Theo các nhà xã hội học thì có vấn đề xã hội khi những thành viên của một cộng đồng lớn hay nhỏ nhận thấy có những dấu hiệu hoặc điều kiện gây ảnh hưởng, tác động hoặc đe dọa đến chất lư
Trang 1Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
1.1 Khái niệm chính sách xã hội
Khái niệm “xã hội”
Cho đến nay còn nhiều người hiểu theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau Theo nghĩa rộng “xã hội” được hiểu như là tất cả những gì gắn với xã hội loài người nhằm phân biệt nó với các hiện tượng tự nhiên
“Cái xã hội” dùng trong khái niệm chính sách xã hội không đồng nghĩa với “cái xã hội”
là mục đích, động cơ, động lực của mọi hoạt động đời sống con người, mỗi nhóm và tập đoàn người trong một xã hội xác định
Khái niệm xã hội, trong nghĩa rộng, không chỉ dành riêng cho con người mà ám chỉ mọi
tổ chức của các sinh vật có tương quan lệ thuộc lẫn nhau Cụ thể hơn, một xã hội là một tập hợp những sinh vật (1) được tổ chức, có phân công lao động tồn tại qua thời gian, (2) sống trên một lãnh thổ, trên một địa bàn (3) và chia xẻ những mục đích chung, cùng nhau thực hiện những nhu cầu chủ yếu của đời sống như nhu cầu tái sản xuất, nhu cầu an ninh, các nhu cầu tinh thần… Định nghĩa này phân biệt khái niệm xã hội với khái niệm dân số Khái niệm dân số không hàm ý một tổ chức xã hội, trong khi khái niệm xã hội nhấn mạnh những mối quan hệ hổ tương giữa các thành viên trong xã hội Định nghĩa như trên xã hội cũng không đồng nghĩa với quốc gia, mặc dù trong thế giới hiện nay, khái niệm xã hội thường ám chỉ một quốc gia, một nhà nước, bởi lẽ thông thường một thành viên của xã hội họ nghĩ rằng họ
là thành viên của một quốc gia nhất định Nhưng không phải luôn luôn như vậy và trong nhiều trường hợp không có sự đồng nhất giữa xã hội và nhà nước Đó cũng chính là nguyên nhân của nhiều cuôc nội chiến và nhiều cuộc xung đột xã hội như trường hợp của Palestine, của những thổ dân châu Mỹ hay của bộ lạc Ibo ở Nigeria
Xã hội con người khác xã hội của loài vật, bởi lẽ con người có khả năng thay đổi hình thái và chức năng của xã hội để thích ứng với hòan cảnh, hay nói cách khác con người có khả năng xây dựng cho mình một nền văn hóa Văn hóa cho phép con người sống trong xã hội không chỉ dựa trên sự phân công lao động, trên sự lệ thuộc hổ tương mà còn chia sẽ những giá trị, những niềm tin chung Cùng nhắm tới việc thực hiện một chức năng xã hội, nhưng văn hóa cho phép con người, thuộc những nền văn hóa khác nhau, có những loại hình quan hệ xã hội, tương tác xã hội khác nhau Do đó một khi đã được sản sinh, văn hóa và xã hội phát triển đan xen một cách rất phức tạp
Theo Các mác và Ăng ghen, xã hội là hình thái vận động cao nhất của thế giới vật chất Hình thái vận động này lấy con người và sự tác động lẫn nhau giữa người và người làm nền tảng, xã hội biểu hiện tổng số những mối liên hệ và những quan hệ của các cá nhân, “là sản
Trang 2phẩm của tác động qua lại giữa những con người (Các Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 21)
Vấn đề xã hội?
