1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tiểu luận môn ngân hàng thương mại chủ đề nợ xấu

17 426 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 513,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan Thuật ngữ “nợ xấu” viết tắt là NPL –Non-performing loans có thể được thay thế bằng nợ khó đòi theo như Fofack2005, hoặc các khoản vay có vấn đề Berger và De Young, 1997 Nợ xấu

Trang 1

Nợ Xấu

67 – Nguyễn Văn Quý – TCNH8A3 – Nợ Xấu

1 Tổng quan

Thuật ngữ “nợ xấu” (viết tắt là NPL –Non-performing loans) có thể được thay thế bằng nợ khó đòi theo như Fofack(2005), hoặc các khoản vay có vấn đề (Berger và De Young, 1997)

Nợ xấu cũng có thể được định nghĩa là các khoản nợ không trả được (defaulted loans) mà ngân hàng không thể thu lợi từ nó (Ernst & Young, 2004)

Theo thông tư mới nhất số 02/2013/TT-NHNN thay thế cho Quyết định 493 của NHNN ban hành ngày 22/4/2005 về phân loại nợ, trính lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng và Quyết định

18 ban hành ngày 25/4/2007 về sửa đổi bổ sung Quyết định 493 thì:

Nợ xấu hay nợ khó đòi là các khoản nợ thuộc các nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và

nhóm 5 (có khả năng mất vốn) được quy định tại điều 10 và điều 11 của thông tư này Thông tư

có bổ sung thêm một số khoản nợ được xếp vào 3 nhóm này

Từ nhóm 3 trở xuống gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi hoặc gốc trên 90 ngày Nợ xấu được xác định trên hai yếu tố: Đã quá hạn 90 ngày và khả năng trả nợ đáng lo ngại Đây được coi là định nghĩa của VAS (chuẩn mực chung báo cáo tài chính) Còn theo định nghĩa nợ xấu của phòng Thống kê - Liên hiệp quốc IAS (quy định chung báo cáo tài chính) cũng có những yếu tố như VAS đang được áp dụng hiện hành trên thế giới Và khi khách hàng bị nợ xấu từ nhóm 3 trở lên

sẽ khó được ngân hàng phê duyệt vay lại ít nhất 5 năm

Tỷ lệ nợ xấu

Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ giữa nợ xấu so với tổng nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5 theo quy định tại điều 10

thông tư 02/2013/TT-NHNN

Nợ xấu và xử lý nợ xấu luôn là mối quan tâm lớn của các quốc gia trên thế giới Khi khối lượng

nợ xấu gia tăng sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển nền kinh tế nói chung và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng nói riêng Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới cho thấy, việc xử lý nợ xấu

có thể được thực hiện bởi một trong các biện pháp: i) Hỗ trợ trực tiếp từ Chính phủ thông qua

Trang 2

việc cấp thêm vốn cho các định chế tài chính nhằm nâng cao năng lực tài chính để xử lý nợ xấu; ii) Điều chỉnh các quy định liên quan đến phân loại và quản lý nợ xấu hoặc cho phép các TCTD

và bên đi vay thương lượng phương án xử lý nợ dưới nhiều hình thức như thanh lý tài sản, cơ cấu thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi suất; iii) Thành lập các công ty quản lý tài sản (Asset

Management Company – AMC) để tập trung xử lý nợ xấu của các TCTD Hoạt động của các AMC hướng tới việc tối đa hóa giá trị của các khoản nợ xấu được chuyển giao và giảm thiểu chi phí cho quá trình tái cơ cấu hệ thống TCTD

Tuy nhiên, việc giải quyết nợ xấu hiện nay đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức có nguy

cơ làm giảm hiệu quả, chậm lại tiến trình cơ cấu lại các TCTD Cụ thể là:

Thứ nhất, mô hình VAMC hiện nay được cho là phù hợp trong việc giảm tỷ lệ nợ xấu của các

TCTD, song quá trình hoạt động đã bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập: Với mức vốn điều lệ 500

tỷ đồng không thể giúp VAMC mua đứt khoản nợ xấu thay vì mua và giữ hộ như hiện nay; VAMC cũng chưa có kế hoạch, thời gian và chiến lược mua bán nợ xấu; chưa quy định cơ chế trách nhiệm của VAMC trong xử lý nợ xấu nên chưa nâng cao tinh thần và tăng cường trách nhiệm cũng như hiệu quả trong hoạt động xử lý nợ xấu của VAMC (vì VAMC chỉ giữ nợ xấu tối

