1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

GIAO TRINH CONG TAC XA HOI CA NHA VA NHOM

216 156 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 216
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

theo cách hơi khác với các thành phố khác là tập trung cung cấp những lời tư vấn chongười nghèo hơn là phân phát quà bố thí hoặc cứu trợ.d Quá trình phát triển của phương pháp thực hành

Trang 1

PH N 1 ẦN 1 CÔNG TÁC XÃ H I V I CÁ NHÂN ỘI VỚI CÁ NHÂN ỚI CÁ NHÂN

Trang 2

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN1.1 KHÁI NIỆM, MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN 1.1.1 Sơ lược lịch sử hình thành công tác xã hội cá nhân

Phần lớn các sách báo viết về lịch sử của Công tác xã hội đều cho rằng nước Mỹ lànới khởi nguồn của các phương pháp thực hành công tác xã hội, kề từ khi MaryRichmond xuất bản những cuốn sách đầu tiên về công tác xã hội là Friendly VisitingAmong the Poor (Những cuộc viếng thăm thân thiện đến người nghèo năm 1899),

“Social Diagnosis” (Chẩn đoán xã hội, 1917), The Good Neighbor in the Modern City(Láng giềng tốt trong các thành phố hiện đại, 1907) và What is Social Casework? AnIntroductory Description (Công tác xã hội với trường hợp cá nhân là gì? Một mô tả banđầu, 1922) Đây là những cuốn sách đầu tiên viết về các phương diện lý thuyết và cũng

đã đem lại những lời giải đáp và hướng dẫn về các phương diện lý thuyết và cũng đã đemlại những lời giải đáp và hướng dẫn thực hành cho hoạt động công tác xã hội nhằm giúp

đỡ những người nghèo hoặc các cá nhân gặp khó khăn trong cuộc sống

Nước Mỹ cũng là nơi mà ngôi trường đầu tiên đào tọa chuyên ngành công tác xãhội được ra đời (1898) – The New York School of Philanthropy (tạm dịch là Trường Bác

Ái của New York) say này đổi tên thành Columbia University School of Social (TrườngCông tác xã hội của Đại học Comlumbia) Vào thời điểm đó, trường này đã tổ chức nhiềuhội thảo và các chương tình đào tạo trong thời gian nghỉ hè cho nhiều tình nguyện viên vànhững người làm công việc “viếng thăm thân thiện” đến với người nghèo, và cũng tổchức chương trình đào tạo một năm cho nghề công tác xã hội Đây cũng chính là thờiđiểm mà Mary E Richmond cùng các đồng nghiệp của bà chuẩn bị cho xuất bản cuốnsách đầu tiên, “Friendly Visiting Among the Poor” (Những cuộc viếng thăm thân thiệnđến người nghèo, 1899)

Tuy nhiên, rõ ràng là phong trào công tác xã hội phải có một quá trình phát triểnlâu dài trong lịch sử của nó và người ta cho rằng phong trào công tác xã hội đã bắt nguồn

từ trước đó rất lâu với các hoạt động của các nhà cải cách thuộc các Tổ chức từ thiện củaThiên chúa giáo: một người là được xem là triết gia Tây Ban Nha (Juan Luis de Vivres,

1493 – 1540) và người kia là một mục sư Đạo Tin lành là người Scotland (ThomasChalmers, 1780 – 1847) Hai quan điềm về hoạt động giúp đỡ người nghèo của JuanLouis de Vivres và Thomas Chalmers được xem là những quan đểm khởi nguồn cho hoạtđộng thực hành công tác xã hội với cá nhân và gia đình cũng nhưng là nguồn gốc của

Trang 3

nghề công tác xã hội Khi bàn về hoạt động công tác xã hội với cá nhân và gia đình, Para

và các tác giả khả, đã viết: “Sơ lược về lịch sử của thực hành công tác xã hội với cá nhân

và gia đình cho thấy rằng không chỉ phương pháp thực hành công tác xã hội mà cả nghềcông tác xã hội nói chung cũng để có nguồn gốc từ các hoạt động với cá nhân” (Paras,Eufemio, Kay, De Guzman, 1981)

Hai quan điểm về hoạt động giúp đỡ người nghèo của Juan Louis de Vivres vàThomas Chalmers được tóm tắt như sau:

a) Cá nhân hóa sự giúp đỡ cho người nghèo (tư tưởng của Juan Louis de Vivres, 1493 – 1540)

Ý tưởng giúp đỡ người nghèo trên cơ sở tiếp cận từng cá nhân lần đầu tiên đượcphát triển bởi nhà triết học Tây Ban Nha, Juan Louis de Vivres Mặc dù gốc gác là ngườiTây Ban Nha, nhưng ông chuyển sang sống ở Bỉ trong phần lớn cuộc đời của mình trongthời gian đầu thế kỷ 16 Ông đã quan sát sự việc các tín đồ ngoan đạo cũng như thủ tụctôn giáo thực hiện khi công việc từ thiện bằng cách phân phát những đồ vật bố thí mộtcách đồng đều đến người nghèo đã không quan tâm nhiều đến tình hình cuộc sống củatừng cá nhân nghèo Ông đã kêu gọi những nhà tài trợ hoặc bố thí từ thiện nên quan tâmđến những gì xảy ra sau khi những người nghèo nhận được những sự trợ giúp đó Ở thờiđiểm đó, trên khắp Châu Âu, những người nghèo này được gọi là “những người cùngkhổ”, một thuật ngữ ám chỉ cách sống phụ thuộc vào sự cứu trợ Ông vận động mọi ngườinên điều tra về điều kiện xã hội của một gia đình nghèo để xác định nhu cầu/vấn đề cụthể của họ Ông đề nghị, bên cạnh sự phân phát của bố thí, cần phải tổ chức các dịch vụkhác như dạy nghề, tạo việc làm và các dịch vụ phục hồi chức năng khác cho nhữngngười nghèo Tuy nhiên, những đề nghị của ông đã không nhận được sự chú ý của nhữngnhà hoạt động xã hội trong thời điểm đó

b) Giúp đỡ cá nhân trong quan hệ láng giềng (trong cộng đồng) (tư tưởng của Thomas Chalmers, 1780 – 1847)

Một ý tưởng tương tự sau đó lại được khởi xướng vào đầu thế kỷ 19 ở Scotlandbởi Thomas Chalmers, mục sư ở một giáo xứ địa phương Triết lý của ông về sự cứu trợ

là nên tập trung vào các cá nhân, hoặc các địa phận giáo xứ nhỏ Ông đã bắt đầu bằngcách khởi tạo trong giáo xứ của một mình chương trình từ thiện tư nhân dựa vào nhữnggiúp đỡ từ quan hệ láng giềng vào năm 1819 Tổ chức từ thiện tư nhân của ông đã tổchức một hệ thống những người thiện nguyện thường xuyên đến viếng thâm từng cá nhânngười nghèo để khích lệ và đào tạo cho họ Ông chủ trương rằng mỗi một trường hợp củanhững cá nhân có hoàn cảnh khó khăn cần phải được giải quyết theo từng cách riêng.Thay cho việc phân phát cứu trọ hoặc bố thí một cách đơn thuần, mỗi một trường hợpnên được điều tra kỹ để xác định nguyên nhân của hoàn cảnh khó khăn và các giải pháp

Trang 4

giúp đỡ sẽ được thực hiện trên cơ sở đó Ông nhấn mạnh rằng những vấn đề mà mỗi cánhân đang quan tâm trong cuốc sống của họ cần phải được chú ý đến trong quá trình giúpngười nghèo phục hồi chức năng và nâng cao đời sống của họ.

c) Sự ra đời của các tổ chức tiền thân của công tác xã hội với cá nhân

kể từ ngày thành lập cho đến khi nó bị Cuộc Đại Khủng hoảng buộc nó và Hiệp hội Các

Tổ chức Từ thiện ở New York phải sát nhập vào năm 1939 để thành lập Hiệp hội Các Tổchức Dịch vụ Cộng đồng ở New York ngày nay