Thế nào là vấn đề xã hội? vấn đề này được xem xét dưới nhiều phương diện, góc độ khác nhau trong các ngành, môn khoa học khác nhau
Theo các nhà xã hội học thì có vấn đề xã hội khi những thành viên của một cộng đồng (lớn hay nhỏ) nhận thấy có những dấu hiệu hoặc điều kiện gây ảnh hưởng, tác động hoặc đe dọa đến chất lượng cuộc sống của họ và đòi hỏi phải có những biện pháp, giải pháp để phòng ngừa, ngăn chặn giải quyết tình trạng đó theo hướng có lợi cho sự tồn tại và phát triển của cộng đồng
Ở bình diện khác, có quan điểm cho rằng, theo Mác thì xã hội là sản phẩm của sự tác động lẫn nhau giữa người với người và như vậy nó chính là đối tượng nghiên cứu của việc nghiên cứu các vấn đề xã hội nói chung và chính sách xã hội nói riêng Theo quan điểm này thì vấn đề xã hội được hiểu rất rộng và khó xác lập
Có quan niệm lại đặt các vấn đề xã hội bên cạnh các vấn đề khác như kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội… quan điểm này cũng mang tính tương đối mà thôi vì trong từng vấn đề cụ thể đã chứa đựng trong đó cả khía cạnh kinh tế, chính trị, văn hóa và cả khía cạnh xã hội Ví như vấn đề lao động việc làm nó hàm chứa cả vấn đề kinh tế và vấn đề xã hội
Vậy:
“Vấn đề xã hội là những vấn đề phát sinh trong lòng xã hội liên quan đến con người, liên quan đến sự công bằng, bình đẳng trong xã hội, đến cơ hội tồn tại và phát triển, đến sự
hưởng tác động, thậm chí đe dọa sự phát triển bình thường của con người, của cộng đồng xã hội, tác động xấu đến chất lượng sống của con người, của cộng đồng và do vậy đòi hỏi phải
có những giải pháp, biện pháp kiểm soát, phòng ngừa, ngăn chăn, điều chỉnh hoặc giải quyết theo hướng bảo đảm sự phát triển bền vững của xã hội
“Vấn đề xã hội là những tình huống nảy sinh trong đời sống xã hội mà cách thức và những biện pháp giải quyết của chủ thể (con người, nhóm xã hội) chưa đạt được kết quả mong muốn, chẳng hạn như: nghèo đói, mại dâm, thất nghiệp, ma túy…”
Chính sách xã hội là gì? Đây là vấn đề gây không ít tranh cãi Để làm rõ vấn đề này trước tiên cần nghiên cứu và phân tích một số khái niệm liên quan như: “Chính sách” và
“Xã hội”
Chính sách là gì?
1 Khái niệm “chính sách” Theo nhiều nhà nghiên cứu, “chính sách” là hình thức tác động qua lại giữa các nhóm, tập đòan xã hội gắn trực tiếp hoặc gián tiếp với tổ chức, hoạt
Trang 3động của nhà nước, của các đảng phái, thiết chế khác nhau của hệ thống chính trị nhằm thực hiện các lợi ích, các mục tiêu, nhiệm vụ của các nhóm, tập đòan xã hội ấy
Chính sách thường được thể chế hóa trong các quyết định, hệ thống pháp luật, các quy chuẩn hành vi và những quy định khác (GS Nguyễn Đình Tấn)
2 Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay các nhà quản lý đề ra
để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình.(TS Lê Chi Mai)
3 Chính sách là một quá trình hành động có mục đích được theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm (James Anderson Hoạch định chính sách công, Houghton Mifflin, 1990, tr.5.)
4 Chính sách là hoạt động chính trị, liên quan đến những mục tiêu cơ bản, một chuỗi các hành động, một tập hợp các quy tắc và điều chỉnh Có thể phân tích chính sách theo nghĩa các giá trị, mục tiêu (targets), nguồn lực, phong cách và chiến lược.(PGS.TS Bùi Thế Cường- bài giảng Chính sách xã hội)
5 Chính sách là tập hợp biện pháp của một chủ thể quản lý, tạo ra sự đối xử khác nhau
giữa các nhóm trong một hệ thống xã hội, nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển chung của toàn hệ thống.”
