1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn kinh tế vĩ mô chủ đề lạm phát kinh tế

13 452 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 143,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thật ra trong nhiều trường hợp chưa hẳn là như vậy, nhà nước có thể tăng cungứng tiền tệ mà không làm cho giá cả tăng, không gây ra lạm phát, nếu như khối lượng tăng đó phù hợp với khối

Trang 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LẠM PHÁT

1.1 Khái niệm lạm phát

Lạm phát là một phạm trù kinh tế khách quan phát sinh từ chế độ lưu thông tiền giấy Điều này xuất phát từ chỗ tiền giấy chỉ là một loại dấu hiệu giá trị được phát hành vào lưu thông để thay thế cho tiền đủ giá nhằm thực hiện vai trò trung gian trao đổi Bản thân tiền giấy không có giá trị nội tại mà chỉ mang giá trị danh nghĩa Do đó, khi có hiện tượng thừa tiền giấy trong lưu thông thì người ta không có xu hướng giữ lại trong tay mình những đồng tiền bị mất giá và lượng tiền thừa sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất

và lưu thông hàng hóa

Có nhiều nhà kinh tế đã đi tìm một định nghĩa đúng cho thuật ngữ lạm phát, nhưng nói chung chưa có một sự thống nhất hoàn toàn Có quan điểm cổ điển cho rằng lạm phát xảy ra khi số tiền lưu hành vượt quá dự trữ vàng làm đảm bảo của ngân hàng phát hành

Cụ thể, người ta dựa vào tỷ lệ đảm bảo của tiền tệ để xem xét có lạm phát hay không Chẳng hạn nếu pháp luật ấn định rằng tỷ lệ đảm bảo tối thiểu của tiền tệ 40%, khi tỷ lệ đó xuống dưới mức pháp định tức là ngân hàng đã phát hành tiền quá mức Quan điểm này coi trọng cơ sở đảm bảo của tiền

Quan điểm khác cho rằng lạm phát là sự mất cân đối giữa tiền và hàng trong nền kinh tế Có thể tóm tắt trong phương trình Fisher: M.V = P.Y Nếu tổng khối lượng tiền lưu hành (M) tăng thêm trong khi tổng lượng hàng hóa - dịch vụ được trao đổi (Y) giữ vững, tất nhiên mức giá trung bình (P) phải tăng Và nếu thêm vào đó tốc độ lưu thông tiền tệ (V) tăng thì P tăng rất nhanh Để khắc phục tình trạng này, cần dùng biện pháp thích hợp để thiết lập lại cân đối giữa tiền và hàn hóa trong nền kinh tế

Quan điểm tĩnh về lạm phát nêu trên tuy giúp ta hiểu rõ về hiện tượng lạm phát, nhưng không cho biết nguyên nhân của lạm phát và khiến cho ta lầm tưởng lạm phát cao

là kết quả của việc tăng trưởng mức cung tiền tệ cao Thật ra trong nhiều trường hợp chưa hẳn là như vậy, nhà nước có thể tăng cungứng tiền tệ mà không làm cho giá cả tăng, không gây ra lạm phát, nếu như khối lượng tăng đó phù hợp với khối tiền cần thiết cho lưu thông, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế

Lại có quan điểm cho rằng lạm phát là sự tăng giá của các loại hàng hóa (tư liệu tiêu dùng, tư liệu sản xuất và hàng hóa sức lao động) Lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chi phí tăng Theo quan điểm này thì giá cả tăng lên cho dù bất kỳ nguyên

Trang 2

nhân nào đều là lạm phát Lạm phát và giá cả tăng đều cùng một ý nghĩa Thật ra giá cả đồng loạt tăng lên chỉ là một trong những biểu hiện cơ bản của lạm phát mà thôi

Vậy lạm phát là gì? Lạm phát là hiện tượng tiền trong lưu thông vượt quá nhu

cầu cần thiết làm cho chúng bị mất giá, giá cả của hầu hết các loại hàng hóa tăng lên đồng loạt và liên tục.

