1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

giáo trình thống kê xã hội học

54 2,2K 26

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCChương 1: Đối tượng nghiên cứu của thống kê xã hội1. Đối tượng nghiên cứu thống kê…………………………………………….1.1. Sự ra đời và phát triển của thống kê……………………………….1.2. Đối tượng nghiên cứu thống kê……………………………………1.3. Một số khái niệm thường dùng trong thống kê……………………2. Cơ sở lý luận, phương pháp luận của thống kê…………………………….2.1. Cơ sở lý luận của thống kê………………………………………..2.2. Cơ sở phương pháp luận của thống kê……………………………2.3. Đối tượng nghiên cứu thống kê……………………………………3. Tính liên quan giữa thống kê xã hội với chính sách và thực hành công tác xã hộiChương 2: Quá trình nghiên cứu của thống kê1. Điều tra thống kê………………………………………………………….1.1. Ý nghĩa và nhiệm vụ của điều tra thống kê………………………1.2. Các phương pháp điều tra thống kê và phương pháp thu thập tài liệu, hình thức điều tra thống kê………………………………………………..1.3. Những vấn đề chủ yếu của điều tra thống kê…………………..2. Tổng hợp thống kê……………………………………………………….2.1. Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của tổng hợp thống kê………….2.2. Những vấn đề chủ yếu của tổng hợp thống kê………………….2.3. Bảng thống kê…………………………………………………..2.4. Đồ thị thống kê………………………………………………….3. Phân tổ thống kê…………………………………………………………3.1. Khái niệm về phân tổ thống kê…………………………………3.2. Tiêu thức phân tổ……………………………………………….3.3. Xác định số tổ…………………………………………………..4. Phân tích và dự đoán thống kê………………………………………….4.1. Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của phân tích và dự đoán thống kê4.2. Những vấn đề của phân tích và dự đoán thống kê……………5. Nghiên cứu các số liệu thống kê sẵn có………………………………..5.1. Thông qua internet…………………………………………….5.2. Thông qua các nguồn số liệu khác……………………………Chương 3: Các mức độ của hiện tượng kinh tế xã hội1. Số tuyệt đối trong thống kê…………………………………………….1.1. Khái niệm……………………………………………………..1.2. Ý nghĩa đăc điểm của số tuyệt đối……………………………1.3. Đơn vị tính của số tuyệt đối………………………………….1.4. Các loại số tuyệt đối………………………………………….2. Số tương đối trong thống kê…………………………………………..2.1. Khái niệm……………………………………………………2.2. Tính chất của số tương đối…………………………………..2.3. Đơn vị tính của số tương đối…………………………………2.4. Các loại số tương đối…………………………………………3. Số bình quân trong thống kê…………………………………………..3.1. Khái niệm……………………………………………………3.2. Tính chất…………………………………………………….3.3. Các loại số bình quân………………………………………..3.4. Điều kiện vận dụng số bình quân……………………………Chương 4: Nghiên cứu sự biến động của hiện tượng kinh tế xã hội1. Phương pháp dãy số thời gian……………………………………….1.1. Khái niệm về dãy số thời gian………………………1.2. Xác định chỉ tiêu phân tích dãy số thời gian……………….2. Phương pháp tính chỉ số…………………………………………….2.1. Khái niệm, đặc điểm, tính chất, phân loại chỉ số…..2.2. Phương pháp tính chỉ số………………………………….. Tính chỉ số cá thể……………………………………… Tính chỉ số chung…....................................................... Hệ thống chỉ số..............................................................Chương 5: Thống kê một số vấn đề xã hội1. Thống kê bảo hiểm xã hội, bảo trợ xã hội........................................1.1. Khái niệm bảo hiểm xã hội, bảo trợ xã hội, cứu trợ xã hội1.2. Ý nghĩa nghiên cứu……………………………………….1.3. Nhiệm vụ nghiên cứu……………………………………..1.4. Các chế độ và hệ thống chỉ tiêu thống kê. Hệ thống biểu mẫu báo cáo thống kê………………………………………………………………..........2. Thống kê ưu đãi xã hội……………………………………………2.1. Ý nghĩa nhiệm vụ…………………………………………2.2. Phương pháp nghiên cứu…………………………………2.3. Hệ thống chỉ tiêu…………………………………………2.4. Hệ thống biểu mẫu báo cáo………………………………3. Thống kê giáo dục đào tạo………………………………………...3.1. Khái niệm và nhiệm vụ…………………………………..3.2. Hệ thống chỉ tiêu thống kê giáo dục đào tạo……………..4. Thống kê tiêu cực xã hội, tội phạm và phòng chống tệ nạn xã hội4.1. Khái niệm chung………………………………………..4.2. Các chỉ tiêu thống kê……………………………………4.3. Các phương pháp phân tích……………………………. Chương 6: Phân tích và áp dụng thống kê xã hội để giúp xây dựng kế hoạch và thực hiện ch¬ương trình và dự án trong công tác xã hội1. Nghiên cứu số liệu liên quan tới các vấn đề xã hội trong cộng đồng 2. Phân tích số liệu có liên quan đến dự án và ch¬ương trình 3. Sử dụng các số liệu cho xây dựng chư¬ơng trình và dự án4. Xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá để đánh giá kết quả thực hiện hoạt động thông qua việc so sánh với số liệu thống kế trư¬ớc đó5. Viết và chia sẻ báo cáo kết quả dự án6. Nghiên cứu số liệu liên quan với các vấn đề xã hội cho cộng đồng Chương IĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA THỐNG KÊ XÃ HỘI1. Đối tượng nghiên cứu thống kê1.1. Sự ra đời của thống kê họcThống kê xuất hiện trong thời tiền cổ đại, các chủ nô ghi chép, tính toán tài sản của mình (số nô lệ, số súc vật, các tài sản khác), nhưng công việc ghi chép còn giản đơn, tiến hành trong phạm vi nhỏ hẹp, chưa mang tính thống kê rõ rệt.Thời kỳ phong kiến thống kê phát triển hơn ở hầu hết các quốc gia Châu Á, Châu Âu. Tổ chức nhiều việc đăng ký và kê khai với phạm vi rộng, nội dung phong phú có tính chất thống kê rõ rệt phục vụ cho việc thu thuế và bắt đi lính của giai cấp thống trịThời kỳ Tư bản chủ nghĩa, kinh tế hàng hóa phát triển làm cho thống kê phát triển nhanh chóng, đồng thời có sự nghiên cứu tìm ra những lý luận và phương pháp thu thập tính toán số liệu thống kê. Các tài liệu sách, báo về thống kê bắt đầu được xuất bản. Ở một số trường học đã bắt đầu giảng dạy thống kê. Vào nửa cuối thế kỷ XIX, thống kê phát triển rất nhanh. Đại hội thống kê quốc tế đã mở ra để thảo luận các vấn đề lý luận và thực tiễn của thống kê. Viện Thống kê được thành lập và tồn tại như một chỉnh thể.Ngày nay, thống kê càng ngày càng phát triển mạnh mẽ và hoàn thiện hơn về phương pháp luận, nó thực sự trở thành công cụ để nhận thức xã hội và cải tạo xã hội.1.2. Đối tượng nghiên cứu của thống kê học:a. Khái niệm thống kê họcThống kê là một thuật ngữ đứng trên góc độ nghiệp vụ thực tế có thể hiểu với nghĩa công tác thống kê, vận dụng phương pháp nghiên cứu mặt lượng của các hiện tượng kinh tế xã hội trên cơ sở ứng dụng lý thuyết xác suất…hình thành hệ thống phương pháp thống kê, hệ thống chỉ tiêu phân tích vận dụng trong công tác thống kê. Do đó, có thể coi thống kê là một môn khoa học về công tác thống kê.Tóm lại, thống kê học là môn khoa học nghiên cứu mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với mặt chất của hiện tượng kinh tế xã hội số lớn, trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể.Sự phát triển của hoạt động sản xuất, dịch vụ, các đơn vị kinh tế cơ sở và phát triển kinh tế xã hội thúc đẩy thống kê ngày càng phát triển về mặt lý luận và về mặt thực tiễn nghiệp vụ thống kê.b. Đối tượng nghiên cứu của thống kê họcThống kê không trực tiếp nghiên cứu mặt chất của hiện tượng kinh tế xã hội mà chỉ nghiên cứu thống kê mặt số lượng cụ thể biểu hiện của hiện tượng kinh tế xã hội.Thông qua phân tích hệ thống chỉ tiêu thống kê biểu hiện bằng những con số cụ thể, đúc kết nêu lên những kết luận về đặc điểm, đặc trưng, bản chất, tính quy luật phát triển kinh tế xã hội trên từng lĩnh vực, qua từng thời gian và địa điểm cụ thể.Đối tượng nghiên cứu của thống kê là mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với mặt chất của các hiện tượng kinh tế và quá trình kinh tế xã hội số lớn phát sinh trong những điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể.Đối tượng nghiên cứu của thống kê học là mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với mặt chất. Bởi vì, mọi hiện tượng tự nhiên cũng như xã hội đều có tính hai mặt là mặt chất và mặt lượng. Trong đó: Mặt chất của hiện tượng được biểu hiện bằng khái niệm, giới hạn về đặc điểm, tính chất của hiện tượng nghiên cứu. Mặt chất của hiện tượng giúp ta phân biệt được hiện tượng này với hiện tượng khác, đồng thời bộc lộ những khía cạnh sâu kín của hiện tượng. Mặt lượng của hiện tượng được biểu hiện bằng con số về quy mô, khối lượng, kết cấu, quan hệ tỉ lệ, tốc độ phát triển, trình độ phổ biến của hiện tượng.Hai mặt này không tách rời nhau, mỗi lượng cụ thể đều gắn với một chất nhất định, sự biến đổi về lượng sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất.Đối tượng nghiên cứu của thống kê học là quá trình kinh tế xã hội số lớn. Bởi vì, thống kê là công cụ quản lý kinh tế xã hội, kỹ thuật ở tầm vi mô và vĩ mô.Hơn nữa, mục đích nghiên cứu của nó nhằm xác định tính quy luật, tính phổ biến, bản chất vốn có của hiện tượng hay nói cách khác là nó đi xác định tính chất tất nhiên của hiện tượng. Nhưng tính tất nhiên của hiện tượng thường bị tính ngẫu nhiên (tính tức thời không thuộc về bản chất của hiện tượng) che khuất. Vì vậy, muốn xác định tính tất nhiên của hiện tượng thì phải vận dụng quy luật số lớn.Đối tượng nghiên cứu của thống kê phải là các hiện tượng và quá trình kinh tế xã hội diễn ra trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể. Bởi vì, mọi hiện tượng tự nhiên cũng như kinh tế xã hội đều phát sinh, phát triển ở những thời gian và địa điểm khác nhau, không có một hiện tượng và quá trình kinh tế xã hội nào mà ở thời gian này, địa điểm này lại giống hiện tượng và quá trình kinh tế xã hội trong giai đoạn khác và địa điểm khác. Vì vậy, muốn nghiên cứu các con số của thống kê phải đặt nó vào một thời gian và địa điểm cụ thể.Chính vì vậy, muốn xác định được tính quy luật, tính phổ biến, bản chất vốn có của hiện tượng kinh tế xã hội thì thống kê phải đi nghiên cứu mặt lượng của hiện tượng và mặt lượng này phải đảm bảo các điều kiện sau: Mặt lượng đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với mặt chất. Mặt lượng của hiện tượng kinh tế xã hội số lớn. Mặt lượng diễn ra trong điều kiện thời gian và không gian cụ thể.1.3. Một số khái niệm thường dùng trong thống kê1.3.1.Tổng thể thống kê a) Khái niệm tổng thể thống kê