Như vậy, khi nói đến chính sách, luôn có các yếu tố sau:
Một chủ thể tạo dựng và thực thi chính sách
Các nhóm xã hội khác nhau bị tác động bởi chính sách
Một chính sách phân biệt đối xử giữa các nhóm xã hội
Mục tiêu phát triển chung của toàn hệ thống (Vũ Cao Đàm - Đề cương bài giảng xã
hội học môi trường)
Khoa học chính sách là một ngành khoa học vận dụng một cách tổng hợp các tri thức và phương pháp để nghiên cứu hệ thống chính sách và quy trình chính sách, tìm ra thực chất, nguyên nhân và kết quả của chính sách, cung cấp những kiến thức liên quan đến chính sách nhằm mục đích cải tiến hệ thống chính sách và nâng cao chất lượng của chính sách (TS Lê Chi Mai)
Từ những đĩnh nghĩa và phân tích khái niệm như trên về chính sách và xã hội ta có thể
đi đến cách tiếp cận sau về chính sách xã hội “cái xã hội” dùng trong chính sách xã hội là
“cái xã hội” theo nghĩa hẹp Nó đang được nhiều nhà nghiên cứu thống nhất hiểu như mối qua hệ của con người, của các cộng đồng người thể hiện trên nhiều mặt của đời sống xã hội
từ chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng Điều này không có nghĩa là “ cái xã hội” theo nghĩa hẹp là cái bao trùm, chứa đựng mọi quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa và tư tưởng mà chính xác hơn, nó chính là yếu tố con người, là khía cạnh nhân văn của tất cả những mối quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng ấy Như vậy cái xã hội theo nghĩa hẹp chính là mục tiêu,
là mục đích của tất cả các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa và tư tưởng của con người
Trang 4Quan hệ giữa “cái xã hội” theo nghĩa hẹp với cái “ kinh tế” “chính trị” “văn hóa” “tư tưởng” những cái chung với những cái riêng Người ta có thể tìm thấy cái xã hội này thông qua việc phân tích
Chính sách xã hội
1 V Z Ro – Go – vin cho rằng: “chính sách xã hội là lĩnh vực tri thức xã hội học, nghiên cứu hệ thống về các qúa trình xã hội, quyết định hoạt động sống của con người trong
xã hội, xét theo khả năng tác động, quản lý đến các quá trình đó Có đầy đủ cơ sở để xem xét csxh như là sự hoà quyện của khoa học và thực tiễn, như là sự phân tích phức hợp, dự báo về các quan hệ, các quá trình xã hội và sự vận động thực tiễn các tri thức thu nhận được nhằm mục đích quản lý các quá trình và quan hệ ấy (V Z Ro – Go – vin - Chính sách xã hội trong xã hội xã hội chủ nghĩa phát triển: Mockba,1980, tr10- 11; bản dịch thông tin khoa học xã hội)
2 Chính sách xã hội là công cụ quan trọng của Đảng và Nhà nước để thực hiện và điều chỉnh những vấn đề xã hội đang được đặt ra đối với con người (con người ở đây được xét theo góc độ con người xã hội, chứ không phải là con người kinh tế, hay con người kĩ thuật…) để thỏa mãn hoặc phần nào đáp ứng các nhu cầu cuộc sống chính đáng của con người, phù hợp với các đối tượng khác nhau, trong những trình độ kinh tế, văn hóa, xã hội của các thời kỳ nhất định, nhằm bảo đảm sự ổn định và phát triển của xã hội…(Phạm Tất Dong- Chính sách xã hội)
3 “Chính sách xã hội là gì? Hiểu ý nghĩa khái quát nhất,chính sách xã hội là hệ thống các quan điểm, cơ chế, giải pháp và biện pháp mà Đảng cầm quyền và Nhà nước đề ra tổ chức thực hiện trong thực tiễn đời sống nhằm kiểm soát, điều tiết và giải quyết các vấn đề
xã hội đặt ra trước xã hội”( PGS.TS Phạm Hữu Nghị)
4 Chính sách xã hội là loại chính sách được thể chế bằng pháp luật của Nhà Nước thành một hệ thống quan điểm, chủ trương phương hướng và biện pháp để giải quyết những vấn
đề xã hội nhất định, trước hết là những vấn đề xã hội liên quan đến công bằng xã hội và phát triển an sinh xã hội, nhằm góp phần ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội (PGS.TS Lê Trung Nguyệt)
5 Chính sách trước hết là một khoa học, chính sách xã hội phải là thành tựu của những sự nghiên cứu nghiêm túc của khoa học xã hội, trả lời những câu hỏi của cuộc sống, ở dạng hoạt động thực tiễn của đặc thù này Chính sách xã hội cần được xem xét như một lĩnh vực khoa học đặc thù, bám chắc vào sự vận động của thực tiễn, khoa học nghiên cứu về chính sách xã hội cần phải mạnh dạn trả lời những câu hỏi đặt ra từ thực trạng kinh tế xã hội nước
ta hiện nay (GS Phạm Như Cương)
Trang 5
Từ định nghĩa về chính sách xã hội nêu trên có thể thấy rằng khái niệm chính sách
xã hội bao gồm những yếu tố cơ bản hợp thành sau đây:
1 Chủ thể đặt ra chính sách xã hội: tổ chức chính trị lãnh đạo Ở nước ta là Đảng Cộng sản, Nhà nước và các tổ chức hoạt động xã hội
