Do sức mua của đồng Việt Nam giảm, giá vàng và ngoại tệ tăng cao, việc huy động vốn có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên thật sự khó khăn đối với mỗi ngân hàng, trong khi nhu cầu vay vốn trung v
Trang 1ĐỀ TÀI: VẤN ĐỀ VỀ LẠM PHÁT NGÂN HÀNG 2016 – 2017
Tên sinh viên: Lê Thị Hồng Nhung Lớp: TCNH – K8A3
STT: 61
Trang 21 Ảnh hưởng của lạm phát đến hoạt động của ngân hàng
Đối với hoạt động huy động vốn: do lạm phát tăng cao, việc huy động vốn của các ngân hàng gặp nhiều khó khăn Để huy động được vốn, hoặc không muốn vốn từ ngân hàng mình chạy sang các ngân hàng khác, thì phải nâng lãi suất huy động sát với diễn biến của thị trường vốn Nhưng nâng lên bao nhiêu là hợp lý, luôn là bài toán khó đối với mỗi ngân hàng Một cuộc chạy đua lãi suất huy động ngoài mong đợi tại hầu hết các ngân hàng (17% – 18%/năm cho kỳ hạn tuần hoặc tháng), luôn tạo ra mặt bằng lãi suất huy động mới, rồi lại tiếp tục cạnh tranh đẩy lãi suất huy động lên, có ngân hàng đưa lãi suất huy động gần sát lãi suất tín dụng, kinh doanh ngân hàng lỗ lớn nhưng vẫn thực hiện, gây ảnh hưởng bất ổn cho cả hệ thống NHTM
Lạm phát tăng cao, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) phải thực hiện thắt chặt tiền tệ để giảm khối lượng tiền trong lưu thông, nhưng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh vẫn rất lớn, các ngân hàng chỉ có thể đáp ứng cho một số ít khách hàng với những hợp đồng đã ký hoặc những dự án thực sự có hiệu quả, với mức độ rủi ro cho phép Mặt khác, do lãi suất huy động tăng cao, thì lãi suất cho vay cũng cao, điều này đã làm xấu đi về môi trường đầu tư của ngân hàng, rủi ro đạo đức sẽ xuất hiện Do sức mua của đồng Việt Nam giảm, giá vàng và ngoại tệ tăng cao, việc huy động vốn có kỳ hạn từ
6 tháng trở lên thật sự khó khăn đối với mỗi ngân hàng, trong khi nhu cầu vay vốn trung
và dài hạn đối với các khách hàng rất lớn, vì vậy việc dùng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn trong thời gian qua tại mỗi ngân hàng là không nhỏ Điều này đã ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các ngân hàng, nên rủi ro kỳ hạn và rủi ro tỷ giá xảy ra
là điều khó tránh khỏi
Do lạm phát cao, không ít doanh nghiệp cũng như người dân giao dịch hàng hóa, thanh toán trực tiếp cho nhau bằng tiền mặt, đặc biệt trong điều kiện lạm phát, nhưng lại khan hiếm tiền mặt Theo điều tra của Ngân hàng thế giới (WB), ở Việt Nam có khoảng 35% lượng tiền lưu thông ngoài ngân hàng, trên 50% giao dịchkhông qua ngân hàng, trong đó trên 90% dân cư không thanh toán qua ngân hàng Khối lượng tiền lưu thông ngoài ngân hàng lớn, NHNN thực sự khó khăn trong việc kiểm soát chu chuyển của luồng tiền này, các NHTM cũng khó khăn trong việc phát triển các dịch vụ phi tín dụng, đặc biệt là dịch
Trang 3vụ thanh toán qua ngân hàng Vốn tiền thiếu, nhiều doanh nghiệp thực hiện mua chịu, bán chịu, công nợ thanh toán tăng, thoát ly ngoài hoạt động
Như vậy lạm phát tăng cao đã làm suy yếu, thậm chí phá vỡ thị trường vốn, ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các NHTM Sự không ổn định của giá cả, bao gồm cả giá vốn, đã làm suy giảm lòng tin của các nhà đầu tư và dân chúng, gây khó khăn cho sự lựa chọn các quyết định của khách hàng cũng như các thể chế tài chính – tín dụng Vì vậy xét ở góc độ các NHTM cần có những biện pháp kiềm chế lạm phát