Trang 1

MỤC LỤC Chương 1: Đối tượng nghiên cứu của thống kê xã hội

1 Đối tượng nghiên cứu thống kê………

1.1 Sự ra đời và phát triển của thống kê………

1.2 Đối tượng nghiên cứu thống kê………

1.3 Một số khái niệm thường dùng trong thống kê………

2 Cơ sở lý luận, phương pháp luận của thống kê………

2.1 Cơ sở lý luận của thống kê………

2.2 Cơ sở phương pháp luận của thống kê………

2.3 Đối tượng nghiên cứu thống kê………

3 Tính liên quan giữa thống kê xã hội với chính sách và thực hành công tác xã hội Chương 2: Quá trình nghiên cứu của thống kê 1 Điều tra thống kê………

1.1 Ý nghĩa và nhiệm vụ của điều tra thống kê………

1.2 Các phương pháp điều tra thống kê và phương pháp thu thập tài liệu, hình thức điều tra thống kê………

1.3 Những vấn đề chủ yếu của điều tra thống kê………

2 Tổng hợp thống kê………

2.1 Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của tổng hợp thống kê…………

2.2 Những vấn đề chủ yếu của tổng hợp thống kê………

2.3 Bảng thống kê………

2.4 Đồ thị thống kê………

3 Phân tổ thống kê………

3.1 Khái niệm về phân tổ thống kê………

3.2 Tiêu thức phân tổ………

3.3 Xác định số tổ………

4 Phân tích và dự đoán thống kê………

4.1 Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của phân tích và dự đoán thống kê 4.2 Những vấn đề của phân tích và dự đoán thống kê………

5 Nghiên cứu các số liệu thống kê sẵn có………

5.1 Thông qua internet………

5.2 Thông qua các nguồn số liệu khác………

Chương 3: Các mức độ của hiện tượng kinh tế - xã hội 1 Số tuyệt đối trong thống kê………

1.1 Khái niệm………

Trang 2

1.2 Ý nghĩa đăc điểm của số tuyệt đối………

1.3 Đơn vị tính của số tuyệt đối………

1.4 Các loại số tuyệt đối………

2 Số tương đối trong thống kê………

2.1 Khái niệm………

2.2 Tính chất của số tương đối………

2.3 Đơn vị tính của số tương đối………

2.4 Các loại số tương đối………

3 Số bình quân trong thống kê………

3.1 Khái niệm………

3.2 Tính chất………

3.3 Các loại số bình quân………

3.4 Điều kiện vận dụng số bình quân………

Chương 4: Nghiên cứu sự biến động của hiện tượng kinh tế xã hội 1 Phương pháp dãy số thời gian………

1.1 Khái niệm về dãy số thời gian………

1.2 Xác định chỉ tiêu phân tích dãy số thời gian………

2 Phương pháp tính chỉ số………

2.1 Khái niệm, đặc điểm, tính chất, phân loại chỉ số…

2.2 Phương pháp tính chỉ số………

- Tính chỉ số cá thể………

- Tính chỉ số chung…

- Hệ thống chỉ số

Chương 5: Thống kê một số vấn đề xã hội 1 Thống kê bảo hiểm xã hội, bảo trợ xã hội

1.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội, bảo trợ xã hội, cứu trợ xã hội 1.2 Ý nghĩa nghiên cứu………

1.3 Nhiệm vụ nghiên cứu………

1.4 Các chế độ và hệ thống chỉ tiêu thống kê Hệ thống biểu mẫu báo cáo thống kê………

2 Thống kê ưu đãi xã hội………

2.1 Ý nghĩa nhiệm vụ………

2.2 Phương pháp nghiên cứu………

2.3 Hệ thống chỉ tiêu………

2.4 Hệ thống biểu mẫu báo cáo………

Trang 3

3 Thống kê giáo dục đào tạo………

3.1 Khái niệm và nhiệm vụ………

3.2 Hệ thống chỉ tiêu thống kê giáo dục đào tạo………

4 Thống kê tiêu cực xã hội, tội phạm và phòng chống tệ nạn xã hội

4.1 Khái niệm chung………

4.2 Các chỉ tiêu thống kê………

4.3 Các phương pháp phân tích………

Chương 6: Phân tích và áp dụng thống kê xã hội để giúp xây dựng kế hoạch

và thực hiện chương trình và dự án trong công tác xã hội

1 Nghiên cứu số liệu liên quan tới các vấn đề xã hội trong cộng đồng

2 Phân tích số liệu có liên quan đến dự án và chương trình

3 Sử dụng các số liệu cho xây dựng chương trình và dự án

4 Xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá để đánh giá kết quả thực hiện hoạt động thôngqua việc so sánh với số liệu thống kế trước đó

5 Viết và chia sẻ báo cáo kết quả dự án

6 Nghiên cứu số liệu liên quan với các vấn đề xã hội cho cộng đồng

Chương I ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA THỐNG KÊ XÃ HỘI

1 Đối tượng nghiên cứu thống kê

1.1 Sự ra đời của thống kê học

Trang 4

Thống kê xuất hiện trong thời tiền cổ đại, các chủ nô ghi chép, tính toán tài sản củamình (số nô lệ, số súc vật, các tài sản khác), nhưng công việc ghi chép còn giản đơn, tiếnhành trong phạm vi nhỏ hẹp, chưa mang tính thống kê rõ rệt.

Thời kỳ phong kiến thống kê phát triển hơn ở hầu hết các quốc gia Châu Á, Châu

Âu Tổ chức nhiều việc đăng ký và kê khai với phạm vi rộng, nội dung phong phú có tínhchất thống kê rõ rệt phục vụ cho việc thu thuế và bắt đi lính của giai cấp thống trị

Thời kỳ Tư bản chủ nghĩa, kinh tế hàng hóa phát triển làm cho thống kê phát triểnnhanh chóng, đồng thời có sự nghiên cứu tìm ra những lý luận và phương pháp thu thậptính toán số liệu thống kê Các tài liệu sách, báo về thống kê bắt đầu được xuất bản Ởmột số trường học đã bắt đầu giảng dạy thống kê

Vào nửa cuối thế kỷ XIX, thống kê phát triển rất nhanh Đại hội thống kê quốc tế đã

mở ra để thảo luận các vấn đề lý luận và thực tiễn của thống kê Viện Thống kê đượcthành lập và tồn tại như một chỉnh thể

Ngày nay, thống kê càng ngày càng phát triển mạnh mẽ và hoàn thiện hơn vềphương pháp luận, nó thực sự trở thành công cụ để nhận thức xã hội và cải tạo xã hội

1.2 Đối tượng nghiên cứu của thống kê học:

a Khái niệm thống kê học

Thống kê là một thuật ngữ đứng trên góc độ nghiệp vụ thực tế có thể hiểu với nghĩacông tác thống kê, vận dụng phương pháp nghiên cứu mặt lượng của các hiện tượng kinh

tế - xã hội trên cơ sở ứng dụng lý thuyết xác suất…hình thành hệ thống phương phápthống kê, hệ thống chỉ tiêu phân tích vận dụng trong công tác thống kê Do đó, có thể coithống kê là một môn khoa học về công tác thống kê

Tóm lại, thống kê học là môn khoa học nghiên cứu mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với mặt chất của hiện tượng kinh tế - xã hội số lớn, trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể.

Sự phát triển của hoạt động sản xuất, dịch vụ, các đơn vị kinh tế cơ sở và phát triểnkinh tế - xã hội thúc đẩy thống kê ngày càng phát triển về mặt lý luận và về mặt thực tiễnnghiệp vụ thống kê

b Đối tượng nghiên cứu của thống kê học

Thống kê không trực tiếp nghiên cứu mặt chất của hiện tượng kinh tế xã hội mà chỉnghiên cứu thống kê mặt số lượng cụ thể biểu hiện của hiện tượng kinh tế xã hội.Thôngqua phân tích hệ thống chỉ tiêu thống kê biểu hiện bằng những con số cụ thể, đúc kết nêulên những kết luận về đặc điểm, đặc trưng, bản chất, tính quy luật phát triển kinh tế - xãhội trên từng lĩnh vực, qua từng thời gian và địa điểm cụ thể

Đối tượng nghiên cứu của thống kê là mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với mặt chất của các hiện tượng kinh tế và quá trình kinh tế - xã hội số lớn phát sinh trong những điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể.

Đối tượng nghiên cứu của thống kê học là mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết vớimặt chất Bởi vì, mọi hiện tượng tự nhiên cũng như xã hội đều có tính hai mặt là mặt chất

và mặt lượng Trong đó:

- Mặt chất của hiện tượng được biểu hiện bằng khái niệm, giới hạn về đặc điểm,tính chất của hiện tượng nghiên cứu Mặt chất của hiện tượng giúp ta phân biệt được hiệntượng này với hiện tượng khác, đồng thời bộc lộ những khía cạnh sâu kín của hiện tượng

- Mặt lượng của hiện tượng được biểu hiện bằng con số về quy mô, khối lượng, kếtcấu, quan hệ tỉ lệ, tốc độ phát triển, trình độ phổ biến của hiện tượng

Hai mặt này không tách rời nhau, mỗi lượng cụ thể đều gắn với một chất nhất định,

sự biến đổi về lượng sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất

Trang 5

Đối tượng nghiên cứu của thống kê học là quá trình kinh tế - xã hội số lớn Bởi vì,thống kê là công cụ quản lý kinh tế - xã hội, kỹ thuật ở tầm vi mô và vĩ mô.

Hơn nữa, mục đích nghiên cứu của nó nhằm xác định tính quy luật, tính phổ biến,bản chất vốn có của hiện tượng hay nói cách khác là nó đi xác định tính chất tất nhiên củahiện tượng Nhưng tính tất nhiên của hiện tượng thường bị tính ngẫu nhiên (tính tức thờikhông thuộc về bản chất của hiện tượng) che khuất Vì vậy, muốn xác định tính tất nhiêncủa hiện tượng thì phải vận dụng quy luật số lớn

Đối tượng nghiên cứu của thống kê phải là các hiện tượng và quá trình kinh tế - xãhội diễn ra trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể Bởi vì, mọi hiện tượng tựnhiên cũng như kinh tế - xã hội đều phát sinh, phát triển ở những thời gian và địa điểmkhác nhau, không có một hiện tượng và quá trình kinh tế - xã hội nào mà ở thời gian này,địa điểm này lại giống hiện tượng và quá trình kinh tế - xã hội trong giai đoạn khác và địađiểm khác Vì vậy, muốn nghiên cứu các con số của thống kê phải đặt nó vào một thờigian và địa điểm cụ thể

Chính vì vậy, muốn xác định được tính quy luật, tính phổ biến, bản chất vốn có củahiện tượng kinh tế - xã hội thì thống kê phải đi nghiên cứu mặt lượng của hiện tượng vàmặt lượng này phải đảm bảo các điều kiện sau:

- Mặt lượng đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với mặt chất

- Mặt lượng của hiện tượng kinh tế - xã hội số lớn

- Mặt lượng diễn ra trong điều kiện thời gian và không gian cụ thể

1.3 Một số khái niệm thường dùng trong thống kê

1.3.1.Tổng thể thống kê

a) Khái niệm tổng thể thống kê

Tổng thể thống kê là một đối tượng nghiên cứu cụ thể thuộc hiện tượng kinh tế - xãhội, trong đó bao gồm những đơn vị cá biệt được kết hợp với nhau trên cơ sở một haymột số đặc điểm, đặc trưng chung được đề cập quan sát, phân tích mặt số lượng củachúng nhằm rút ra những nhận định, kết luận về đặc trưng chung, bản chất chung củatổng thể hiện tượng nghiên cứu

Ví dụ: Tổng số dân, tổng số nhân khẩu trong mỗi gia đình.

b) Các loại tổng thể thống kê

- Căn cứ vào mức độ biểu hiện của tổng thể:

+ Tổng thể bộc lộ: là tổng thể trong đó các đơn vị tổng thể được biểu hiện rõ ràng,

để xác định

Ví dụ: Số học sinh của một lớp học, số nhân khẩu của một địa phương, số thóc thu

hoạch của vụ Đông Xuân, số hàng hóa bán ra trong một tuần

+ Tổng thể tiềm ẩn: là tổng thể mà trong đó không thể nhận biết các đơn vị củachúng một cách trực tiếp, ranh giới của tổng thể không rõ ràng

Ví dụ: Số người ham thích chèo, số người mê tính dị đoan.