Năm 1869

Hiệp hội Các Tổ chức Từ thiện (COS) đầu tiên được thành lập ở London Những ýkiến của Thomas Chalmers, sau 50 năm được bắt đầu bằng những hoạt động tiên phongcủa ông ở Glasgov, đã được những nhà hoạt động từ thiện ở Anh đón nhận Họ kết hợp

cả hai ý tưởng, cá nhân hóa sự giúp đỡ và giúp đỡ cá nhân trong quan hệ cộng đồng, vàohoạt động tiếp cận mà họ áp dụng trong việc giúp đỡ những người nghèo Hiệp hội các tổchức từ hiện ở London đã vận hành một chương trình cứu trợ dựa trên ý thưởng củaChalmers, đặt nền móng cho sự phát triển của công tác xã hội cá nhân như là một phươngpháp cho việc giúp đỡ người nghèo Họ xây dựng một chính sách trợ giúp được mở rộngtrên cơ sở từng đối tượng một tùy thuộc vào từng hoàn cảnh cá nhân Ngay sau đó, một

số cách Hiệp hội tương tự đã xuất hiện tại Anh Các tình nguyện viên có kỹ năng đượctuyển dụng để trợ giúp cho các gia đình nghèo và giúp người nghèo phát huy những khảnăng tự xoay sở để vượt của họ

Năm 1877

Hiệp hội các Tổ chức Từ thiện đầu tiên của Mỹ được thành lập ở Buffalo, NewYork và cũng hoạt động theo mô hình của Hiệp hội Các Tổ chức Từ thiện ở Anh Họ hoạtđộng dưới hình thức một tổ chức thiện nguyện, và cũng thúc đẩy thêm việc tiếp cận theo

cá nhân và công tác xã hội với các trường hợp riêng biệt/với cá nhân Khoảng một thập

kỷ tiếp theo sau đó, hàng loạt các Hiệp hội Tổ chức Từ thiện như vậy cũng được thànhlập ở các thành phố của Mỹ và nhiều tổ chức trong số này thực hiện việc hỗ trọ ngườinghèo bằng các trợ cấp về tài chính Tuy nhiên, ở New York, Hiệp hội này hoạt động

Trang 5

theo cách hơi khác với các thành phố khác là tập trung cung cấp những lời tư vấn chongười nghèo hơn là phân phát quà bố thí hoặc cứu trợ.

d) Quá trình phát triển của phương pháp thực hành công tác xã hội cá nhân

Phương thức hoạt động của các tổ chức tiền thân của hoạt động công tác xã hội

Trong thời gian đầu, nhân viên của các Tổ chức Từ thiện, phần lớn là các tìnhnguyện viên làm việc từ thiện và thường đóng vai trò là những người “người khách thânthiện” và tìm đến các cộng đồng nghèo để phân phát các món quà cứu trợ hoặc những hỗtrợ về tài chính, vật chất và tinh thần cho các gia đình nghèo Các tình nguyện viên xã hộitrong thời kỳ này thường cho rằng lý do khiến những người này trở nên nghèo đói là dolười biếng, thất học, hoặc đang sống một cách trụy lạc, sa đọa, do gặp thất bại của bảnthân và do bản thân họ thiếu niềm tin Vì vậy, mục tiêu của việc viếng thăm thân thiệntrước tiên là tập trung vào tư vấn giúp cho một cá nhân có thể thực hiện những nỗ lực tốtnhất, để làm việc thật chăm chỉ nhằm kiếm sống đủ cho chính bản thân của cá nhân vànhu cầu của gia đình cá nhân họ, cũng tư vấn để giúp nâng đỡ cuộc sống tinh thần của họ

Tuy nhiên, sau một thời gian dài hoạt động, những nhân viên tình nguyện xã hộinày đã phát hiện ra rằng, nguyên nhân nghèo đói không phải là những vấn đề như họ đãtừng nghĩ trước đây mà là do nhiều nguyên nhân khác nhau Họ đã tiến hành tìm hiểu vàsau đó phát hiện của họ cho thấy những nguyên nhân gây cảnh khốn khó không nằm ởmôi trường sống của những cá nhân đó: như bệnh tật, đông con, nhà ở chật chội, trình độhọc vấn thấp, lương thấp, thiếu kỹ năng làm việc, thiếu cơ hội làm việc, Từ đó, họ rút rakết luận rằng môi trường có ảnh hưởng lớn đến các vấn đề của các cá nhân và đã đề xuấtviệc phân tích những nguyên nhân tự phát môi trường xã hội cần phải được chú trọngtrong quá trình giúp đỡ khách hàng (thân chủ)

Những tình nguyện viên xã hội này cũng lo lắng rằng việc chấp nhận các khoảncứu trợ cộng đồng sẽ làm suy giảm lòng tự trọng của những người cán sự trợ giúp và làmcho họ trở nên phụ thuộc vào sự trợ giúp Vì vậy, các tình nguyện viên xã hội cho rằngnhững người nghèo cần phải nỗ lực để tự giải quyết vấn đề của mình và họ đã có những

kế hoạch điều tra hoàn cảnh từng cá nhân riêng lẻ để xác định nhu cầu và có biện pháp hỗtrợ hợp lý Ngoài ra, các tình nguyện viên đã được yêu cầu là phải tạo được những ảnhhưởng tốt về phương diện đạo đức đối với người nghèo, do vậy người nghèo được tư vấnthay đổi thái độ và hành vi Các Tổ chức Từ thiện ngày càng trở nên phổ biến ở Anh và

đã hoạt động hiệu quả thông qua việc sử dụng những khách thăm viếng thân thiện này và

để điều tra hoàn cảnh, xác định nhu cầu Những hoạt động theo phương pháp này đã đạtnên mong cho công tác xã hội với cá nhân (làm việc với trường hợp cá nhân)

Trang 6

Sự ra đời của lý thuyết về công tác xã hội với cá nhân và quá trình phát triển của

nó ở Mỹ qua các thời kỳ

Trước năm 1920

“Người khách viếng thăm thân thiện”, theo cách gọi trước đây đề cập đến nhânviên xã hội, đã giúp những người mới đến định cư ở Mỹ trong thời gian đầu, họ giúpnhững người đã không thể thích nghi với nền văn hóa mới hay đang sống trong hoàncảnh nghèo đói

Trong giai đoạn này, Mary Richmond, tác giả của tác phẩm Chẩn đoán xã hội(1917) đã cung cấp cho các nhà hoạt động tình nguyện này một mô hình lý thuyết côngtác xã hội Lý thuyết này cho rằng việc thu thập thông tin cẩn thận sẽ giúp những ngườitình nguyện viện xã hội hiểu rõ được các nguyên nhân của vấn đề và từ đó có thể đưa rabiện pháp khắc phục Vào thời điểm đó, xã hội học đã có những ảnh hưởng lớn đối vớicác kiến thức công tác xã hội Những giải thích của tâm lý học vào thời điểm này chưaxuất hiện Sự ra đời của trường đào tạo nhân viên xã hội đầu tiên ở Mỹ vào năm 1898 đãđánh dấu một sự tiến bộ của công tác xã hội trong việc đào tạo nhân viên xã hội và việc

áp dụng một cách chuyên nghiệp những kiến thức và kỹ năng công tác xã hội một cáchchuyên nghiệp vào các hoạt động giúp đỡ khách hàng (thân chủ)

Giai đoạn 1921 – 1930

Giai đoạn này đánh dấu một sự phát triển mới trong hoạt động công tác xã hội với

sự ra đời của lý thuyết phân tâm học do Sigmund Freud phát triển sau những nghiên cứu

về phân tích tâm lý của ông Các hoạt động công tác xã hội với các cá nhân đã có sự thayđổi đáng kể và tập trung vào việc phân tích những vấn đề tâm lý của khách hàng Nhữngkhách hàng mà gặp khó khăn trong việc điều chỉnh bản thân họ được nghiên cứu theonhững quan điểm phân tâm học của Freud “Những hiểu biết về cảm xúc, thái độ, những

sự mâu thuẫn bị dồn nén, và sự đấu tranh trong vô thức của khách hàng (thân chủ) đã trởthành một phần không thể thiếu đuợc trong yêu cầu về kiến thức và phương pháp làmviệc của nhân viên công tác xã hội với các trường hợp cá nhân Hoạt động công tác xã hộivới cá nhân thời kỳ này tập trung vào các vấn đề tâm lý và cảm xúc do những ảnh hưởngbởi các khám phá của S Freud (phân tâm học và tâm lý học năng động), và các côngtrình nghiên cứu của Otto Rank, Card Jung, Alfred, Phương pháp xử lý vấn đề tâm lýcủa khách được thực hiện thông qua các biện pháp tương tự trong y khoa là can thiệpgiúp đỡ và xử lý theo cách điều trị (hay còn được gọi là trị liệu)

Chiến tranh Thế giới thứ I cũng đã tạo ra những tác động đối với sự phát triển lýthuyết về công tác xã hội với cá nhân Trong quá trình làm việc để giúp các cựu chiếnbinh hoặc nạn nhân bị thương vong và gia đình của họ, ngoài làm việc trực tiếp với khách

Trang 7

hàng (thân chủ), công tác xã hội với cá nhân còn phải làm việc với những người khác,công tác xã hội với gia đình đã bắt đầu được phát triển trên cơ sở này.