2 Các biện pháp kiềm chế lạm phát của ngân hàng thương mại
Kiềm chế lạm phát đến nay đã có tác dụng bước đầu, NHNN đã từng bước ổn định được thị trường tiền tệ, kiểm soát tăng trưởng tín dụng của từng NHTM Song một điều nhận thấy rõ là những dấu hiệu của bất ổn vĩ mô chưa thuyên giảm, nhập siêu vẫn rất lớn, thâm hụt thương mại cao, trong khi một số doanh nghiệp lại thiếu vốn để sản xuất, xuất khẩu
Vì vậy, những tháng còn lại của năm 2008, tín dụng và lãi suất của các NHTM cần được điều chỉnh hợp lý hơn để vừa kiểm soát được tăng trưởng tín dụng, đáp ứng vốn cho các doanh nghiệp sản xuất kinhdoanh có hiệu quả cao, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển, vừa kiểm soát được lạm phát, vừa góp phần ổn định vi mô Cụ thể:
Thứ nhất, kiểm soát tăng trưởng tín dụng
Mỗi NHTM tự điều chỉnh cơ cấu tín dụng theo hướng giảm dư nợ và tỷ trọng tín dụng trung, dài hạn để phù hợp với quy mô và thời hạn huy động vốn Tăng vòng quay vốn tín dụng, sẽ giảm bớt khó khăn do thiếu vốn Trước mắt chỉ nên dành vốn vào những dự án nhanh tạo ra khối lượng hàng hoá đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội
Thứ hai, điều hành giá mua và bán vốn (lãi suất) ổn định và theo xu hướng giảm dần
Tăng lãi suất là giảm cung tiền, kiềm chế tăng trưởng tín dụng nóng Tuy nhiên, lãi suất liên tục tăng cao không chỉ có khó khăn rất lớn cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận vốn vay, mà còn kho khăn cho NHTM trong việc huy động vốn trung và dài hạn, nhưng nó chỉ là biện pháp trong ngắn hạn Khi gói giải pháp tài chính – tiền tệ đã được triển khai một cách đồng bộ, lạm phát được kiểm soát ở mức độ nhất định, thì một trong những công cụ cần điều chỉnh ngay – đó là lãi suất kinh doanh của các NHTM
Thực tế cho thấy, sau khi NHNN điều chỉnh lãi suất cơ bản lên 12% và 14%/năm vào tháng 5 và 6 năm 2008 vừa qua, đã xuất hiện cuộc chạy đua lãi suất giữa các NHTM, mà
mở đầu là các NHTMCP nhỏ, buộc các NHTM lớn cũng phải theo nếu không muốn mất
Trang 4khách hàng, kéo theo một lượng vốn nhất định Lãi suất tăng cao để thu hút tiền về, kiềm chế tăng trưởng tín dụng nóng là rất cần thiết Song cũng chính từ cuộc đua lãi suất của các NHTM vừa qua đã có tác động tiêu cực đối với thị trường tài chính, nền kinh tế và môi trường kinh doanh của chính các ngân hàng Đối với các NHTM: chi phí huy động vốn cao, làm giảm khả năng sinh lời, khiến ngân hàng phải tăng cường nới rộng tín dụng, làm tăng khả năng rủi ro trong hoạt động Đối với thị trường tài chính: lãi suất tiết kiệm càng cao, càng làm cho giá chứng khoán giảm xuống, huy động vốn của các doanh nghiêp trên thị trường tài chính càng khó khăn, gây áp lực lớn về vốn trung và dài hạn lên các NHTM Còn đối với nền kinh tế: lãi suất huy động và cho vay ở mức cao, đã làm giảm đầu tư tư nhân, làm tăng chi phí vay mượn, và giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế Tình trạng này kéo dài sẽ làm cho nền kinh tế trở nên xấu hơn, vi