đa 5 năm, hết thời gian đó, VAMC trả nợ xấu cho các TCTD mà không chịu bất kỳ trách nhiệm pháp lý nào về rủi ro liên quan đến khoản nợ xấu)

Thứ hai, ở Việt Nam hiện nay chưa có thị trường mua bán nợ xấu và chưa có cơ chế định giá nợ

xấu nên phải mất nhiều thời gian để định giá nợ xấu, do đó, giao dịch liên quan đến nợ xấu không thể được thực hiện nhanh chóng

Thứ ba, việc hình sự hóa quan hệ kinh tế làm giảm khả năng thu hồi vốn, tài sản của Nhà nước

và nhân dân, gây ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý đầu tư, đến quá trình xử lý nợ xấu, tái cơ cấu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Thứ tư, việc bán nợ xấu cho nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực bất động sản cũng gặp một số

khó khăn, vướng mắc do pháp luật hiện hành còn hạn chế đối với họ trong việc nhận thế chấp, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thay đổi mục đích sử dụng đất

Thứ năm, sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương và cơ quan chức năng với Ngân hàng Nhà

nước trong tái cơ cấu ngân hàng và xử lý nợ xấu chưa chặt chẽ và có hiệu quả Lĩnh vực ngân hàng có tính nhạy cảm rất cao, nếu không có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc phát mãi, đấu giá, thanh lý tài sản thế chấp… sẽ khó bảo đảm an toàn cho hoạt động ngân hàng

Trang 3

2 Thực trạng và nguyên nhân của nợ xấu

a Thực trạng

Thống kê từ khoảng 10 ngân hàng tính đến 31/3/2017 cho thấy, tỷ lệ nợ xấu đã tăng lên 1,9% so với con số 1,87% cuối năm 2016

Tổng số nợ xấu tăng thêm 6%, lên 50.695 tỷ đồng Trong đó, nợ xấu tăng chủ yếu ở nhóm 1 và 2 với lần lượt là 13% và 18%, lên 15.749 tỷ đồng và 7.940 tỷ đồng Nợ có khả năng mất vốn tuy giảm nhẹ 0,1% nhưng vẫn chiếm áp đảo với 27.005 tỷ đồng

Tổng nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) của 10 ngân hàng tính

đến 31/3/2017

Trang 4

Cơ cấu nợ xấu của 10 ngân hàng tính đến 31/3/2017

Thống kê cũng cho thấy có khoảng 4/6 ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu giảm trong quý I/2017 là Sacombank, VIB, Vietcombank và Kienlongbank Tuy giảm nhưng tỷ lệ nợ xấu của Sacombank vẫn trên ngưỡng cho phép khi ở mức 4,89% và cao nhất trong danh sách thống kê

Tổng nợ xấu của ngân hàng này tính đến hết tháng 3/2017 cao kỷ lục với hơn 10.083 tỷ đồng, đó

là chưa kể đến 37.760 tỷ đồng nợ xấu bán cho VAMC Như vậy tổng nợ xấu của Sacombank gồm nợ bán cho VAMC ước tính khoảng 47.843 tỷ đồng Điểm tích cực là nợ có khả năng mất vốn của Sacombank giảm khoảng 7%, còn 6.600 tỷ đồng

Trang 5

Tỷ lệ nợ xấu của 10 ngân hàng tính đến 31/3/2017

Kế đến là Eximbank, trong kỳ tỷ lệ nợ xấu tăng và chạm ngưỡng 3%, tương đương con số tuyệt đối là 2.589 tỷ đồng Nợ có khả năng mất vốn chiếm 1.262 tỷ đồng, tăng đến 11%

BIDV là “ông lớn” duy nhất nằm trong top 3 có tỷ lệ nợ xấu cao với 2,14%, tăng đáng kể so với con số 1,99% vào cuối 2016 Tổng nợ xấu của ngân hàng này trong 3 tháng đầu năm 2017 đã tăng thêm 13%, lên mức 16.250 tỷ đồng Đây có thể được xem là ngân hàng thương mại cổ phần

có tổng nợ xấu cao nhất

Trang 6

nợ có khả năng mất vốn của 10 ngân hàng tính đến 31/3/2017

Tỷ lệ nợ xấu đứng thứ 4 trong danh sách là VIB với 1,96%, con số này giảm đáng kể so với mức 2,58% vào 2016 Tổng nợ xấu của VIB đã giảm nhiều nhất với gần 20% trong 3 tháng đầu năm 2017, còn 1.247 tỷ đồng; trong đó nợ có khả năng mất vốn giảm gần 13%, còn khoảng 1.167 tỷ đồng