Các đặc điểm khác biệt của thực hành công tác xã hội cá nhân trong giai đoạn sovới giai đoạn trước gồm có:

1 Xử lý (trị liệu) nhằm giúp cho thân chủ tự “điều chỉnh”;

2 Các quy trình cơ bản được sử dụng là: sử dụng các nguồn tài nguyên; giúp chothân chủ tự hiểu biết về bản thân và phát triển khả năng “tự giải quyết các vấn đề xã hộicủa mình”;

3 Tập trung vào cá nhân và nghiên cứu chi thiết về các hành vi cá nhân, thái độ vàcác mối quan hệ chủ yếu là tập trung vào những kinh nghiệm thời thơ ấu;

4 Chủ yếu là dựa vào các cá nhân để thu thập thông tin trong quá trình tìm hiểu ýnghĩa của những điều đã trải qua đối với họ;

5 Chú trọng đến việc giáo dục và phát triển lý thuyết

Giai đoạn 1930 – 1945

Do tác động của suy thoái kinh tế, vấn đề nghèo đói và lệch lạc xã hội đã đượcnhìn nhận theo nhiều cách thức khác nhau Những vấn đề xã hội không còn được xem làsản phẩm của những khiếm khuyết của cá nhân mà còn là do ảnh hưởng của hoàn cảnh xãhội môi trường mà họ sống

Cách tiếp cận theo chức năng được phát triển trong những năm 1930 bởi các giảngviên của Trường đào tạo Công tác xã hội ở Pennsylvania Khái niệm này đã đươc giớithiệu bởi Jessie Taft, trong khi đó Virginia Robinson xác định các kỹ năng cần thiết chocác phương pháp tiếp cận Thoe cách tiếp cận này, nhân viên xã hội và khách hàng cùngquyết định nêu xem thứ họ có thể phối hợp làm việc với nhau trên cơ sở những vấnđề/nhu cầu/vấn đề của khách hàng và các chương trình hoặc dịch vụ có sẵn tại cơ sở xãhội hay không Sự sử dụng những chức năng của cơ sở xã hội cũng là một phần khôngthể tách rời của những kỹ năng công tác xã hội

Năm 1937, Gordon Hamilton đã công bố một báo cáo về cách tiếp cận chẩn đoán

và chủ yếu là dựa vào lý thuyết của Freudo trong tìm hiểu các vấn đề trong những mốiquan hệ tương tác giữa các cá nhân Báo cáo chẩn đoán này thường mang tính diễn giải

và dự kiến Nó có thể bao gồm cách thức giải quyết những sự khiếm khuyết/thiếu hụtbằng các nguồn lực xã hội, bằng việc sử đổi chưởng trình, điều chỉnh nguồn lực cũng nhưviệc tư vấn hoặc điều trị

Những nhân vật hàng đầu đã có nhiều đóng góp vào sự phát triển của trường phái

tư tưởng tâm lý xã hội bao gồm Richmond, Charlotte Towle, Annette Garrett và một số

Trang 8

người khác Cách tiếp cận tâm lý xã hội là xem xét các cá nhân trong hoàn cảnh của học,tức là, xem xét các cá nhân trong sự tương tác với những người khác trong các gia đình,cộng đồng, nhà thời, trường học và các hoàn cảnh xã hội khác Phương pháp này cố gắnghuy động nguồn lực bên trong cũng như bên ngoài của khách hàng để giúp học thực hiệnnhững chức năng của cá nhân và tương tác với người khác có hiệu quả hơn Các hoạtđộng giúp đỡ khách hàng trong giai đoạn này đã có những thay đổi đáng kể và đã có sựchuyển hướng từ việc chỉ tập trung vào giải quyết các vấn đề của từng khách hàng sangviệc mở rộng các hoạt động giải quyết vấn đề bao gồm luôn cả các thành viên trong giađình, giúp đỡ các thành viên này thay đổi hoặc điểu chỉnh hành vi hoặc lối sống của họ.Công tác xã hội với gia đình được phát triển và được công nhận từ giai đoạn này và giađình đã bắt đầu được các nhân viên xã hội xem xét đến như là hệ thống khách hàng.

Giai đoạn 1945 – 1960

Trong thời kỳ này, nhóm khách hàng của công tác xã hội không còn giới hạn trongnhững người nghèo nữa mà còn có cả những người thuộc tầng lớp trung lưu đang gặp cácvấn đề rắc rối trong gia đình hoặc trong việc tự điều chỉnh bản thân Chính trong giaiđoạn này, những vấn đề liên quan đến sự thực hiện chức năng xã hội đã trở thành mốiquan tâm chính của công tác xã hội

Thời kỳ này ngành công tác xã hội cũng chứng kiến những sự thay đổi trong cácvấn đề mà cá nhân gặp phải Trước đây, các vấn đề của khách hàng thường là những vấn

đề liên quan đến kinh tế, thu nhập và những vấn đề liên quan đến các lĩnh vực xã hội học.Tuy nhiên, trong giai đoạn này các sự kiện của Chiến tranh Thế giới thứ II đã làm giatăng các vấn đề cá nhân, vì vậy hoạt động công tác xã hội đã tập trung vào các dịch vụdành cho các cá nhân có vấn đề về nhân cách, và do đó đã làm tăng nhu cầu về nhân viêncông tác xã hội được đào tạo chuyên nghiệp về tâm thần học và y khoa

Năm 1957, Felix Bestek đã viết cuốn sách “Mối quan hệ trong công tác xã hội cánhân) trong đó ông định nghĩa mối quan hệ công tác xã hội cá nhân là “sự tương tác năngđộng giữa thái độ và cảm xúc của các nhân viên xã hội (người quản lý ca) và khách hàng(thân chủ) để đạt được sự thích nghi giữa các cá nhân đó với môi trường sống của họ.Ông cũng xác định bảy nguyên tác trong mối quan hệ nói trên

Gần cuối thời kỳ này, Helen Harris Perlmen đã phát hành “Công tác xã hội cánhân: Quy trình giải quyết vấn đề” Cuốn sách này đã đánh dấu sự kết thúc những cuộctranh luận giữa hai cách tiếp cận chẩn đoán – chức năng, bởi vì các khái niệm quan trọngcủa cả hai cách tiếp cận đã hợp nhất vào quá trình giải quyết vấn đề Trong phương pháptiếp cận này, các yếu tố chính của công tác xã hội với cá nhân là: một cá nhân có vấn đềtìm đến một địa điểm mà ở đó có người đại diện giúp học thông qua một quá trình trợgiúp Perlman đã sử dụng thuật ngữ chẩn đoán đồng nghĩa với việc đánh giá Quá trình

Trang 9

này được xem như là cách suy nghĩ về việc giải quyết vấn đề bằng cách xem xét vấn đềmột cách xuyên suốt từ những nguồn lực tương tác bên trong những tình huống vấn đềcủa khách hàng, mối quan hệ chuyên nghiệp được xem là một yếu tố quan trọng trongquá trình này và khái niệm về vấn đề rắc rối, đã chuyển từ khái niệm bệnh lý sang kháiniệm là một phần bình thường trong cuộc sống.

Giai đoạn 1961 – 1975

Trong giai đoạn này, lý thuyết công tác xã hội tập trung vào việc tiếp tục phát triểncác phương pháp truyền thông, phát triển các cách tiếp cận tổng quản hoặc tích hợp trongthực hành và phát triển các cách tiếp cận mới trong thực hành để sử dụng các dịch vụ hỗtrợ cho nhóm khách hàng cụ thể như phân tích sự giải quyết vấn đề, sự điều chỉnh hành

vi, sự trị liệu thực tế, sự giải quyết khủng hoảng và cách làm việc với cá nhân thông quacách giao tiếp nhiệm vụ Trong những năm 1960, cả hai cách tiếp cận chẩn đoán (giờ đâyđược gọi là cách tiếp cận tâm lý xã hội bởi Florence Hollis) và cách tiếp cận chức năng

đã được tiếp tục mở rộng và cập nhật Các hệ thống xã hội và lý thuyết giao tiếp đã được