Biểu hiện của lạm phát:

- Sự gia tăng liên tục trong mức giá chung Điều này không nhất thiết là giá cả của mọi hàng hóa và dịch vụ đồng thời phải tăng lên theo cùng một tỷ lệ, thậm chí giá của một số hàng hóa có thể giảm nhưng giá cả của các hoàng hóa và dịch vụ khác phải tăng

đủ mạnh để mức giá trung bình tăng lên Một điều quan trọng cần nhấn mạnh là lạm phát không chỉ đơn thuần là sự gia tăng của mức giá mà đó phải là sự gia tăng liên tục trong mức giá Nếu như chỉ có một cú sốc xuất hiện làm mức giá chỉ đột ngột bùng lên rồi lại giảm trở lại mức ban đầu ngay sau đó thì hiện tượng này không được gọi là lạm phát

- Sự suy giảm sức mua trong nước của đồng nội tệ Trong bối cảnh lạm phát thì một đơn vị tiền tệ chỉ có thể mua được ngày càng ít hàng hóa và dịch vụ hơn Hay nói một cách khác chúng ta sẽ phải chi ngày càng nhiều đồng nội tệ hơn để mua một giỏ hàng hóa và dịch vụ cố định khi có lạm phát xảy ra

1.2 Đo lường lạm phát

Các nhà kinh tế thường đo lường lạm phát bằng hai chỉ tiêu thông dụng là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số điều chỉnh GDP (DGDP)

Để tính tốc độ lạm phát theo CPI, người ta sẽ dựa vào một rổ hàng hóa tiêu dùng và giá cả của những hàng hóa trong rổ tại hai thời điểm khác nhau Còn cách tính thứ hai,

DGDP được tính bằng tỷ số tổng sản phẩm quốc dân (GDP) danh nghĩa và GDP thực tế phản ánh mức giá hiện hành so với mức giá của năm cơ sở đo lường mức giá trung bình của tất cả mọi hàng hóa dịch vụ được tính vào GDP

Tỷ lệ lạm phát được tính bằng phần trăm thay đổi của mức giái chung theo công thức sau:

π t=P tP t −1

P t −1 ∗100 %

Trang 3

Với Pt là mức giá thời kỳ t, Pt-1 là mức giá của thời kỳ trước đó.

1.3 Nguyên nhân dẫn đến lạm phát

1.3.1 Lạm phát do cầu kéo

Đây chính là sự mất cân đối trong quan hệ cung – cầu Nguyên nhân chính là do tổng cầu tăng quá nhanh trong khi tổng cung không tăng hoặc tăng không kịp

Với đường tổng cung AS, khi tổng cầu (AD) dịch chuyển sang phải (ADo ->AD1 ->

AD2), kéo theo giá cả tăng lên và lạm phát xảy ra

Hình 1: Lạm phát do cầu kéo

Có nhiều lý do làm cho tổng cầu gia tăng Ta thấy:

AD = C + I + G + (X – M)

Trong đó, AD: Tổng cầu; C: Chi tiêu của người tiêu dung; I: Đầu tư; G: Chi tiêu của Chính phủ; X: Xuất khẩu; M: Nhập khẩu

Sự gia tăng tổng cầu có thể là do người tiêu dùng tiêu dùng nhiều hơn (chẳng hạn,

do lãi suất giảm, thuế giảm, thu nhập tăng, ); các doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn (do kỳ vọng tăng trưởng kinh tế ở tương lai); chính phủ tiêu dùng nhiều hơn do thực hiện việc đẩy mạnh chính sách trợ cấp xã hội, chính sách kích cầu để phát triển kinh tế Lạm phát cũng có nguyên nhân từ nhu cầu xuất khẩu Khi nhu cầu xuất khẩu tăng, lượng hàng hóa còn lại để cung ứng trong nước giảm và do vậy làm tăng mức giá trong nước

Trong đồ thị tổng cung - tổng cầu, lạm phát do cầu kéo xuất hiện khi có sự dịch chuyển sang bên phải của đường tổng cầu Như minh họa, sự gia tăng của một thành tố