mô tiếp tục bất ổn hơn, ảnh hưởng lớn đến an sinh xã hội Như vậy, tăng lãi suất chỉ là biện pháp cấp bách trong ngắn hạn, một khi tăng lãi suất bắt đầu tỏ ra không hiệu quả xét
cả ở khía cạnh vĩ mô và vi mô, thì việc duy trì lãi suất ổn định và theo xu hướng giảm dần, cần được đặt ra đối với các NHTM ở những tháng còn lại của năm 2008
Để xu hướng này diễn ra như mong muốn, thì NHNN có vai trò rất quan trọng trong việc kiểm tra, giám sát với những chế tài cụ thể và đủ mạnh đối với các NHTM cố tình tăng lãi suất huy động vốn quá cao vượt quá ngưỡng an toàn, đưa những chi phí bất hợp lý vào giá của khoản vay, để làm lành mạnh môi trường đầu tư, cho vay của chính các ngân hàng
Liên quan đến lãi suất tín dụng là phạm trù tỷ giá hối đoái Ở Việt Nam, do tiền đồng chưa phải la đồng tiền chuyển đổi, trong khi tình trạng đôla hoá lại ở mức cao, vì vậy xử
lý lãi suất không thể tách rời việc xử lý tỷ giá hối đoái Vừa qua tỷ giá hối đoái đã được điều chỉnh với biên độ +/- đê khuyến khích xuất khẩu và chủ động nhập khẩu Cho đến nay vẫn có nhiều ý kiến cho rằng nên phá giá đồng tiền Việt Nam với biên độ rộng hơn nữa để khuyến khích xuất khẩu
Thứ ba, phát triển các dịch vụ phi tín dụng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt
Phát triển các dịch vụ phi tín dụng vừa có điều kiện tăng thu nhập cho ngân hàng, vừa thu hút khách hàng đến với ngân hàng để tăng khả năng huy động vốn với chi phí thấp Để tăng tỉ lệ dịch vụ phi tín dụng, về phía các ngân hàng cần:
Trang 5Nâng cao chất lượng và tính tiện ích của dịch vụ theo hướng: (i) Đối với dịch vụ truyền
thống: đây là yếu tố nền tảng không chỉ có ý nghĩa duy trì khách hàng truyền thống, tạo nguồn thu nhập lớn nhất cho ngân hàng, mà còn phát triển các dịch vụ mới trên nền tảng của dịch vụ truyền thống để thu hút các khách hàng tiềm năng (ii) Đối với các dịch vụ hiện đại, cần thực hiện chiến lược Marketing sâu rộng, có chính sách khuyến khích khách hàng (chính sách phí, khuyễn mãi…) sử dụng các dịch vụ ngân hàng điện tử như dịch vụ
mở tài khoản cá nhân, thanh toán, chi trả thu nhập theo hướng không dùng tiền mặt qua thẻ ATM
Bên cạnh kênh truyền thống để cung ứng các dịch vụ ngân hàng bán lẻ đến người sử dụng, cần phát triển các kênh phân phối hiện đại như các loại hình giao dịch tại nhà, qua điện thoại, internet, ngân hàng tự phục vụ (self-service outlest)…
Thứ tư, nâng cao hiệu quả quản trị tài sản nợ – có, đặc biệt là quản trị thanh khoản
Tình trạng lộn xộn trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng trong thời gian qua, suy cho cùng đều bắt nguồn từ việc các ngân hàng chưa quản lý tốt rủi ro thanh khoản Do sự yếu kém từ quản trị tài sản Nợ, tài sản Có và sự thiếu hụt của các công cụ quản lý hữu hiệu, trong khi các NHTM lại muốn sử dụng triệt để phần vốn này cho các hoạt động kinh doanh sinh lời Vì vậy một vài ngân hàng thiếu thanh khoản phải vay với lãi cao trên thị trường là điều khó tránh khỏi Để khắc phục tình trạng này, các ngân hàng phải xây dựng qui trình kiểm soát và quản lý thanh khoản nhằm đáp ứng kịp thời các nghĩa vụ thanh toán đến hạn, đảm bảo an toàn trong hoạt động, giảm thiểu rủi ro thanh khoản