áp dụng trong thực hành công tác xã hội

Trong những năm 1970, các phương pháp tích hợp hoặc thực hành tổng quát đượcphát triển cho một nghề nghiệp công tác xã hội đông nhất và để đáp ứng các vấn đề/nhucầu phức tạp của khách hàng (thân chủ) Các tác giả sau đây đã có những đóng góp vào

sự phát triển của thực hành tổng quát: 1) Carrol Meyer với cuốn sách “Thực hành Côngtác xã hội, Sự phản ứng trước khủng hoảng đô thị”: Bà đã coi quá quá trình chẩn đoán làmột công cụ đánh giá và can thiệp, có nhiều khả năng được biết đến như là hành độngcan thiệp 2) Hartlett và cuốn sách “Cơ sở chung của thực hành công tác xã hội”, cùngvới nỗ lực của Hamilton bà đã đưa ra một khuôn khổ thống nhất về khái niệm (bao gồmmục đích, các giá trị, sự thừa nhận, kiến thức và các kỹ năng thông thường) để giúp pháttriển những quan điểm tổng quả về công tác xã hội 3) Allen Pincus vào Anne Minahanvới cuốn “Thực hành công tác xã hội: Mô hình và phương pháp” coi công tác xã hội như

là phương pháp tạo sự thay đổi theo kế hoạch với kế hoạch can thiệp giúp đỡ được xâydựng trên cơ sở đánh giá vấn đề

Giai đoạn 1976 – 1990

Trong thời kỳ này, khách hàng có thể là bất kỳ cá nhân hoặc gia đinh nào cần đượcgiúp đỡ trong việc thực hiện chức năng xã hội Khách hàng tham gia trong các bước giảiquyết vấn đề: từ đánh giá, đến xác định và lựa chọn giải pháp hỗ trợ Việc đào tạo vềcông tác xã hội trong thời gian này đã quan tâm đến các vai trò khác nhau của nhữngnhân viên công tác xã hội được đào tạo ở cấp cử nhân và thạc sĩ, các chuyên ngành tạithời điểm tốt nghiệp, và xây dựng các khái niệm cho sự thực hành công tác xã hội tổngquát Đây cũng là thời kỳ mà ngành công tác xã hội đang gặp phải nhiều thách đố với

Trang 10

những vấn đề xã hội như tình trạng vô gia cự, AIDS, lạm dụng các chất gây nghiện, hòabình và công lý cũng như các vấn đề phân biệt đối xử trong xã hội, phụ nữ và các nhómdân tộc thiểu số.

Sau đây là một số khái niệm chính được sử dụng trong quá trình giúp đỡ công tác

5 Hoạt động giúp đỡ không phải chỉ có một giải pháp can thiệp duy nhất, mà nên

sử dụng giải pháp nào có thể phù hợp với mọi tình huống

1.1.2 Khái niệm công tác xã hội cá nhân

Do đặc điểm lịch sử của ngành công tác xã hội là có nguồn gốc xuất phát từ cáchoạt động từ thiện ở Anh và Mỹ và dần dần được tổ chức khoa học hơn, đào tạo chuyênmôn có bài bản hơn để trở thành một nghề chuyên nghiệp, phần lớn các khái niệm, địnhnghĩa, thuật ngữ và lý thuyết của ngành đều có nguồn gốc từ tiếng Anh và ảnh hưởng củavăn hóa Anh – Mỹ Phần sau đây đề cập đến là một số khái niệm liên quan đến công tác

xã hội với cá nhân

- Công tác xã hội với trường hợp (Social Casework): là phương pháp hoạt độngcông tác xã hội để giúp đỡ các trường hợp cụ thể Các trường hợp có thể là các cá nhânriêng lẻ hoặc các gia đình cần được giúp đỡ

Từ thời sơ khai của ngành công tác xã hội, khái niệm công tác xã hội với trườnghợp được dùng để nói về phương pháp giúp đỡ khách hàng theo cách tiếp cận với từng cánhân riêng lẻ Tùy theo các cách tiếp cận và giúp đỡ với các đối tượng khách hàng khácnhau, các tác giả viết về công tác xã hội với cá nhân đã đưa ra nhiều cách định nghĩa khácnhau về công tác xã hội với trường hợp (đôi khi được một số người dịch là công tác xãhội với cá nhân) Sau đây là một vài định nghĩa được chọn lọc để giới thiêu đến ngườihọc từ một số tác giả đã được áp dụng và có nhiều ảnh hưởng trong bối cảnh hoạt độngcủa công tác xã hội ở Việt Nam

Trang 11

Mary Ellen Richmond (1915, 1917 và 1920): Các định nghĩa của Mary Richmond

theo từng thơi điểm đã có thay đổi theo những kinh nghiệm mà bà và các đồng nghiệp đãtích lũy từ quá trình hoạt động công tác xã hội Các yếu tố liên quan đến quan hệ xã hội

và môi trường xã hội đã được thêm vào trong định nghĩa về hoạt động này tương ứng vớinhững thay đổi và phát triển trong hoạt động công tác xã hội theo thời gian

- Công tác xã hội với trường hợp có thể được định nghĩa là nghệ thuật thực hiệnnhững công việc khác nhau với những con người khác nhau, cùng phối hợp với họ để đạtđến việc làm cho bản thân họ và xã hội trở nên tốt đẹp hơn (Richmond, 1915)

- Công tác xã hội với trường hợp là một nghệ thuật đem đến một sự điều chỉnh đểthích nght trong mối quan hệ xã hội của các cá nhân bao gồm: nam giới, phụ nữ và trẻ em(Richmond, 1917)

- Công tác xã hội với trường hợp có nghĩa là những quá trình hoạt động giúp pháttriển tính cách cá nhân (nhân cách) thông qua việc điều chỉnh một cách có ý thức những

cá nhân có vấn đề trong quan hệ giữa từng cá nhân đó với những người xung quanh vàmôi trường xã hội mà họ đang sống (Richmond, 1922)

Jessie Taft (1920) đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn: Công tác xã hội với trường

hợp có nghĩa là sự hỗ trợ điều trị về mặt xã hội cho một cá nhân gặp khó khăn trong việcđiều chỉnh để thích nghi bao gồm những cố gắng để hiểu về cá tính, hành vi và các quan

hệ xã hội của người đó và để giúp đỡ cho họ thực hiện việc điều chỉnh cá nhân và xã hộitốt hơn

Bertha Reynilds (1953) cung cấp một khái niệm khác: Công tác xã hôi với trường

hợp là một hình thức công tác xã hội giúp đỡ cá nhân khi người đó gặp khó khăn trongviệc tạo lập quan hệ với người trong nhà họ, với những nhóm người chung quanh hoặcvới cộng đồng của họ

Florence Hollis (1956) giải thích: Công tác xã hội với trường hợp là một phương

pháp được các nhân viên xã hội thực hiện để giúp các cá nhân tìm kiếm những giải phápcho các vấn đề về việc thích nghi với xã hội mà họ không thể nào tự giải quyết được mộtcách thỏa đáng bằng những cố gắng tự thân của họ

Gordon Hamilton (1956) thì quan têm đến sự tham gia của khách hàng và những

nguồn lực hỗ trợ: Trong công tác xã hội với trường hợp, khách hàng được khuyến khíchtham gia vào việc nghiên cứu về hoàn cảnh của họ, chia sẻ các kế hoạch và thực hiệnnhững cố gắng tích cực để giải quyết những vấn đề của họ, bằng cách sử dụng nhữngtiềm lực của bản thân họ và những nguồn lực có sẵn và phù hợp trong cộng đồng

Helen Harris Perlman (1957) là người ảnh hưởng lớn nhất đối với công tác xã hội

hiện nay, đưa ra định nghĩa như sau: Công tác xã hội với trường hợp là một tiến trình

Trang 12

được sử dụng bởi bất kỳ các cơ quan phúc lợi của con người trong việc giúp đỡ các cánhân đối phó với một cách có hiệu quả hơn với các vấn đề mà họ gặp phải trong sự thựchiện chức năng xã hội của họ.

