi Văn Dị sinh năm
1931 nhưng không rõ năm mất; tóm tắt ngắn gọn sự nghiệp chính trị và nêu
tên 6 tập thơ: Du Hiên tùng bút, Du Hiên thi thảo, Vạn lý hành ngâm, Tốn Am
thi sao, Trĩ Chu thù xướng tập Đến năm 1984, ông giới thiệu các trước tác
của Bùi Văn Dị trong cuốn Tìm hiểu kho sách Hán Nôm Việt Nam [6].
Năm 1981, trong cuốn Văn học yêu nước và cách mạng Hà Nam Ninh
[11], Nguyễn Văn Huyền giới thiệu sơ lược về cuộc đời Bùi Văn Dị và tuyển
dịch, giới thiệu 17 bài thơ trong tập Du hiên thi thảo và 4 bài trong tập Tốn
Am thi sao Đến năm 1993, trong cuốn Tổng tập văn học Việt Nam, tập 17
[12], ông tiếp tục giới thiệu sơ lược về tiểu sử Bùi Văn Dị (sinh năm 1831,
không rõ năm mất) và phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ 10 bài trong Du Hiên
thi thảo và 1 bài trong Tốn Am thi sao.
Năm 1993, trong Di sản Hán Nôm Việt Nam – thư mục đề yếu [26],
Trần Nghĩa và Francois Gros đã giới thiệu về Bùi Văn Dị với các bút danhcùng sáng tác của ông
Trang 6Cũng trong năm này, cuốn Thơ đi sứ [36] của Phạm Thiều và Đào Bình
Phương đã giới thiệu tên tự, tên hiệu và quê quán của Bùi Văn Dị, đồng thờituyển dịch 6 bài thơ được làm trong thời gian đi sứ
Năm 1997, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (In lần thứ tư) [33],
Nguyễn Quang Thắng, Nguyễn Bá Thế nói Bùi Dị, cũng gọi là Bùi Văn Dị,sinh năm 1832, không rõ năm mất đồng thời khái quát về tên tự tên hiệu và sự
nghiệp làm quan Tác giả dẫn bài thơ Nhị nguyệt, thập cửu, nhị thập liên nhật
quan quân dữ tha giao chiến (Liền hai ngày 19 và 20 tháng hai, quan quân
giao chiến với địch) của tập Du Hiên thi thảo.
Năm 2002, trong cuốn Tên tự, tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam
[23], Trịnh Khắc Mạnh giới thiệu về tên tự và tên hiệu của Bùi Văn Dị: ÂnNiên, Châu Giang, Du Hiên, Hải Nông và Tốn Am Trong phần giới thiệu vềtên hiệu Tốn Am, Trịnh Khắc Mạnh nêu vài nét về các giai đoạn làm quan và
tên 7 tập thơ do Bùi Văn Dị sáng tác (Du hiên thi thảo, Du hiên thi tự, Du
hiên thi, Du hiên tùng bút, Đại châu sứ bộ xướng thù, Tốn Am thi sao, Vạn lý hành ngâm), ông tham gia biên soạn sách Trĩ Chu thù xướng tập và bình
phẩm trong cuốn Giá viên toàn tập; liệt kê 8 tên sách có tác phẩm của Bùi Văn Dị (Biểu chiếu phú hợp tuyển, Cử nghiệp thi tập, Chư danh gia thi, Chư
đề mặc, Danh thần bút lục, Quốc triều danh nhân mặc ngân, Thi ca tạp biên, Thi thảo tạp biên).
Năm 1995, trong cuốn Bùi Văn Dị - Nhà thơ yêu nước thế kỉ XIX [13], Nguyễn Văn Huyền phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ 40 bài thơ trong tập Tốn
Am thi sao, 9 bài trong tập Vạn lý hành ngâm, 22 bài trong tập Du hiên thi thảo Đây có thể được coi là công trình tương đối hoàn chỉnh đầu tiên về cuộc
đời và thơ của Bùi Văn Dị
Năm 2004, Từ điển văn học [8] của Đỗ Đức Hiểu đã giới thiệu khái
quát về con người và tên các tập thơ của Bùi Văn Dị
Các luận văn:
Trang 7Năm 2010, trong luận văn Thạc sĩ Khảo cứu văn bản “Du hiên thi
thảo” của Bùi Văn Dị [4], Phạm Thị Gái, đã giới thiệu về cuộc đời và sự
nghiệp Bùi Văn Dị, đồng thời tuyển chọn, phiên âm, dịch nghĩa 32 bài thơ
trong Du hiên thi thảo.
Năm 2013, trong luận văn Thạc sĩ Khảo sát văn bản và nghiên cứu giá
trị “Tốn Am thi sao” của Bùi Văn Dị [40], Nguyễn Văn Trung đã giới thiệu
về cuộc đời và sự nghiệp Bùi Văn Dị, đồng thời phiên âm, dịch nghĩa 26 bàicủa tập thơ này
Năm 2014, trong luận văn Thạc sĩ Khảo sát văn bản và nghiên cứu giá
trị tập thơ “Vạn lý hành ngâm” của Bùi Văn Dị [10], Nguyễn Thị Thúy
Hương, đã giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp Bùi Văn Dị, đồng thời phiên
âm và dịch nghĩa 31 của tập thơ
Năm 2014, trong luận văn Thạc sĩ Khảo cứu văn bản “Trĩ Chu thù
xướng tập” của Bùi Văn Dị [39], Nguyễn Thị Thư đã giới thiệu về cuộc đời
và sự nghiệp Bùi Văn Dị, đồng thời phiên âm, dịch nghĩa 24 bài thơ trong tậpnày
Trong các luận văn này, ngoài việc nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệpBùi Văn Dị, các tác giả còn lựa chọn thiện bản các tập thơ Việc lựa chọnthiện bản của một tác phẩm văn học có ý nghĩa rất lớn và đặc biệt có ích đốivới hoạt động nghiên cứu nội dung và nghệ thuật của tác phẩm đó
2.2. Công trình nghiên cứu về giá trị văn chương Bùi Văn Dị
Công trình của các học giả:
Năm 1993, cuốn Thơ đi sứ [36] đánh giá cao thơ văn Bùi Văn Dị,
khẳng định “Thơ Bùi Văn Dị làm khi đi sứ tiêu biểu cho tâm sự của một số sĩphu lúc bây giờ Đó là tâm sự buồn u ẩn trong khi nước mất mà mình bấtlực…Thơ Bùi Văn Dị giàu cảm xúc Nhiều bài độc đáo về mặt diễn tả”
Năm 1995, trong cuốn Bùi Văn Dị - Nhà thơ yêu nước thế kỉ XIX [13]
Nguyễn Văn Huyền đã nhận xét rằng: ông có một “cuộc đời hiển hách nhưngcũng trĩu ưu tư, sầu muộn; một năng lực thi ca uẩn súc và tài hoa”[tr10] Giáo
Trang 8sư sử học Đinh Xuân Lâm cũng nhận xét về “Những bài thơ sáng tác trongthời gian ra Bắc tham gia chống Pháp thể hiện tình yêu nước thiết tha, nỗiquan hoài lớn lao trước thời cuộc và quyết tâm sắt đá của văn thân họ Bùimuốn đóng góp cho công cuộc bảo vệ độc lập dân tộc” [tr6] Trần Lê Vănkhông ngần ngại nói: “Thơ Bùi Văn Dị là một hợp lưu trong dòng văn họcyêu nước Đó cũng là một cây đàn có nhiều cung bậc phong phú Có dángmây bay, có tiếng suối chảy, có giọng bình văn dịu êm, có tiếng gươm khuahùng tráng Có tiếng phẫn nộ với kẻ thù, có lời âm thầm tự trách Có vần thơtâm sự với non sông, có vần thơ thủ thỉ xót thương với người bạn đời đãkhuất…” [tr38] Tuy Lý quận vương Vi Dã lão nhân từng nhận xét về tập thơ
bao trùm cả đời thơ Bùi Văn Dị (Tốn Am thi sao) rằng: “ý thơ trầm lắng mà
sâu xa, tiết tháo uất kết mà uyển chuyển, ngôn từ chặt chẽ mà trong sáng,khoáng đạt So với cổ nhân cũng không thua kém mấy” [tr47] Ngay cả Nhịphẩm Tú chính đại phu Nghê Mậu Lễ, người Trung Quốc, cũng phải công
nhận tài năng văn chương của ông khi tiếp xúc với tập Vạn lý hành ngâm: “…
thơ gửi ý sâu, lời ra thật khéo Tất cả điều đó đều do bản tính mà ra, tuyệtkhông tơ hào tô điểm Điều mà người ta bảo là không cầu kỳ một chữ mà vẫntoát vẻ phong lưu là vậy chăng? Song đây mới chỉ là nhìn một cái đốm màthôi Nếu như được xem cả con báo thì mới thấy hết vẻ hoa lệ Lại cũngkhông dám dùng ngôn từ mỹ miều mà tán dương đâu” [tr79] Ngoài ra, thơBùi Văn Dị còn nhận được nhiều lời khen ngợi từ nhiều người khác như vua
Tự Đức, Bùi Hữu Tạo, Dương Ân Thọ…
Năm 2004, trong cuốn Từ điển văn học [8], Đỗ Đức Hiểu đã trích lời
nhận xét của Nguyễn Huệ Chi về thơ Bùi Văn Dị: “Trong thơ Bùi Văn Dị,con người chức năng phận vị không hề trùm lấp con người thi nhân…thơ ôngvọng lên âm ba của cuộc sống thật Chất liệu của thơ là những tình huống rất
cụ thể, do ông trải nghiệm Có thể đấy là những hiện tượng thời sự xã hội khácập nhật nhưng đều thông qua cảm xúc của một tâm trạng nên trở thành tiếngnói của riêng ông” Nguyễn Huệ Chi kể đến một số đối tượng được đưa vào
Trang 9thơ Bùi Văn Dị như cảnh lụt, trường thi, cảnh đêm khuya, cảnh chiến trận,niềm vui chiến thắng v.v… Ông nói thêm: “Tâm thế thời đại khiến cho thơBùi Văn Dị mang một âm hưởng trầm buồn, hiếm hoi lắm mới có một niềmvui bất chợt”.
Luận văn:
Năm 2010, Phạm Thị Gái, trong luận văn Thạc sĩ Khảo cứu văn bản
“Du hiên thi thảo” của Bùi Văn Dị, đã giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp văn
chương Bùi Văn Dị, đồng thời nghiên cứu cụ thể giá trị nội dung và nghệthuật của tập thơ
Năm 2013, Nguyễn Văn Trung, trong luận văn Thạc sĩ Khảo sát văn
bản và nghiên cứu giá trị “Tốn Am thi sao” của Bùi Văn Dị, đã giới thiệu về
cuộc đời và sự nghiệp văn chương Bùi Văn Dị, đồng thời công trình cũng
nghiên cứu giá trị nội dung và nghệ thuật của Tốn Am thi sao.
Năm 2014, Nguyễn Thị Thúy Hương, trong luận văn Thạc sĩ Khảo sát
văn bản và nghiên cứu giá trị tập thơ “Vạn lý hành ngâm” của Bùi Văn Dị,
đã giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp văn chương Bùi Văn Dị, đồng thời
nghiên cứu cụ thể giá trị nội dung và nghệ thuật của Vạn lý hành ngâm.