Thứ năm, nâng cao vị thế, chất lượng hoạt động, phục vụ của ngân hàng để tạo niềm tin cho dân chúng gửi tiền vào ngân hàng bằng những hành động thiết thực
Niềm tin phải được xây dựng trên cơ sở thông tin minh bạch và kịp thời Mọi sự tù mù sẽ
là “đất” cho tin đồn lộng hành Vì vậy mỗi ngân hàng cần phải minh bạch hoá thông (chính sách lãi suất, chính sách đầu tư, chính sách khách hàng, tình hình nợ xấu…) Xây dựng hệ thống thông tin để hình thành cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, phân tích để đưa ra những quyết sách điều hành nhanh nhạy và khoa học
Chú ý đến quyền lợi của khách hàng, bao gồm cả khách hàng gửi tiền và khách hàng vay cũng như khách hàng sử dụng những dịch vụ của ngân hàng
Trang 6Thứ sáu, các NHTM cần tăng cường liên kết, hợp tác, trao đổi chia sẻ kinh nghiệm hoạt động ngân hàng trên các lĩnh vực; kết nối các nghiệp vụ, sản phẩm dịch vụ, tạo ra hệ thống phục vụ khách hàng rộng lớn, hiệu quả, tiết giảm chi phí
Tăng cường sự đồng thuận giữa các NHTM, thành viên trong hiệp hội Ngân hàng Việt Nam trong nhiều chính sách của NHTM vì lợi ích và sự ổn định, kiềm chế lạm phát và phát triển kinh tế đất nước, vì lợi ích và sự phát triển của số đông cộng đồng doanh nghiệp, của các tầng lớp dân cư, vì lợi ích hiệu quả kinh doanh của từng NHTM, cũng như của cả hệ thống NHTM Việt Nam
TinNhìn lại lãi suất năm 2016 và dự báo xu hướng năm 2017
ngànhKết thúc năm 2016, mặt bằng lãi suất trên thị trường tài chính cơ bản được giữ ổn định, đặc biệt, lãi suất cho vay có xu hướng giảm nhẹ với một số nhóm đối tượng khách hàng phù hợp với chủ trương của Chính phủ về giảm lãi suất cho vay, nhằm khuyến khích sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế Bước sang năm 2017, theo LPBResearch, mặt bằng lãi suất tiếp tục được duy trì ổn định như năm 2016, lãi suất huy động và cho vay các kỳ hạn dài biến động tăng khoảng 0,5-1%
Mặt bằng lãi suất năm 2016 cơ bản được giữ ổn định, đặc biệt lãi suất cho vay có xu hướng giảm nhẹ, phù hợp với chủ trương của Chính phủ
Lãi suất bình quân liên ngân hàng ổn định, biến động tăng nhẹ vào cuối năm
Trong 3 quý đầu năm 2016, lãi suất liên ngân hàng có xu hướng giảm nhẹ so với thời điểm đầu năm Kể từ cuối quý I/2016, thanh khoản hệ thống duy trì tích cực, lãi suất liên ngân hàng giảm sâu về mức thấp kỉ lục trong vài năm trở lại đây Tại một số thời điểm cuối tháng 09/2016, lãi suất qua đêm chỉ dao động trong khoảng 0,37-0,42% Nguyên nhân là do: (i) lũy kế 9 tháng đầu năm, tăng trưởng huy động cao hơn so với tăng trưởng tín dụng (huy động tăng 14,40% so với dư nợ 11,64%) khiến thanh khoản của các ngân hàng dư thừa trong thời gian này; (ii) NHNN tăng dự trữ ngoại hối bằng việc mua vào USD với giá trị lớn (khoảng 11 tỷ USD) làm tăng lượng cung tiền nội địa Tuy nhiên, đến cuối năm 2016, lãi suất liên ngân hàng có xu hướng tăng trở lại do nhu cầu vay vốn tăng cao vào dịp cuối năm, các ngân hàng đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng so với huy động
Biểu đồ 1: Lãi suất bình quân liên ngân hàng 1 số kỳ hạn năm 2016