2 Nội dung các chính sách xã hội dựa trên những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và thể chế nào?
3 Các đối tượng của các chính sách xã hội (chung, riêng, đặc biệt)
4 Những mục tiêu nhằm đạt tới
Hay nói cách khác là cần trả lời bốn câu hỏi sau:
- Ai đặt ra chính sách xã hội?
Chính sách xã hội luôn luôn gắn với chế độ chính trị - xã hội Các xã hội phong kiến và
tư bản đều có những chính sách xã hội phù hợp với bản chất của chúng Mỗi chế độ xã hội đều có kế thừa những chính sách xã hội của chế độ cũ ở một mức độ nhất định và phát triển chúng, thậm chí thay đổi chúng hoàn toàn trong những điều kiện mới của lịch sử
Ở nước ta, chủ thể đặt ra các chính sách xã hội là tổ chức chính trị lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với sự tham gia của các tổ chức hoạt động chính trị xã hội, như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Liên hiệp các Hội Khoa học - kỹ thuật
Chủ thể đặt ra các chính sách xã hội có vai trò hết sức quan trọng, có tính chất quyết định, đồng thời phải thể hiện tinh thần trách nhiệm và năng lực lãnh đạo rất cao vì Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, vì Nhà nước Việt Nam là Nhà nước “của dân, do dân và vì dân” Các chính sách nói chung và chính sách xã hội nói riêng phải thể hiện đầy
đủ, nổi bật những bản chất đó
- Đặt chính sách xã hội cho ai?
Đối tượng các chính sách xã hội không bị bó hẹp như trước đây mà mở rộng ra các tầng lớp nhân dân trong xã hội (công nhân, thợ thủ công, nông dân, sinh viên, trí thức, các nhà doanh nghiệp, trẻ em, người già, thanh niên, phụ nữ, các dân tộc (đa số và thiểu số) các tôn giáo, người Việt định cư ở nước ngoài, những quân nhân, những bậc lão thành cách mạng, những thương binh, liệt sỹ, bà mẹ anh hùng, những người tàn tật, cô đơn, thậm chí những nạn nhân của các tệ nạn xã hội mại dâm, ma túy )
- Nội dung của các chính sách xã hội là gì?
Chính sách xã hội bao quát nhiều lĩnh vực hoạt động rộng lớn của xã hội, những lĩnh vực hoạt động đó lại liên quan đến các đối tượng khác nhau của sự phân tầng xã hội
Trang 6Xem xét một cách tổng thể, có thể phác ra những nội dung cơ bản sau đây của chính sách xã hội:
1 Tái tạo tiềm năng nhân lực của đất nước thông qua các chính sách về dân số, gia đình, bảo vệ sức khỏe con người, bảo hộ lao động, tổ chức nghỉ ngơi, giải trí cho các tầng lớp nhân dân, khắc phục các tệ nạn xã hội, bảo đảm an toàn xã hội
2 Góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng nền tảng vững chắc của xã hội với các chính sách về nhà ở, bảo vệ môi trường (sinh thái và xã hội), sự phát triển của văn hóa, giáo dục, khoa học, nghệ thuật, hệ thống các tổ chức dịch vụ nhằm mục đích phục vụ cuộc sống tốt đẹp của con người
3 Giáo dục nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài cho đất nước, tạo thêm nhiều việc làm cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh niên, đào tạo và đào tạo lại người lao động dễ tiếp thu công nghệ mới, kỹ thuật hiện đại và không ngừng nâng cao năng xuất lao động
4 Tạo điều kiện cho xã hội ngày càng có nhiều khả năng và biết tiêu thụ những sản phẩm vật chất và tinh thần một cách đúng đắn, tiết kiệm, phù hợp với trình độ phát triển sức sản xuất của đất nước và những chuẩn mực đạo đức, pháp lý của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa
5 Tạo nên sự hình thành mô hình lối sống xã hội chủ nghĩa với những đặc điểm chủ yếu
là sự phát triển toàn diện của các cá nhân kết hợp hài hòa với sự phát triển của cộng đồng trong sự bảo vệ những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc không ngừng được bồi dưỡng, nâng cao dưới chế độ xã hội chủ nghĩa
- Chính sách xã hội nhằm mục đích gì?