- Căn cứ vào đặc điểm, tính chất của tổng thể:

+ Tổng thể đồng chất: bao gồm các đơn vị, các bộ phận cấu thành giống nhau hoặcgần giống nhau trên một số đặc điểm, đặc trưng cơ bản có liên quan đến mục đích, yêucầu nghiên cứu

Ví dụ: Số học sinh yếu của một lớp, số học sinh khá của một lớp…

+ Tổng thể không đồng chất: bao gồm các đơn vị cấu thành cơ bản khác nhau vềđặc điểm, đặc trưng, loại hình chủ yếu

Trang 6

Ví dụ: Khi nghiên cứu tình hình học tập của một lớp thì lớp đó chính là một tổng thể

không đồng chất (nếu có nhiều lực học khác nhau)

- Căn cứ vào phạm vi biểu hiện của tổng thể

+ Tổng thể chung: là tổng thể bao gồm tất cả các đơn vị, các bộ phận cấu thànhthuộc cùng một phạm vi nghiên cứu

Ví dụ: Danh sách học sinh lớp 25A là 50 học sinh, giá trị sản xuất đạt được năm

2007 của doanh nghiệp X là 5 tỷ VND…

+ Tổng thể bộ phận: là tổng thể bao gồm một bộ phận đơn vị trong tổng thể chung

có cùng tiêu thức nghiên cứu.trong tổng giá trị sản

Ví dụ: Danh sách học sinh của 1 tổ của lớp 23A là 10 học sinh, giá trị sản xuất công

nghiệp trong tổng giá trị sản xuất của doanh nghiệp X là 3 tỷ VND

1.3.2 Đơn vị tổng thể

Đơn vị tổng thể là những phần tử cấu thành hiện tượng, nó mang đầy đủ các đặctrưng chung nhất của tổng thể và cần được quan sát, phân tích mặt lượng của chúng

Ví dụ: Mỗi học sinh của lớp 25A là một đơn vị tổng thể lớp 25A, mỗi tổ (đội, phân

xưởng) sản xuất của doanh nghiệp X…

Đơn vị tổng thể thống kê có đơn vị tính toán giống đơn vị tính toán của tổng thểthống kê Xác định đơn vị tổng thể thống kê là việc cụ thể hóa tổng thể thống kê Dó đó,xác định chính xác đơn vị tổng thể cũng quan trọng như xác định tổng thể thống kê.Muốn vậy phải dựa trên sự phân tích sâu sắc về mặt lý luận kinh tế chính trị và mục đích,yêu cầu nghiên cứu của từng trường hợp cụ thể để xác định đơn vị tổng thể cấu thànhtổng thể thống kê

1.3.3 Tiêu thức thống kê

a/ Khái niệm:

Tiêu thức thống kê chỉ về đặc tính, đặc trưng nào đó của hiện tượng kinh tế - xã hội.Tiêu thức thống kê là các đặc điểm cơ bản nhất của hiện tượng, được sử dụng để nghiêncứu hiện tượng, thông qua các đặc điểm này người ta có thể nhận thức rõ về tổng thể

Ví dụ: Khi nghiên cứu về nhân khẩu ở nước ta thì phải nghiên cứu trên các mặt:

quốc tịch, giới tính, độ tuổi, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, trình độ học vấn, nơi cưtrú Các đặc điểm này chính là các tiêu thức thống kê

b/ Phân loại:

- Tiêu thức thuộc tính: là tiêu thức phản ảnh các tính chất của đơn vị tổng thể,không biểu hiện bằng các con số

Ví dụ: Giới tính, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, nơi cư trú, nhân cách.

- Tiêu thức số lượng: là tiêu thức phản ánh các tính chất của đơn vị tổng thể trựctiếp bằng các con số

Ví dụ: Số lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ của doanh nghiệp X, số công nhân

trong danh sách của doanh nghiệp X, giá trị sản xuất của doanh nghiệp X…

- Tiêu thức nguyên nhân: là tiêu thức tác động, gây ảnh hưởng để tạo ra kết quả

Ví dụ: Tiêu thức năng suất lao động.

- Tiêu thức kết quả: là tiêu thức chịu tác động, ảnh hưởng do tác động của tiêu thứcnguyên nhân Tiêu thức kết quả phụ thuộc vào biến động của tiêu thức nguyên nhân cũngtheo xu hướng, quy luật nhất định thuận hoặc nghịch

Ví dụ: Tiêu thức khối lượng sản phẩm, giá thành sản phẩm là tiêu thức kết quả phụ

thuộc chịu tác động nhất định của tiêu thức năng suất lao động

- Tiêu thức thời gian: là tiêu thức biểu hiện độ dài thời gian nghiên cứu là tháng,quý, năm, 5 năm, 10 năm…

Trang 7

- Tiêu thức không gian: là tiêu thức chị địa điểm, địa phương nêu lên phạm vi lãnhthổ của hiện tượng kinh tế - xã hội tồn tại và phát triển…

1.3.4 Chỉ tiêu thống kê

a/ Khái niệm

Chỉ tiêu thống kê là các mặt của hiện tượng trên cả biểu hiện trên cả hai góc độ là

“khái niệm” và “mức độ”, nó phản ánh mặt lượng gắn chặt với mặt chất của các hiệntượng, các tính chất cơ bản của hiện tượng số lớn trong điều kiện địa điểm và thời gian cụthể

b/ Phân loại:

- Chỉ tiêu chất lượng: là chỉ tiêu biểu hiện đặc trưng, mặt chất nhất định của hiệntượng nghiên cứu trên góc độ về trình độ phổ biến, đặc trưng điển hình chung của tổngthể hiện tượng như mức năng suất lao động nói lên mức độ tiêu biểu về hiệu quả lao độngcủa tổng thể đơn vị nghiên cứu, giá thành bình quân đơn vị sản phẩm, tiền lương bìnhquân, định mức nguyên vật liệu bình quân một đơn vị sản phẩm…

Ví dụ: Năng suất lao động, tiền lương bình quân, lợi nhuận, giá thành sản phẩm…

- Chỉ tiêu số lượng: là chỉ tiêu biểu hiện quy mô, khối lượng của hiện tượng kinh tế

Hệ thống chỉ tiêu thống kê bao gồm nhiều loại, như hệ thống chỉ tiêu thống kêquốc gia; hệ thống chỉ tiêu thống kê của các Bộ/ngành và địa phương; hệ thống chỉtiêu thống kê kinh tế; hệ thống chỉ tiêu thống kê xã hội Các hệ thống chỉ tiêu thống kênày hợp thành tổng thể hệ thống chỉ tiêu thống kê thống nhất, trong đó hệ thống chỉ tiêuquốc gia là hệ thống chỉ tiêu bao trùm nhất và có tính khái quát nhất Khoản 1 Điều 5Nghị định số 40/2004/NĐ-CP ngày 13/02/2004 quy định: Hệ thống chỉ tiêu thống kêquốc gia là tập hợp những chỉ tiêu phản ánh tình hình kinh tế - xã hội chủ yếu của đấtnước để thu thập thông tin thống kê, phục vụ các cơ quan, lãnh đạo Đảng và nhànước các cấp trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chínhsách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ và đáp ứng nhucầu thông tin thống kê của các tổ chức, cá nhân khác

1.3.6.Thông tin thống kê

Thông tin thống kê là sản phẩm của hoạt động thống kê, bao gồm số liệu thống

kê và bản phân tích các số liệu đó Như vậy, thông tin thống kê không chỉ là nhữngcon số mà còn là các bản phân tích các con số đó

1.3.7.Cơ sở dữ liệu thống kê

Cơ sở dữ liệu thống kê là một tập hợp dữ liệu thống kê có liên kết với nhau,được tổ chức một cách hợp lý và được chứa trong thiết bị lưu trữ sao cho một tập hợpchương trình máy tính ứng dụng có thể thực hiện các thao tác tìm kiếm, sửa đổi, bổ

Trang 8

sung hoặc loại bỏ những dữ liệu đó Cơ sở dữ liệu thống kê được xây dựng, pháttriển trên những dữ liệu sinh ra từ các hoạt động thống kê và không phải dành riêng chomột người mà cho nhiều người cùng sử dụng Cơ sở dữ liệu thống kê thường bao gồmhai loại:

- Cơ sở dữ liệu thống kê vi mô, là cơ sở dữ liệu thống kê được xây dựng trên dữliệu thống kê ban đầu Khoản 1 Điều 18 Nghị định số 40/2004/NĐ-CP ngày 13/02/2004của Chính phủ quy định: Cơ sở dữ liệu thống kê ban đầu là tập hợp những thông tinghi trên các chứng từ, sổ tổng hợp, tờ khai hải quan, hộ tịch, hộ khẩu, tờ khai đăng kýthuế, phiếu điều tra thống kê, báo cáo tài chính và các thông tin thống kê khác đượcnhập và lưu trữ trong các phương tiện mang tin điện tử, mạng tin học

- Cơ sở dữ liệu thống kê vĩ mô, là cơ sở dữ liệu được xây dựng trên dữ liệu thống

kê tổng hợp, bao gồm những thông tin tổng hợp từ kết quả các cuộc điều tra thống kê,các báo cáo thống kê và các nguồn thông tin thống kê khác

2 Cơ sở lý luận, phương pháp luận của thống kê

2.1 Cơ sở lý luận của thống kê

Để nghiên cứu mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với mặt chất của hiện tượng vàquá trình kinh tế - xã hội, phải dựa trên cơ sở nhận thức đầy đủ bản chất và quy luật pháttriển của hiện tượng và quá trình đó Do vậy, thống kê học lấy chủ nghĩa Mác – Lênin,kinh tế chính trị học và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở lý luận

Chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa duy vật lịch sửnói riêng nghiên cứu bản chất và những quy luật chung nhất, cơ bản nhất về sự phát triểncủa xã hội Đó là những môn khoa học có khả năng giải thích rõ ràng và đầy đủ nhất cáckhái niệm, các phạm trù kinh tế - xã hội, vạch rõ các mối liên hệ ràng buộc và tác độngqua lại giữa các hiện tượng

Chủ nghĩa Mác – Lênin là nguyên lý có tầm quan trọng bậc nhất, quyết định tínhchất khoa học và chính xác của thống kê học Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trườnghiện nay đã xuất hiện nhiều chỉ tiêu kinh tế khá mới mẻ mà lý luận chủ nghĩa Mác –Lênin chưa đề cập tới như: tổng sản phẩm quốc nội, tổng sản phẩm quốc dân, giá trị giatăng Do vậy, nếu chỉ dựa vào lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin thôi chưa đủ mà thống

kê học còn phải dựa vào kinh tế học thị trường như kinh tế vi mô, kinh tế vĩ mô làm nềntảng khoa học cho mình

2.2 Cơ sở phương pháp luận của thống kê

Quá trình nghiên cứu thống kê hoàn chỉnh thường trải qua ba giai đoạn: Điều trathống kê, tổng hợp thống kê, phân tích thống kê