Trang 7Mặc dù thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng khá dồi dào nhưng lãi suất huy động và cho vay bình quân toàn thị trường cuối năm vẫn chưa giảm được so với kỳ vọng Nguyên nhân là do: (i) dư thừa thanh khoản trên TT2 là trong ngắn hạn, trong khi
cơ cấu cho vay của các ngân hàng chủ yếu là trung, dài hạn; (ii) có sự phân hóa trong khả năng huy động vốn trên TT2 khi một số TCTD gặp khó khăn trong việc vay vốn trên TT2
do thiếu tín nhiệm và không đủ tài sản đảm bảo để vay đối ứng Do đó, các ngân hàng nhỏ, mất cân đối vốn phải huy động trên TT1 với lãi suất cao hơn các NHTM lớn dẫn đến tăng mặt bằng lãi suất bình quân toàn thị trường
Cụ thể, mặt bằng lãi suất huy động tăng nhẹ so với năm 2015 khoảng 0,5-1%, chủ yếu
là các kỳ hạn dài trên 12 tháng, trong đó có hai đợt điều chỉnh tương đối rõ vào quý I và
cuối quý IV Đến cuối năm 2016, lãi suất huy động các kỳ hạn ngắn dưới 6 tháng phổ biến trong khoảng 4,5-5,4%/năm, từ 6 tháng đến dưới 12 tháng trong khoảng 5,4-6,5%/năm, từ 12 tháng trở lên trong khoảng 6,5-7%/năm
Nguyên nhân chính của việc tăng lãi suất trong quý I/2016 đến từ một số diễn biến của hệ thống ngân hàng kéo theo nhu cầu tăng cường huy động vốn như: (i) tăng trưởng huy động (13,59% trong năm 2015) thấp hơn tăng trưởng tín dụng (17,3% trong năm 2015) kéo theo tỷ lệ LDR của một số ngân hàng tại thời điểm này ở mức khá cao; (ii) Thông tư
06 sửa đổi một số điều Thông tư 36 theo hướng thắt chặt hơn quy định về tỷ lệ VNH cho vay TDH; (iii) một số ngân hàng nợ xấu cao tăng lãi suất huy động để có nguồn vốn đầu vào làm tấm đệm cho các khoản phải thu
Đối với đợt điều chỉnh tăng nhẹ lãi suất vào cuối quý IV, ngoài cạnh tranh huy động vốn, mặt bằng lãi suất huy động còn chịu thêm áp lực từ tỷ giá tăng mạnh từ sau bầu cử Tổng
Trang 8thống Hoa Kỳ và quyết định tăng lãi suất trong tháng 12 của FED Ngoài ra, nhu cầu đảm bảo thanh khoản của ngân hàng vào đợt cuối năm cũng khiến lãi suất huy động tăng nhẹ Bên cạnh đó, nhằm đáp ứng nhu cầu cho vay các kỳ hạn dài, các ngân hàng cũng tích cực đẩy mạnh huy động nguồn vốn trung dài hạn như VPBank tăng hơn 24.400 tỷ chứng chỉ tiền gửi với kỳ hạn chủ yếu trên 1 năm đến dưới 5 năm, SHB tăng hơn 5.500 tỷ kỳ phiếu trong năm 2016, điều này cũng tạo áp lực tăng lên mặt bằng lãi suất huy động trong năm 2016
Bảng 1: Biểu lãi suất huy động của một số ngân hàng năm 2016 (%)
Mặc dù lãi suất huy động tăng nhẹ nhưng lãi suất cho vay trong năm 2016 khá ổn định, thậm chí giảm nhẹ đối với nhóm khách hàng có tình hình tài chính lành mạnh.
Theo NHNN, mặt bằng lãi suất cho vay phổ biến đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức 6-7%/năm đối với ngắn hạn và 9-10%/năm đối với trung và dài hạn Lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 6,8-9%/năm đối với ngắn hạn; 9,3-11%/năm đối với trung và dài hạn Đối với nhóm khách hàng tốt, tình hình tài chính lành mạnh, minh bạch, lãi suất cho vay có thể từ 4-5%/năm Điều này phù hợp với chủ trương của Chính phủ về giảm lãi suất cho vay nhằm khuyến khích sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế
Trang 9Bảng 2: Biểu lãi suất cho vay của các ngân hàng năm 2016 (%)
Lãi suất năm 2017: Liệu có giảm theo chủ trương của Chính phủ?