Năm 2014, Nguyễn Thị Thư, trong luận văn Thạc sĩ Khảo cứu văn bản
“Trĩ Chu thù xướng tập” của Bùi Văn Dị, đã giới thiệu về cuộc đời và sự
nghiệp văn chương Bùi Văn Dị, đồng thời tìm hiểu cụ thể nội dung và nghệthuật của tập thơ
Tổng hợp các công trình nghiên cứu trên đây, chúng tôi thấy rằng, cónhiều công trình đề cập đến Bùi Văn Dị nhưng chỉ dừng lại ở việc giới thiệutên, quê quán, ngay cả năm sinh năm mất cũng chưa rõ ràng, không thốngnhất; giới thiệu tên một số tập thơ, văn Số lượng công trình nghiên cứu giá trịthơ văn ông không nhiều và chủ yếu ở chuyên ngành Hán Nôm, hơn nữa đều
ở mức lẻ tẻ theo từng tập thơ chứ chưa bao quát được toàn bộ sự nghiệp vănchương của ông
Trang 10Có thể khẳng định, đề tài Nghiên cứu đặc điểm nội dung và nghệ
thuật thơ Bùi Văn Dị là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tổng thể về
đặc điểm nội dung và nghệ thuật thơ Bùi Văn Dị
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu nội dung và nghệ thuật thơ Bùi Văn Dị,luận văn góp phần khẳng định vai trò, vị trí của thơ Bùi Văn Dị trong văn họcnửa sau thế kỷ XIX và trong toàn bộ nền văn học dân tộc
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo sát, thống kê, phân loại, phân tích những vấn đề về nội dung chủ yếu vànhững đặc sắc về nghệ thuật trong thơ Bùi Văn Dị
- Tiến hành so sánh ở mức độ nhất định về đặc điểm nội dung và nghệ thuậttrong thơ Bùi Văn Dị với đặc điểm nội dung và nghệ thuật trong thơ của cácnhà thơ khác để thấy được nét riêng của tác giả
- Đưa ra những đánh giá khách quan về giá trị về thơ của Bùi Văn Dị đối vớinền văn học dân tộc nói chung và thời kỳ văn học trung đại Việt Nam nóiriêng thông qua những bài thơ đã được phiên dịch
4. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi tư liệu nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Những đặc điểm về nội dung phản ánh và hình thức nghệ thuật được
sử dụng trong thơ Bùi Văn Dị
- Một số vấn đề về cuộc đời của Bùi Văn Dị, nhất là những yếu tố ảnh hưởngđến quan niệm sáng tác của ông
4.2. Phạm vi tư liệu nghiên cứu
Chúng tôi kết hợp phần văn bản trong các tài liệu sau:
71 văn bản thơ trích dịch từ Tốn Am thi sao, Vạn lý hành ngâm, Du
hiên thi thảo trong tài liệu số 13.
6 văn bản thơ trích dịch từ các tập thơ làm khi đi sứ trong tài liệu số 35
32 văn bản thơ được trích dịch từ Du hiên thi thảo trong tài liệu số 4.
Trang 1126 văn bản thơ được trích dịch từ Tốn Am thi sao trong tài liệu số 38.
31 văn bản thơ được trích dịch từ Vạn lý hành ngâm trong tài liệu số
5. Phương pháp nghiên cứu
Căn cứ vào mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn,chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
5.1. Phương pháp phân tích tác phẩm văn học:
Phân tích đặc điểm về nội dung và nghệ thuật trong thơ Bùi Văn Dị
5.2. Phương pháp văn học sử:
Đặt Bùi Văn Dị và tác phẩm của ông vào bối cảnh lịch sử của xã hộiViệt Nam nửa sau thế kỷ XIX để hiểu được tư tưởng, quan niệm của ôngtrong thơ và trong cuộc sống, qua đó hiểu được vị trí của ông trong lịch sử vàtrong nền văn học dân tộc
5.3. Phương pháp so sánh văn học:
Tiến hành so sánh những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật trong thơBùi Văn Dị với những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật trong thơ của cáctác giả khác thời trung đại, từ đó thấy được nét riêng của nhà thơ
5.4. Thao tác thống kê, phân loại
Chúng tôi sử dụng phương pháp trong một số trường hợp cụ thể khi cầnkhảo sát một đặc điểm nào đó về nội dung hoặc nghệ thuật của thơ Bùi VănDị
6. Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính củaluận văn gồm 3 chương:
Trang 12Chương 1: Tiền đề lịch sử và sự nghiệp văn chương Bùi Văn Dị (từtrang 9 đến 27).
Chương 2: Đặc điểm nội dung thơ Bùi Văn Dị (từ trang 28 đến 61).Chương 3: Đặc điểm nghệ thuật thơ Bùi Văn Dị (từ trang 62 đến 88)
NỘI DUNGCHƯƠNG 1: TIỀN ĐỀ LỊCH SỬ
VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG BÙI VĂN DỊ
1.1. Tiền đề lịch sử
Nửa sau thế kỷ XIX là giai đoạn diễn ra rất nhiều biến động lớn về mọimặt Chính trị, kinh tế, văn hóa thời kỳ này gắn liền với cuộc chiến tranh xâmlược của thực dân Pháp và cuộc chiến đấu anh dũng chống kẻ thù, điều nàyảnh hưởng sâu sắc đến nền văn học của dân tộc
1.1.1. Kinh tế - chính trị
a) Chính trị
Nửa cuối thế kỷ XIX, dưới sự thống trị của nhà nước phong kiến, đấtnước ngày càng trở nên lạc hậu so với xu thế chung của thời đại đồng thời trởthành mục tiêu của các đế quốc phương Tây Ngày mùng 1 tháng 9 năm 1858,Pháp nổ súng đánh chiếm bán đảo Sơn Trà, chính thức mở màn xâm lượcViệt Nam Triều đình cử Nguyễn Tri Phương chỉ huy kháng chiến, huy độngnhân dân thực hiện kế sách “vườn không nhà trống”, gây cho Pháp nhiều khókhăn nhưng bước đầu thất bại Tháng 2 năm 1859, liên quân Pháp và Tây BanNha chiếm được thành Gia Định nhưng gặp phải sự chống đối kịch liệt củanhân dân nên chúng buộc phải phá hủy thành và rút xuống thuyền Lúc này,thực dân Pháp cũng đang bị sa lầy ở các chiến trường Italia, Trung Hoa… nênkhông thể viện trợ cho chiến trường ở Việt Nam Pháp rơi vào cảnh tiến thoáilưỡng nan Tranh thủ cơ hội này, nhân dân tiếp tục chống phá quân giặc đến
Trang 13tận tháng 7 năm 1860 Giữa lúc phong trào kháng chiến của nhân dân dângcao, triều đình lại chuyển từ thế quyết tâm chống trả sang vừa thương thuyếtvừa đánh cầm chừng, đồng thời quyết định ký Hiệp ước Nhâm Tuất(05/06/1862) Đến năm 1867, sáu tỉnh Nam kỳ đã rơi vào tay giặc
Ngay sau khi chiếm được Nam Kỳ, Pháp âm mưu xâm lược Bắc Kỳ.Ngày 20 tháng 11 năm 1873, Garnier kéo quân ra Bắc, chiếm thành Hà Nộinhưng đến tháng 12 thì bị Lưu Vĩnh Phúc tiêu diệt Lúc này, cục diện chiếntranh thay đổi có lợi cho ta, nhưng triều đình nhà Nguyễn lại bỏ lỡ cơ hội tiêudiệt giặc, ra lệnh bãi binh, giải tán các đội dân binh để thương lượng với Pháp
kí Hiệp ước Giáp Tuất (15/03/1874) Pháp nghiễm nhiên thoát khỏi thế bị tiêudiệt Đây là Hiệp ước bất bình đẳng thứ hai mà nhà Nguyễn ký với thực dânPháp, thừa nhận chủ quyền sáu tỉnh Nam Kỳ thuộc về Pháp, nền ngoại giaonước ta cũng lệ thuộc vào đường lối ngoại giao của nước Pháp Hiệp ước mộtlần nữa chứng tỏ thái độ nhu nhược của triều đình nhà Nguyễn, đi ngược lạilợi ích của nhân dân Điều này dẫn đến việc ngày càng xuất hiện nhiều phongtrào đấu tranh ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ
Năm 1876, chuyến đi sứ nhà Thanh đầu tiên diễn ra kể từ khi kí Hiệpước Giáp Tuất năm 1874, do Bùi Văn Dị dẫn đầu sứ đoàn Cần nói thêm, từlâu Pháp đã luôn nung nấu ý định xâm lược Trung Quốc Vì vậy, cuộc đi sứlần này gây ra rất nhiều tranh luận, liên quan trực tiếp đến vấn đề chính trịgiữa nước ta, Pháp và Trung Hoa Ngày 19 tháng 7 năm 1876, Rheinart (viênchức người Pháp đại diện cho chính quyền bảo hộ ở Trung Kỳ, điều hành việccai trị) viết: “Sứ bộ sắp đi Trung Hoa năm nay sang bên đó không phải chỉ đểchúc mừng Thiên tử mới, mà còn để dâng những cống phẩm mà quốc vương
An Nam phải nộp cho Trung Hoa ba năm một lần, với tư cách là nước chưhầu” [41, tr151], tức là, theo Rheinart, nước ta lúc bấy giờ tuy danh nghĩa làmột nước độc lập nhưng thực tế vẫn là nước chư hầu của Trung Hoa Ngày 27tháng 9 năm 1876, Kergaradec (Tổng Lãnh sự Pháp ở Bắc Kỳ) lại nêu quanđiểm khác: “Theo lời người ta nói với tôi, đây là sứ bộ mà triều đình Huế cử
Trang 14sang Trung Hoa ba năm một lần, theo một thông lệ từ xưa, và không có tínhchất đặc biệt nào khác Có thể tin đó là sự thật, vì những người được cử đi đều
là quan chức cấp thấp” [41, tr151] Khi nói chuyện với Bùi Văn Dị,Kergaradec cũng biết thêm rằng sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Bùi Văn Dịvẫn phải đến thăm đại sứ Pháp nếu được sự đồng ý của các quan chức TrungHoa được giao việc tiếp ông Có thể thấy, quân Pháp có phần lo ngại vềchuyến đi này bởi chúng nghi ngờ triều đình Huế cử người đi sứ để cầu việnchính quyền Trung Hoa giúp Việt Nam chống Pháp Dù lo lắng nhưng chúngkhông thể ngăn cản Rheinart buộc phải coi như sứ bộ không thực hiện nhiệm
vụ nào khác ngoài việc Bùi Văn Dị cùng với phái đoàn mang theo “nhữngcống phẩm ít giá trị (30 thanh quế, 3 cân gỗ trầm, 1 sừng tê, 1 cặp ngà voi và
100 xấp lụa), sứ bộ phải dâng hai bức thư, một thư để dâng cống phẩm và mộtthư để tạ ơn về việc Trung Hoa đã giúp Việt Nam chống Lý Dương Tài” [41,tr153] Tuy nhiên tên này cũng không khẳng định mục đích của sứ đoàn chỉ
có vậy Người Pháp coi chính sách đi sứ này là cách mà Việt Nam gắn chặtmối quan hệ giữa nước chư hầu và thượng quốc Nếu mối quan hệ này cànggắn chặt thì âm mưu chiếm Trung Quốc của chúng sẽ ngày càng đi vào thấtbại Nhưng trong thực tế, việc đi sứ nhà Thanh chỉ thể hiện quan hệ bang giaomang tính truyền thống giữa nước ta và Trung Quốc, thậm chí Tự Đức còn tỏ
ra khá xa lánh nước láng giềng Thư từ trao đổi chỉ là hình thức, đặc biệt làkhông hề đề cập đến các hoạt động của người Pháp Mặt khác, lúc này ởTrung Quốc cũng diễn ra nhiều cuộc nổi loạn, không có thời gian quan tâmđến Việt Nam; hơn nữa, họ không được thông tin về Việt Nam vì đường liênlạc giữa hai nước bị quân Thái Bình Thiên quốc cắt đứt, đồng thời chínhquyền Tự Đức cũng không hề muốn cung cấp thông tin cho họ
Từ sau Hiệp định năm 1874, thực dân Pháp ra sức tiến hành âm mưuchiếm toàn bộ Việt Nam Tháng 4 năm 1882, địch đã nổ súng, thành Hà Nộithất thủ Tháng 5 năm 1883, dưới sự trợ giúp của quân đội Trung Hoa, quânPháp bị ta giáng một đòn nặng nề ở Cầu Giấy, Rivière và nhiều quan lính bị
Trang 15giết Chiến thắng này có tác dụng cổ vũ tinh thần rất lớn đối với nhân dân.Khâm sai Phó Kinh lược sứ Bắc Kỳ Bùi Văn Dị khi đang ở chiến trường Ninh
Thái, nghe tin đã rất sung sướng, tự hào: Nhĩ thủy hà ưu bất cách hiều/ Thăng
Long vượng khí vị hoàn tiêu (Lo gì sông Nhị chẳng lột được da lũ cú vọ/
Vượng khí Thăng Long chưa hẳn đã tiêu tan hết) Trước đó, vào cuối tháng 3,Bùi Văn Dị cũng đã chỉ huy quân đánh phá đồn địch bên bờ sông Hồng thànhcông Ngày 19 tháng 7 năm 1883, vua Tự Đức mất, Tôn Thất Thuyết vàNguyễn Văn Tường đưa Hiệp Hòa lên ngôi Nhưng vị vua trẻ chủ trương hòabình này lại bị hai quan phụ chính ép uống thuốc độc mà chết Hoàng tử KiếnPhúc được đưa lên thay Pháp chiếm Thuận Hóa rồi quyết định đánh thẳngvào Huế, áp đặt Hiệp ước Hác – măng ngày 25 tháng 8 năm 1883 buộc triềuđình công nhận Nam Kỳ là thuộc địa, Bắc Kỳ là đất bảo hộ của Pháp, cònTrung Kỳ, chúng đưa Đồng Khánh lên ngôi, quản lý dưới sự điều khiển củaPháp Vấn đề ngoại giao, quân sự và kinh tế đều do Pháp nắm giữ Lúc này,Pháp chính thức biến Việt Nam thành một nước thuộc địa nửa phong kiến.Ngày 6 tháng 6 năm 1884, Pháp ký Hiệp ước Pa – tơ – nốt với triều đình Huế,khẳng định sự thành công của thực dân Pháp trong việc xâm lược Việt Nam.Lúc này, triều đình phân thành hai phe chủ chiến và chủ hòa, trong đó đứngđầu phe chủ chiến là Tôn Thất Thuyết Tháng 8, vua Hàm Nghi lên ngôi đã raChiếu Cần Vương, kêu gọi nhân dân cùng vua cứu nước Từ năm 1885 đến
1913, các phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế và phong trào chốngPháp của đồng bào miền núi liên tiếp diễn ra, gây cho Pháp nhiều phen náoloạn, quyền thế lung lay nhưng cuối cùng đều thất bại Pháp tiến hành đợtkhai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914)
Các phong trào khởi nghĩa bị Pháp đàn áp hết sức dã man, lần lượt tan
rã nhưng không thể dập tắt lòng yêu nước của dân tộc ta Bùi Văn Dị cũngluôn nung nấu tinh thần yêu nước, khát vọng đánh đuổi quân thù
b) Kinh tế
Trước khi thực dân Pháp xâm lược, kinh tế nước ta chủ yếu vẫn là nềnkinh tế nông nghiệp lạc hậu, quan hệ phong kiến bóc lột lại càng làm cho nền
Trang 16kinh tế không có những tiến bộ lớn Bên cạnh đó, thủ công nghiệp và thươngnghiệp lại có những bước tiến đáng kể nhưng cũng chỉ nhằm giải quyết cácnhu cầu về xây dựng, giao thông, sản xuất những sản phẩm thiết yếu cho triềuđình và dân cư Các cơ sở khai thác khoáng sản của nhà nước cũng chỉ dùngcác phương pháp thủ công.