- Giai đoạn điều tra thống kê: Giải quyết nhiệm vụ thu thập các tài liệu ban đầu vềhiện tượng nghiên cứu để dùng làm căn cứ cho việc tổng hợp và phân tích thống kê.Trong giai đoạn này, thống kê học vận dụng nhiều hình thức tổ chức, nhiều loại và nhiềuphương pháp điều tra khác nhau, nhằm thu thập các tài liệu ban đầu một cách chính xác,kịp thời và đầy đủ

- Giai đoạn tổng hợp thống kê: Có nhiệm vụ chỉnh lý và hệ thống hóa các tài liệuban đầu thu thập được trong giai đoạn điều tra thống kê, nhằm bước đầu nêu lên một sốđặc trưng cơ bản của hiện tượng nghiên cứu và tạo cơ sở cho việc phân tích sau này.Cũng do hiện tượng nghiên cứu phức tạp, thường bao gồm nhiều đơn vị thuộc các loại

Trang 9

hình khác nhau, cho nên người ta thường không tổng hợp chung toàn bộ hiện tượng, màphải tổng hợp đến từng tổ, từng bộ phận đại diện cho các loại hình khác nhau Có nghĩa

là muốn tổng hợp thống kê, người ta thường dùng phương pháp phân tổ, các tiểu tổ có sựkhác nhau về tính chất

- Giai đoạn phân tích thống kê: Vạch rõ nội dung cơ bản của các tài liệu đã đượcchỉnh lý trong giai đoạn tổng hợp thống kê, nhằm giải đáp các yêu cầu nghiên cứu đề ra.Phân tích thống kê phải xác định được các mức độ của hiện tượng nghiên cứu, trình độ và

xu hướng biến động của hiện tượng, tính chất và trình độ chặt chẽ mối quan hệ giữa cáchiện tượng, dự báo ở mức độ tương lai của hiện tượng

Do đó thống kê học lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng làm cơ sở phương phápluận Chủ nghĩa duy vật biện chứng xem xét các sự vật và hiện tượng trong tự nhiên cũngnhư trong xã hội đều có mối liên hệ hữu cơ với nhau, không sự vật hiện tượng nào lại tồn tại một cách cô lập Không những thế mà còn luôn trong trạng thái vận động và biến đổi

3 Tính liên quan giữa thống kê xã hội với chính sách và thực hành công tác xã hội

Chương II QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA THỐNG KÊ

1 Điều tra thống kê

1.1 Ý nghĩa và nhiệm vụ của điều tra thống kê

Thu thập tài liệu về hiện tượng kinh tế - xã hội đáp ứng mục đích, yêu cầu nghiêncứu là công việc đầu tiên cùa quá rình nghiên cứu thống kê Tài liệu thu thập được lànhững căn cứ số liệu và tình hình phục vụ cho phân tích thống kê hiện tượng kinh tế - xãhội Phương pháp cơ bản thu thập tài liệu về hiện tượng kinh tế - xã hội là phương phápđiều tra thống kê – phương pháp quan sát số lớn

Điều tra thống kê là tổ chức một cách khoa học và theo một kế hoạch thống nhấtviệc thu thập, ghi chép các tài liệu thống kê theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu đối vớihiện tượng và quá trình kinh tế - xã hội trong điều kiện địa điểm và thời gian cụ thể

Điều tra thống kê là giai đoạn đầu tiên của quá trình nghiên cứu thống kê Đây là giai đoạn thu thập, ghi chép nguồn tài liệu ban đầu về các hiện tượng và quá trình kinh

tế - xã hội.

Điều tra thống kê không đơn thuần là việc ghi chép giản đơn mà là một công tác tổchức, một công tác khoa học thực hiện theo một kế hoạch thống nhất và phương án cụ thểcủa từng cuộc điều tra

Thực hiện tốt công tác điều tra thống kê có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao hiệuquả nghiên cứu hiện tượng kinh tế - xã hội, bởi vì:

- Đây là nguồn số liệu tin cậy phục vụ cho các đối tượng nghiên cứu nhằm đánh giátình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội

- Đây là căn cứ để Đảng và Nhà nước nắm bắt được các nguồn tài nguyên phongphú của đất nước và mọi tiềm năng tiềm tàng có thể khai thác được Trên cơ sở đó đề rađường lối, chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân và quản lý xã hội một cáchsát thực

Nhiệm vụ của điều tra thống kê là cung cấp tài liệu dùng làm căn cứ cho công táctổng hợp và phân tích thống kê Nhiệm vụ điều ta thống kê được thể hiện cụ thể trong cácphương án điều tra thống kê:

Trang 10

- Xác định đúng mục đích điều tra thống kê (theo mục đích nghiên cứu).

- Xác định đúng đối tượng điều tra thống kê (xác định các đơn vị tổng thể thuộcphạm vi điều tra - cũng gọi là đơn vị điều tra)

- Quy định các chỉ tiêu cần lấy tài liệu khi điều tra

- Phương pháp điều tra

- Thời điểm điều tra (thời điểm làm mốc để ghi chép tài liệu, thường phải phù hợpvới từng hiện tượng)

- Thời kỳ điều tra (độ dài thời gian của đối tượng cần thu thập tài liệu)

- Thời điểm kết thúc điều tra

1.2 Các phương pháp điều tra thống kê và phương pháp thu thập tài liệu, hình thức điều tra thống kê

Các phương pháp điều tra thống kê và phương pháp thu thập tài liệu

Ví dụ: Người điều tra có thể quan sát số lượng và thái độ của khách hàng đến thăm

gian hàng của công ty tại một hội chợ hay một cuộc triển lãm…

Phương pháp trực tiếp thực hiện theo hình thức chủ yếu: đăng ký trực tiếp, phỏngvấn trực tiếp, phỏng vấn trực diện, phỏng vấn qua điện thoại

Tài liệu ban đầu thu thập được do đăng ký trực tiếp thường có độ chính xác cao,nhưng đồi hỏi nhiều nhân tài vật lực Mặt khác, phạm vi ứng dụng bị hạn chế vì có nhiềuhiện tượng không cho phép quan sát trực tiếp

1.2.2 Phương pháp gián tiếp

Phương pháp điều tra gián tiếp là phương pháp người ta điều tra thu thập tài liệuqua bản viết của đơn vị điều tra, qua điện thoại hoặc qua chứng từ, sổ sách văn bản sẵncó

Ví dụ: Điều tra dư luận xã hội thông qua các phiếu điều tra, điều tra thu thập và

phân phối của các hợp tác xã, điều tra số sinh và tử vong của địa phương trong năm, điềutra ngân sách gia đình… là điều tra qua thu thập chứng từ, sổ sách…

Phương pháp gián tiếp thực hiện thu thập tài liệu điều tra theo các hình thức chủyếu: tự đăng ký, kê khai ghi báo theo yêu cầu trong phiếu điều tra hoặc biểu mẫu thống

kê gửi theo bưu điện về đơn vị điều tra

Điều tra gián tiếp có ưu điểm là việc thu thập tài liệu ít tốn kém, song chất lượngcủa tài liệu thường không cao

Phương pháp thu thập tài liệu điều tra thống kê.

Trong điều tra, thống kê là một vấn đề cốt lõi để đưa đến phân tích, kết luậnchính xác trong nghiên cứu thống kê Chính vì vậy phương pháp thu thập thông tin cũngrất cần được quan tâm Nhưng khi tiếp xúc với một đối tượng hay một cuộc điều tra thìtùy thuộc vào điều kiện thực tế và đặc điểm của hiện tượng nghiên cứu, khả năng về tàichính, thời gian, kinh nghiệm, trình độ của nhân viên điều tra mà ta cần phải lựa chọnphương pháp điều tra thích hợp để đạt được những thông tin tốt nhất

a Phương pháp điều tra trực tiếp

Trang 11

Là phương pháp ghi chép tài liệu ban đầu mà nhân viên điều tra phải tiếp xúc vớiđối tượng điều tra, trực tiếp tiến hành cân đong, đo đếm và ghi chép tài liệu vào phiếuđiều tra Kết quả điều tra trực tiếp đảm bảo mức độ chính xác cao, có thể phát hiện sai sót

để chỉnh lý kịp thời Phương pháp này tốn kém về chi phí và thời gian, vì vậy theo yêucầu nghiên cứu mà người ta áp dụng phương pháp điều tra trực tiếp hay điều tra giántiếp.VD: Thống kê vật liệu tồn kho,kiểm kê tài sản cố định…

b Phương pháp điều tra gián tiếp

Là phương pháp thu thập thông tin mà nhân viên điều tra có được qua sự trả lời củađơn vị điều tra qua điện thoại, phiếu điều tra, báo cáo thống kê, thư từ, fax, internet

 Phương pháp phái viên điều tra( phỏng vấn trực tiếp): nhân viên điều tra gặptrực tiếp đối tượng điều tra đặt câu hỏi và nghe câu trả lời

 Phương pháp tự ghi báo cáo:đối tượng được điều tra sau khi nghe hướng dẫn tựghi số liệu vào phiếu điều tra rồi nộp cho cơ quan điều tra

 Phương pháp thông tấn (gửi thư): Cơ quan điều tra và đối tượng điều tra khôngtrực tiếp găp nhau mà chỉ trao đổi tài liệu hướng dẫn và phiếu điều tra băng cách thôngqua bưu điện

Kết quả điều tra phụ thuộc vào đơn vị điếu tra,chất lượng và mức độ chính xác củatài liệu còn hạn chế,nhân viên điều tra khó phát hiện sai sót để xử lý kịp thời.Phươngpháp này ưu điểm là tiến hành nhanh gọn,kịp thời và đỡ tốn kém

Bên cạnh đó, người ta thường chia thành các phương pháp sau:

Phương pháp phỏng vấn

Phương pháp phỏng vấn là phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua sự tiếpxúc giữa người hỏi và người trả lời Căn cứ vào điều kiện thực tế người nghiên cứu sẽquyết định lựa chọn phương pháp nào để tiếp xúc với người được phỏng vấn

- Tiết kiệm thời gian và chi phí cũng như công sức cán bộ điều tra

- Thông tin thu được khách quan, không bị ảnh hưởng bởi thái độ người hỏi

- Dễ trả lời những vấn đề tế nhị

- Nguyên tắc nặc danh được đảm bảo trong phỏng vấn

 Hạn chế:

- Chất lượng thông tin thu được không thật cao

- Không biết được thái độ người trả lời

Trang 12

Lưu ý: trong phương pháp này muốn tăng số phiếu trả lời cần chú ý một số biệnpháp như:

- Tạo điều kiện dễ dàng tối đa cho việc trả lời

- Gửi thư nhắc tại kèm theo bảng câu hỏi đề phòng thư lần trước thất lạc

- Khuyến khích vật chất

b Phương pháp phỏng vấn trực diện

Là phương pháp mà người phỏng vấn và người trả lời tham gia một cuộc nóichuyện riêng hay còn gọi là trò chuyện có chủ định Tức đây là một cuộc nói chuyện cómục đích và là quá trình giao tiếp một chiều do người phỏng vấn điều khiển

 Ưu điểm:

- Việc tiếp xúc trực tiếp tạo ra những điều kiện đặc biệt để hiểu đối tượng sâu sắchơn

- Do tiếp xúc trực tiếp nên đã đồng thời kết hợp phỏng vấn với quan sát

- Có thể phát hiện sai sót và sửa đổi kịp thời

 Hạn chế:

- Tốn kém hơn về thời gian, chi phí và con người

- Tổ chức điều tra khó khăn hơn

- Không cẩn thận câu trả lời sẽ bị ảnh hưởng bởi thiên kiến của điều tra viên

Lưu ý: cuộc phỏng vấn phải đảm bảo không gây hậu quả cho người được phỏng vấn

về bản thân những giả định của người phỏng vấn và đảm bảo nguyên tắc nặc danh

Phỏng vấn trực diện nếu phân theo nội dung và trình tự phỏng vấn thì có 5 loại là:phỏng vấn tiêu chuẩn hóa, phỏng vấn bán tiêu chuẩn, phỏng vấn tự do, phỏng vấn sâu vàphỏng vấn định hướng Ngoài ra phỏng vấn trực diện còn được phân theo đối tượng tiếpxúc, gồm có 2 loại là: phỏng vấn cá nhân và phỏng vấn nhóm

Phương pháp phỏng vấn qua điện thoại

Phương pháp phỏng vấn qua điện thoại là một loại phỏng vấn trực diện nhưngngười phỏng vấn và đối tượng phỏng vấn không gặp mặt trực tiếp

- Làm giảm hứng thú khi phỏng vấn qua điện thoại

- Việc đưa ra các gợi ý hay hỗ trợ thêm bằng quan sát là khó thực hiện được

Lưu ý: phương pháp phỏng vấn này cần chú ý cách tiếp cận và chú ý lịch sự khi nói

chuyện

Trang 13

- Phương pháp này còn dùng trong việc nghiên cứu miêu tả với quy mô không lớn

và thường được dùng để thu thập thông tin sơ cấp

 Hạn chế:

- Đòi hỏi nhiều công sức và chi phí

- Nhiều nội dung khác nhau trong nghiên cứu không thể thực hiện được bằngphương pháp quan sát

* Theo tính chất tham gia, phương pháp quan sát được chia làm 2 loại:

- Quan sát có tham dự: Là hình thức quan sát trong đó người quan sát trực tiếp thamgia vào quá trình hoạt động của đối tượng quan sát Gồm có quan sát kín, quan sát trunglập,quan sát tham dự thông thường và quan sát tham dự tích cực

Phương pháp này có thể thu thập được thông tin một cách toàn diện, tránh được các

ấn tượng tức thời ngẫu nhiên Tuy nhiên nếu tham dự tích cực hoặc quá lâu có thể manglại hậu quả không tốt, chẳng hạn mất tính khách quan trong việc thu thập thông tin haychủ quan bỏ qua những diễn biến mới trong phản ứng của các thành viên trong tập thể

- Quan sát không tham dự (quan sát từ bên ngoài)

Trong phương pháp này người quan sát hoàn toàn đứng ngoài không can thiệp vàoquá trình xảy ra và không đặt câu hỏi Do đặc điểm đó nên khi dung phương pháp nàythường không thấy được nội tình do vậy những điều giải thích không phải lúc nào cũngđúng

* Theo thời gian

- Quan sát ngẫu nhiên: Là sự quan sát không được định trước là sẽ tiến hành vàomột thời điểm nào đó mà hoàn toàn ngẫu nhiên Do vậy đảm bảo được tính khách quancao trong thông tin ghi chép được

- Quan sát có hệ thống: Là quan sát có tính thường xuyên và lặp lại

* Theo hình thức hóa

- Quan sát tiêu chuẩn hóa (quan sát có kiểm tra)

Là quan sát mà trong đó những yếu tố cần quan sát được vạch sẵn trong chươngtrình, được tiêu chuẩn hóa trong các bảng, phiếu hoặc biên bản quan sát kết hợp với việc

sử dụng các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ

Đây là hình thức sử dụng rộng rãi nhất trong quan sát thực nghiệm và ít được dùngtrong nghiên cứu thăm dò

- Quan sát không tiêu chuẩn hóa: Là hình thức quan sát trong đó không xác địnhtrước các yếu tố hoặc tình huống sẽ quan sát mà chỉ xác định bản thân đối tượng nghiêncứu trực tiếp

Trang 14

Đây là hình thức thường được thực hiên trong nghiên cứu thăm dò và ít được dùngtrong nghiên cứu miêu tả.

* Theo địa điểm

- Quan sát tại hiện trường: Quan sát thực trạng của hiện tượng cuộc sống với một sốnội dung được chuẩn hóa còn một số nội dung thì không

- Quan sát trong phòng thí nghiệm: Là quan sát trong đó những điều kiện của môitrường xung quanh và tình huống quan sát đã được quy định sẵn

Hình thức tổ chức điều tra thống kê

1.2.3 Báo cáo thống kê định kì

Báo cáo thống kê định kì là hình thức tổ chức điều tra thống kê thường xuyên, cóđịnh kì, theo nội dung, phương pháp và chế độ độ báo cáo thống nhất do cơ quan có thẩmquyền qui định

Ví dụ: Theo định kì hàng tháng (quí, năm), các doanh nghiệp, các cơ quan thuộc

quản lí của nhà nước phải lập và gửi báo cáo theo biểu mẩu thống nhất lên cơ quan cấpcao

Báo cáo thống kê định kì áp dụng cho những đối tượng: Các doanh nghiệp và cơquan nhà nước, các doanh nghiệp không phải của nhà nước (nhưng nội dung của báo cáocòn hạn chế)

Khi lập báo cáo thống kê định kì cần giải quyết các vấn đề:

- Ghi chép ban đầu: là đăng kí lần đầu theo một chế độ qui định, mặt lượng của cáchiện tượng và quá trình phát triển kinh tế - xã hội đã phát sinh ra ở các đơn vị cơ sở,nhằm phục vụ các yêu cầu quản lý kinh tế, quản lý nhà nước

Ví dụ: Trong một doanh nghiệp việc ghi hằng ngày có công nhân đi làm, số nguyên

vật liệu sử dụng, số sản phẩm sản xuất ra… đó chính là các ghi chép ban đầu

- Hệ thống các chỉ tiêu trong báo cáo thống kê định kỳ: là một tập hợp những chỉtiêu có thể phản ánh các mặt, các tính chất quan trọng nhất, các mối liên hệ cơ bản giữacác mặt của tổng thể và mối liên hệ của tổng thể với các hiện tượng liên quan

Ví dụ: Đối với đơn vị sản xuất cơ sở: hệ thống chỉ tiêu cơ bản của nó là lao động và

tiền lương, về chi phí, thu nhập và lợi nhuận… Đối với các ngành trong nền kinh tế quốcdân: hệ thống các chỉ tiêu cơ bản của nó là dân số và nguồn lao động, giá trị sản xuất,tổng sản phẩm quốc nội (GDP), giá trị tăng thêm, về tiêu dùng và mức sống của dân cư.Báo cáo thống kê định kỳ có tác dụng:

- Hệ thống chỉ tiêu có tác dụng lượng hóa các mặt quan trọng nhất, cơ cấu kháchquan, mối liên hệ cơ bản của đối tượng nghiên cứu

- Là tiền đề để nhận thức bản chất, tính quy luật và xu hướng phát triển của đốitượng

1.2.4 Điều tra chuyên môn

Điều tra chuyên môn là hình thức điều tra không thường xuyên được tiến hành theomột kế hoạch và phương pháp riêng cho mỗi lần điều tra

Đối tượng của điều tra chuyên môn: là những hiện tượng mà báo cáo thống kê định

kỳ chưa hoặc không thể phản ánh thường xuyên được

Ví dụ: Điều tra về thiên tai, điều tra về tai nạn lao động, kiểm tra chất lượng của báo

cáo thống kê định kỳ

1.3 Những vấn đề chủ yếu của điều tra thống kê

1.3.1 Mục đích điều tra

Trang 15

Bất kỳ một hiện tượng kinh tế xã hội nào cũng đều có thể xem xét, quan sát

trên nhiều khía cạnh khác nhau, mỗi một khía cạnh sẽ cho ta những kết luận khác

nhau về hiện tượng Vì vậy, trước khi điều tra ta phải xác định cuộc điều tra này

nhằm tìm hiểu vấn đề gì, phục vụ cho yêu cầu nghiên cứu nào Đó chính là mục

đích của cuộc điều tra

Mục đích điều tra còn là căn cứ quan trọng xác định đối tượng, đơn vị điều

tra,xây dựng kế hoạch và nội dung điều tra Vì vậy, việc xác định rõ và đúng mụcđíchđiều tra là cơ sở quan trọng cho việc thu thập số liệu ban đầu một cách đầy đủ,hợp

lý đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu đặt ra

Bất cứ một hiện tượng nào khi nghiên cứu cũng được tìm hiểu ở nhiều góc độ khácnhau Song, trong điều tra thống kê thì không thể và không nhất thiết phải điều tra tất cảcác khía cạnh của hiện tượng mà chỉ nên tập trung khảo sát những khía cạnh có liên quantrực tiếp, phục vụ yêu cầu nghiên cứu

Căn cứ dể xác định mục đích điều tra thường là những nhu cầu thực tế cuộc

sống, nhu cầu hoàn chỉnh lý luận, … những nhu cầu này biểu hiện một cách trực

tiếp bằng các yêu cầu, đề nghị, mong muốn của cơ quan chủ quản …

Ví dụ: nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên trường CĐN Mục đích điều tra là nhằm thu thập những dữ liệu phản ánh kết quả học tập của sinh viên từ 1-3 học kì gần đây và các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập Các dữ liệu khác có liên quan đến sinh viên nhưng không cần thu thập như: sinh viên quê ở đâu, là con thứ mấy…

1.3.2 Đối tượng điều tra và đơn vị điều tra

a Đối tượng điều tra

Đối tượng điều tra là tổng thể các đơn vị thuộc hiện tượng nghiên cứu có các dữ liệucần thiết khi tiến hành điều tra Xác định đối tượng điều tra là xác định xem những đơn vịtổng thể nào thuộc phạm vi điều tra, cần được thu thập thông tin

Trong VD trên, đối tượng điều tra là các sinh viên đang học ít nhất 3 học kì gần đâycủa trường CĐN

Xác định đối tượng điều tra đúng giúp chúng ta xác định đúng số đơn vị điều tra,tránh được những nhầm lẫn khi thu thập dữ liệu Muốn xác định chính xác đối tượng điềutra, một mặt phải dựa vào sự phân tích lý luận, mặt khác nêu lên những tiêu chuẩn cơ bảnphân biệt hiện tượng nghiên cứu với các hiện tượng liên quan, phân biệt đơn vị tổng thểnày với đơn vị tổng thể khác

VD: ở ví dụ trên, tiêu chẩn đưa ra là sinh viên của trường CĐN đang học khác với

đã học, học chính quy chứ không phải hệ vừa học vừa làm.

b Đơn vị điều tra

Đơn vị điều tra là là từng đơn vị cá biệt thuộc đối tượng điều tra và được điều trathực tế Trong điều tra toàn bộ số đơn vị điều tra cũng chính là số đơn vị thuộc đối tượngđiều tra Trong điều tra không toàn bộ,thì số đơn vị điều tra là những đơn vị được chọn ra

từ tổng số các đơn vị thuộc đối tượng điều tra Đơn vị điều tra chính là nơi phát sinhnhững tài liệu ban đầu, điều tra viên cần đến đó để thu thập trong mỗi cuộc điều tra Đơn

vị điều tra còn là căn cứ để tiến hành tổng hợp dữ liệu, phân tích và dự báo thống kê cần

Trang 16

thiết Tùy thuộc vào mục đích và đối tượng điều tra mà đơn vị điều tra được xác định làkhác nhau Như vậy, muốn xác định đối tượng điều tra thì phải trả lời câu hỏi “điều traai?”, việc xác định đơn vị điều tra là trả lời câu hỏi “điều tra ở đâu?” Trong một sốtrường hợp đơn vị điều tra và đối tượng điều tra có thể trùng nhau.