Việc trả lời cho câu hỏi này phụ thuộc vào bản chất chế độ xã hội - chính trị của từng nước Đối với Việt Nam, câu trả lời đã hết sức rõ ràng Cách đây 48 năm, trong bài nói chuyện tại Hội nghị sản xuất cứu đói, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chính sách của Đảng và Chính phủ hết sức chăm nom đến đời sống nhân dân Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm Đảng và Chính phủ có lỗi Vì vậy, cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân”
Như vậy có thể coi chính sách xã hội là sự tổng hợp các phương thức, các biện pháp của nhà nước, của các đảng phái và tổ chức chính trị khác nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân phù hợp với trình độ phát triển của đất nước về kinh tế, văn hoá, xã hội … Chính sách xã hội là sự cụ thể hoá và thể chế hoá bằng pháp luật những chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước
Tóm lại: Chính sách xã hội là các quan điểm, chủ trương được thể chế hoá để tác động vào các quan hệ xã hội nhằm giải quyết những vấn đề xã hội, góp phần thực hiện công bằng
xã hội, tiến bộ và phát triển con người
Trang 71.2 Quá trình nhận thức và quan điểm của Đảng về chính sách xã hội:
1.2.1 Quá trình nhận thức và thực hiện chính sách xã hội ở Việt Nam:
Ở Việt Nam do những hoàn cảnh xã hội đặc biệt, chính sách xã hội được nhận thức và thực hiện theo những giai đoạn lịch sử khác nhau
Có thể chia ra thành ba giai đoạn lớn để phân tích:
Giai đoạn 1: Từ sau cách mạng tháng tám thành công đến khi cuộc cách mạng giải
phóng dân tộc hòan thành với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ thắng lợi và thống nhất đất nước
Giai đoạn 2 : Từ sau năm 1975 đến khi Đại hội lần thứ VI của Đảng đề ra đường lối đổi
mới
Giai đoạn 3: Từ năm 1986 đến nay
Hai giai đoạn đầu gọi chung là thời kỳ trước Đại hội VI của Đảng (12- 1986), do những
hạn chế và nhận thức của mô hình xã hội chủ nghĩa kiểu cũ, chính sách xã hội chưa được nhận thức đầy đủ Còn tồn tại quan niệm chính sách xã hội chỉ là chính sách dành cho những đối tượng xã hội đặc biệt thiếu khả năng lao động hoặc cần ưu đãi Nhiều người coi chính sách xã hội chỉ là chính sách cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội và bảo hiểm xã hội Nhiều vấn đề ở tầm vĩ mô nhu dân số, việc làm, thiết kế những phương án phát triển kinh tế chưa tính tóan đầy đủ đến những vấn đề xã hội và môi trường xã hội cần thiết cho con người Đôi khi chính sách kinh tế tách rời khỏi chính sách xã hội, còn chính sách xã hội đôi khi vượt quá trình độ phát triển của nền kinh tế Chủ nghĩa binh quân không chỉ trong phân phối thu nhâp nói chung, mà trong cả việc thực hiện chính sách xã hội Nhiều nhu cầu xã hội của cá nhân đáng được thỏa mãn nhưng lại bị đồng hóa trong tập thể, cộng đồng Những sắc thái riêng biệt của cá nhân ít được quan tâm Chính sách xã hội, rõ ràng chưa được nhận thức và thực hiện đầy đủ với tất cả những yêu cầu của nó
Từ sau đổi mới (đại hội VI), chính sách xã hội được Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm, thực hiện ngày một tốt hơn Vấn đề xã hội đã được tính đến nhiều hơn trong phương án phát triển kinh tế - xã hội Chính sách xã hội được nhận thức với tất cả tính tòan diện, phong phú của nó trên cả tầm vĩ mô và vi mô Nhân tố con người và những sắc thái cá nhân đã được coi trọng Đại hội đã coi chính sách xã hội là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước, một bộ phận cấu thành chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là động lực to lớn phát huy tính năng động, sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Nghị quyết Đại hội khẳng định: “Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người: điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hoá, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc…Coi nhẹ chính sách xã hội, tức là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Cần thể hiện đầy đủ trong thực tế quan điểm của Đảng
và Nhà nước về sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội” Từ nhận thức:
Trang 8“Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội, nhưng những mục tiêu xã hội lại là mục đích của các hoạt động kinh tế”, Đại hội VI của Đảng đã nhấn mạnh: Cần có chính sách xã hội cơ bản, lâu dài và xác định những nhiệm vụ, mục tiêu phù hợp với yêu cầu, khả năng trong chặng đường đầu tiên Đó là một bước tiến mới trong nhận thức về chính sách xã hội của Đảng Chủ nghĩa bình quân cũng được khắc phục Mở cửa tạo điều kiện để Việt Nam huy động tiềm lực quốc tế cho việc giải quyết nhiều vấn đề
xã hội do lịch sử chiến tranh để lại cũng như những vấn đề mới xuất hiện do ảnh hưởng của
kinh tế thị trường
Định hướng chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 (theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI)
Các chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 cần sớm được cụ thể hóa và tổ chức thực hiện thông qua các nghị quyết chuyên đề, các nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và các chương trình mục tiêu quốc gia theo đúng tinh thần Nghị quyết Ðại hội XI của Ðảng, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020
Riêng đối với chính sách người có công và chính sách an sinh xã hội thực hiện theo quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp sau:
1 - Không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người có công và bảo đảm an sinh xã hội là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Ðảng, Nhà nước, của cả
hệ thống chính trị và toàn xã hội
2 - Chính sách ưu đãi người có công và an sinh xã hội phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội và khả năng huy động, cân đối nguồn lực của đất nước trong từng thời kỳ; ưu tiên người có công, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số
3 - Hệ thống an sinh xã hội phải đa dạng, toàn diện, có tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ; bảo đảm bền vững, công bằng
4 - Nhà nước bảo đảm thực hiện chính sách ưu đãi người có công và giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội; đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp và người dân tham gia Ðồng thời tạo điều kiện để người dân nâng cao khả năng tự bảo đảm an sinh
5 - Tăng cường hợp tác quốc tế để có thêm nguồn lực, kinh nghiệm trong việc xây dựng
và thực hiện các chính sách an sinh xã hội
Mục tiêu tổng quát:
Tiếp tục cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người có công, phấn đấu đến năm
2015 cơ bản bảo đảm gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư trên địa bàn Ðến năm 2020, cơ bản bảo đảm an sinh xã hội toàn dân,
Trang 9bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập, giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin, truyền thông, góp phần từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân
1.2.2 Quan điểm của Đảng về chính sách xã hội:
Quan điểm nhân văn
Các chính sách của Đảng và Nhà nước ta, xét đến cùng đều nhằm mục đích phục vụ con người nên quan điểm nhân văn phải là sợi chỉ đỏ xuyên suốt các chính sách xã hội ở Việt Nam, từ rất sớm, trải qua hàng ngàn năm phải luôn luôn đoàn kết để đấu tranh chống ngoại xâm và chống thiên tai, đã hình thành một truyền thống nhân ái sâu sắc trở thành tình cảm, đạo đức và phong tục văn hóa tốt đẹp Tư tưởng nhân văn được ghi lại trong những thành ngữ dân gian Nó trở thành quan điểm xử thế của nhân dân, quan điểm yêu quý con người
“thương người như thể thương thân”, “người là vàng, của là ngãi”, “một mặt người bằng mười mặt của”, “người là hoa của đất”
Truyền thống nhân ái đó đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển trong chủ nghĩa nhân văn cộng sản
Trong hiện thực lịch sử, do điều kiện kinh tế - xã hội quy định, do nhận thức và thực hiện sai lầm mô hình chủ nghĩa xã hội nhà nước, chưa thể nói rằng chủ nghĩa nhân văn cộng sản đã được thực hiện tốt trên đất nước ta, nhưng cũng không thể phủ nhận thực tế là ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền nhân dân do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã ban hành hàng loạt chính sách xã hội đối với công nhân, nông dân, trí thức, giáo dục, y tế, văn hóa, các tôn giáo và các dân tộc
Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn chúng ta: “Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa Hiểu chủ nghĩa Mác Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được?”