Trang 4

nào đó của tổng cầu sẽ làm dịch chuyển đường tổng cầu sang bên phải D0 đường tổng cung dốc lên trong ngắn hạn, nền kinh tế sẽ có tốc độ tăng trưởng cao hơn và thất nghiệp thấp hơn, nhưng đồng thời lại phải đối mặt với lạm phát Rõ ràng lạm phát do cầu kéo sẽ không phải là vấn đề mà thực ra còn cần thiết và có lợi cho nền kinh tế nếu như nền kinh

tế còn nhiều nguồn lực chưa sử dụng như trong trường hợp đường tổng cầu dịch chuyển

từ AD 0 đến AD 1: lạm phát sẽ khá thấp trong khi sản lượng và việc làm sẽ tăng đáng kể Ngược lại, lạm phát do cầu kéo sẽ trở thành vấn đề thực sự nếu như toàn bộ nguồn lực đã

sử dụng hết và đường tổng cung trở nên rất dốc như trong trường hợp đường tổng cầu

dịch chuyển từ AD 1 đến AD 2 Khi đó, sự gia tăng tổng cầu chủ yếu đẩy lạm phát dâng cao trong khi sản lượng và việc làm tăng lên rất ít

1.3.2 Lạm phát do chi phí đẩy

Lạm phát chi phí đẩy xảy ra khi chi phí gia tăng một cách độc lập với tổng cầu Đường tổng cung dịch chuyển sang trái do chi phí tăng (AS0 -> AS1), vì thế đẩy giá cả tăng

Hình 2: Lạm phát do chi phí đẩy

Cần lưu ý rằng, chi phí gia tăng trong thời kỳ bùng nổ kinh tế, nói chung đó là hiện tượng lạm phát cầu kéo, chứ không phải lạm phát chi phí đẩy Chẳng hạn, nếu tiền lương tăng lên bởi nhu cầu mở rộng nhanh, khi đó tiền lương đơn giản chỉ phản ánh sức

ép của thị trường, đó là lạm phát cầu kéo, dẫn đến chi phí gia tăng Có thể xem xét các trường hợp chi phí đẩy như sau:

- Chi phí tiền lương

Trang 5

Tiền lương gia tăng do áp lực từ quyền lực công đoàn, từ chính sách điều chỉnh tăng lương của chính phủ, đó là chi phí đẩy Khi công đoàn thành công trong việc đẩy tiền lương lên cao, các doanh nghiệp sẽ tìm cách tăng giá và kết quả là lạm phát xuất hiện

- Nhập khẩu lạm phát

Trong nền kinh tế toàn cầu, các doanh nghiệp phải nhập một lượng không nhỏ nguyên nhiên vật liệu từ nước ngoài Nếu chi phí của những nguyên liệu gia tăng do nhiều nguyên nhân không thuộc sự kiểm soát trong nước thì khi đó doanh nghiệp phải chấp nhận mua nguyên vật liệu với giá cao Có thể xem xét các lý do như:

 Tỷ giá hối đoái: Nếu như đồng nội tệ bị mất giá, hàng hóa xuất khẩu trong nước

sẽ trở nên rẻ hơn ở nước ngoài, nhưng hàng hóa nhập khẩu lại trở nên đắt đỏ hơn Khi đó các doanh nghiệp phải trả nhiều tiền hơn để nhập khẩu nguyên vật liệu

 Thay đổi giá cả hàng hóa: Nếu như có sự gia tăng giá cả hàng hóa trên thị trường thế giới thì các doanh nghiệp trong nước sẽ phải đối mặt với chi phí cao hơn nếu như họ

sử dụng các loại hàng hóa này làm nguyên vật liệu để sản xuất kinh doanh

 Những cú sốc từ bên ngoài: Các cuộc khủng hoảng về nhiên liệu, nguyên vật liệu

cơ bản như dầu mỏ, sắt thép,… cũng làm cho giá cả nhập khẩu của những loại hàng hóa này tăng lên và đẩy chi phí sản xuất trong nước tăng lên

 Thiếu hụt nguồn tài nguyên: Một khi các nguồn tài nguyên bị khai thác cạn kiệt

sẽ không tránh khỏi tình trạng giá cả dần dần gia tăng Điều này làm gia tăng chi phí của doanh nghiệp và đẩy giá cả hàng hóa tăng lên cho đến khi doanh nghiệp tìm kiếm được nguồn lực khác thay thế (nếu có thể)