Cho dù các định nghĩa này có những điểm khác nhau tùy theo cách nhìn của mỗimột chuyên gia, chúng ta có thể thấy rõ được điểm chung của các định nghĩa này nhưsau:

- Công tác xã hội với trường hợp cụ thể/với cá nhân là một phương pháp giúp mọingười giải quyết vấn đề Đây là một công việc mang tính khoa học, nghệ thuật và hướngđến những cá nhân/hoặc trường hợp riêng biệt

- Nó giúp các cá nhân đang gặp các vấn đề về bản thân cá nhân học vũng như điềuchỉnh để thích nghi với những rắc rối bên ngoài và trong môi trường xung quanh

- Đây là một phương pháp giúp các cá nhân giải quyết vấn đề trong các mối quan

hệ giữa các cá nhân với môi trường sống và những người xung quanh họ, thông qua mộtmối quan hệ mà có thể giúp tận dụng các nguồn tài nguyên từ cá nhân và các nguồn khác

để đối phó với những vấn để rắc rối

- Đây là một quá trình kết hợp các phương diện sinh lý – tâm lý – xã hội

- Những công cụ chính trong công tác xã hội với cá nhân là phỏng vấn và đánhgiá

1.1.3 Một số khái niệm có liên quan đến công tác xã hội cá nhân

a) Khái niệm thân chủ

"Thân chủ" là từ để chỉ cá nhân người mà nhân viên xã hội giúp hoặc là người

nhận các dịch vụ xã hội

b) Khái niệm cơ quan

"Cơ quan" là văn phòng hoặc trụ sở của tổ chức quản lý nhân viên xã hội nguồn

cung cấp các dịch vụ xã hội, là trung tâm tổ chức và điều hành các hoạt động

c) Khái niệm vô thức

"Vô thức" là "không ý thức", là tình trạng mà một người không biết gì về mình và hoàn cảnh xung quanh và không phân biệt được cảm giác Trong phân tâm học “vô thức”

là nơi ẩn chứa những cảm nghĩ bị quên lãng, bị chôn chặt không thể gợi lại và nhớ lại do

ý muốn của cá nhân, nhưng chúng có thể ảnh hưởng đến hành vi hiện hành

d) Khái niệm nhu cầu

Trang 13

Nhu cầu là yếu tố tất yếu, cần thiết để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của cánhân Nếu nhu cầu được thoả mãn thì sẽ tạo nên cảm giác thoải mái và an toàn cho sựphát triển và ngược lại, nếu không được đáp ứng thì sẽ gây nên sự căng thẳng và có thểdẫn tới những hậu quả nhất định

Theo Karl Marx “ Nhu cầu là đòi hỏi khách quan của mỗi người trong những điều kiện nhất định, bảo đảm cho sự sống, phát triển của mình”

+ A.G Côvaliep chia nhu cầu thành 3 loại: Nhu cầu vật chất, tinh thần và chính

trị đạo đức

+ A Maslov chia nhu cầu thành 5 loại:

 Nhu cầu vật chất: thức ăn, không khí nước uống

 Nhu cầu an toàn: tình thương yêu, nhà ở, việc làm, sức khoẻ

 Nhu cầu xã hội: được hội nhập

 Được coi trọng: được chấp nhận có một vị trí trong một nhóm người

 Nhu cầu tự khẳng định: nhu cầu hoàn thiện, phát triển trí tuệ, được thể hiện khảnăng và tiềm lực của mình

 Các nhu cầu trên được sắp xếp theo thứ tự bậc thang từ thấp tới cao - từ các nhucầu cần thiết yếu nhất tới các nhu cầu thứ yếu, cao hơn Sự thỏa mãn nhu cầu củacon người cũng theo các bậc thang đó (hình dưới)

Tự thể hiện mình

Được coi trọng (vị trí thành đạt)

Được công nhận

An toàn xã hội (tình thương yêu- gắn bó)

Trang 14

An toàn về vật chất (an toàn lao động, ăn mặc)

Như vậy, con người có những nhu cầu chính yếu như: Nhu cầu vật chất sinh lý,nhu cầu an toàn, nhu cầu tình thương, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu hoàn thiện và nhucầu về tâm linh, tôn giáo Các nhu cầu này luôn tồn tại, thay đổi và phát triển, chúng đanxen nhau, phục thuộc và quan hệ qua lại nhau Sự thay đổi trong đáp ứng nhu cầu này sẽảnh hưởng tới sự thay đổi trong đáp ứng nhu cầu khác

1.1.4 Mục đích của công tác xã hội cá nhân

Căn cứ vào các khái niệm về công tác xã hội với cá nhân, có thể thấy rằng đó lànhững phương pháp can thiệp công tác xã hội đầu tiên do các nhà tiên phong về công tác

xã hội phát triển nên nhằm các mục đích như sau:

- Giúp cho các cá nhân và gia đình ngăn ngừa hoặc cải thiện những vấn đề khókhăn của họ Những khó khăn này có thể do học không thể tự thích nghi được với nhữngthay đổi trong môi trường sống của họ hoặc trong quan hệ của họ với môi trường xã hộixung quanh Do vậy, việc ngăn ngừa hoặc cải thiện những vấn đề khó khăn có nghĩa lànhân viên xã hội phải xem xét kỹ đến các nguyên nhân chính gây ra những khó khăn đó,các nguyên nhân liên quan mà có thể gây ra những mâu thuẫn hoặc phá vỡ những mốiquan hệ xã hội đang lành mạnh để có hướng giải quyết phù hợp

- Giúp cho các cá nhân và các gia đình xác định và giải quyết các vấn đề trong mốiquan hệ của họ hoặc giúp giảm thiểu các tác động tiêu cực đến cuộc sống hoặc đến nhữngđiều chỉnh suy nghĩ của bản thân họ và những hanh vi ứng xử của họ sau cho thích nghivới môi trường

1.2 CÁCH TIẾP CẬN CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN

1.2.1 Cánh tiếp cận giải quyết vấn đề

Đây là cách tiếp cận thông qua việc nhận diện các vấn đề, nhận diện những tìnhhuống chủ quan, những trọng tâm trong vấn đề của thân chủ, từ đó tìm kiếm những giảipháp cho vấn đề, ra quyết định và giúp thân chủ có những quyết định đúng trong hànhđộng

Mục đích của cách tiếp cận giải quyết vấn đề là giúp thân chủ thoát khỏi nhữngảnh hưởng dễ tác động tới những quyết định liên quan tới việc thực hiện giải pháp mà

Trang 15

mình đã đặt ra như: bản năng, bản ngã, những tác động bên trong, bên ngoài khi thựchiện vai trò

1.2.2 Cánh tiếp cận chức năng

Cách tiếp cận theo kiểu chức năng là cách nhấn mạnh vào mối quan hệ, sử dụngthời gian, và sử dụng chức năng của các cơ sở Điều đó có nghĩa cơ sở cần phải đượcxem xét như một cơ chế toàn vẹn, tách chỉnh thể thành ra các bộ phận và vạch ra nhữngquan hệ phụ thuộc giữa chúng Mỗi tế bào nguyên tử của cơ sở được nghiên cứu khôngphải với tư cách là cơ chế ngẫu nhiên, không cần thiết mà như là một nhiệm vụ cụ thểphải thực hiện Ở đây, mỗi cơ sở đều giữ những chức năng khác nhau, song lại luôn có sựliên hệ mật thiết với nhau nhằm tạo cho xã hội sự cân bằng trong hoạt động

Trong kiểu chức năng điều quan trọng là phải tránh đưa ra những phân loại chuẩnđoán vì trong thực hành công tác xã hội vẫn còn có một số những hạn chế mang tính tíchcực

1.2.3 Cách tiếp cận tâm lý xã hội

Cách tiếp cận theo kiểu tâm lý xã hội là cách nhấn mạnh đến việc tìm hiểu hành vicủa thân chủ thông qua những động thái, suy nghĩ, tình cảm hay những tương tác trong ýthức của họ Ngoài ra cách tiếp cận này còn quan tâm đến các yếu tố tâm lý làm xuất hiệnhành vi, giải thích hành vi một cách đơn giản và cách thức mà ý trí thúc đẩy hành vi Tiếpcận theo kiểu tâm lý xã hội còn cho thấy: cả ý thức và hành vi đều ảnh hưởng và bị ảnhhưởng bởi các môi trường xã hội Đây là một cách nhìn nhiều chiều và mang tính biệnchứng

Cách tiếp cận theo kiểu tâm lý xã hội được đề cập từ những năm 1920 khi sử dụng

và vận dụng lý thuyết phân tâm học của Freud vào nhìn nhận và can thiệp vấn đề trongcông tác xã hội cá nhân

1.2.4 Mẫu hành vi

Cách tiếp cận này dựa trên quan niệm cho rằng thân chủ có khả năng làm tăngcường hành vi mong muốn và giảm đi những hành vi không mong muốn, vì thế nhân viên

xã hội có nhiệm vụ giúp họ phản ứng lại với những sự kiện xã hội một cách phù hợp, từ

đó làm tăng khả năng của chính mình để hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn Đây làmột trong những giá trị chủ yếu của việc sửa đổi hành vi

Hướng tiếp cận này cho thấy lợi thế của nó chính là những định hướng về mặt cấutrúc trong thực hành và đây cũng chính là công cụ cần được dùng thường xuyên để đánhgiá Tuy nhiên cần thiết phải tránh những tình huống sai lầm như “gán nhãn” cho cá nhân

về những lệch lạc của họ

Trang 16

1.2.5 Kiểu hệ thống

Cách tiếp cận theo kiểu hệ thống chính là việc nhìn nhận sự phụ thuộc vào hệthống của các thân chủ trong môi trường xã hội trung gian của họ nhằm thoả mãn nhu cầutrong cuộc sống Ở đây, công tác xã hội cá nhân nhấn mạnh đến đến việc làm biến đổimôi trường hơn là cách tiếp cận tâm lí