Kể từ khi Pháp xâm lược, nền công nghiệp chính thức xuất hiện ở nước
ta Pháp cho xây dựng các cơ sở công nghiệp nhằm phục vụ chiến tranh ởViệt Nam và nhu cầu đời sống cho quân đội Pháp Năm 1864, họ cho xâydựng nhà máy Ba Son – nhà máy đóng tàu đầu tiên ở Hải Phòng Năm 1867,
họ tiếp tục xây dựng một số cơ sở chế biến, nhà máy cưa; năm 1874, lập hãngrượu bia và mở một số cơ sở sản xuất ở khu vực Sài Gòn; năm 1876, xâydựng nhà máy kéo sợi Từ năm 1870 đến 1885, thực dân Pháp liên tục xâydựng tới 200 xưởng xay xát lúa gạo nhằm vơ vét nguồn lương thực để xuấtkhẩu
Năm 1876, Tự Đức cho phép xuất khẩu gạo, tình hình thương nghiệptốt, giá gạo ngày càng tăng Pháp tuyên bố “Bắc Kỳ có thừa mứa gạo” [14,tr320] nên người Trung Hoa đã đi khắp Bắc Kỳ để mua gạo trực tiếp từ ngườisản xuất Nhưng cũng chính điều này đã gây ra hiện tượng đói kém ở nhiềunơi thuộc vùng Trung Kỳ và Nam Kỳ Như vậy, có thể thấy hiện thực trớ trêulúc này: gạo xuất khẩu nhiều nhưng dân chúng thì vẫn đói Hơn nữa, việc mởrộng ngoại thương đã khiến số lượng người Hoa ở Hải Phòng lên đến hơn
5000 người Họ tự do buôn bán, thậm chí còn có cả những người du nhập một
số lượng lớn tiền giả vào Bắc Kỳ
Từ khi chiếm được cả Bắc Kỳ, thực dân Pháp lập tức thực hiện âm mưucủa mình Trong khi thương nghiệp nằm trong tay người Hoa, việc vậnchuyển đường biển của Anh và Đức thì thực dân Pháp tập trung khai thác các
mỏ khoáng sản ở Bắc Kỳ, đây là mối lợi rất lớn của chúng
Toàn bộ nền kinh tế nước ta thời kỳ này đều nằm trong tay của kẻ xâmlược Điều này tiết lộ rõ ràng sự bất lực về mặt kinh tế của triều đình nhàNguyễn
Trang 171.1.2 Văn hóa
Xã hội Việt Nam sau cuộc xâm lược của thực dân Pháp đã chính thứcchuyển sang xã hội thực dân nửa phong kiến, gia nhập vào hệ thống thuộc địacủa chủ nghĩa đế quốc Thực dân Pháp một mặt tiến hành vơ vét kinh tế, mộtmặt lại tìm cách phá vỡ những truyền thống văn hóa của nước ta, hạn chếnhững ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc Hơn nữa, chúng còn duy trìnhững mặt hạn chế của chế độ phong kiến cũ, kết hợp với những cặn bã củavăn minh phương Tây để tạo nên một xã hội lai căng nhằm dễ cai trị Văn hóaphương Tây du nhập vào Việt Nam theo bước chân của kẻ xâm lược nên gặpphải không ít khó khăn Lúc này, hai nền văn hóa Đông và Tây có sự giaotranh theo hướng lấn át của văn hóa phương Tây
Điều kiện in và xuất bản phát triển hơn nhưng chất lượng và tầm ảnhhưởng của sản phẩm được phát hành ít đặc sắc, thậm chí có phần kém hơngiai đoạn trước Tầng lớp thống trị phong kiến có ý thức thúc đẩy các hoạtđộng văn hóa nhưng phần lớn trong số họ lại thuộcs thế lực tiêu cực nên vănhóa cũng không có gì khởi sắc
Nho giáo vẫn giữ vị trí làm quốc giáo, coi Khổng, Mạnh, Trình, Chu lànhững vị thánh Sự tôn sùng Nho học đến mức bảo thủ đã dẫn đến những hạnchế trong giáo dục, thi cử Học trò đi thi chỉ cần học thuộc một số đoạn cầnthiết, có sẵn, đến khi thi chế biến lại đoạn đó Tự Đức có ý muốn thay đổibằng cách đưa ra đề thi mang tính thời sự nhưng cũng không cải thiện đượctình hình
Nho giáo là quốc giáo nhưng ở giai đoạn này, Phật giáo, Đạo giáo vàmột số tín ngưỡng khác cũng rất phát triển Các vị tướng trước khi ra trậnthường được vua sai người bói xem thế nào Trên đường đi sứ hay trong thờigian chống Pháp, Bùi Văn Dị đến đền thờ nào cũng cầu cho đất nước đượcđộc lập, thái bình Tuy nhiên, việc bói toán, dựa vào việc cầu đảo không chỉdừng lại ở đó mà tiến đến mực cực đoan Khi bệnh dịch hoành hành, nhànước không lo tìm cách chạy chữa mà lại lập đàn cúng tế Tình trạng này trở
Trang 18nên rất phổ biến dẫn đến rất nhiều người cho rằng mọi thứ đều nằm ở hai chữ
“mệnh trời”
Vào giai đoạn này, bên cạnh đánh chiếm thuộc địa, thực dân Pháp cũngchú ý đến vấn đề văn hóa Pháp mở trường cho trẻ em và đào tạo tay sai
Chúng cho phát hành rộng rãi tờ Gia Định báo để phổ biến chính sách cai trị
mà chúng thực hiện Ngoài ra, chúng ý định thay thế chữ Hán bằng hệ thốngngôn ngữ Latinh nhưng bị phản đối gay gắt
Trong khi thực dân Pháp ra sức tác động vào đời sống văn hóa tư tưởngViệt Nam thì một số sĩ phu như Nguyễn Trường Tộ và Nguyễn Lộ Trạch đãđưa ra hàng loạt những cải cách xã hội nhưng tiếc rằng không có nhiều tácdụng, thậm chí còn bị triều đình quên lãng
Có thể thấy, cuối thế kỷ XIX, con người một mặt muốn đổi mới, mộtmặt lại trở về với những suy nghĩ cổ hủ trước kia khiến cho đời sống văn hóatuy có nhiều tác động nhưng vẫn dậm chân tại chỗ Điều này ảnh hưởng rấtlớn đối với sự phát triển của văn học
1.1.3.Văn học
Văn học cuối thế kỷ XIX kế thừa truyền thống văn học ở những giaiđoạn trước, nhưng do đặt trong hoàn cảnh thời chiến nên có những nét độcđáo, riêng biệt
Có thể nói, chưa bao giờ lực lượng sáng tác lại sôi nổi, đông đúc nhưgiai đoạn này với đủ các tầng lớp xã hội, trong đó chủ yếu là thành phần nho
sĩ Họ sáng tác dưới sự ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo Đặc biệt, vănhọc có sự xuất hiện của đội ngũ nhà thơ trào phúng và những tác giả sáng tácbằng chữ quốc ngữ vào những năm cuối thế kỷ
Nửa cuối thế kỷ XIX, văn học yêu nước chống Pháp trở thành bộ phậnchủ lưu chi phối đời sống văn học của cả nước Khác với văn học giai đoạntrước, văn học giai đoạn này nổi bật lên với tính chất thời sự của nó Văn họctrở thành tấm gương phản chiếu cuộc chiến tranh đầy bi thương đó Conngười trong văn học vì thế cũng không còn là những tài tử giai nhân đối đầuvới những khuôn khổ khắt khe của Nho giáo như Kim Trọng – Thúy Kiều,
Trang 19không phải anh hùng tung hoành ngang dọc, cũng không phải chàng trai saysưa với “chí nam nhi” mà là những con người yêu nước chống Pháp, họ chiếnđấu và hi sinh vì độc lập tổ quốc Văn học lúc này thực sự là vũ khí chiến đấuchống giặc thù với những tác giả nổi bật như Nguyễn Đình Chiểu, NguyễnXuân Ôn, Nguyễn Quang Bích…
Khi phong trào đấu tranh chống Pháp đi vào giai đoạn cuối, văn họcphê phán, tố cáo bắt đầu phát triển mạnh Đây là nội dung hoàn toàn mới củavăn học giai đoạn này Văn chương trào phúng trước đây chủ yếu phát triển ởmảng văn học dân gian, đến lúc này trở thành bộ phận quan trọng nhất trongvăn học phê phán và tố cáo hiện thực Xuất hiện nhiều nhà văn, nhà thơ tràophúng “chuyên nghiệp” như Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Kép Trà,Nguyễn Thiện Kế,… Họ đã cố gắng bám sát đời sống, cùng nhau hoàn thiệnbức tranh về sự tàn lụi của Đạo học và chế độ phong kiến với hình tượngnhững Tiến sĩ, những ông quan dốt, quan tham, những kẻ hỏng thi, kẻ thấttiết,… Bộ phận văn học trào phúng đã thúc đẩy sự xuất hiện của khuynhhướng văn học hiện thực phê phán đầu thế kỷ XX như Nguyễn Công Hoan,
Vũ Trọng Phụng Xu hướng phản ánh hiện thực bằng thơ ca đã thúc đẩy vănhọc phát triển theo hướng hiện đại hóa
Bên cạnh đó, văn học cũng hướng vào việc thể hiện thế giới tình cảmriêng tư của con người Thơ Nguyễn Khuyến hay người bạn thân của ông làBùi Văn Dị đều thể hiện tâm trạng và những chiêm nghiệm cá nhân một cáchsâu sắc
Những tác giả nửa cuối thế kỷ XIX không chỉ để lại bức tranh bi trángcủa chiến tranh, của xã hội, mà còn vẽ nên những bức họa về danh lam thắngcảnh và cuộc sống nông thôn yên bình Đây là lần đầu tiên trong lịch sử vănhọc dân tộc, bức tranh làng quê Việt Nam trong thơ ca lại chân thực và phongphú như vậy Chúng ta dễ dàng gặp những bức tranh ấy trong sáng tác củaNguyễn Khuyến, Bùi Văn Dị hay Trần Tế Xương… Hiện thực đời sống trong
Trang 20thơ của họ đã trở thành những dấu hiệu đầu tiên cho sự chuyển mình sang xuthế hiện thực của văn học dân tộc.