Ngược lại, trong kỳ Techcombank có tỷ lệ nợ xấu tăng từ 1.58% lên 1.89% Tổng nợ xấu tăng gần 16%, lên hơn 2.600 tỷ đồng Nợ có khả năng mất vốn chiếm đến 1.506 tỷ đồng, tăng 10% so với thời điểm cuối năm 2016

Một ngân hàng đáng chú ý khác là MBB, tỷ lệ nợ xấu tính đến 31/3/2017 là 1,35%, tăng

so với cuối 2016 Cơ cấu nợ xấu cho thấy nợ có khả năng mất vốn tăng vọt gần 40%, lên 854 tỷ đồng Nợ nhóm 2 cũng tăng lên gấp rưỡi với 730 tỷ đồng; ngược lại thì nợ nhóm 1 giảm hơn một nửa, còn 435 tỷ đồng

Trang 7

Tương tự như BIDV, trong quý I, nợ xấu của VietinBank có mức tăng cao nhất với 17%, lên 7.917 tỷ đồng Điều này chủ yếu từ việc gia tăng nợ nhóm 1 hơn 70%, lên 3.606 tỷ đồng Trong khi đó, nợ có khả năng mất vốn giảm 9%, còn 3.487 tỷ đồng

Báo cáo tài chính không cho thấy nợ xấu VietinBank “gửi” VAMC là bao nhiêu, tuy nhiên ngân hàng này đang có kế hoạch mua lại nợ từ VAMC trong năm nay Tính đến cuối tháng

3, tỷ lệ nợ xấu của VietinBank đã tăng từ 1,02% (cuối 2016) lên 1,13%

Đối với Vietcombank, tỷ lệ nợ xấu tính đến hết quý I/2017 thấp nhất trong ba “ông lớn” với 1,48%, giảm so với con số 1,51% vào cuối 2016 Tổng nợ xấu là 7.377 tỷ đồng, tăng hơn 6%; trong đó nợ có khả năng mất vốn tăng 3% lên 4.369 tỷ đồng Đáng chú ý là nợ nhóm 2 tăng hơn 40%, lên 1.885 tỷ đồng

Kienlongbank và BacABank là hai ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu duy trì dưới 1%, lần lượt là 0,96% và 0,82% Bên cạnh đó, tổng nợ xấu cũng như nợ có khả năng mất vốn trong kỳ thay đổi không đáng kể Kienlongbank có khoảng 145 tỷ đồng đồng nợ có khả năng mất vốn, BacABank

là 384 tỷ đồng

5/12 ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu tăng

Thống kê 12 ngân hàng đã công bố BCTC bán niên (bao gồm Vietcombank, Vietinbank, BIDV, ACB, MBB, Eximbank, VIB, VPBank, Techcombank, NCB, SHB và Sacombank) cho thấy, tổng nợ xấu ở mức hơn 65,5 nghìn tỷ đồng, tăng 10,7% so với đầu năm

Về giá trị tuyệt đối, tất cả 12 ngân hàng khảo sát đều có số nợ xấu gia tăng Tuy vậy, nhờ đẩy mạnh tín dụng trong 6 tháng đầu năm nên chỉ có 5/12 ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu tăng so với đầu năm, bao gồm Vietinbank, ACB, VIB, Techcombank và NCB

Trong khi đó, tổng nợ nhóm 5, tức nợ có khả năng mất vốn cũng tăng 5,8%, lên gần 31,9 nghìn

tỷ đồng, chiếm 51,5% nợ xấu 9/12 ngân hàng có tỷ lệ nhóm nợ này gia tăng bao gồm Vietcombank, BIDV, Eximbank, MB, SHB, VPBank, VIB, Techcombank và NCB

Trang 8

Ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu tăng mạnh nhất trong kỳ này chính là NCB Cụ thể, tại ngày 30/6, NCB đang có hơn 608 tỷ đồng nợ xấu, tăng tới hơn 60% so với đầu năm Trong đó, nợ có khả năng mất vốn tăng tới 51,7%, lên 309 tỷ đồng, chiếm 51% tổng nợ xấu trong khi nợ nghi ngờ tăng gấp 5,4 lần, lên hơn 121 tỷ đồng Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng đến cuối quý II/2017 là 2,21% trên tổng dư nợ, so với mức 1,48% hồi đầu năm