1.3.3 Cung tiền tăng quá mức

Theo quan điểm của các nhà kinh tế thuộc trường phái tiền tệm, cung tiền tệ (MS) tăng lên kéo dài sẽ làm cho mức giá cả tăng kéo dài và gây ra lạm phát Ban đầu nền kinh

tế ở điểm 1, với sản lượng đạt ở mức sản lượng tiềm năng Yn và tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, tương ứng với mức giá cả P1 - điểm giao nhau của đường tổng cung AS1 và đường tổng cầu AD1

Trang 6

Hình 3: Lạm phát do cung tiền tăng

Khi cung tiền tệ tăng lên thì đường tổng cầu di chuyển sang phải đến AD2 Trong một thời gian rất ngắn, nền kinh tế sẽ chuyển động đến điểm 1’ và sản phẩm tăng lên trên mức tiềm năng, tức là đạt tới Y’ (Y’ > Yn) Điều đó đã làm giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, tiền lương tăng lên và làm giảm tổng cung - đường tổng cung dịch chuyển vào đến AS2 Tại đây, nền kinh tế quay trở lại mức tỷ lệ tự nhiên của sản phẩm trên đường tổng cung dài hạn ở điểm cân bằng mới (điểm 2), mức giá đã tăng từ P1 đến P2 Nếu cung tiền tệ vẫn tiếp tục tăng thì sự dịch chuyển của đường tổng cầu và tổng cung như trên lại tiếp tục diễn ra và nền kinh tế đạt tới mức giá cả ngày càng cao hơn, lạm phát tăng cao

Trang 7

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN LẠM PHÁT

Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY 2.1 Lạm phát giai đoạn 2000 – 2008

2.1.1 Diễn biến

Ngoại trừ mức giảm phát nhẹ trong năm đầu tiên, tỷ lệ lạm phát ở giai đoạn

2000-2008 nhìn chung tăng qua các năm Năm 2000 có sự giảm phát nhẹ (0,5%) mặc dù tiền tệ

và tín dụng tăng rất nhanh (30-40%/năm) và đồng Việt Nam phá giá mạnh (khoảng 36%) trong gia đoạn 1997-2003 Điều này là do dư âm của cuộc khủng hoảng châu Á năm

1997 Sau giai đoạn ổn định ở mức thấp những năm đầu tiên của giai đoạn, lạm phát bắt đầu tăng với tỷ lệ 9,5% trong năm 2004, cao hơn rất nhiều so với mục tiêu 6% mà Chính phủ đề ra

Nguồn : Tổng Cục Thống kê Việt Nam

Hình 4 : Diễn biến lạm phát, tăng trưởng cung tiền và tín dụng đối với nền kinh

tế Việt Nam 1996 - 2009

Lạm phát, sau khi giảm nhẹ trong năm 2006 đã lại tăng mạnh tới 12,6% trong năm

2007 và lên tới xấp xỉ 20% năm 2008

Trang 8

2.1.2 Nguyên nhân gây ra lạm phát

Lạm phát ở Việt Nam là do sự tác động tổ hợp của cả ba dạng thức lạm phát: lạm phát tiền tệ, lạm phát cầu kéo và lạm phát chi phí đẩy

Lạm phát tiền tệ: Hình 4 cho thấy tiền tệ/tín dụng và lạm phát có mối tương quan

rõ ràng hơn từ năm 2003 Khi tiền tệ/tín dụng tăng thì lạm phát cũng tăng theo Cuối

2006, Việt Nam gia nhập WTO khiến luồng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đổ vào Việt Nam, đẩy giá chứng khoán và tài sản lên rất cao Để giữ ổn địnhtỷ giá, NHNN đã phải bơm một lượng tiền đồng lớn vào nền kinh tế, làm tăng lượng tiền trong lưu thông với mức tăng trên 30%, hạn mức tín dụng cũng tăng cao, mức tăng 38% đã khiến trầm trọng hơn tình trạng lạm phát