Sự đa dạng về mặt nội dung đã tạo nên sự phong phú về khuynh hướngvăn học trong đó có bốn khuynh hướng tiêu biểu là khuynh hướng văn họcyêu nước chống Pháp, khuynh hướng văn học tố cáo và phản tỉnh hiện thực,khuynh hướng văn học tài tử lãng mạn và khuynh hướng văn học nô dịch
Sự đổi mới về nội dung sẽ dẫn đến những thay đổi trong hình thức nghệthuật Về hình thức biểu hiện, văn học giai đoạn này vẫn chủ yếu bao gồm hai
bộ phận chữ Hán và chữ Nôm Hai bộ phận này đều phát triển nhưng có phầnnghiêng về những sáng tác bằng chữ Nôm Bên cạnh những tác giả sáng tácchữ Nôm như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Trần Tế Xương, … vẫn cónhiều tác giả sáng tác bằng chữ Hán như Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn QuangBích, Bùi Văn Dị, Nguyễn Tư Giản, … thậm chí có cả những tác giả sáng tác
cả chữ Hán và chữ Nôm như Nguyễn Khuyến Cùng với văn học chữ Hán vàchữ Nôm, ở miền Nam, xuất hiện một bộ phận văn học mới, chuẩn bị cho sự
ra đời của văn học hiện đại Đó là bộ phận văn học viết bằng chữ quốc ngữ.Lúc đầu, chữ quốc ngữ thường chỉ xuất hiện trong những tờ báo có tính chất
công báo như Gia Định báo, Nhật trình Nam Kỳ,… còn văn học cũng chỉ
dừng lại ở thao tác phiên âm, dịch nghĩa một số tác phẩm chữ Nôm và chữHán ra chữ quốc ngữ, hơn nữa những sáng tác bằng chữ quốc ngữ vẫn chịuảnh hưởng của lối văn biền ngẫu nhà nho Đến năm 1876, tác phẩm hiện đại
viết bằng chữ quốc ngữ đầu tiên ra đời, đó là tập ký Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất
Hợi của Trương Vĩnh Ký; từ năm 1880 đến 1885, hai tập Truyện giải buồn do
Huỳnh Tịnh Của biên khảo, phóng tác lần lượt ra đời; đến năm 1887,Thầy
Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản cũng xuất hiện, đây được coi là cuốn
tiểu thuyết đầu tiên của văn học quốc ngữ hiện đại Điều này cho thấy sựthoát ly dần truyền thống văn học dân tộc của các tác giả nửa sau thế kỷ XIX
Về thể loại, đây là giai đoạn văn chính luận rất phát triển, bên cạnhhịch, chiếu, biểu, thư còn có những bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ,
Trang 21Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Lộ Trạch… Nghệ thuật viết văn chính luận đã đạtđến đỉnh cao Tuồng, truyện thơ, hát nói vẫn tiếp tục phát triển và đạt đượcnhiều thành tựu Thơ Nôm Đường luật có những thành tựu nổi bật với cácsáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương Bên cạnh
đó, số lượng tác phẩm thơ Đường luật chữ Hán và cổ phong cũng không ít,trong đó có hàng trăm sáng tác của Bùi Văn Dị
Những vấn đề về lịch sử trên đây đã tạo nên một diện mạo văn học mớihết sức phong phú, đa dạng, đánh dấu những bức chuyển biến từ văn họctrung đại sang văn học hiện đại của dân tộc
1.2. Cuộc đời và sự nghiệp Bùi Văn Dị
1.2.1. Cuộc đời và sự nghiệp chính trị
Bùi Văn Dị (17/05/1833 – 22/09/1895) sinh tại làng Châu Cầu, naythuộc phường Lương Khánh Thiện và Minh Khai, thành phố Phủ Lý, tỉnh HàNam Tổ tiên họ Bùi của ông có gốc ở xã Triều Đông, huyện Thượng Phúc,phủ Thường Tín, tỉnh Hà Tây, nay là thành phố Hà Nội, cuối đời Lê mớichuyển xuống đây, Bùi Văn Dị là đời thứ sáu Đời thứ hai, kể từ khi về làngChâu Cầu, trong dòng họ có người giữ một chức quan võ nhỏ ở triều Lê, đờithứ ba có người làm Huyện thừa dưới triều Nguyễn, các đời sau đều có ngườitheo con đường Nho học Cha ông là Bùi Văn Hy, đỗ tú tài thời vua MinhMệnh
Bùi Văn Dị hiệu Tốn Am, Hải Nông và Châu Giang; tự là Ân Niên.Khi ra làm quan, vì kiêng quốc húy nên vua Tự Đức dùng hai chữ Ân Niên đểđặt tên cho ông Lịch sử triều Nguyễn đều ghi theo tên này Bản thân là ngườikhiêm tốn nên ông lấy tên Tốn Am Ông sinh ra ở làng Châu Cầu, bên cạnhdòng sông Châu nên lấy hiệu là Châu Giang Sau khi nhà Nguyễn ký Hòaước Quý Mùi (05 – 06 – 1862), đất nước rơi vào tay giặc Pháp, Bùi Văn Dịcùng một số tướng sĩ khác phải bãi binh Ông lui về vùng đất Hải Quật (huyệnYên Định, tỉnh Thanh Hóa), cất một ngôi nhà nhỏ và cấy trồng sinh nhai nên
có hiệu là Hải Nông
Trang 22Các chặng đường của Bùi Văn Dị:
- Đi thi, đỗ đạt:
Bùi Văn Dị đi học từ rất sớm, trí nhớ tốt, từ thuở thiếu thời đã bộc lộ rõ
tư chất thông minh, xán lạn Năm 13 tuổi, cậu vượt qua kỳ thi khảo hạch để đithi Hương Sau đó, hai khoa 1850 và 1852 đều đỗ tú tài, khi đó ông mới 18 và
20 tuổi, đến năm 1855, tiếp tục đỗ Cử nhân Sau khi đỗ Cử nhân, ông bướcvào con đường hoạn lộ Thời gian đầu, ông được bổ nhiệm lần lượt làm trihuyện Lang Tài, Việt Yên, Yên Dũng, thuộc tỉnh Bắc Ninh Dù là quan ở đâuthì ông cũng vẫn được nhân dân hết lòng tin yêu
Đến năm 23 tuổi (1865) ông vào Huế thi Hội, thi Đình và đạt học vịPhó bảng cùng người em con chú ruột là Bùi Văn Quế Đây là một trườnghợp đặc biệt Trong kỳ thi Hội (1855), Bùi Văn Dị được “chánh trúng cách”,tức là đỗ chính thức Theo đúng nguyên tắc thời bấy giờ, khi đã “chánh trúngcách” thì thi Đình nhất thiết phải đỗ Tiến sĩ (đỗ Tiến sĩ sẽ được hưởng lệ
“vinh quy”), trừ khi có sai phạm nghiêm trọng Còn Bùi Văn Dị lại chỉ đượcphong Phó bảng, điều này là việc chưa từng có trong lịch sử khoa cử triềuNguyễn
Làm quan chưa được bao lâu, năm 1867, Pháp đã đánh chiếm cả Nam
Kỳ Sau một thời gian, ông phải về quê hộ tang Đến năm 1872, ông được các
Trang 23đại thần Bùi Tuấn1, Nguyễn Tư Giản2 vốn biết tài nhau tiến cử vào Nội các3
tại Kinh thành Huế
Năm 1873, thực dân Pháp âm mưu chiếm Bắc Kỳ Vua Tự Đức đã pháimột số quan chức người Bắc vốn thông thạo công việc, dân tình ra phối hợpvới quan lại địa phương giải quyết các vụ việc lúc này, lực lượng quân Phápcòn yếu nên không dám manh động, phải rút quân khỏi bốn tỉnh Bắc Kỳ Năm
1874, Bùi Văn Dị được cử làm Án sát Ninh Bình, cùng với Bố Chính và ĐặngVăn Huấn tiếp quản
Một năm sau, ông được triệu về kinh thăng Quang lộc tự khanh, lạisung vào Nội các Năm đó, triều đình mở kỳ thi Hội, thi Đình Nguyễn TưGiản, Nguyễn Văn Tường được cử làm độc quyển, Trần Văn Chuẩn và BùiVăn Dị được cử làm duyệt quyển Trong chế độ khoa cử trước đây, ngườiđược giao làm duyệt quyển thi Đình là một vinh dự lớn, người được chọnbuộc đó phải là người tài năng, đức độ và đáng tin cậy
- Thời gian đi sứ:
Năm 1876, đến kỳ tuế cống nhà Thanh, Bùi Văn Dị được vua Tự Đứcthăng chức Thị lang bộ Lễ và cử làm Chánh sứ phái đoàn ngoại giao đi sứTrung Quốc Đi cùng ông là hai phó sứ Lê Cát và Lâm Hoàng Việc đi sứ làmột trọng trách nặng nề mà triều đình giao phó Người được giao phó buộcphải là người có tài năng, trí tuệ và kinh nghiệm Bùi Văn Dị tuy nhận thứcđược đây là một nhiệm vụ quan trọng và nhiều nguy hiểm nhưng chính ông
1 Bùi Tuấn (1808-1872), người xã Liên Bạt, huyện Sơn lãng, tỉnh Hà Nội (nay là thôn Liên Bạt, xã Liên
Bạt, huyện Ứng Hòa, Hà Nội), đỗ Giải nguyên khoa Canh Tý (1840) Năm 1841, ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Tân Sửu Sau khi đỗ, ông được cử làm Tri phủ Thụ Xuân Năm 1848, ông về kinh và được bổ nhiệm vào Viện tập hiền, thăng Thị giảng học sĩ Năm 1869, ông được cử làm Tuần phủ hộ lý Tổng đốc Ninh Thái, ít lâu sau thì mất.
2 Nguyễn Tư Giản (1823–1890) sinh tại làng Du Lâm, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay
là thôn Du Lâm, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội), trong một gia đình khoa bảng nhiều đời, nhưng gia cảnh đã đến hồi sa sút Ông là cháu nội danh sĩ Nguyễn Án, đồng tác giả sách Tang thương ngẫu lục Cha ông là Nguyễn Tri Hoàn, làm quan tới chức Lang trung bộ Hình dưới thời Minh Mạng.Ông
là một danh sĩ và là một vị quan từng trải qua những chức vụ trọng yếu suốt gần 40 năm, phục vụ 7 đời vua nhà Nguyễn ở Việt Nam với nhiều chức vụ khác nhau Tháng 3 năm 1887, xin từ quan, về ẩn thân dạy học ở Phát Diệm (thuộc Ninh Bình) cho đến năm Canh Dần (1890) thì mất tại đây, thọ 67 tuổi.
3 Nội các của nhà Nguyễn là một cơ quan của triều đình thành lập năm 1829 triều vua Nguyễn Thánh Tổ,
chuyên lo việc giấy tờ cùng liên lạc với Nội vụ Phủ.
Trang 24cũng lại coi đây là dịp ông có thể mắt thấy tai nghe những điều về TrungQuốc mà ông mới chỉ thấy trong sử sách Trong chuyến đi này, ông để lạinhiều ấn tượng với một số quan lại nhà Thanh Viên quan nhị phẩm NghêMậu Lễ (Trung Quốc) đã nhận xét: “Sứ thần Việt Nam là tôn bá Châu Giang– Bùi Văn Dị, một con người thung dung, phong nhã, trác lạc khó ai bằng.Ngoài lúc bút đàm ra, nghe giọng nói thanh cao, biết rằng sự am hiểu về lễnhạc đã đạt đến độ uẩn súc rất sâu” [13, tr79] Cuối năm Mậu Dần (1878),sau 20 tháng giữ trọng trách cầm đầu sứ bộ, Bùi Văn Dị cùng đoàn sứ bộ vềđến kinh thành Huế.