Techcombank cũng là một trong những ngân hàng có nợ xấu tăng khá mạnh với mức tăng từ hơn 2,2 nghìn tỷ lên 2,7 nghìn tỷ, tương đương mức tăng 20,9% Nợ có khả năng mất vốn cũng tăng lên 1,5 nghìn tỷ đồng, tương đương tăng hơn 11% so với đầu năm và chiếm 56,3% tổng nợ xấu

Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng hiện ở mức 2,06%, so với mức 1,58% hồi đầu năm

Tương tự, con số nợ xấu của ngân hàng ACB đến hết quý II/2017 là hơn 2 nghìn tỷ đồng, tăng tới 41,2% so với đầu năm Tỷ lệ nợ xấu ở mức 1,1%, trên tổng dư nợ tăng khá mạnh so với mức 0,87% hồi đầu năm

Trang 9

BIDV hiện đang là nhà băng có số nợ xấu lớn nhất, với gần 15,4 nghìn tỷ đồng, tăng 6,6% so với đầu năm Trong đó, nợ có khả năng mất vốn ở mức gần 7 nghìn tỷ đồng, tăng nhẹ 1,2% trong khi

nợ nghi ngờ tăng tới 74,9%, lên 1,8 nghìn tỷ đồng Tuy vậy, nhờ đẩy mạnh hoạt động tín dụng (tăng 11,56%) nên tỷ lệ nợ xấu lùi về mức 1,9%, từ mức 1,99% hồi đầu năm

Tới cuối tháng 6, Vietinbank có hơn 8,5 nghìn tỷ đồng nợ xấu, tăng 26,4% so với đầu năm, chủ yếu tăng ở nợ nghi ngờ khi tăng tới hơn 420%, lên 4,2 nghìn tỷ đồng Nợ có khả năng mất vốn giảm nhẹ 9%, còn gần 3,5 nghìn tỷ đồng Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng tăng từ 1,02% lên 1,17% trên tổng dư nợ

Chi phí dự phòng tiếp tục là gánh nặng

Thống kê cho thấy, 7/12 ngân hàng tăng trích lập dự phòng cho 6 tháng đầu năm 2017 với tổng trích lập dự phòng của 12 ngân hàng đạt gần 23,6 nghìn tỷ đồng, tăng tới 27% so với cùng kỳ năm 2016

Trang 10

ACB là ngân hàng tăng trích lập dự phòng mạnh nhất trong nhóm khảo sát khi dành tới hơn 966

tỷ đồng cho khoản này, chiếm 43% tổng lợi nhuận thuần và gấp 2,6 lần cùng kỳ năm trước Tại

MB, con số này là hơn 1,3 nghìn tỷ đồng, gấp 2,3 lần so với mức 582 tỷ đồng trích lập cùng kỳ năm trước

Xét về con số tuyệt đối, BIDV hiện đang là nhà băng trích lập dự phòng lớn nhất với việc dành tới hơn 6,2 nghìn tỷ đồng cho việc trích lập, tăng 38,1% so với cùng kỳ năm trước và chiếm tới 62,6% tổng lợi nhuận thuần

Tương tự, Vietinbank cũng trích lập hơn 4,8 nghìn tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm, tăng tới 61%

so với cùng kỳ năm ngoái Con số này tại Vietcombank là 3 nghìn tỷ đồng

Dù con số trích lập dự phòng vẫn chiếm một khoản tương đối lớn trên bản báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, một điều đáng mừng là lợi nhuận của đa số nhà băng đều chứng kiến sự tăng trưởng so với năm trước

Trong nhóm khảo sát, ngoại trừ NCB, các ngân hàng khác đều có lợi nhuận tăng trưởng từ 10 đến vài chục % so với cùng kỳ năm 2016 Trong đó, Sacombank là nhà băng có sự “lột xác” mạnh mẽ nhất khi báo lãi lên tới hơn 578 tỷ đồng, gấp gần 27 lần so với con số vỏn vẹn hơn 21

tỷ đồng cùng kỳ năm trước

Ba “ông lớn” là Vietcombank, Vietinbank và BIDV tiếp tục duy trì mức tăng trưởng khá tốt là 22,8%, 12,7% và 11%