Lạm phát cầu kéo: Từ năm 2003, khi các tác động tiêu cực đối với tăng trưởng

của khủng hoảng Châu Á giảm đi, cầu bắt đầu tăng lên Đầu tư bao gồm đầu tư công và đầu tư của các doanh nghiệp tăng, thu nhập dân cư, kể cả thu nhập do xuất khẩu lao động

và người thân từ nước ngoài gửi về không được tính vào tổng sản phẩm quốc nội cũng tăng, làm xuất hiện trong một bộ phận dân cư những nhu cầu mới cao hơn Biểu hiện rõ nhất của lạm phát cầu kéo là nhu cầu nhập khẩu lương thực trên thị trường thế giới tăng, làm giá xuất khẩu tăng (giá xuất khẩu gạo bình quân của nước ta năm 2007 tăng trên 15%

so với năm 2006) kéo theo cầu về lương thực trong nước cho xuất khẩu tăng Trong khi

đó, nguồn cung trong nước do tác động của thiên tai, dịch bệnh (như dịch cúm gà) không thể tăng kịp Tất cả các yếu tố nói trên gây ra lạm phát cầu kéo, đẩy giá một số hàng hoá

và dịch vụ, nhất là lương thực thực phẩm tăng theo

Lạm phát chi phí đẩy: Cầu tăng lên cùng với sự tăng lên của tiền lương danh

nghĩa ở cả khu vực nhà nước và khu vực FDI trong năm 2003 đã khiến giá cả tăng lên Ở giai đoạn này, giá nguyên liệu, nhiên liệu (đặc biệt là xăng dầu, các sản phẩm hoá dầu, thép và phôi thép v.v…) trên thế giới tăng mạnh Trong điều kiện kinh tế nước ta phụ thuộc rất lớn vào nhập khẩu (nhập khẩu chiếm đến 90% GDP) giá nguyên liệu nhập tăng làm tăng giá thị trường trong nước

2.2 Lạm phát giai đoạn 2008 – nay

2.2.1 Diễn biến

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008-2009 đã góp phần làm giảm lạm phát ở Việt Nam từ cuối năm 2009 Năm 2008 là một năm đáng nhớ đối với kinh vĩ mô cũng

Trang 9

như tình hình lạm phát ở Việt Nam Chỉ số CPI đã liên tục tăng cao từ đầu năm Nỗi lo lạm phát thực sự đã xuất hiện vào thời điểm Tổng cục Thống kê công bố CPI tháng 2/2008 đạt mức tăng 3,56% so với tháng trước Trong đó, mặt hàng gạo có ảnh hưởng khá lớn, giá của loại lương thực này tăng liên tục trên thị trường thế giới.Ở mức tăng cao nhất, tháng Năm đạt đỉnh tăng của năm 2008 với 3,91% Trong khi đó, tháng sáu chỉ số CPI đã tăng chậm lại do các biện pháp chống lạm phát của Chính phủ (tăng 2,14%) và tháng bảy còn 1,13% Lạm phát năm 2008 là gần 20%, sau đó giảm về 9,17% năm 2009

2

4

6

8

10

12

14

16

18

20

17.18

9.17

11.75

18.6

6.81

4.63

tỉ lệ lạm phát

Hình 5: Diễn biến tình hình lạm phát Việt Nam 2008 – 9 tháng đầu năm 2013

Trong năm 2010, do dịp Tết nguyên đán và việc tăng giá điện, lạm phát trong hai tháng đầu năm tăng cao Năm tháng tiếp theo của năm 2010 chứng kiến tỷ lệ lạm phát tương đối ổn định ở mức thấp chứng tỏ các biện pháp kiểm soát lạm phát của Chính phủ

đã có tác động Tuy nhiên, lạm phát lại tăng trở lại mạnh mẽ từ tháng 9 năm 2010 khiến cho chỉ số giá tiêu dùng CPI cho 11 tháng đã tăng lên đến 9,58% so với 20,71% và 5,07% của cùng kỳ năm 2008 và 2009 Việc phá giá VND so với USD trong tháng 8 năm 2010

và biến động của thị rường vàng trong nước và quốc tế được coi là một vài trong số những nguyên nhânchủ yếu khiến cho lạm phát tăng cao lúc này

Trang 10

Theo đánh giá của bộ phận thống kê ASEAN, trong 3 năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã được cải thiện và tương đối ổn định Cụ thể, lạm phát đã giảm từ mức 2 con

số năm 2011 (18,13%) xuống mức 1 con số (6,81% năm 2012 và 5,92% trong 10 tháng đầu năm 2013