Ví dụ: trong điều tra dân số, đơn vị điều tra là từng gia đình và từng người dân; trong điều tra sản xuất và kinh doanh rau an toàn thì đơn vị điều tra có thể là doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ nông dân hoặc từng người dân có sản xuất và kinh doang rau an toàn.

Cần phân biệt đơn vị điều tra và đơn vị tổng thể Đơn vị tổng thể là các phần tử,các đơn vị cấu thành hiện tượng mà qua đó ta có thể xác định được quy mô tổng thể Việcxác định số đơn vị tổng thể liên quan đến việc lập phương án điều tra, chọn phương ánđiều tra và ước lượng kinh phí để điều tra… còn việc xác định số đơn vị điều tra liênquan đến việc tổ chức ghi chép, đăng kí tài liệu, phân bổ cán bộ…

1.3.3 Nội dung điều tra

Nội dung điều tra là toàn bộ các đặc điểm cơ bản của từng đối tượng, từng đơn vịđiều tra mà ta cần thu thập thông tin Trong thực tế các đơn vị của hiện tượng nghiên cứuthường có rất nhiều đặc điểm khác nhau và ta cũng không thể, không nhất thiết phải thuthập thông tin của toàn bộ các tiêu thức đó mà chỉ cần thu thập theo một số tiêu thức quantrọng đáp ứng cho mục đích điều tra và mục đích nghiên cứu

Ví dụ: Điều tra mức sống dân cư năm 2002 của Tổng cục Thống kê gồm các nội dung điều tra như:

Tình hình cơ bản của các hộ gia đình

Tình hình thu và cơ cấu các nguồn thu

Tình hình chi và cơ cấu các khoản chi

Tình hình thu nhập

Ý kiến của hộ gia đình về khó khăn, thuận lợi, nguyện vọng

Để xác đinh đúng, đủ nội dung điều tra cần căn cứ vào các yếu tố sau:

- Mục đích điều tra: mục đích điều tra chỉ rõ những thông tin nào để đáp ứng nhucầu của nó vì mục đích khác nhau thì nhu cầu về thông tin cũng khác nhau

- Đặc điểm của hiện tượng nghiên cứu: tất cả những hiện tượng mà thống kê nghiêncứu đều tồn tại trong những điều kiện cụ thể về thời gian và không gian Khi điều kiệnthay đổi thì đặc điểm của hiện tượng cũng thay đổi theo, khi đó các biểu hiện của chúngcũng khác nhau

- Khả năng về nhân lực, chi phí và thời gian cho phép

1.3.4 Thời điểm, thời kì và thời hạn điều tra

a Thời điểm điều tra

Thời điểm điều tra là mốc thời gian được xác định để thống nhất đăng kí dữ liệu chotoàn bộ các đơn vị điều tra

Ví dụ: thời điểm điều tra dân số năm 1999 là 0h ngày 01/04/1999

Xác định thời điểm điều tra là xác định cụ thể giờ,ngày để thống nhất đăng kí dữliệu nhằm nghiên cứu trạng thái của hiện tượng tại thời điểm đó Tùy theo tính chất,đặcđiểm của hiện tượng cần nghiên cứu mà xác định thời điểm điều tra Tuy nhiên khi xác

Trang 17

định thời điểm điều tra người ta thường chọn thời điểm mà tại đó hiện tượng ít biến độngnhất và gắn kết với những kế hoạch của địa phương

VD: điều tra thị trường áo bơi ở Việt Nam thì không thể chọn vào mùa đông

b Thời kì điều tra

Thời kì điều tra là khoảng thời gian được xác định để thống nhất đăng kí dữ liệu củacác đơn vị điều tra trong suốt khoảng thời gian đó (cả ngày, cả tuần, cả tháng…)

VD: Điều tra số người vi phạm luật giao thông đường bộ 1 ngày, 1 tuần, 1 thángcủa một địa phương

Thời kì điều tra dài hay ngắn phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu

c Thời hạn điều tra

Thời hạn điều tra là thời gian dành cho việc đăng kí thu thập tất cả các dữ liệu điềutra, được tính từ bắt đầu cho đến khi kết thúc toàn bộ công việc thu thập dữ liệu

VD: Điều tra dân số thời hạn trong vòng 10 ngày

Như vậy thời hạn điều tra dài hay ngắn phụ thuộc vào quy mô, tính chất phức tạpcủa hiện tượng, nội dung nghiên cứu và lực lượng tham gia nhưng không nên quá dài.1.3.5 Biểu mẫu điều tra và bảng giải thích cách ghi biểu

a Biểu mẫu điều tra (hay còn gọi là phiếu điều tra): là loại văn bản in sẵn theo mẫuquy định trong kế hoạch điều tra được sử dụng thống nhất để ghi dữ liệu của đơn vị điềutra

Yêu cầu của phiếu điều tra: có đầy đủ các nội dung cần điều tra, các thang đo địnhtính sử dụng trong nội dung điều tra cần được mã hóa sẵn, các câu hỏi được thiết kế cụthể, khoa học, thuận lợi cho việc kiểm tra và tổng hợp dữ liệu

b Bảng giải thích cách ghi biểu mẫu: là bảng giải thích và hướng dẫn cụ thể cáchxác định và ghi dữ liệu vào biểu mẫu điều tra Nội dung, ý nghĩa của các câu hỏi phảiđược giải thích khoa học và chính xác Những câu hỏi phức tạp có nhiều khả năng trả lờicần có ví dụ cụ thể

Ngoài những nội dung chủ yếu trên, bảng giải thích còn đề cập đến một số vấn đề

về phương pháp, cách tổ chức và tiến hành điều tra như sau:

 Cách chọn mẫu

 Phương pháp thu thập và ghi chép số liệu ban đầu

 Các bước và tiến độ điều tra

 Tổ chức và quy định nhiệm vụ của cán bộ tham gia điều tra

 Phân công khu vực điều tra

 Tổ chức tập huấn cán bộ điều tra

 Điều tra thử để rút kinh nghiệm

Tổ chức tuyên truyền mục đích, ý nghĩa và yêu cầu của cuộc điều tra

2 Tổng hợp thống kê

2.1 Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của tổng hợp thống kê

Trang 18

2.1.1 Khái niệm tổng hợp thống kê

Tổng hợp thống kê là việc tiến hành tập trung, chỉnh lý và hệ thống hóa một cách cókhoa học các tài liệu ban đầu thu thập được trong điều tra thống kê

2.1.2 Ý nghĩa của tổng hợp thống kê

Việc tổ chức tổng hợp thống kê một cách đúng đắn và khoa học sẽ là cơ sở vữngchắc cho công tác phân tích và dự đoán thống kê, ngược lại nó sẽ làm giảm độ chính xáchoặc sai lệch về kết quả của công tác nghiên cứu thống kê

2.1.3 Nhiệm vụ của tổng hợp thống kê

Nhiệm vụ của tổng hợp thống kê là làm cho các đặc trưng (biểu hiện) riêng biệt củatừng đơn vị hiện tượng (tiêu thức điều tra) bước đầu chuyển thành các đặc trưng chung(các biểu hiện chung) của toàn bộ tổng thể (hiện tượng nghiên cứu)

Đề thực hiên tốt nhiệm vụ này thì khi tiến hành tổng hợp thống kê, phải vận dụng

và kết hợp được các công việc như: phân tổ thống kê, xác định các chỉ tiêu nêu rõ đặctrưng của từng tổ và toàn bộ tổng thể, áp dụng kỹ thuật tính toán, trình bày kết quả bằngbảng hoặc đồ thị thống kê

2.2 Những vấn đề chủ yếu của tổng hợp thống kê

2.2.2 Nội dung của tổng hợp thống kê

Nội dung của tổng hợp thống kê là danh mục các biểu hiện của những tiêu thức màchúng được xác định trong nội dung điều tra Tuy nhiên phải lựa chọn nội dung tổng hợp

để đáp ứng được mục đích nghiên cứu

- Tổng hợp tập trung: là toàn bộ tài liệu ban đầu được tập trung về một cơ quan đểtiến hành chỉnh lý và hệ thống hóa từ đầu đến cuối Chỉ áp dụng đối với một số cuộc điềutra chuyên môn lớn

Kỹ thuật tổng hợp có thể phân tích thành hai loại: tổng hợp thủ công và tổng hợpbằng máy Tổng hợp bằng máy là biện pháp quan trọng để nâng cao năng suất lao động

và đảm bảo tính chính xác của các số liệu được chỉnh lý, hệ thống hóa

2.2.4 Chuẩn bị và kiểm tra tài liệu dùng vào tổng hợp

Phải tập trung đầy đủ số lượng phiếu điều tra, hoặc tài liệu khác để có thể đáp ứngviệc thực hiện nhiệm vụ được đảm nhiệm Kiểm tra nhằm mục đích đảm bảo tính chínhxác của tài liệu điều tra ban đầu, phục vụ cho việc tính toán đúng các chỉ tiêu phân tíchsau này

2.3 Bảng thống kê

Trang 19

Bảng thống kê là hình thức biểu mẫu thông dụng nhất được thiết kế với một số cột,một số hàng để trình bày những kết quả tổng hợp thống kê biểu hiện bằng những con số

cụ thể

2.3.1 Cấu thành của bảng thống kê

a) Về hình thức

Bảng thống kê bao gồm các hàng ngang và cột dọc, các tiêu đề và số liệu Cụ thể:

- Các hàng ngang và cột dọc phản ánh quy mô của bảng

- Tiêu đề của bảng phản ánh nội dung của bảng và từng chi tiết trong bảng

- Các số liệu được ghi vào các ô của bảng, mỗi con số phản ánh một đặc trưng vềmặt lượng của hiện tượng nghiên cứu

c) Cấu thành của bảng thống kê

Tên c a b ng th ng kê (tiêu đ chung).ủa bảng thống kê (tiêu đề chung) ảng thống kê (tiêu đề chung) ống kê (tiêu đề chung) ề chung)

BẢNG DÂN SỐ VÀ MẬT ĐỘ DÂN SỐ KHU VỰC ĐÔNG NAM BỘ

Địa phương Dân số (1000 người) Diện tích (km 2 ) Mật độ dân số (Người/km 2 )

Trang 20

- Bảng phân tổ: là loại bảng trong đó đối tượng nghiên cứu ghi trong phần chủ đềđược phân chia thành các tổ theo một tiêu thức nào đó.

LAO ĐỘNG ĐANG LÀM VIỆC TẠI THỜI ĐIỂM 1/7 HÀNG NĂM PHÂN THEO NGHÀNH VÀ THÀNH PHẦN KINH TẾ

- Bảng kết hợp: là loại bảng thống kê trong đó đối tượng nghiên cứu ghi ở phần chủ

đề được phân theo hai, ba tiêu thức kết hợp với nhau Nó dùng để biểu diễn kết quả củaviệc phân tổ theo nhiều tiêu thức

TỶ LỆ THẤT NGHIỆP VÀ TỶ LỆ THIẾU VIỆC LÀM CỦA LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG TRONG ĐỘ TUỔI NĂM 2008 PHÂN THEO VÙNG

Chia ra Chung Thành thị Nông thôn Chung Thành thị Nông thôn

Trang 21

Đồ thị thống kê thường sử dụng con số kết hợp với hình vẽ, đường nét và màu sắc

để trình bày các đặc điểm số lượng của hiện tượng Bởi vậy, đồ thị thống kê có tác độngthu hút sự chú ý của người đọc, giúp người đọc nhận thức được những đặc điểm cơ bảncủa hiện tượng một cách dễ dàng, nhanh chống, giúp kiểm tra bằng hình ảnh độ chính xáccủa thông tin

Đồ thị thống kê bao gồm các loại:

- Nếu căn cứ vào hình thức biểu hiện ta có: biểu đồ hình cột, biểu đồ hìnhtượng, biểu đồ diện tích (vuông, chữ nhật, tròn), biểu đồ thường gấp khúc, bản đồ thống

- Nếu căn cứ vào nội dung phản ánh, có thể phân chia đồ thị thống kê thành các loại sau:

+ Đồ thị phát triển: Biểu hiện tình hình phát triển của hiện tượng và

so sánh giữa các hiện tượng; hình thức biểu hiện là biểu đồ hình cột, hình tròn

và đồ thị tuyến tính.