Trong Cương lĩnh xây dựng dất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng đã nhấn mạnh thêm:
“Chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
Phương hướng lớn của chính sách xã hội là phát huy nhân tố con người trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân, kết hợp tốt tăng trưởng kinh
tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội”
Nội dung nói trên chính là sự thể hiện tư tưởng nhân văn của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh Đó là tư tưởng cơ bản có tính chất quyết định đối với mọi chính sách xã hội được hoạch định trong thời gian trước mắt cũng như trong chiến lược lâu dài Cùng với quan
Trang 10điểm nhân văn, còn có một số quan điểm cơ bản khác cần được quán triệt trong việc xây dựng các chính sách xã hội
Quan điểm gắn lý luận với thực tiễn
Nghị quyết của Bộ Chính trị về “Công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay” ngày
28-03-1992 nhận xét: “Lý luận chưa đi sâu, đi sát cuộc sống, chưa ra khỏi tình trạng lạc hậu, chưa đáp ứng những đòi hỏi của thực tế đổi mới Công tác lý luận chưa phục vụ tốt việc cụ thể hóa và phát triển đường lối, hoạch định các chính sách”
Nghị quyết nhấn mạnh một trong những phương châm lớn cần nắm vững là phải “gắn chặt lý luận với thực tiễn, giữa yêu cầu trước mắt với nhiệm vụ lâu dài, giữa nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng” Tư tưởng chỉ đạo nói trên của Đảng đặc biệt có ý nghĩa trong việc gắn kết các chương trình nghiên cứu các chính sách xã hội cụ thể với nghiên cứu
lý luận xã hội học
Trong những năm qua, từ thực tiễn của việc khảo sát thực tiễn kết hợp với nghiên cứu lý luận trong việc thực hiện chương trình khoa học cấp Nhà nước về “Đổi mới chính sách xã hội và cơ chế quản lý việc thực hiện các chính sách xã hội”, chúng tôi nhận thức sâu sắc chính sách xã hội phải là thành tựu của những sự nghiên cứu nghiêm túc khoa học xã hội, trước hết là xã hội học nhằm góp phần giải quyết những vấn đề xã hội nóng bỏng đang đặt
ra từ thực trạng kinh tế - xã hội của đất nước ta hiện nay
Để chính sách xã hội có hiệu quả, có khả năng đi vào cuộc sống, cần có sự kết hợp chặt chẽ hữu cơ giữa những cơ quan nghiên cứu lý luận, những tổ chức Đảng và Nhà nước có trách nhiệm hoạch định chính sách và những nhà hoạt động thực tiễn có nhiệm vụ xây dựng các cơ chế thích hợp đưa các chính sách đó vào cuộc sống
Như vậy, giữa những cơ quan có chức năng khác nhau có một mối liên hệ gắn bó chung:
đó là thực tiễn xã hội
Hơn ở đâu hết, đây là chỗ cần phải thể hiện đầy đủ phương châm mà Đại hội lần thứ VI của Đảng đã vạch ra: nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, phân tích sự thật
Muốn thế, chỉ có tổng kết tốt thực tiễn mới phát triển được lý luận (hiểu theo nghĩa đúng đắn nhất của nó là có tính sáng tạo)
Nói như vậy thì dễ, nhưng làm được điều đó thì cực kỳ khó Thực tiễn quá trình đổi mới của đất nước ta đang diễn ra rất sôi động, đa dạng, không ai có thể cho rằng đã nắm bắt được đầy đủ thực tiễn đó, chưa nói đến việc còn khó khăn hơn là hiểu biết thực chất nội dung vận động của nó và dự đoán sự phát triển của nó ra sao? Mối đe dọa lớn nhất đối với mọi chính sách nói chung và chính sách xã hội nói riêng là tính khả thi kém hoặc không có tính khả thi Điều đó bắt nguồn phần lớn từ thiếu quan điểm thực tiễn và thiếu hiểu biết lý luận xã hội học về những vấn đề xã hội được đặt ra xem xét và tìm biện pháp giải quyết