Năm 2011, tỉ lệ lạm phát thực tế 18,13% trong khi tỉ lệ lạm phát dự kiến đầu năm

< 7% Mục tiêu của Chính phủ là ưu tiên lạm phát, tuy nhiên quý I năm 2011 lạm phát

tăng cao Ba tháng đầu năm, riêng tháng một mức lạm phát thấp dưới 2% còn lạm phát tháng hai và tháng ba đều đạt trên 2% với mức tăng cụ thể là 2,09% và 2,17% Lạm phát tăng cao trong bốn tháng đầu năm do sức ép từ tỷ giá, giá cả hàng hóa năng lượng và cung tiền, sau đó giảm tốc từ tháng năm và tháng sáu nhờ những nỗ lực ổn định hóa quyết liệt của Chính phủ

Sang đến năm 2012, tăng trưởng kinh tế chỉ ở mức 5,03%, thấp hơn nhiều so với mức dự báo Trong khi lạm phát ở mức 6,81%, thấp hơn so với ngưỡng kế hoạch là 10% CPI tháng hai năm 2012 tăng 0,27% so với tháng 11 và tăng 6,81% so với tháng 12/2011 CPI bình quân năm 2012 tăng 9,21% so với bình quân năm 2011, CPI tăng không quá cao vào hai tháng đầu năm (tăng 1,0% vào tháng một và tăng 1,37% vào tháng hai) nhưng tăng cao nhất vào tháng 9 với mức tăng 2,20% Đây là tháng chịu tác động chủ yếu của nhóm thuốc và dịch vụ y tế và nhóm giáo dục Sau đó, mức tăng CPI đã chậm dần trong những tháng cuối năm

Năm 2013, theo Báo cáo số liệu thống kê kinh tế - xã hội của năm, trong tháng 12, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đã tăng 0,51% so với tháng 11và tăng 6,04% so với cùng kỳ tháng 12/2012 Đây là năm có chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp nhất trong 10 năm trở lại đây Năm có CPI cao nhất là 2008, tăng 19,89% Các năm 2007 tăng 12,63% và năm

2011 tăng 18,13% Trong 2 năm 2012 và 2013 với các biện pháp kiềm chế, tốc độ lạm phát đã được “hãm phanh”.Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2013 tăng 6,6% so với bình quân năm 2012, thấp hơn nhiều so với mức tăng 9,21% của năm 2012

Trong năm 2013, CPI tăng cao vào quý I và quý III với mức tăng bình quân tháng

là 0,8%; quý II và quý IV, CPI tương đối ổn định và tăng ở mức thấp với mức tăng bình quân tháng là 0,4%.Trong các nhóm hàng hóa và dịch vụ, nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng có chỉ số giá tháng 12/2013 so với tháng trước tăng cao nhất với mức tăng 2,31%, nguyên nhân do việc điều chỉnh giá gas hồi đầu tháng Một số nhóm hàng hóa và dịch vụ

Ngày đăng: 10/03/2016, 22:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Lạm phát do cầu kéo - Tiểu luận môn kinh tế vĩ mô chủ đề lạm phát kinh tế
Hình 1 Lạm phát do cầu kéo (Trang 3)
Hình 2: Lạm phát do chi phí đẩy - Tiểu luận môn kinh tế vĩ mô chủ đề lạm phát kinh tế
Hình 2 Lạm phát do chi phí đẩy (Trang 4)
Hình 3: Lạm phát do cung tiền tăng - Tiểu luận môn kinh tế vĩ mô chủ đề lạm phát kinh tế
Hình 3 Lạm phát do cung tiền tăng (Trang 6)
Hình 4 : Diễn biến lạm phát, tăng trưởng cung tiền và tín dụng đối với nền kinh - Tiểu luận môn kinh tế vĩ mô chủ đề lạm phát kinh tế
Hình 4 Diễn biến lạm phát, tăng trưởng cung tiền và tín dụng đối với nền kinh (Trang 7)
Hình 5: Diễn biến tình hình lạm phát Việt Nam 2008 – 9 tháng đầu năm 2013 - Tiểu luận môn kinh tế vĩ mô chủ đề lạm phát kinh tế
Hình 5 Diễn biến tình hình lạm phát Việt Nam 2008 – 9 tháng đầu năm 2013 (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w