+ Đồ thị kết cấu: Biểu hiện kết cấu và biến động kết cấu của hiện tượng; hình thức biểu hiện là biểu đồ hình cột, hình tròn, hình chữ nhật… (có chia nhỏ thành các hình quạt).

+ Đồ thị liên hệ: Biểu hiện mối liên hệ giữa 2 tiêu thức Trong thực

tế người ta thường dùng đồ thị đường gấp khúc Trục hoành của đồ thị được dùng để biểu hiện trị số của tiêu thức nguyên nhân (tiêu thức gây ảnh hưởng); trục tung của đồ thị được dùng để biểu hiện trị số của tiêu thức kết quả (tiêu thức chịu ảnh hưởng).

Một số yêu cầu xây dựng đồ thị thống kê

Yêu cầu chung của một đồ thị thống kê là phải bảo đảm chính xác, dễ xem, dễ hiểu

và bảo đảm mỹ thuật Để đáp ứng yêu cầu chung này, khi xây dựng đồ thị phải chú ý

Trang 22

đến các yếu tố chính của đồ thị sau đây:

- Phải lựa chọn quy mô đồ thị cho hợp lý, hài hòa Quy mô của đồ thị to hay nhỏphải căn cứ vào mục đích sử dụng Tuy nhiên, trong các báo cáo phân tích thống kêkhông nên vẽ các đồ thị quá lớn Quan hệ tỷ lệ giữa chiều cao và chiều dài của đồ thịthông thường được dùng từ 1:1,33 đến 1:1,5

- Các ký hiệu hình học hoặc hình vẽ quyết định hình dáng của đồ thị nên việc lựachọn các ký hiệu hình học hoặc hình vẽ của đồ thị là vấn đề quan trọng, vì mỗi hình cókhả năng diễn tả riêng Ví dụ, khi cần biểu hiện kết cấu của hiện tượng nghiên cứu, ta cóthể vẽ các hình cột (có chia thành nhiều đoạn) hoặc các hình tròn (có chia thành cáchình quạt), hoặc hình vuông, hình chữ nhật Nhưng người ta thường dùng hình tròn, vìloại này biểu hiện được rõ nhất kết cấu và biến động kết cấu của hiện tượng

- Hệ tọa độ giúp cho việc xác định chính xác vị trí các ký hiệu hình học trên đồ thịnên chúng cũng có vị trí rất quan trọng Các đồ thị thống kê thường dùng hệ tọa độvuông góc, trong đó trục hoành thường được dùng để biểu thị thời gian, trục tung biểuthị trị số của chỉ tiêu Trong trường hợp phân tích mối liên hệ giữa hai biểu thức, thì biểuthức nguyên nhân được để ở trục hoành, biểu thức kết quả được ghi trên trục tung

- Thang và tỷ lệ xích của đồ thị cũng có ý nghĩa lớn vì nó giúp cho việc tínhchuyển các đại lượng lên đồ thị theo các khoảng cách thích hợp Người ta thường dùngcác thang đường thẳng, được phân bố theo các trục tọa độ nhưng cũng có khi dùngthang đường cong, thang tròn (ở đồ thị hình tròn) Các thang tỷ lệ có thể có khoảngcách bằng nhau hoặc không bằng nhau Các thang tỷ lệ có các khoảng cách khôngbằng nhau (ví dụ thang lôgarit) chỉ dùng để biểu hiện các tốc độ khi khoảng biến thiêncủa các mức độ quá lớn mà người ta chỉ chú ý đến biến động tương đối của chúng

- Phần giải thích cũng là phân không thể thiếu trong đồ thị Phần này bao gồm tên

đồ thị, các con số và ghi chú dọc theo thang tỷ lệ, các con số bên cạnh từng bộ phận của

đồ thị, giải thích các ký hiệu quy ước Các giải thích này cần được ghi rõ, gọn và dễhiểu

3 Phân tổ thống kê

3.1 Khái niệm về phân tổ thống kê

Khi phân tổ thống kê, các đơn vị tổng thể được tập hợp lại thành một số tổ (và tiểutổ), giữa các tổ có sự khác nhau rõ về tính chất, còn trong phạm vi mỗi tổ, các đơn vị điều

có sự giống nhau (hoặc gần giống nhau) về tính chất theo tiêu thức được dung làm căn cứ

để phân tổ

Phân tổ thống kê là căn cứ vào một hay một số tiêu thức nào đó để tiến hành phânchia các đơn vị trong tổng thể thành các tổ, nhóm tổ, tiểu tổ có tính chất khác nhau đápứng mục đích, yêu cầu nghiên cứu

Ví dụ: Phân tổ dân số theo giới tính, tuổi lao động, tuổi học; phân tổ sản phẩm của

ngành công nghiệp theo nhóm sản phẩm: nhóm A gồm sản phẩm thuộc loại tư liệu sảnxuất, nhóm B thuộc loại tư liệu tiêu dùng…

Phân tổ thống kê gồm các loại sau:

- Căn cứ vào số liệu tiêu thức sử dụng tiến hành phân tổ thống kê thành:

+ Phân tổ đơn giản: là phân tổ theo một tiêu thức

Trang 23

Ví dụ: Phân tổ dân số theo tiêu thức giới tính, phân tổ các cửa hàng bán lẻ của

ngành thương mại theo tiêu thức doanh số bán hàng, phân tổ doanh nghiệp công nghiệptheo số công nhân

+ Phân tổ phức tạp: là phân tổ theo nhiều tiêu thức

Ví dụ: Phân tổ dân số theo tiêu thức giới tính, độ tuổi lao động, độ tuổi học, thành

phần giai cấp, dân tộc

- Căn cứ theo tính chất biểu hiện của tiêu thức phân tổ thống kê chia thành:

+ Phân tổ theo tiêu thức thuộc tính là căn cứ vào những tiêu thức không thể trực tiếpbiểu hiện bằng con số cụ thể để thực tế phân tổ

Ví dụ: Phân tổ doanh nghiệp công nghiệp theo tiêu thức nhóm A, B, theo tiêu thức

thành phần kinh tế, v.v…

+ Phân tổ theo tiêu thức số lượng là căn cứ vào những tiêu thức có thể trực tiếp biểuhiện được bằng những con số cụ thể để tiến hành phân tổ

Ví dụ: Phân tổ các cửa hàng bán lẻ của ngành thương mại theo các tiêu thức: số

lượng nhân viên bán hàng, doanh số bán hàng, doanh thu bán hàng

- Căn cứ vào khoảng cách các tổ có thể chia thành:

+ Phân tổ không có khoảng cách tổ là phân tổ trong đó mỗi tổ chỉ có một giới hạnlượng biến không liên tục

Ví dụ: Phân tổ hộ gia đình theo con số, phân tổ lớp sinh viên theo tuổi đời, v.v…

+ Phân tổ có khoảng cách tổ là phân tổ trong đó mỗi tổ có hai giới hạn lượng biến,gọi là giới hạn dưới và giới hạn trên của tổ

Ví dụ: Phân tổ một loại hoa quả theo trọng lượng, phân tổ công nhân theo mức năng

suất lao động, v.v…

3.2 Tiêu thức phân tổ

3.2.1 Tiêu thức phân tổ thống kê

- Tiêu thức thống kê là các đặc điểm cơ bản nhất của hiện tượng, được sử dụng đểnghiên cứu hiện tượng, thông qua các đặc điểm này người ta có thể nhận thức rõ về tổngthể

Ví dụ: Khi nghiên cứu về tổng thể ở nước ta thì phải nghiên cứu trên các mặt: Quốc

tịch, giới tính, độ tuổi, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, trình độ học vấn, nơi cư trú Cácđặc điểm này chính là các tiêu thức thống kê

- Tiêu thức thống kê bao gồm:

+ Tiêu thức thuộc tính

Ví dụ: Giới tính, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, nơi cư trú, nhân cách.

+ Tiêu thức số lượng

Ví dụ: Số lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ của doanh nghiệp X, số công nhân

trong danh sách của doanh nghiệp X, giá trị sản phẩm của doanh nghiệp X…

3.2.2.Lựa chọn tiêu thức phân tổ thống kê

Khi nghiên cứu về một chủ đề nào đó trong hiện tượng kinh tế - xã hội, bản thânhiện tượng kinh tế - xã hội đó có một số đặc tính, đặc trưng có thể coi là tiêu thức đểphân tổ thống kê Mỗi tiêu thức đều có ý nghĩa, vai trò quan trọng khác nhau trong phân

tổ thống kê ở điều kiện cụ thể nhất định Việc phân tổ chính xác, khoa học trước phụthuộc vào việc lựa chọn tiêu thức phân tổ Để đảm bảo lựa chọn tiêu thức phân tổ đượcchính xác, phản ánh bản chất của hiện tượng, có thể căn cứ vào những nguyên tắc:

- Dựa trên cơ sở phân tích lý luận một cách sâu sắc, đúng đắn bản chất của hiệntượng nghiên cứu theo mục đích yêu cầu nghiên cứu

Trang 24

Ví dụ: Bản chất phương pháp sản xuất của doanh nghiệp là kỹ thuật hiện đại tiên

tiến, do đó nghiên cứu phân tổ quy mô của doanh nghiệp theo tiêu thức giá trị máy móc,thiết bị, chi phí, kỹ thuật sản xuất hiện đại Ngược lại, bản chất phương pháp sản xuất củadoanh nghiệp chủ yếu thủ công, dựa vào sức lao động của con người thì nghiên cứu quy

mô của doanh nghiệp dựa vào tiêu thức số lượng công nhân

- Căn cứ vào điều tra lịch sự cụ thể các giai đoạn phát triển của hiện tượng nghiêncứu, phân tích một cách sâu sắc và chọn tiêu thức bản chất tiêu thức phù hợp, đáp ứngyêu cầu phân tích ở từng giai đoạn cụ thể

Ví dụ: Phân tổ phân tích đời sống của người nông dân miền Bắc Việt Nam thời kỳ

trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cần phân tích sâu sắc tiêu thức số ruộng đấtchiếm hữu, mức thu nhập theo công điểm của xã viên hợp tác xã nông nghiệp…

3.3 Xác định số tổ

3.3.1 Phân tổ theo tiêu thức thuộc tính

Phân tổ hiện tượng kinh tế - xã hội nghiên cứu thành bao nhiêu tổ là vấn đề quantrọng, cần thiết phải nghiên cứu giải quyết tiếp theo sau vấn đề xác định lựa chọn tiêuthức phân tổ

Tiêu thức thuộc tính có 3 biểu hiện cụ thể:

- Trường hợp có 2 biểu hiện, phân chia hiện tượng nghiên cứu thành hai tổ

- Ví dụ: Phân tổ doanh nghiệp công nghiệp, phân tổ sản phẩm công nghiệp theo tiêu

thức nhóm A và nhóm B hoặc theo tiêu thức khu vực quốc doanh và khu vực ngoài quốcdoanh