Về nước, ông tiếp tục được sung vào Nội các như cũ Đến năm 1879,trong khoa thi Kỷ Mão, ông lại được cử tham gia chấm thi Hội và thi Đìnhvới cương vị duyệt quyển Trước đó, vua Tự Đức đã giao thêm cho ông chứcQuyền Tham trị bộ Lại để hợp pháp hóa việc cử ông chấm thi Năm 1881,ông được lên chức đại thần, chuyển sang quản lý Nha Thương bạc chuyêngiao thiệp với Pháp và trông nom thuyền buôn
- Thời kỳ chống Pháp:
Năm 1882, trước khi Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần hai, dù là quan vănnhưng Bùi Văn Dị đã dâng sớ xin triều đình đi đánh giặc Mãi đến khi giữchức Khâm sai Phó Kinh lược sứ Bắc Kỳ, ông mới được trực tiếp cầm quân,đôn đốc quan binh, phối hợp với quan lại địa phương tổ chức công tác phòngthủ Đây chính là thời gian mà ông được bộc lộ tinh thần yêu nước của mìnhmột cách nồng nhiệt nhất Ông trực tiếp tham gia trận đánh vào hai ngày 19
và 20 tháng hai năm Quý Mùi (tức ngày 27 và 28 tháng 3 năm 1883) Sau trậnđánh, Bùi Văn Dị được thưởng Quân công kỷ lục hai lần và một đồng tiềnvàng đồng thời trở thành Tham tán quận thứ Bắc Ninh, phối hợp với Tổngđốc Bắc Ninh (Trương Quang Đản) chỉ huy lực lượng quân sự tỉnh, chuẩn bịđánh giặc
Ngày 17 tháng 8 năm 1883, vua Tự Đức mất Pháp tấn công Thuận An
và buộc triều đình ký Hiệp ước Quý Mùi Đến tháng 10 năm đó, Bùi Văn Dịđược cử làm Tổng đốc Ninh – Thái nhưng ông lấy cớ bị bệnh nên từ chối, đây
Trang 25cũng là hành động thể hiện thái độ phản ứng lại lệnh bãi binh của triều đình.Sau khi đất nước rơi vào tay giặc Pháp, triều đình chịu cảnh “tứ nguyệt tamvương”, tức là bốn tháng ba vua (Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc).
Trong khi nhiều chí sĩ chọn cuộc sống ẩn dật, lánh đời như NguyễnKhuyến, Nguyễn Đình Chiểu, thì Bùi Văn Dị vẫn dốc sức mình cống hiếncho triều đình với hy vọng giúp dân, giúp nước Năm 1884, ông được triệu vềkinh giữ chức Tả tham bộ Lại, rồi sung vào làm Nhật giảng quan để giảngkinh sách cho vua Kiến Phúc Đây cũng là năm Pháp buộc triều đình ký Hiệpước Giáp Thân vào ngày mồng 6 tháng 6, xác nhận quyền đô hộ lâu dài củaPháp trên nước ta
- Thời kỳ tị địa:
Khi vua Hàm Nghi lên ngôi (06/06/1884), Bùi Ân Niên tiếp tục giữchức Tả tham bộ Lại, sung vào Biện sử vụ Viện cơ mật Ông cùng Tôn ThấtThuyết (Thượng thư bộ Binh), Nguyễn Văn Tường (Thượng thư bộ Hộ),Phạm Thận Duật (Thượng thư bộ Lại) và các quan văn võ tham gia công tácchuẩn bị đánh Pháp lần thứ 2 Nhưng do bệnh tình nên ông không thể trựctiếp tác chiến vào trận đêm mồng 4 rạng sáng mồng 5 tháng 7 năm 1885 màphải trở về Thanh Hóa Điều này khiến ông rất buồn và tiếc nuối Ông ở đâycho đến năm 1887
- Những năm cuối đời:
Năm 1887, ông được vua Đồng Khánh gọi về kinh thành giữ chứcTham sứ Bắc Kỳ nhưng Pháp can thiệp và yêu cầu Bùi Văn Dị nghỉ hưu vìtrước đây ông từng chống Pháp, hơn nữa, con rể Vũ Hữu Lợi cũng đã bị kết
án tử hình vì điều này Vua Đồng Khánh không đồng ý nhưng đành phảichuyển ông sang làm việc ở Nội các
Đến năm 1888, ông được thăng làm Thượng thư bộ Lễ, kiêm Phó tổng
tài Quốc sử quán, biên soạn bộ sử triều Nguyễn Đại Nam thực lục chính biên
đệ tứ kỷ
Tháng 2 năm 1889, vua Thành Thái lên ngôi, Bùi Văn Dị càng đượctrọng dụng Ông vừa làm Kinh Diên giảng quan vừa phụ đạo đại thần dạy vuahọc Mấy năm sau, ông lên chức Thượng thư bộ Lại và Phụ chính đại thần
Trang 26Chính trong dịp này, ông đã đề nghị xét lại học vị Phó bảng trước đây Sau
đó, vua Thành Thái đã đặc cách, ban cho Bùi Ân Niên học vị Đệ tam giápĐồng Tiến sĩ xuất thân Bia đá chỉ khắc duy nhất họ tên một Tiến sĩ Đây là divật vô tiền khoáng hậu, chưa từng có, hiện được bảo lưu tại Văn Miếu Quốc
Tử Giám Huế Nhiều nhà Nho lấy chuẩn mực của Bá Di, Thúc Tề mà chêtrách việc làm của ông Nhưng ở mỗi thời đại khác nhau, phải chăng chúng tanên có cái nhìn công bằng hơn Trường hợp Bùi Văn Dị là hy hữu trong lịch
sử khoa cử của mọi triều đại phong kiến ở nước ta Sách Các nhà khoa bảng
Việt Nam có ghi: “Bùi Văn Dị 34 tuổi đỗ Phó bảng khoa Ất Sửu niên hiệu Tự
Đức 18 (1865) Năm Thành Thái thứ 2 (1890) ông lại thi Hội đỗ Đệ tam giáp
đồng Tiến sĩ” [37] Còn trong bài Những nhà khoa bảng Hà Nội thời Nguyễn
được khắc trên bia Tiến sĩ ở Văn Miếu - Huế của Nhà nghiên cứu Tăng Khôi
viết: “Thực ra khoa thi này dưới triều Thành Thái không có thực, chỉ duy nhấtông Bùi Ân Niên (Bùi Văn Dị) được vua ban đặc ân để dành bảng vàng vàkhắc tên riêng vào một tấm bia ở Văn Miếu, lấy khoa thi Ất Sửu (1865) dướitriều Tự Đức mà riêng ông đã đỗ Phó bảng để truy phong học vị Tiến sĩ choông” [44] Điều này cho thấy Bùi Văn Dị thực sự là một tài năng hiếm có cuốithế kỉ XIX
Dưới triều Thành Thái, dù được trọng dụng nhưng ông vẫn luôn mangtrong mình nỗi buồn, nỗi nhục mất nước Cũng vì lẽ này, năm 1890, ông xin
từ chức và chỉ giữ chức Phụ đạo đại thần kiêm Phó tổng tài Quốc sử quán.Những năm cuối đời, ông tập trung dạy học cho vua Thành Thái, soạn quốc
sử và biên tập thơ vịnh sử của vua Tự Đức Ông mất vào ngày mồng 4 tháng
8 năm Ất Mùi (tức ngày 22 tháng 9 năm 1895) ngay trên bàn làm việc ở Quốc
sử quán
Như vậy, có thể thấy Bùi Văn Dị trưởng thành trong giai đoạn đất nước
có nhiều biến động lớn, thực dân Pháp xâm lược, ông đã đứng trên vũ đàichính trị với tư cách là một văn thân sĩ phu yêu nước Trong suốt 29 năm làmquan, ông đã mang hết năng lực của mình để phục vụ cho 7 đời vua nhà
Trang 27Nguyễn (Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh,Thành Thái) Cuối đời, ông cũng không lúc nào nguôi ngoai nỗi buồn khổ khiphải phục vụ cho một chính quyền bù nhìn nên đã tập trung vào sự nghiệpgiáo dục, gìn giữ văn hóa Ông đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị, đóng gópvào sự nghiệp văn học dân tộc.
1.2.2. Sự nghiệp văn chương
Không chỉ có những đóng góp đáng kể cho sự nghiệp chính trị nướcnhà, Bùi Văn Dị cũng có những cống hiến không nhỏ cho sự nghiệp vănchương Sáng tác của ông gắn liền với thời kỳ biến động của dân tộc nửa sau
thế kỷ XIX Ông để lại nhiều tập thơ bằng chữ Hán như Tốn Am thi sao (Thơ của Tốn Am), Tốn Am thi thảo (Bản thảo tập thơ Tốn Am), Vạn lí hành ngâm (Thơ về chuyến đi vạn dặm), Trĩ Chu thù xướng tập (Tập xướng họa ở Trĩ Chu), Du hiên thi thảo (Bản thảo tập thơ viết ra trên chiếc xe nhẹ), Du hiên
tùng bút (Tập tùy bút làm trên chiếc xe nhẹ), , Hơn nữa, ông còn là đồng tác
giả bộ sách Đại Nam thực lục chính biên đệ tứ kỷ.