Kiểu hệ thống mang tính thống nhất, hoà nhập, bao gồm những tác động với các

cá nhân, các nhóm, các cộng đồng Kiểu này mô tả sự vật ở mọi cấp độ và giúp cán bộ xãhội hiểu được mọi hình thức can thiệp như là việc tác động đến các hệ thống, từ đó có thểlựa chọn những lý thuyết phù hợp với các cấp độ can thiệp mà họ tham gia Kiểu tiếp cậnnày tránh được những tranh luận vô ích về những biến đổi thân chủ trong sự cải cách xãhội, tránh được cách lí giải nhân quả quyết định về hành vi và các hiện tượng xã hội,

1.2.6 Công tác xã hội cá nhân đặt trọng tâm vào nhiệm vụ

Kiểu mẫu này dùng để giải quyết những vấn đề tâm lí xã hội cụ thể của thân chủhay gia đình thân chủ trong ngắn hạn Ở đây, nhân viên xã hội và thân chủ đặt một thoảthuận về những vấn đề nào đó cần giải quyết vào thời gian dự kiến Cả hai cùng nhaukhai triển những hành động giải quyết vấn đề, trong đó đề ra những nhiệm vụ chỉ rõhướng hành động tổng quát cho thân chủ hay một hành vi nào đó buộc thân chủ phải tuântheo Trong khi tập trung nỗ lực giúp thân chủ tuân theo chương trình, nhân viên xã hội

sẽ sử dụng nhiều cách can thiệp khác nhau

1.3 CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN

1.3.1 Đối tượng (thân chủ)

Vì mục đích của công tác xã hội là giúp cá nhân và gia đình hoạt động hiệu quảhơn trong các mối quan hệ tâm lý xã hội nên nhân viên xã hội cần phải có những hiểubiết cơ bản về hành vi con người Con người luôn luôn thay đổi, bị thúc đẩy bởi nhữngnhu cầu cơ bản, các hoạt động cá nhân phải chịu những ảnh hưởng sinh lý,tâm lý,văn hóa

xã hội.Nhân viên xã hội cần tìm hiểu hành vi quá khứ và dự báo hành vi tương lai củathân chủ, tìm hiểu và giúp tạo động lực, phát huy khả năng sẳn có và tiềm tàng của thânchủ vì chính thân chủ là người phải hành động để giải quyết vấn đề của họ và trong khảnăng của chính họ

Để làm được điều trên, nhân viên xã hội phải thừa nhận có sự khác biệt về giá trịgiữa mình và thân chủ, tin rằng mỗi người phải có nhu cầu cơ bản để mà sống và mọithân chủ đều phải được chấp nhận, cho dù họ là ai (cần lưu ý: chấp nhận giá trị chứkhông phải chấp nhận hành vi).Chỉ có nhân viên xã hội là người phải tôn trọng giá trị củathân chủ và không thể mong đợi thân chủ đối xử với chúng ta theo cách ta mong muốn

Trang 17

1.3.2 Vấn đề

Vấn đề mà thân chủ gặp phải có thể là vấn đề thuộc lãnh vực tâm lý xã hội hoặc

do tác động của môi trường sống hoặc do sự kết hợp của cả hai (ví dụ: trẻ bỏ học do mặccảm (yếu tố tâm lý), do bạn bè,thầy cô kinh chê (yếu tố môi trường sống) và do gia đìnhsống trong khu vực thiếu điều kiện sinh sống Chính những vấn đề này làm cản trở thânchủ thực hiện mục đích,chúc năng,vai trò của mình trong hoạt động tâm lý và xã hội củahọ.Có thể nêu các dạng vấn đề mà thân chủ gặp phải:

- Nhu cầu cơ bản không được đáp ứng : nghèo đói,thiếu ăn,thất nghiệp

- Khó khăn về mối quan hệ xã hội : thiếu tình thương,bị bỏ rơi, mâu thuẩn tronggia đình, khó khăn khi thực hiện vai trò xã hội (như vai trò làm cha, làm mẹ, vai trò làmhọc sinh,…)

- Khó khăn do thiếu kỹ năng, trình độ học vấn thấp, do thiếu tài nguyên kinh tế(vốn) hay xã hội (dịch vụ xã hội hỗ trợ),

- Khó khăn về mặt thể chất: bệnh hoạn, khuyết tật,

- Khó khăn do cảm xúc trước một thử thách nặng nề,thất bại trong cuộc sống,

- Khó khăn do hành vi làm trái pháp luật,

1.3.3 Tổ chức, cơ quan xã hội

Nhân viên xã hội là người đại diện cho tổ chức xã hội (như Hội Chữ thập đỏ) trựctiếp cung cấp dịch vụ và tài nguyên mà thân chủ cần đến Tổ chức xã hội có thể thuộcchính phủ hoặc phi chính phủ tùy theo nguồn tài trợ Mỗi tổ chức xã hội đều có triết lý vàchức năng riêng biệt, phục vụ cho một hay nhiều loại đối tượng như trẻ em đường phố,trẻ khuyết tật, trẻ mồ côi, tín dụng cho phụ nữ nghèo, người nghiện, người gìa neo đơn ,giáo dục hoặc đào tạo kỹ năng, giáo dục sức khoẻ, phát triển cộng đồng, môi trường

Các dịch vụ do tổ chức xã hội cung cấp hổ trợ cho thân chủ đều nằm trong phạm

vi chức năng và tài nguyên giới hạn của mình Tổ chức xã hội cần đóng thêm vai trò môigiới, giới thiệu thân chủ đến nơi mà họ cần đến mỗi khi họ có nhu cầu vượt ngoài phạm

vi chức năng của mình

1.3.4.Tiến trình công tác xã hội cá nhân

Tiến trình công tác xã hội cá nhân bao gồm 7 bước sau:

Trang 18

1.4 TIẾN TRÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN

1.4.1 Tiếp cận và xác định vấn đề ban đầu

Tiếp cận thân chủ là bước đầu tiên có thể thân chủ tự tìm đến với nhân viên xã hộikhi họ gặp vấn đề và cần sự giúp đỡ, song trong một chừng mực nào đó cũng có thểchính nhân viên xã hội lại là người tìm đến với thân chủ trong phạm vi hoạt động theochức năng của mình Ở bước tiếp cận này nếu nhân viên xã hội tạo được ấn tượng tốt vớithân chủ thì những bước sau sẽ thuận tiện hơn

1.4.2 Thu thập thông tin

Trang 19

Sau khi tiếp cận với thân chủ nhân viên xã hội phải xác định được vấn đề thân chủđang gặp khó khăn trong việc tìm ra hướng giải quyết Đây là giai đoạn đầu tiên của quátrình công tác xã hội cá nhân, nó đóng vai trò quan trọng trong cả quá trình và kết quả của

nó là sự định hướng cho tất cả các bước tiếp theo bởi nếu nhận diện đúng sẽ dẫn tới chuẩnđoán và cách trị liệu đúng Vì thế có thể coi đây là giai đoạn hoạt động chuẩn đoán, phântích và thẩm định Giai đoạn này bao gồm:

- Thu thập các dữ liệu, thông tin liên quan để tìm hiểu hoàn cảnh và vấn đề

- Phân tích các thông tin, dữ liệu (về tính chất, đặc điểm của vấn đề, phân tíchnguyên nhân, yếu tố tác động, mức độ trầm trọng )

- Kết hợp ghi chép, lưu giữ những thông tin cần thiết về đối tượng và vấn đề.Đồng thời cần xem xét một số yếu tố khi nhận diện vấn đề:

- Tìm hiểu các vấn đề đó

- Xác định tất cả các vấn đề có liên quan

- Xếp đặt chúng theo cấu trúc có mối quan hệ tương tác nhau

- Xác định các nhu cầu, yếu tố cản trở việc thực hiện nhu cầu của đối tượng

- Xác định các vấn đề yếu tố, điều kiện giải quyết

- Xác định nguồn hỗ trợ và tiềm năng của đối tượng

- Xác định các hạn chế, yếu tố ảnh hưởng có thể phát sinh

1.4.3 Chẩn đoán

Nhân viên xã hội có thể dựa vào 4 nguồn tin:

- Chính thân chủ là nguồn tin trực tiếp (lời kể, hành vi, cử chỉ, ngôn ngữ )