- Trường hợp có một số bểu hiện cố định, mỗi biểu hiện hình thành một tổ, có baonhiêu biểu hiện sẽ phân chia hiện tượng nghiên cứu thành bấy nhiêu tổ

Ví dụ: Phân tổ dân số theo tiêu thức thành phần giai cấp hay theo tiêu thức dân tộc,

phân tổ nền kinh tế quốc dân theo tiêu thức ngành kinh tế hay theo tiêu thức thành phầnkinh tế

- Trường hợp có nhiều biểu hiện như tiêu thức tên sản phẩm, có rất nhiều tên sảnphẩm, không thể dựa trên mỗi biểu hiện hình thành một tổ Như vậy số tổ quá nhiều vàcác đơn vị trong các tổ sẽ không khác nhau về tính chất, đặc trưng cơ bản, không có ýnghĩa nghiên cứu Trường hợp này phải thực hiện nguyên tắc ghép tổ: các đơn vị, các tổnhỏ được ghép thành một tổ phải đảm bảo giống nhau hoặc gần giống nhau về tính chấthay đặc trưng cơ bản nào đó theo tiêu thức phân tổ, phù hợp với mục đích, yêu cầunghiên cứu

3.3.2 Phân tổ theo tiêu thức số lượng

Tiêu thức lượng biến có 3 trường hợp biểu hiện sau đây:

- Trường hợp chỉ có 2 mức biểu hiện: mức trên hoặc mức dưới một trị số lượng biếnnào đó

Ví dụ: Phân tổ của các doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ để nghiên cứu quy mô

doanh nghiệp theo 2 biểu hiện của tiêu thức công nhân: dưới 200 công nhân và trên 200công nhân Do đó hình thành 2 tổ: dưới 200 công nhân và trên 200 công nhân

- Trường hợp có một số hữu hạn tương đối cố định, lượng biến rời rạc không kiêntục thì mỗi lượng biến hình thành một tổ Số tổng bằng số hạn lượng biến

Ví dụ: Phân t s lao đ ng theo th i gian.ổ số lao động theo thời gian ống kê (tiêu đề chung) ộng theo thời gian ời gian

Khoảng thời gian Số lao động (Người)

Từ ngáy 1/1 đến ngày 14/1

Từ ngáy 15/1 đến ngày 24/2

200202

Trang 25

Từ ngáy 25/2 đến ngày 8/3

Từ ngáy 9/3 đến ngày 31/3 196194

- Trường hợp tiêu thức lượng biến liên tục hoặc không liên tục (rời rạc) có nhiềubiểu hiện về mặt lượng

Ví dụ: Phân tổ dân cư theo tuổi đời: tuổi dân cư chưa đến tuổi lao động, tổ dân cư

trong độ tuổi lao động, tổ dân cư ngoài độ tuổi lao động

Trong trường hợp này không thể căn cứ vào mỗi biểu hiện mặt lượng để hình thành

1 tổ Vì vậy số tổ được phân sẽ rất nhiều mà vấn đề quan trọng ở chỗ giữa các tổ khôngkhác biệt nhau về chất, đặc trưng cơ bản của hiện tượng, do đó không đáp ứng được mụcđích, yêu cầu nghiên cứu, phân tích Vì vậy, trường hợp này phải thực hiện ghép tổ để cómột số tổ thích hợp cần thiết

4 Phân tích và dự đoán thống kê

4.1 Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của phân tích và dự đoán thống kê

4.1.1 Khái niệm của phân tích và dự báo thống kê

Phân tích thống kê nhằm vạch rõ nội dung cơ bản của các tài liệu đã được chỉnh lýtrong tổng hợp thống kê, giải đáp các yêu cầu nghiên cứu đề ra Phân tích thống kê phảixác định được các mức độ của hiện tượng, tính chất và trình độ chặt chẽ các mối liên hệgiữa các hiện tượng Trên cơ sở đó dự đoán tình hình phát triển tương lai của hiện tượng

4.1.2 Ý nghĩa của phân tích dự báo thống kê

Phân tích và dự báo thống kê không chỉ có ý nghĩa về mặt nhận thức xã hội, mà còntrên một giác độ nhất định còn có ý nghĩa quan trọng đối với việc cải tạo xã hội

Phân tích và dự báo thống kê là công cụ quan trọng để nhận thức xã hội nói chung

và các hiện tượng của quá trình kinh tế - xã hội nói riêng Là thông tin đáng tin cậy đểĐảng và Nhà nước hoạch định chính sách kinh tế - xã hội và cải tạo xã hội

4.1.3 Nhiệm vụ của phân tích và dự báo thống kê.

Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch nhằm phục vụ kịp thời công tác quản lý kinh

tế của các nghành, các cấp Phân tích tính quy luật của các hiện tượng và quá trình kinh tế

xã hội cần nghiên cứu

4.2 Những vấn đề của phân tích và dự đoán thống kê

4.2.1 Lựa chọn, đánh giá tài liệu

Phần lớn các tài liệu dùng cho nhiều mục đích khác nhau Do vậy, khi tiến hànhphân tích thống kê phải lựa chọn, đánh giá tài liệu một cách chính xác

Căn cứ vào mục đích phân tích thống kê mà lựa chọn tài liệu thật cần thiết, baogồm: Các tài liệu chính và tài liệu có liên quan Nếu thiếu các tài liệu cần thiết thì phảitiến hành thu thập thêm hoặc có thể dựa vào nguồn tài liệu có sẵn mà tính toán

Khi đánh giá tài liệu phải biết kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, lấy việc sosánh, đối chiếu các chỉ tiêu với nhau và liên hệ với tình hình thực tế làm biện pháp pháthiện vấn đề trong tài liệu

4.2.2 Xác định phương pháp, chỉ tiêu phân tích

Trang 26

a) Xác định phương pháp phân tích

Khi nghiên cứu các hiện tượng kinh tế - xã hội, thống kê sử dụng nhiều phươngpháp phân tích, mỗi phương pháp này đều có ý nghĩa và tác dụng khác nhau Do đó khilựa chọn các phương pháp phân tích thống kê cho từng trường hợp cụ thể, cần phải chú ýcác đặc điểm sau đây:

- Phải xuất phát từ mục đích cụ thể của phân tích và dự đoán

- Phải hiểu rõ ưu, nhược điểm và điều kiện vận dụng của từng phương pháp

- Phải biết khéo léo kết hợp nhiều phương pháp nhằm phát huy tác dụng tổng hợpcủa chúng

5 Nghiên cứu các số liệu thống kê có sẵn

5.1 Thông qua internet

5.2 Thông qua các nguồn số liệu khác

Chương 3:

CÁC MỨC ĐỘ CỦA HIỆN TƯỢNG KINH TẾ XÃ HỘI

1 Số tuyệt đối trong thống kê

1.1 Khái niệm

Số tuyệt đối trong thống kê là một chỉ tiêu biểu hiện quy mô, khối lượng của hiệntượng kinh tế - xã hội trong điều kiện và thời gian cụ thể

Ví dụ: Năm 2004, số công nhân viên của doanh nghiệp “X” là 3.000 người, giá trị

sản xuất công nghiệp là 5.000.000.000 đồng

Chỉ tiêu mức độ khối lượng tuyệt đối của hiện tượng nghiên cứu có 2 biểu hiện:

- Biểu hiện số đơn vị của tổng thể hay của bộ phận trong tổng thể

Ví dụ: Số doanh nghiệp của công ty M, số công nhân của một doanh nghiệp.

- Biểu hiện tổng chỉ số của một tiêu thức, một chỉ tiêu kinh tế - xã hội

Ví dụ: Giá trị sản lượng sản phẩm, giá trị sản xuất, tổng doanh số bán lẻ…

1.2 Ý nghĩa, đặc điểm của số tuyệt đối

Ý nghĩa

- Thông qua số tuyệt đối chúng ta có thể biết cụ thể nguồn tài nguyên của đất nước,các kết quả tiềm tàng trong nền kinh tế quốc dân, các kết quả phát triển kinh tế, văn hóa,

xã hội

Trang 27

- Thông qua số tuyệt đối chúng ta sẽ nhận thức được cụ thể về quy mô, khối lượngthực tế của hiện tượng nghiên cứu.

- Số tuyệt đối là cơ sở đầu tiên để tiến hành phân tích thống kê (tính các chỉ tiêu sốtượng đối, số bình quân, chỉ số) và là căn cứ không thể thiếu trong việc xây dựng các kếhoạch phát triển kinh tế và thực hiện chỉ đạo kế hoạch đó

Đặc điểm

- Chỉ tiêu mức độ khối lượng tuyệt đối trong thống kê luôn luôn gắn liền với hiệntượng kinh tế - xã hội nhất định Mỗi con số mức độ khối lượng tuyệt đối điều mangtrong nó một nội dung kinh tế nhất định ở từng thời gian và địa điểm nhất định Do đómuốn xác định đúng đắn mức độ khối lượng tuyệt đối trong thống kê, vấn đề quan trọngtrước tiên phải xác định cụ thể nội dung kinh tế chứa đựng vốn có

- Chỉ tiêu mức độ khối lượng tuyệt đối trong thống kê không phải là những con sốtoán học lựa chọn tùy ý mà là những con số thu được qua phương pháp thống kê phùhợp: phương pháp điều tra, thu thập ghi chép được các mức độ khối lượng tuyệt đối vềmột chỉ tiêu nào đó

Ví dụ: Muốn biết có nguyên vật liệu tồn kho cuối kỳ của doanh nghiệp, thống kê

phải lập bảng cân đối kết hợp với công tác kiểm kê thực tế

1.3 Đơn vị tính của số tuyệt đối

Ví dụ: tấn, tạ, yến, cái, chiếc, mét…

1.3.2 Đơn vị thời gian lao động

Đơn vị dùng đo lường thời gian lao động hao phí sản xuất sản phẩm tính theo giây,phút, ngày, tháng Hoặc dùng đo lường lao động hao phí: giờ - công, ngày – công

1.4 Các loại số tuyệt đối

1.4.1 Số tuyệt đối thời kỳ

Số tuyệt đối thời kỳ là số tuyệt đối biểu hiện quy mô khối lượng cụ thể của hiệntượng cho cả một thời kỳ nào đó Khối lượng của hiện tượng kinh tế - xã hội được tíchlũy (cộng dồn) trong một độ dài thời gian nhất định (ngày, tháng, quý, năm)

Ví dụ: Giá trị sản xuất của doanh nghiệp “X” trong năm 2004 là 5 tỷ đồng, tổng

doanh thu là 4,5 tỷ đồng

Đặc điểm nổi bật của số tuyệt đối thời kỳ là trị số của số tuyệt đối thời kỳ có thểcộng trực tiếp được với nhau Quá trình nghiên cứu càng dài, mức độ tuyệt đối thời kỳcộng dồn sẽ càng lớn

1.4.2 Số tuyệt đối thời điểm

Ngày đăng: 09/03/2016, 15:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê bao gồm các hàng ngang và cột dọc, các tiêu đề và số liệu. Cụ thể: - giáo trình thống kê xã hội học
Bảng th ống kê bao gồm các hàng ngang và cột dọc, các tiêu đề và số liệu. Cụ thể: (Trang 19)
Bảng thống kê là hình thức biểu mẫu thông dụng nhất được thiết kế với một số cột, một số hàng để trình bày những kết quả tổng hợp thống kê biểu hiện bằng những con số - giáo trình thống kê xã hội học
Bảng th ống kê là hình thức biểu mẫu thông dụng nhất được thiết kế với một số cột, một số hàng để trình bày những kết quả tổng hợp thống kê biểu hiện bằng những con số (Trang 19)
2.4. Đồ thị thống kê - giáo trình thống kê xã hội học
2.4. Đồ thị thống kê (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w