Sự nghiệp văn chương của Bùi Văn Dị chưa nhiều người biết đếnnhưng hễ ai đọc cũng nhận thấy tài năng thơ văn của ông Vua Tự Đức côngnhận tài năng thơ ca của ông qua nhiều lần xướng họa Trần Lê Văn nhận xétthơ ông “có nhiều cung bậc phong phú”, phản ánh đời sống một cách chânthực, sinh động Hậu học Lư Giang, Văn Đào tử Bùi Hữu Tạo đã từng “kinhhồn” vì sợ mất đi tập thơ của Bùi Văn Dị, Tạo coi thơ của Bùi Văn Dị là tàisản “gối đầu giường” của mình Ngay cả Chủ sự bộ Lại, Phụng chính đại phu,Tiến sĩ xuất thân Long Văn Bân hay Nhị phẩm Tú chính đại phu Nghê Mậu
Lễ (người Trung Quốc) cũng hết lời ca ngợi thơ của Bùi Văn Dị Điều nàychứng tỏ, thơ ông từng được nhiều người đánh giá cao Có thể khẳng định,thơ ca Bùi Văn Dị dựng một bức tranh hiện thực đất nước cuối thế kỉ XIX
Vài nét về bốn tập thơ trong phạm vi tư liệu của luận văn:
• Tốn Am thi sao (Thơ của Tốn Am) là tập thơ bao trùm cả đời thơ Bùi Văn Dị,
suốt từ thời gian thi cử, làm quan cho đến cuối đời (trừ thời gian đi sứ vàchống Pháp) Trong tập thơ này, tác giả lấy hiệu là Châu Giang và Hải Nông
Trang 28Trong lời đề tựa, Bùi Văn Dị kể lại chuyện: “…tiên sinh Vi Dã hỏi: ‘Hai tậpthơ của ông đã khắc in rồi Còn những bài ứng chế cùng những bài lặt vặtkhác đã gom lại thành tập chưa?’ Ta bèn trả lời: ‘Chưa’ Tiên sinh lại bảo:
‘Đó đều là tâm huyết, không thể bỏ được’ Ta bèn về thu nhặt trong tráp thìtrước đây do có việc phải đi tỵ địa, những bài đem theo mất đến một nửa
Nhân đó mới gom trọn được hơn hai trăm bài cổ, cận thể để in, đặt tên là Tốn
Am thi sao, hợp cùng với hai tập trước để lại cho con cháu đời sau… Ôi! Thơ
thật là việc rất thừa, thế mà những duyên cớ vui buồn, hờn giận, âu lo ở đờiđều có thể thấy được trong đó” [40, tr42] Sau khi Bùi Văn Dị đồng ý, Tuy
Lý Quận vương Vi Dã Lão Nhân (Nguyễn Viên Trinh) đã viết lời đề từ: “Tiênsinh lấy cái tài linh để suy nghĩ, lấy tài hóa mà học tập, cho nên số thơ batrăm bài để khắc đều lấy sở đắc từ đời Hán Ngụy xuống đến Vãn Đường, ýthơ trầm lắng mà sâu xa, tiết tháo uất kết mà uyển chuyển, ngôn từ chặt chẽ
mà trong sáng, khoáng đạt So với người xưa cũng không thua kém là mấy”[13, tr47] Đây là những nhận xét ngắn gọn nhưng vô cùng sâu sắc của ông
Theo bản in kí hiệu VHv.701 lưu giữ trong Thư viện Hán Nôm do Cửnhân Bùi Hướng Thành và Bùi Hướng Lập (hai người con của Bùi Văn Dị)
hiệu chỉnh, tập thơ Tốn Am thi sao gồm 185 bài thơ, chia làm 4 quyển:
Quyển 1: gồm 54 bài, được làm trong khoảng thời gian thi cử và bắtđầu làm quan (1850 – 1871)
Quyển 2: gồm 40 bài ứng chế, họa vần với vua Tự Đức khi ông làm ởViện Hàn lâm và Nội các (1871 – 1883)
Quyển 3: gồm 48 bài được làm trong thời gian tỵ địa ở Thanh Hóa vàtrở lại làm quan dưới triều Đồng Khánh (1885 – 1888)
Quyển 4: gồm 43 bài được làm trong khoảng thời gian cuối đời, làmquan dưới triều Thành Thái (1889 – 1895)
• Vạn lý hành ngâm (Thơ về chuyến đi vạn dặm) là tập thơ được làm trên
đường đi sứ nhà Thanh, từ mùa hạ năm Bính Tý (1876) đến mùa xuân nămMậu Dần (1878), từ Huế sang Yên Kinh rồi trở về Trong bài tự cuối tập thơ,Bùi Văn Dị viết: “Vâng lệnh của Hoàng thượng, chuyến đi này cả đi lẫn vềhơn 22 tháng Trong suốt quá trình đó, có lúc sứ đoàn phải đi bằng thuyền,
Trang 29bằng xe ngựa qua khắp núi sông, thành thị cho đến những danh lam thắngcảnh đẹp thì đều để lại những cảm xúc, sự kính nể, hâm mộ, buồn có, vui có.Ngày thường vẫn đọc sách mà nhớ việc đã qua, thấy mình may mắn được tậnmắt nhìn thấy những nơi ấy, cũng vì yêu thích mà làm ra mấy bài thơ quê mùanày Xem lại những bài thơ này thấy rõ những việc đã trôi qua, những nơi đãđến, nhớ lại những cảnh núi sông như hiện ra trước mặt Bởi thế, có thể nói
Vạn lý hành ngâm là cuốn nhật ký vạn dặm, cũng có thể gọi là nhật ký qua
các điểm dừng chân của sứ đoàn Cũng có thể như cái chổi nát dựa vào đình,cũng chỉ là ý hẹp của tôi đây, dẫu sao cũng là ý hẹp của mình, sao có thể bỏquên được”[10, tr22]
Tập thơ gồm 275 bài, chủ yếu là thất ngôn bát cú và thất ngôn tứ tuyệt.Đầu sách có năm bài tựa của các quan chức – văn thân nhà Thanh là Dương
Ân Thọ, Long Văn Bân, Nghê Mậu Lễ, Thịnh Tích Ngô và Dương Trọng.Ngoài ra còn có bài đề từ của Tuy Lý – Miên Trinh (Việt Nam)
• Trĩ Chu thù xướng tập (Tập xướng họa ở Trĩ Chu) cũng được làm ngay trong
chuyến đi sứ nhà Thanh năm 1876 của Bùi Văn Dị, gồm 105 bài thơ ứng đốivới Dương Ân Thọ (người được phía Trung Quốc giao nhiệm vụ đón sứ giả),trong đó có 49 bài của Bùi Văn Dị Ở tập này, ông lấy hiệu là Châu Giang, ÂnThọ lấy hiệu là Bồng Hải Tập thơ được Dương Ân Thọ viết lời tựa và inngay trên đất Trung Hoa vào năm Quang Tự thứ 3 (1877) Trong bài tựa này,Dương Ân Thọ viết: “Tính cùng sứ thần sớm tối cùng nhau đến một tháng.Trong khoảng thời gian đó, lúc thì chính sự nhàn rỗi, lúc thì lấy cớ bệnh đểcáo từ bẵng đi ba bốn ngày không gặp, đến khi gặp chắc chắn có thơ để đàmđạo Chiều tối mà vẫn chưa có thơ trả lời thì trong lòng thấy sốt sắng khôngyên Ôi chao, sứ thần là người từ phương xa tới, những ngày tháng ba mùaxuân tươi đẹp, những thắng địa như Động Đình, Giang Hán, khói sóng như tô
vẽ thêm cảnh đẹp ấy, lấy việc thù xướng làm niềm vui Tuy quê mùa như ÂnThọ, lại được cùng người quân tử nước ngoài dùng văn tự mà kết giao vớinhau, nhân đó chép lại mà đưa tôi xem” [39, tr47] Tập thơ vừa thể hiện mối
Trang 30quan hệ gắn bó, thấu hiểu nhau giữa Ân Thọ và Châu Giang đồng thời chothấy rằng tài năng của sứ giả nước Nam đã làm cho nước bạn nể phục.
• Du hiên thi thảo (Bản thảo tập thơ viết ra trên chiếc xe nhẹ) là tập thơ được
viết trong thời kỳ Bùi Văn Dị cầm quân đánh Pháp (1882 – 1883), lấy búthiệu là Ân Niên Tập thơ gồm 47 bài do Bùi Hữu Tạo viết lời tựa và đưa in,
Vi Dã lão nhân đề từ và cùng Nguyễn Tư Giản viết lời bình phẩm, Kỳ Sơn
tàng bản Trong “Lời tựa thơ Du hiên”, Bùi Hữu Tạo nhận xét: “Tập thơ đại
để là những bài thơ đời thường, cảm việc, lấy cái tài lỗi lạc, hùng vĩ, bộc lộnhững điều phẫn uất, bất bình trong lòng, cái khí trung quân ái quốc tràn rangoài lời” [13, tr104] Tập thơ từng có nguy cơ mất khi kinh thành Huế thấtthủ (7 – 1885), Hữu Tạo phải chạy thoát khỏi kinh thành, cứ dừng chân là ôngphải mở rương ra xem tập thơ vẫn còn hay mất Đến khi đi tàu máy vượt biển,
ông đã “kinh hồn” vì ngỡ tập Du hiên không còn nữa Điều này cho thấy với ông, tập Du hiên của Bùi Văn Dị là vô cùng quý giá Khi gặp lại, ông kể cho
Bùi Văn Dị chuyện tập thơ chưa bị mất và đưa vào đầu tập để khắc in Nhiềubài thơ chứng minh một cách sâu sắc rằng Bùi Văn Dị là một nhà thơ yêunước nhiệt tình thời chống Pháp
Như vậy, sự nghiệp văn chương của Bùi Văn Dị khá đồ sộ với nhiều tập
thơ, văn khác nhau được in cả ở Việt Nam và Trung Quốc Bốn tập thơ đượcđều được nhiều người như Trần Lê Văn, Vi Dã lão nhân, Nhị phẩm Tú chínhđại phu Nghê Mậu Lễ, Tiến sĩ Long Văn Bân, Hậu học Lư giang Văn Đào tửBùi Hữu Tạo,… đánh giá cao
Tiểu kết chương 1:
Ở chương 1, chúng tôi đã thực hiện được những công việc như sau:Khái quát những vấn đề thời về thời đại (kinh tế - chính trị, văn hóa,văn học) có vai trò làm tiền đề hình thành và phát triển sự nghiệp văn chươngcủa Bùi Văn Dị Nửa cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Bắc
Kỳ, triều đình nhà Nguyễn bộc lộ rõ sự bất lực trước quân giặc Văn hóa có
sự giao thoa giữa phương Đông và phương Tây, tạo nên một xã hội lố lăng
Trang 31Chính trị - kinh tế, văn hóa như vậy đã tác động mạnh mẽ đến nền văn họcnước nhà.
Tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp của Bùi Văn Dị Bùi Văn Dị là một conngười hiếu học, thông minh, nhiều kinh nghiệm, luôn mong muốn dốc hết sứcmình để đền ơn vua, trả nợ nước Ông làm nhiều chức quan lớn nhỏ khácnhau nhưng dù ở cương vị nào thì ông cũng hết lòng cống hiến, ngay cả khituổi đã xế chiều ông vẫn không thôi ước muốn ấy Sự nghiệp chính trị và conđường văn chương gắn liền với lịch sử đầy biến động của nước nhà Tài năngvăn chương của ông cũng được nhiều người cả Việt Nam lẫn Trung Quốcphải công nhận
Tiến hành khái quát sự nghiệp văn chương Bùi Văn Dị; tổng hợp, giới
thiệu hoàn cảnh ra đời của 4 tập thơ Tốn Am thi sao, Vạn lý hành ngâm, Trĩ
Chu thù xướng tập và Du hiên thi thảo Tổng các bài thơ trong bốn tập là 612
bài trong đó có 556 bài của Bùi Văn Dị (56 bài của Dương Ân Thọ)
Ở luận văn này, chúng tôi dựa vào bản phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ
Bùi Văn Dị của bốn tập thơ lớn: Tốn Am thi sao, Vạn lý hành ngâm, Trĩ Chu
thù xướng tập và Du hiên thi thảo để nghiên cứu đặc điểm và nội dung trong
tác phẩm của ông
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG THƠ BÙI VĂN DỊ
Bùi Văn Dị chủ trương sáng tác theo thuyết “tính linh” Thuyết nàyđược dùng để chỉ thế giới nội tâm của con người Thuyết tính linh xuất hiện ởTrung Hoa từ khá sớm và phát triển qua các thời Nam Bắc Triều, thời Đường,thời Tống,… nhưng phải sang thế kỷ XIX, thuyết tính linh mới thực sự địnhhình ở Việt Nam với tên tuổi tiên phong là Cao Bá Quát, sau có Trương ĐăngQuế, về sau các soạn giả như Vương Duy Trinh, Nguyễn Thượng Hiền,Hoàng Mậu cũng hết sức tâm đắc với thuyết này Họ coi “tính linh là cốt lõi
Trang 32của việc làm thơ,…là sự đề cao một lối thơ tự nhiên, chân thực” [47] Khinghiên cứu về thuyết tính linh, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Tùng đã nói: “Cuối thế
kỉ XIX, thuyết tính linh lại được Bùi Văn Dị đề cập đến trong bài Tốn Am thi
sao tự tự (1894) Trong bài tựa, ông dẫn lời cha là quan Trung phụng đại phu
(?) rằng: Thơ nói chí, đấy là cái tính linh minh lưu hành từ khí tự nhiên, rồiphát ra thành lời ca vịnh, mới không rơi vào khuôn sáo tầm thường Từ xưađến nay những nhà làm thơ, đều chuyên về sở trường riêng, nhưng chỉ người
có khí tính linh được thể hiện ra là hạng nhất […] cả Cao Bá Quát, TrươngĐăng Quế, thân phụ Bùi Văn Dị và Bùi Văn Dị đều ý thức được rất rõ nộihàm và chiều sâu quan niệm của hai chữ tính linh!”[47] Như vậy, có thể thấy,thuyết tính linh đề cao tính chân thực trong việc bộc lộ thế giới nội tâm củacon người Đó cũng chính là quan điểm sáng tác của Bùi Văn Dị Dù nói vềtâm sự trung quân “ưu quốc” hay về tâm hồn yêu thiên nhiên, con người, nỗiniềm cô đơn… thì thơ ông vẫn luôn giản dị và hết sức chân thực
2.1. Tâm sự trung quân “ưu quốc”
Tâm sự trung quân “ưu quốc” là một trong những phương diện cơ bảnthể hiện tinh thần yêu nước của các nhà nho thời phong kiến Những năm đầucủa thế kỷ XIX, Nho giáo giữ vị trí độc tôn và trở thành hệ tư tưởng chínhthống của nhà nước phong kiến Ở Nho giáo Trung Hoa, tư tưởng trung quânđóng vai trò rất quan trọng Chữ “trung” gắn liền với sự hi sinh, tận tụy vìngười đã nuôi mình, tức là đề cao vai trò của cá nhân thủ lĩnh Khi gia nhậpvào Việt Nam, tiếp thu nội dung này, các vua Nguyễn đã luôn đề cao phạmtrù “trung”, thưởng công lớn cho những bề tôi, người dân nào tận trung vớivua, chết vì vua, hết lòng ca ngợi những tấm gương tiết nghĩa vì vua Hơnnữa, ở nước ta, tư tưởng trung quân còn gắn liền với tinh thần yêu nước và trởthành một trong những phương diện nổi bật để thể hiện lòng yêu nước của cácnhà nho
Để nói về lòng yêu nước, về tấm lòng trung quân, thế kỷ XV, Nguyễn
Trãi dùng từ “ưu ái” (Bui một tấc lòng ưu ái cũ), thế kỷ XVI, Nguyễn Bỉnh
Trang 33Khiêm dùng từ “ái ưu” (Ái ưu vằng vặc trăng in nước), còn đến thế kỷ XIX, Bùi Văn Dị lại dùng từ “ưu quốc” (Ưu quốc do lai nguyện tuế phong).