Nợ xấu tăng chủ yếu ở nhóm 3 và 4

Thống kê từ 10 ngân hàng (Vietcombank (VCB), Vietinbank (CTG), BIDV (BID), MB Bank (MBB), VIB, Sacombank (STB), Eximbank (EIB), Techcombank, Kienlongbank, BacABank) của Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) cho thấy, tính đến hết quý I/2017, tổng nợ xấu (từ nhóm 3 đến nhóm 5) đạt 50.695 tỷ đồng, tăng nhẹ 6% so với thời điểm cuối năm ngoái Trong

đó, nợ xấu tăng chủ yếu ở nhóm 3 và nhóm 4, lần lượt là 13% và 18%, lên mức 15.749 tỷ đồng

và 7.941 tỷ đồng Nợ có khả năng mất vốn tuy giảm nhẹ 0,1% nhưng vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nợ xấu (53%) với 27.005 tỷ đồng

Trang 11

Trong số các ngân hàng này, tỷ lệ nợ xấu giữa các nhà băng cho sự tăng giảm trái chiều So với cuối năm 2016, trong quý I/2017, nhóm ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu tăng là EIB (từ 2,95% cuối năm 2016 lên 3%), BID (từ 1,99% lên 2,14%), Techcombank (từ 1,58% lên 1,89%), MBB (từ 1,34% lên 1,35%), CTG (từ 1,48% lên 1,51%), BacAbank (từ 0,81% lên 0,82%) Ở chiều ngược lại, các ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu giảm là: STB (từ 5,35% cuối năm 2016 xuống còn 4,89%); VIB (từ 2,58% xuống còn 1,96%); VCB (từ 1,51% xuống còn 1,48%); Kienlongbank (từ 1,06% xuống còn 0,96%)

Như vậy, qua số liệu trên cho thấy, mặc dù thuộc nhóm giảm, nhưng STB là ngân hàng có tỷ lệ

nợ xấu cao nhất trong số các ngân hàng niêm yết hiện nay khi nợ xấu chiếm tới 4,89% (vượt khá

xa mức con số nợ xấu bình quân toàn hệ thống 2,46% tính tới cuối 2016 được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố) Trong khi đó, qua số liệu này, tình hình xử lý nợ xấu ở từng các ngân hàng riêng lẻ cho thấy tín hiệu tích cực, chẳng hạn như VCB tỷ lệ nợ xấu chỉ chiếm 1,48% và tiếp tục giảm; hay nhiều ngân hàng khác dù tăng nhẹ, nhưng nợ xấu vẫn đang nằm ở mức dưới 1,5%

Đánh giá về diễn biến này, BVSC cho rằng, việc tăng giảm trái chiều của tỷ lệ nợ xấu phản ánh bức tranh phân hóa trong tiến trình xử lý nợ xấu cũng như khả năng quản trị chất lượng tài sản giữa các ngân hàng Đây cũng là một trong những căn cứ quan trọng để NHNN xem xét cấp mức trần tăng trưởng tín dụng trong năm cho từng ngân hàng Tuy vậy, ở thời điểm hiện tại, “nhà điều hành không nên đánh đổi sự an toàn của hệ thống để chạy theo tăng trưởng tín dụng “nóng”, nhất

là trong bối cảnh nợ xấu vẫn đang là gánh nặng của không ít ngân hàng”, công ty này cho hay

Chia cổ tức tiền mặt ở mức thấp

Theo dõi mùa đại hội cổ đông năm nay cho thấy, nhiều ngân hàng đã có sự tăng trưởng cả về doanh thu và lợi nhuận, thậm chí có những ngân hàng “thắng đậm” với mức lợi nhuận “nghìn tỷ” Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc, các nhà băng sẽ chi trả cổ tức bằng tiền

“hậu hĩnh” cho các cổ đông của mình, nếu không muốn nói là “khá nhỏ giọt” Chẳng hạn như, số liệu từ BVSC cho thấy: LienVietPostBank dự kiến mức cổ tức là 10%, trong đó chỉ có 4% tiền mặt, 6% là cổ phiếu; VIB phê duyệt tỷ lệ chi trả cổ tức ở mức rất cao (44,6%) nhưng cổ tức bằng tiền mặt chỉ là 5%, còn lại là chia cổ phiếu thưởng cho cổ đông hiện hữu (39,6%); VPBank thậm

Ngày đăng: 08/04/2018, 19:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w