Trong năm 2017, các áp lực ảnh hưởng đến tăng lãi suất: (i) lạm phát trong nước có xu
hướng vượt mức mục tiêu 4% của Chính phủ; (ii) FED dự kiến tăng lãi suất 3 lần trong năm 2017 gây áp lực lên tỷ giá và lãi suất trong nước; (iii) các ngân hàng vẫn cạnh tranh nhau về lãi suất huy động Ngoài ra, tỷ lệ VNH cho vay TDH giảm từ 60% (năm 2016) xuống 50% (năm 2017) cũng khiến mặt bằng lãi suất huy động và cho vay trong dài hạn
có xu hướng gia tăng Ngược lại, mặt bằng lãi suất cũng chịu các áp lực giảm: (i) Chính
phủ có chủ trương giảm lãi suất qua từng năm nhằm hỗ trợ nền kinh tế
Theo nhận định của LPBResearch, mặt bằng lãi suất năm 2017 khó có thể giảm theo các chủ trương của Chính phủ Về cơ bản, lãi suất vẫn giữ được sự ổn định như trong năm
2016 và có thể điều chỉnh tăng nhẹ, khoảng 0,5-1% ở các kỳ hạn dài, do: (i) tăng trưởng tín dụng vẫn được dự báo duy trì ở mức cao (khoảng 18%) nhằm hỗ trợ cho mục tiêu tăng trưởng; (ii) lạm phát tiếp tục chịu áp lực gia tăng và khó giữ ở ngưỡng 4% do sự phụ hồi giá nguyên liệu trên thế giới và sự điều chỉnh giá các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu của Chính phủ; (iii) nhu cầu về vốn dài hạn để đáp ứng tỷ lệ VNH cho vay TDH theo TT06 của NHNN và (iv) FED dự kiến tăng lãi suất thêm 3 lần trong năm 2017 sẽ gây áp lực lên lãi suất VND
Thực tế, từ đầu năm 2017 đến nay, mặt bằng lãi suất trung dài hạn đang có xu hướng tăng Ngoài việc tăng nhẹ lãi suất huy động các kỳ hạn dài, các ngân hàng còn đẩy mạnh
Trang 10việc phát hành chứng chỉ tiền gửi với mức lãi suất hấp dẫn để tăng nguồn vốn huy động trung dài hạn như Sacombank và LienVietPostBank (lên tới 8,8%/năm), VPBank (8,2-9,2%/năm) VietABank (lên tới 8,2%/năm) Ngoài ra, việc FED quyết định tăng lãi suất
cơ bản lên 0,75 -1% vào kỳ họp tháng 3 vừa qua cũng phần nào gây sức ép lên mặt bằng lãi suất tại Việt Nam
Phấn đấu giảm lãi suất trung và dài hạn
Dự báo cho năm năm 2017, Thống đốc NHNN cho rằng kinh tế thế giới diễn biến khó lường; nhiều nước áp dụng chính sách phá giá đồng tiền do đó, chính sách tiền tệ phải thận trọng, linh hoạt để đảm bảo hài hoà mục tiêu khi tăng trưởng kinh tế đặt ra mức cao hơn Đặc biệt, khi ngân sách khó khăn, chính sách tiền tệ phải đặt mục tiêu rất linh hoạt,
hỗ trợ ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát
Với điều hành lãi suất năm 2017, Thống đốc Lê Minh Hưng cho rằng, do áp lực mục tiêu tăng trưởng cao nên điều hành lãi suất phải linh hoạt, đảm bảo ổn định được mặt bằng lãi suất cơ bản và cố gắng phấn đấu giảm được mặt bằng lãi suất trung và dài hạn như Chính phủ chỉ đạo
Trong năm 2017, khối lượng trái phiếu Chính phủ phát hành thấp hơn năm 2016, tuy nhiên vẫn đòi hỏi chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa phối hợp chặt chẽ hơn để đảm bảo không tác động lên thanh khoản của thị trường liên ngân hàng
Cuối cùng, Thống đốc NHNN cho rằng công tác thông tin truyền thông cũng cần tiếp tục được quan tâm Đặc biệt, NHNN đánh giá cao sự phối hợp của Bộ Công an, Bộ Thông tin
và truyền thông, đồng thời đề nghị hai Bộ phối hợp với các bộ ngành và NHNN để xử lý các tin đồn thất thiệt, gây ảnh hưởng đến tình hình kinh tế, xã hội
Cho ý kiến sau phần phát biểu của Thống đốc NHNN, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cho rằng: Năm qua, chính sách tiền tệ đã được điều hành tốt, phối hợp với chính sách tài khoá rất nhịp nhàng, chặt chẽ, không để xảy ra cú sốc nào trên thị trường Thị trường tiền tệ ổn định, tổng mức tín dụng tăng cao Dự trữ ngoại hối đạt mức cao nhất từ trước đến nay là trên 41 tỷ USD Bên cạnh đó, Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Công