Tâm sự trung quân “ưu quốc” của Bùi Văn Dị thể hiện qua nỗi thẹn
“quốc ân vị báo” (Quốc ân vị báo gia an tại), ca ngợi con người tài đức và
khát vọng đất nước độc lập thái bình Tâm sự trung quân “ưu quốc” chính làphương diện bộc lộ tinh thần yêu nước sâu sắc của Bùi Văn Dị
2.1.1. Nỗi thẹn “quốc ân vị báo”
Việc đề cao tư tưởng trung quân đã tạo nên một tâm lý thường thấy ởcác vị trung thần, đó là nỗi thẹn “quốc ân vị báo”, tức là thẹn vì những gìmình làm chưa thể báo đáp hết ơn vua, nợ nước Cho đến giai đoạn cuối cùngcủa nhà nước phong kiến, nỗi thẹn này vẫn còn hiện hữu Suốt 29 năm làmquan của mình, Bùi Văn Dị luôn giữ cho mình khí chất của một bậc trungthần mẫu mực đồng thời cũng mang nặng nỗi thẹn “quốc ân vị báo”
Bùi Văn Dị luôn đề cao hai chữ “quốc ân”, ông thường thể hiện lòngbiết ơn sâu sắc của ông đối với vua Năm 1855, ông đã “Tự thuật khi đỗ cử
nhân khoa Ất Mão” (Ất Mão lĩnh hương tiền tự thuật): Hữu duyên bằng thế
đức/ Bất phân hạ hoàng ân (Có duyên được nhờ đức tổ đời đời để lại/ Không
tách khỏi điều trông cậy ơn vua) Khi đỗ cử nhân, Bùi Văn Dị vừa vui sướng
vì công sức học tập, rèn luyện của mình được công nhận vừa không quên thểhiện lòng biết ơn, cảm tạ đến mọi người Ông biết ơn tổ tiên, ông bà, cha mẹ
đã đặt niềm tin vào mình, đồng thời ông cũng hết lòng cảm tạ nhà vua, người
đã tạo cơ hội cho những sĩ tử được thể hiện tài năng, được cống hiến cho đất
nước Trong bài Tống đệ Cát Trai chi Quảng Yên hậu bổ (Tiễn em Cát Trai đi nhậm chức ở Quảng Yên), ông viết: Thánh trạch như kim nan sổ đắc (Ơn vua
như ngày nay, khó mà kể hết được) Bùi Văn Dị có hai người em trai là Văn
Lễ và Văn Chỉ, trong đó, Văn Lễ hiệu là Cát Trai cũng làm quan cho triềuNguyễn Buổi tiễn đưa em trai đi nhậm chức ở nơi góc bể chân trời, tâm trạnglưu luyến và tình thương yêu, tha thiết trước sự chia ly không biết khi nào gặplại của hai anh em bao trùm bài thơ Trong tình cảnh ấy, Bùi Văn Dị không
Trang 34quên nhắc em về ơn nghĩa của vua, phải nhớ đến để hết lòng phục vụ cho đất
nước, cho nhân dân Hay trong bài Cung họa ngự chế thị chư văn thần
nguyên vận (Họa nguyên vận thơ vua răn bảo các văn thần), Bùi Dị cũng nói: Thiên hải ân nan báo/ Giang sơn mộng huống tằng (Ơn vua như trời bể khôn
bề báo đáp/ Huống chi lại từng mộng ước với non sông) Theo quan niệm củaNho giáo, người làm quan phải là người mạnh, là người phải lập được côngdanh, nhằm báo đền ơn vua, làm rạng danh cho đất nước, cho gia đình, tổtiên Vì vậy, làm gì, ở đâu thì người làm quan – bậc trung thần vẫn luôn nhớđến ơn vua để hành động và cống hiến Bùi Văn Dị cũng là một trong nhữngtrung thần ấy
Bùi Văn Dị không chỉ nhớ ơn triều vua ông đang phục vụ mà còn luôn
thể hiện lòng nhớ ơn đến cha ông trước đây đã hi sinh vì đất nước Trong dịp
được phái làm Bắc Kỳ Kinh lược Phó sứ, khi qua Lam Sơn – Thanh Hóa, ông
đã “Vào bái yết lăng Lê Thái Tổ, đề thơ” (Cung yết Lê Thái Tổ lăng, bái đề):
Cố cung hoa thảo uất thành lâm/ Thiết mã kim qua khí vị trầm/ Tứ thế bốc cư vương nghiệp tạo/ Vạn niên lập quốc đế công thâm (Nơi cung cũ cây và hoa
um tùm thành rừng/ Khí thế ngựa sắt giáo vàng vẫn chưa hề lắng/ Chuyển đếnđây bốn đời mới nên vương nghiệp/ Dựng nước muôn ngàn năm, công vuathật lớn lao) Người anh hùng Lê Lợi – vua Lê Thái Tổ là người đã có côngđánh đuổi quân Minh sau 20 năm cai trị, chấm dứt hẳn sự đô hộ của TrungQuốc thời phong kiến và sáng lập nhà Hậu Lê, đây cũng là triều đại tồn tại lâunhất trong lịch sử Việt Nam Vua Lê Thái Tổ sống cách Bùi Văn Dị gần nămthế kỷ, nhưng khi đứng trước lăng của vua, Bùi Văn Dị không khỏi xúc động
tạ ơn người, đồng thời cũng bày tỏ lòng tự hào về truyền thống yêu nước củadân tộc
Bùi Văn Dị là vị quan luôn thờ kính vua, nhớ ơn vua nhưng chính vìluôn ý thức được công sức lớn lao của vua như vậy mà ông mang trong mình
sự mặc cảm bởi thấy mình chưa báo đền được cho vua, từ đó dần hình thànhnên nỗi “thẹn” Mặc cảm ấy dường như thường trực và liên tục đi vào thơ
Trang 35ông Có lẽ đây không phải tâm trạng của riêng tác giả mà còn là nỗi lòng củarất nhiều nhà thơ, nhà văn, nhiều vị trung thần khác thời phong kiến Cuối thế
kỷ XIII, đầu thế kỷ XIV, Phạm Ngũ Lão cũng đã từng nói lên nỗi trăn trở của
mình: Nam nhi vị liễu công danh trái/ Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu (Thuật hoài) Người quân tử thời xưa luôn có khát vọng lập nên sự nghiệp,
lập nên công danh Nếu chưa thực hiện được tức là họ còn mắc nợ với quêhương, với vua, với nhân dân Phạm Ngũ Lão đã không khỏi hổ thẹn khi nghelại câu chuyện về Khổng Minh – Gia Cát Lượng (Vũ Hầu) - người có tài kinhbang tế thế, một nhà ngoại giao cự phách, chiến lược gia vĩ đại và xuất sắcnhất trong thời Tam Quốc, giúp Lưu Bị làm nên cơ nghiệp nhà Thục PhạmNgũ Lão cũng vốn là một tướng giỏi của nhà Trần, từng lập nhiều chiến côngtrong ba lần chống quân Nguyên, nhưng với ông, những gì ông làm được vẫncòn rất nhỏ bé, nhất là khi so sánh với sự nghiệp của Vũ Hầu Ông còn muốncống hiến, còn muốn làm nhiều hơn thế nữa để báo đáp ân nghĩa của vua.Ngay cả trong thơ Đỗ Phủ (712 – 770), một trong hai nhà thơ vĩ đại nhất
Trung Quốc, nỗi lòng ấy cũng luôn thường trực: Duy tương trì mộ cung đa
bệnh/ Vị hữu quyên ai đáp thánh triều – Dã vọng (Tuổi tác sắp già,càng đau
ốm luôn/Chưa có chút mảy may nào báo đáp ơn vua) Đó là nỗi thẹn chưathực hiện được chí nam nhi Cuối thế kỷ XIX, nỗi thẹn của các nhà thơ, các vịquan thường là nỗi thẹn vì tài năng của mình không thể giúp gì cho đất nước,
nhất là khi đất nước rơi vào tay giặc Trong bài Bát nguyệt, nhị thập nhật, quá
An Sơn, yết Hưng Đạo Đại vương từ, tính bái Phạm tướng quân, Bùi Văn Dị
viết: Tuyệt cú hùng phong ức Vũ Hầu (Câu thơ hào hùng nhớ lại chuyện Vũ
Hầu) Tác giả lấy ý từ thơ của Phạm Ngũ Lão, qua đó thể hiện sự hổ thẹn,ngượng ngùng của mình trước anh linh các vị tướng khi chưa giúp gì cho vua,
cho nước Trong bài Cung họa chế thị chư văn thần nguyên vận, Bùi Văn Dị
đã trực tiếp nói lên nỗi hổ thẹn vì tài năng của mình: Vị tử đan tâm tại/ Phù
sinh bạch phát tăng (Dâng thư lên, hổ thẹn rơi nước mắt/ Việc lui giặc, tự
thấy thiếu tài năng) Nhà thơ luôn thấy tài năng của mình không đủ để đền
Trang 36món nợ “quốc ân” Giống như Bùi Văn Dị, Nguyễn Xuân Ôn “thẹn” khi phải
chứng kiến cảnh giặc hoành hành trước mắt (Đất giặc chỉ bằng một huyện mà
mình phải nộp lụa, Giả Nghị lấy làm thương tâm/ Để cho người Trung nguyên phải xoã tóc, lòng ta thẹn với Di Ngô ) Nguyễn Quang Bích cũng
“thẹn” vì thấy bất lực trước thời đại (Đời người hổ thẹn bạc đầu râu) Sau Bùi
Văn Dị, đầu thế kỷ XX, ta lại gặp nỗi niềm trăn trở, ngượng ngùng trong thơ
Phan Bội Châu Phan Bội Châu thấy Thẹn cùng sông, buồn cùng núi, tủi cùng
trăng (Bài ca chúc tết thanh niên) Cụ “thẹn” vì hơn hai mươi năm hoạt động
cách mạng, tìm đường cứu nước mà chưa giành lại được độc lập, tự do cho
Tổ quốc Cái “thẹn” của Bùi Văn Dị hay của những người trước và sau ôngnhư Phạm Ngũ Lão và Phan Bội Châu đều không phải cái thẹn của một củamột con người riêng tư nhỏ bé mà là cái “thẹn” của một bậc anh hùng, mộtbậc trung quân ưu quốc Cái “thẹn” của họ đều vì đấng minh quân, vì quêhương đất nước Có thể thấy, nỗi “thẹn” quốc ân vị báo dường như là mộtcảm hứng xuyên suốt qua nhiều giai đoạn lịch sử của văn học
Khi rơi vào trạng thái cảm xúc “thẹn” vì thấy mình chưa báo đền được
ơn vua, nợ nước, người ta thường mong muốn và quyết tâm cống hiến Họ cốgắng dốc hết sức mình để phục vụ cho nhân dân Với họ, chưa báo đền ơn vua
nợ nước cũng có nghĩa là chưa thể sống cuộc sống an nhàn Trong bài Trùng
Dương Bắc phú (Tết Trùng Dương đóng quân ở tỉnh Bắc), Bùi Văn Dị đã bộc
lộ suy nghĩ đó: Quốc ân vị báo, gia an tại?/Hái khoát thiên cao nhất nhạn thu
(Ơn nước chưa đền, nhà cửa ở đâu?/ Biển rộng trời cao, một cánh nhạn thu).Khi được giao nhiệm vụ chấm thi, ông đã không giấu nổi sự háo hức, nóng
lòng quyển đến để bắt tay vào việc Câu chuyện đó được kể lại trong Lễ vi thí
viên tác thị đồng sự (Ở trường thi hội, viết gửi đồng sự): Ngũ canh sa lậu hòa yên ấp/ Bán dạ chung thanh đối vũ sơ/ Ngân chúc thiêu tàn trì tống quyển/ Thiền đăng chiếu cận tính quan thư (Năm canh, giọt cát trộn vào khói
ẩm/ Nửa đêm, tiếng chuông đem mưa phùn lại/ Nén bạc đã tàn, quyển thichậm chưa đến/ Đèn chùa chiếu gần, lặng dở sách ra xem) Giữa canh khuya,
Trang 37người thi sĩ âm thầm trông ra ngoài cửa, trời mưa phùn hòa vào khói ẩm thêm
cả tiếng chuông chùa báo chuyển canh Lúc này, mọi người đều đã chìm vàogiấc ngủ yên lành, còn ông vẫn thức để đọc sách Ông phải nhanh chóng hoànthành một cách tốt nhất để không phụ lòng tin tưởng của vua Khi làm việc ở
nội các, ông cũng từng chép lại công việc (Thư sự - Chép việc) hàng ngày của mình, từ sáng đến đêm, không lúc nào rảnh rỗi: Triều thượng Bồng Doanh thị
giảng diên/ Dạ lai Thái Ất chiêu lê nhiên/ Tiên hoàng thủ trạch tân thi sử/ Tam bách thiên di mệnh tục biên (Sáng lên cõi Bồng Doanh hầu giảng sách/
Tối đến thầnThái Ất soi đuốc gỗ lê/ Bộ sử thi mới do Tiên hoàng tự tay viết/
Ba trăm thiên, có di mệnh duyệt tiếp) Không giống như Nguyễn Khuyến, saumột thời gian làm quan thì về sống cuộc đời bình dị tại quê nhà, Bùi Văn Dịchọn con đường khác Bùi Văn Dị từng về Thanh Hóa sống cuộc đời ẩn dật,cùng xướng họa thơ ca với Nguyễn Khuyến, nhưng khi được vua mời ra làmquan, ông lại tiếp tục cống hiến và dốc sức mình cho vua, cho triều đình vànhân dân Ông cũng tự cười mà trách mình bởi phải chăng đã sống vì cái danh
hão: Tùng cúc vị năng cao ngọa ổn/ Bách niên quá bán hối phù danh (Chưa
thể thảnh thơi vui với tùng cúc/ Hối hận quá nửa đời lận đận vì danh hão).Ông nhận nhiều lời chê trách của những nhà nho giữ khí tiết, lấy cách cư xửcủa Bá Di, Thúc Tề làm chuẩn mực, ngay cả người bạn thân – NguyễnKhuyến cũng trách ông Thực tế, ông nhận lời tiếp tục ra làm quan không phải
vì ham chức ham quyền mà là bởi ông muốn cống hiến, muốn thực hiện chínam nhi của mình Năm 1890, ông vẫn hăng hái, dốc hết sức lực của mình,
“chỉ mong cùng chư ông hết sức giúp công cuộc thái bình” (Duy vọng quần
công trí thái bình – Trích Canh Dần xuân, tương nhập đô lưu giản chư thân hữu – Tốn Am thi sao) Dù ở vị trí nào, thời gian nào, ông cũng làm việc một
cách say mê Nhưng một phần vì tâm lý bi quan mà ông thấy hổ thẹn, day dứtnên tự cười cái quyết định của mình Có lần, ông đau đớn khi bất lực nhìn đấtnước dần rơi vào tay thực dân Pháp:
Tinh vệ:
Trang 38Tây phong khởi tuyệt tái
Thương hải phan ba đào
Hữu điểu phàm thạch ai
Độc lập trung lâm hào
Chí trường hạch nãi đoản Thủy thâm sơn cánh cao
Tứ cố hà mang mang Thử sinh không lao lao
(Chim tinh vệ
Gió tây nổi từ nơi ải xa
Biển xanh nổi sóng lừng
Có con chim ngậm đá đau buồn
Đứng một mình giữa rừng gào
khóc
Chí nó lớn mà trụ cánh lại ngắnNước thì sâu mà núi càng caoNhìn bốn chung quanh sao mà mênhmang
Kiếp này chỉ uổng công khó nhọc)
Tinh vệ là một loài chim nhỏ thường sống ở vùng duyên hải ViễnĐông Thần thoại Trung Hoa có nhắc đến Tinh Vệ vốn là con gái của Viêm
Đế họ Thần Nông có nhan sắc tuyệt vời Một lần ra Đông Hải chơi, chẳngmay thuyền của của nàng bị sóng đánh chìm mà chết đuối Linh hồn nàng hóathành một loài chim, nhân gian gọi luôn loài chim ấy bằng tên của nàng Vìoán hận biển cả nên ngày ngày nàng thường ngậm đá ở núi Tây Sơn mang thảxuống hòng lấp biển để trả thù Sau này, người ta dùng điển tích "Tinh Vệhàm thạch" nghĩa là chim Tinh Vệ ngậm đá để chỉ việc oán thù sâu xa Bùivăn Dị đã lấy hình ảnh chim tinh vệ để chỉ mối oán thù của mình đối với thựcdân Pháp – kẻ mang dã tâm chiếm Việt Nam Ở đây, nhà thơ chính là loàichim ấy, ông mang nặng mối thù đất nước nhưng lại tự ý thức được sức lực,tài năng của mình Với ông, cái tài của mình so sự nghiệp to lớn này cũng chỉnhư viên đá nhỏ mà chim tinh vệ đã thả xuống biền Ông tự thừa nhận rằngmình là người có chí nhưng lực bất tòng tâm Đó chính là nỗi thẹn “quốc ân vịbáo”, thẹn vì tài năng và sức lực của mình còn nhiều hạn chế so với yêu cầucủa đất nước Chính điều này đã khiến ông rơi vào trạng thái bất lực, xấu hổ
về bản thân mình Đây là sự bi quan của ông trước cuộc đời, suy nghĩ ấy làmông luôn buồn rầu Sự mâu thuẫn giữa khát vọng và khả năng đã gây ra bikịch cho con người
Trang 39Có thể thấy, Bùi Văn Dị là một nhà nho hành đạo, ngay cả khi tuổi cao,ông vẫn không lánh đời mà vẫn hăng hái xông pha trên đấu trường chính trị,văn hóa, toàn tâm phục vụ đất nước.
Như vậy, qua thơ Bùi Văn Dị, chúng tôi nhận thấy rằng, ông là một conngười luôn giữ trọn đạo vua tôi và nỗ lực cống hiến sức mình cho đất nước,cho dân tộc Cũng vì vậy mà ông luôn mang trong mình nỗi thẹn “quốc ân vịbáo”, ông luôn trách mình chưa làm được nhiều để báo đáp ơn vua Ông thật
sự là một bậc trung thần, một sĩ phu yêu nước sâu sắc cuối thế kỷ XIX Qua
đó cũng cho thấy tư tưởng trung quân “ưu quốc” là phương tiện thể hiện tinhthần yêu nước của quân và dân ta, đặc biệt là khi dân tộc trở thành món mồihấp dẫn của bọn thực dân Pháp
2.1.2. Ca ngợi con người tài đức
Tấm lòng trung quân “ưu quốc” của Bùi Văn Dị còn thể hiện ở sựngưỡng mộ và ca ngợi của ông đối với những người tài đức
Thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, văn học thường chú ý ca ngợi tài năng
cá nhân như cầm, kỳ, thi, họa Nàng Dao Tiên trong Hoa Tiên đã được khắc họa với hình tượng của một con người đầy tài năng (Ngửng lên vách phấn thơ
đâu?/ Keng vàng chữ chữ rắc châu hàng hàng), Thúy Kiều trong Truyện Kiều cũng được Nguyễn Du đặc biệt chú ý về phương diện tài năng (Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm) Đến cuối thế kỷ XIX, tiếp thu người đi trước,
Bùi Văn Dị cũng đề cao tài năng cá nhân con người, nhất là tài năng vănchương Ông ca ngợi Nguyễn Văn Siêu là người có tài số một ở trên đời:
Tuyệt thế hữu giai nhân…/…Văn chương thiên hạ cổ tại (Có người tài phiệt ở
trên đời…/ …Văn chương ông còn lại với ngàn thưở) Tuy nhiên, Bùi Văn Dịkhông chỉ dừng lại ở việc ca ngợi tài năng văn chương mà ông còn đặc biệtchú ý đến tài năng quân sự của các sĩ phu trong phong trào yêu nước, hơn nữaông có xu hướng nghiêng về tài năng này Bùi Ân Niên hết lòng ca ngợi tài
năng quân sự của Tôn Thất Thuyết (Tối liên đại tướng thành công nhật/ Hựu
thị huân thần tận tiết thu - Đáng yêu biết mấy bậc đại tướng trong ngày thành
công/ Cũng lại là lúc vị huân thần tỏ hết khí tiết) Người không chỉ có tài thơ
Trang 40phú mà còn giỏi quân sự Những câu thơ của Bùi Văn Dị không chỉ là lời cangợi mà còn là sự tự hào về con người Việt Nam, tự hào về đội ngũ hiền tàicủa đất nước.
Không chỉ ca ngợi tài năng mà ông còn rất đề cao vẻ đẹp nhân phẩm
Trong bài Ức Vân Lộc Nguyễn tiên sinh (Nhớ tiên sinh Nguyễn Vân Lộc), ông ví Vân Lộc như bậc hiền xưa, như bậc tiên dưới đất (Chân tác địa hành
tiên…Phong tao khởi tích hiền) Hơn nữa, ông còn đưa ra những tấm gương
nhân phẩm tốt đẹp của Trung Hoa để mọi người học tập Trong bài Yết tiên
hiền Tử Cống từ (Bài từ về việc đến bái yết tiên hiền Tử Cống) ông viết: Hạ
Ân hồ liễn khí/ Khổng môn cao đệ tuyển/ Nhất quan tác ấp Tể/ Thiên thu lưu
đỗ điện (Là báu vật thời Hạ Ân/ Là đệ tử chốn Khổng Môn/ Một lần làm quan
ở đất Tể/ Còn lưu đến thiên thu) Tử Cống (người Trung Quốc) là một trongnhững học trò xuất sắc của Khổng Tử Tử Cống không chỉ là người có tài màcòn là người đức độ Trong đời chỉ một lần làm quan ở nước Tể nhưng để lạitiếng vang muôn đời bởi đã yêu thương và giúp đỡ rất nhiều cho nhân dân
Dù là người Việt Nam hay Trung Quốc thì đối với Bùi Văn Dị, những conngười tài năng và phẩm chất tốt đẹp luôn cần được tôn vinh Ông coi họ lànhững tấm gương sáng, cần phải noi theo để giữ trọn được tấm lòng trungquân “ưu quốc” của mình
2.1.3. Khát vọng đất nước độc lập, thái bình
Đến cuối thế kỷ XIX, Pháp nổ súng xâm lược nước ta và nhanh chóngchiếm được Nam bộ Mâu thuẫn dân tộc được đặt lên hàng đầu Lúc này, vua,quan và dân đều dựa vào cương thường để chống ngoại xâm Nguyễn ĐìnhChiểu, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích, Phan Đình Phùng, đã dùngNho giáo để củng cố mọi quan hệ như vua và quan, vua và dân, quan và dân,đồng thời qua đó thể hiện tinh thần chiến đấu chống lại kẻ thù Đây là thờiđiểm mà tinh thần yêu nước – truyền thống quý báu của dân tộc phát triểnmạnh mẽ Tinh thần yêu nước trải qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau lại
có những biểu hiện cụ thể khác nhau Trong thời bình, yêu nước gắn liền vớilao động, sản xuất, gắn với yêu vua, yêu dân, yêu truyền thống văn hóa