- Những người có quan hệ thân thiết như gia đình, bạn bè thân, đồng nghiệp, hàngxóm

- Tài liệu, biên bản, hồ sơ về thân chủ có liên quan đến vấn đề

- Các trắc nghiệm tâm lí để xác định chức năng xã hội, nguyên nhân, thông tintiềm ẩn mà quan sát bình thường không có được của thân chủ

Mục đích của thu thập dữ kiện này giúp nhân viên xã hội hiểu được hoàn cảnh giađình, nguyên nhân của vấn đề từ đó lên một kế hoạch trị liệu

1.4.4 Lập kế hoạch thực hiện và chuyển tuyến

Trang 20

Gồm 3 bước: chẩn đoán, phân tích, thẩm định Chẩn đoán là xem xét tính chất củavấn đề và những trục trặc của nó trên cơ sở các dự liệu thu nhận được Phân tích là chỉ ranguyên nhân hay nhân tố dẫn đến khó khăn Thẩm định là xem có thể giảm bớt nhữngkhó khăn này thông qua những năng lực nào của thân chủ, sự thẩm định mang tính chấttâm lí xã hội vì đây là trọng tâm của công tác xã hội cá nhân Khi hoàn thành cuộc thẩmđịnh tình huống có vấn đề và cá nhân liên quan trong đó, nhân viên xã hội làm ngay một

kế hoạch trị liệu cho dù đây mới chỉ là kế hoạch tạm thời

1.4.5 Triển khai kế hoạch, giám sát và đánh giá trường hợp

Trong giai đoạn này nhân viên xã hội sẽ xác định mục đích trị liệu và các mục tiêu

cụ thể để đạt được mục đích Nhiệm vụ của hoạt hoạt động này:

- Xác định nội dung và mục tiêu phải đạt được: phải làm gì, đi đến đâu, phải đạtđược gì, tạo được sự thay đổi gì và đích gì

- Xác định hoạt này cho ai, nhóm nào và ở đâu

- Xác định cách thức, phương sách để đi đến mục tiêu: làm như thế nào

- Xác định rõ vai trò người thực hiện: ai là người thực hiện nhân viên xã hội nhânviên hoặc thân chủ

- Xác định thời gian, lịch trình thực hiện bằng khi nào? bao lâu?

Một số điều chú ý:

- Kế hoạch phải xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu cho đối tượng

- Kế hoạch phải được đối tượng bàn bạc và chấp thuận

- Luôn có sự đánh giá lại, xem xét lại vấn đề trong quá trình xây dựng kế hoạch để

có những phương án thích hợp

- Cần chú ý tới đặc điểm môi trường cộng đồng, nền văn hóa, phong tục tập quán,nơi nhân viên xã hội thực hiện kế hoạch

- Xem xét đặc điểm cấu trúc tổ chức, chức năng cơ quan tổ chức thực hiện

- Ghi chép lại những kế hoạch hành động để có thể lượng giá sự hữu hiệu của kếhoạch trong quá trình thực hiện

- Đòi hỏi nhân viên xã hội có những hiểu biết và kỹ năng chuyên mông như: kỹnăng xác định nội dung và mục tiêu hành động, kỹ năng lựa chọn nhưng phương sách tối

ưu đỡ tốn kém nhất về thời gian, tiền của, sức lực và kỹ năng hiểu biết dự đoán các yếu tốảnh hưởng, các yếu tố tiềm năng hữu ích

Sự lựa chọn mục đích cuối cùng phụ thuộc vào:

Trang 21

- Điều thân chủ mong muốn

- Điều mà nhân viên xã hội cho là cần thiết và khả thi

- Các yếu tố liên hệ như: các dịch vụ, taì nguyên cần thiết

Có 3 yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn cách trị liệu: tính chất vấn đề, các tàinguyên cần thiết và có được, động cơ và năng lực của thân chủ Có thể còn có các nhân

tố khác ảnh hưởng đến việc lựa chọn là các giá trị của thân chủ

1.4.6 Lượng giá

Là quá trình mà nhân viên xã hội cùng đối tượng thực thi các hoạt động cụ thể để

đi đến mục tiêu đặt ra Mục tiêu của trị liệu bao gồm:

a/ Thay đổi, cải thiện hoàn cảnh của thân chủ bằng cách đưa các tài nguyên nhưgiúp đỡ tài chính hoặc thay đổi môi trường xã hội gần gũi

b/ Giúp cá nhân thay đổi thái độ, hành vi trong hoàn cảnh trước mắt

Công cụ của trị liệu là các mối quan hệ nhân viên xã hội – thân chủ, vấn đàm, triểnkhai các tài nguyên xã hội, vật chất, áp dụng chính sách và tài nguyên của cơ quan xã hội

và nối kết với các tài nguyên của cơ quan và cộng đồng khác

Phương pháp trị liệu nên dựa trên gia đình của thân chủ Họ có thể đóng gópnhững nhân tố, điều kiện giúp tiến trình trị liệu diễn ra tốt hơn

1.4.7 Kết thúc

Là việc xem xét lại toàn bộ những bộ phận trong tiến trình công tác xã hội cá nhân

để thẩm định kết quả Lượng giá là một hoạt động liên tục, đồng thời, dù nó là một bộphận của tiến trình của công tác xã hội cá nhân, và chỉ tìm được mục tiêu và biểu hiệnđầy đủ sau một khoảng thời gian hoạt động

Khi các cuộc lượng giá định kì cho thấy có sự tiến bộ hoặc không thay đổi thì tiếptục điều trị và ngược lại thì phải thay đổi phương pháp trị liệu

Trang 22

Kết thúc quá trình trị liệu là khi vấn đề cảu thân chủ đã được giải quyết hoặc sựhiện diện của nhân viên xã hội không còn cần thiết hoặc không thay đổi được vấn đề

Trong những trưòng hợp can thiệp trong cơn khủng hoảng thì không cần kéo dàithời gian, ngược lại những vấn đề liên quan đến tâm lí xã hội thì cần nhiều thời gian hơn

Sau khi lượng giá phải nhìn về tương lai gần để phục vụ cho việc hình thành một

số kế hoạch sâu hơn giúp đỡ của công tác xã hội trong tiến trình công tác xã hội cá nhân

1.5 LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN

1.5.1 Lý thuyết phân tâm học của S.Freud (1856 – 1939)

Lý thuyết phân tâm học do S.Freud (1856 – 1939) sáng lập Lý thuyết này nhấnmạnh đến hành vi xuất phát từ những động thái (suy nghĩ, tình cảm), những tương táctrong ý thức và sau này là những cách thức mà ý trí thúc đẩy hành vi của con người Ởđây, ý thức, hành vi đều ảnh hưởng và bị ảnh hưởng bởi môi trường xã hội Đây là mộtcách nhìn nhiều chiều và mang tính biện chứng Yếu tố “dynamic” (động năng) được bổsung vào psycho- analyis Vì thế, thuyết phân tâm học phát triển và trở thành thuyết độngnăng tâm lý (psycho dynamic).Nó được coi là lý thuyết nền tảng, then chốt trong Côngtác xã hội nhằm giúp nhân viên xã hội vận dụng để lí giải những hiện tượng thường gặpkhi làm việc với thân chủ

Lý thuyết phân tâm học có 3 phần: lý thuyết về sự phát triển con người, lý thuyết

về nhân cách và tâm lí học nhân cách khác thường và lý thuyết về cách điều trị với 2 tưtưởng cơ bản quan trọng làm cơ sở cho lý thuyết trên: Quyết định luận siêu linh (hànhđộng, hành vi xuất phát từ các quá trình tư duy của con người) và Cái vô thức (hành động

tư duy, tinh thần còn ẩn giấu)

Lý thuyết về sự phát triển con người

Theo lý thuyết này trẻ em trải qua các giai đoạn phát triển Ở mỗi giai đoạn sẽ cónhững hành vi đặc thù phù hợp với tâm sinh lí của con người trong từng giai đoạn ấy.Trong từng giai đoạn hành vi của con người sẽ có sự kế thừa những trải nghiệm về mặthành vi và nhận thức mà mỗi người có được trong giai đoạn trước.Trong từng giai đoạnkhác nhau, sự chú ý của con người sẽ hướng đến những nhu cầu khác nhau

Cuộc sống có nhiều động lực/libido thúc đẩy thú tính bẩm sinh của con người như:

ăn, mặc, ngủ, nghỉ ngơi, an toàn, bạo lực,… song chủ yếu và mạnh mẽ nhất vẫn là độnglực về tình dục Chẳng hạn: theo Freud, từ khi mới chào đời con người đã có nhu cầu và

có hành vi tình dục như: sờ mó, bú mớm, thích và mong muốn được ôm ấp Đây là mộttrong những phát hiện của Freud bởi trước đó người ta cho rằng con người chỉ bắt đầuphát triển nhu cầu tình dục ở tuổi dậy thì Động cơ tình dục bẩm sinh thúc đẩy sự trưởngthành của con người qua năm giai đoạn: miệng/oral stage (dùng miệng để ăn (bú sữa), sờ

mó, thám hiểm thế giới xa lạ chung quanh, và để có cảm giác sung sướng (bú ngón tay,ngậm vú mẹ, ngậm núm vú) theo 2 giai đoạn: giai đoạn thụ động/receptive và giai đoạn

chủ động/aggressive), hậu môn/anal stage (từ 1 đến 3 tuổi: Khu vực này nhạy cảm và tạo

Trang 23

cảm giác sướng khoái nhiều nhất, bao gồm cả hậu môn lẫn bộ phận tiểu tiện và cũngđược chia thành 2 giai đoạn: giai đoạn buông/expulsion và giai đoạn giữ/retention Giaiđoạn này cực kỳ quan trọng để đứa trẻ học cách được khen, được thương; tình thương củacha mẹ không còn tự do vô tổ chức như trước Ngược lại, cách dạy con của cha mẹ cũnggóp phần không nhỏ trong việc tạo nên cá tính của trẻ như: cách trẻ suy nghĩ và ứng xử

đối với những người có quyền lực trong cuộc đời của nó), dương vật/phallic stage (từ 3

đến 5 hoặc 6 tuổi: Theo Freud “của quý” của đứa trẻ trai và trẻ gái giống nhau, chỉ đến

tuổi dậy thì trẻ gái mới hình thành khoái cảm từ bộ phận sinh dục Ông cho rằng tìnhthương đối với mẹ của đứa trẻ trai trở nên mãnh liệt vào đầu giai đoạn dương vật Nómuốn độc chiếm mẹ và vì vậy ngày càng trở nên ganh tị và mâu thuẫn với bố, muốn cho

bố “biến mất” Vì bố to lớn hơn nó, khỏe hơn nó, đứa bé trở nên sợ bố và cái nó sợ nhất

là bị bố cắt mất “của quý”/castration anxiety - cái nó hay tự mày mò để có cảm giác sungsướng Để thoát khỏi mối lo sợ này, đứa trẻ trai dồn nén tình yêu mẹ của nó vào tiềm thức

và tìm cách đứng về phía bố, bắt chước cách bố cư xử, suy nghĩ, hành động Nhờ vậy nó

có được cảm giác an toàn không còn sợ bị thiến và vẫn có thể thầm lén yêu mẹ trong trí

tưởng tượng) Trước dậy thì/latency period (từ 5, 6 tuổi đến dậy thì): ở giai đoạn này

động lực sống/libido - chủ yếu là bản năng tình dục của đứa bé chỉ thay đổi về lượng chứkhông thay đổi về chất Đứa bé dồn nén được những quan tâm về tình dục của nhữngnăm trước và tập trung năng lực vào việc phát triển kiến thức cũng như năng khiếu mới

Ở giai đoạn này đứa bé thích chơi với bạn cùng giới Có thể nói những năm trước dậy thì

là thời gian sự thăng bằng giữa thú tính bẩm sinh, lương tâm, và cái Tôi đạt mức cao nhất

trong đời người Đây là thời gian biển lặng trước cơn bão táp của tuổi dậy thì) Giai đoạn sinh dục/Genital stage (Thăng bằng giữa ba thành phần của bản ngã chấm dứt, thú tính

bẩm sinh/id vượt lên trên, tạo ra những đòi hỏi mãnh liệt về tình dục với người khác phái.Nếu đứa trẻ được thỏa mãn vừa phải, nó sẽ dồn được tất cả năng lực vào việc phát triểnmối quan hệ bình thường, hạnh phúc với người khác phái Trái lại nếu nó không đượcthỏa mãn vừa đủ hoặc được thỏa mãn quá độ, nó sẽ có triệu chứng của tình trạng ám ảnh/fixation bởi đứa trẻ bị bắt buộc phải tiêu phí nhiều năng lực vào phản ứng dồn nén hoặc

tự vệ liên quan đến những mâu thuẫn chưa giải quyết được ở môi trường sống Kết quả là

nó sẽ khổ đau, sẽ không thể xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp, lành mạnh, hạnh phúcbình thường với người khác phái

Như vậy, có thể nói ở mỗi giai đoạn phát triển của trẻ trong môi trường sống, trẻđều bị ảnh hưởng và nhiều nhất là từ bố mẹ Nếu nhu cầu tình dục của đứa trẻ được thỏamãn vừa phải một cách khác nhau trẻ sẽ phát triển bình thường ở giai đoạn kế tiếp Nếu

bị cấm cản không cho thỏa mãn hoặc bị buông thả cho thỏa mãn quá trớn nhu cầu tìnhdục sơ sinh của nó, đứa trẻ sẽ phải chịu đựng những ám ảnh/fixation vào giai đoạn pháttriển liên hệ và không thể tiến lên giai đoạn cao hơn Kết quả là nó sẽ lớn lên với nhữngtriệu chứng bất bình thường về tâm lý và qua năm giai đoạn của quá trình trưởng thànhnày, đối tượng tình dục của đứa trẻ sơ sinh dần dần thay đổi từ bản thân (bú ngón tay, tự

sờ mó bộ phận sinh dục) và Mẹ (bú mớm, sờ mó, ôm ấp…) sang người khác phái

Lý thuyết nhân cách

Trang 24

Theo lý thuyết này, con người là phức hợp của các xung năng hình thành cái ấy(“cái đó”) thúc đẩy con người hoạt động thoả mãn nhu cầu Sự phát triển của bản ngã làbước tiếp theo sau hoạt động của cái ấy Cái tôi điều khiển cái ấy (cái Tôi/ego là mộtthực thể tâm lý phức tạp hình thành do tác động từ hai đòi hỏi khác nhau của 1) thú tínhbẩm sinh/id, và 2) siêu tôi/superego - môi trường sống thực của cái Tôi) Cái siêu tôi pháttriển những nguyên tắc đạo đức để chỉ dẫn cái tôi Lý thuyết cũng chỉ ra rằng: Con người

là một sinh vật y như mọi sinh vật khác do đó từ khi chào đời đã có thú tính bẩm sinhmuốn được thỏa mãn những nhu cầu vật chất và sinh lý và muốn tránh khổ đau Trongquá trình trưởng thành, ảnh hưởng của gia đình, văn hóa, tôn giáo, xã hội… sẽ tạo ra siêutôi- cái phần lý tưởng mà người ta muốn hướng tới Vì vậy hoàn cảnh sống thực tế sẽ lànơi diễn ra sự tranh chấp giữa thú tính bẩm sinh và siêu tôi Kết quả của cuộc tranh chấpnày là cái Tôi, tức là mỗi cá nhân với cách ứng xử an toàn nhất, phù hợp nhất, thực tếnhất mà con người lựa chọn cho mình trong mọi hoàn cảnh Điều này có nghĩa, đặc điểmquan trọng nhất của nhân cách chính là cách thức cái tôi điều khiển những xung đột, cáchthức nhu cầu về cái tôi và cái siêu tôi tìm cách điều khiển cái ấy trong những vấn đề xãhội đã tạo ra xung đột nhiều hơn như thế nào ở đây, sự lo lắng chính là kết quả từ nhữngxung đột đó Cái tôi giải toả sự lo lắng bằng cách áp dụng cơ chế phòng vệ đa dạng như:

sự dồn nén, trấn áp, phóng chiếu, thăng hoa, duy lí hoá Tóm lại, Trong cấu trúc tâm lýcon người của Freud, phần Tôi/ego và phần siêu tôi/superego hoạt động trong cả ba tầngcủa thức Phần thú tính bẩm sinh/Id trái lại chỉ hoạt động trong tầng vô thức

Thức/conscious và vô thức/unconscious

Thức là trạng thái tỉnh táo khi con người nhận biết được và có được phản ứng đốivới những kích thích của môi trường và ngược lại là vô thức Khái niệm “vô thức” đãđược nhiều người nhắc đến song Freud là người phân tích tỉ mỉ và chính xác nhất phần vôthức của tâm lý con người Theo Freud trong vô thức có hai phần: phần tiềmthức/preconscious và phần vô thức Tiềm thức là những cảm xúc, những kinh nghiệm,những ý nghĩ, những ghi nhận… mà con người có thể dễ dàng nhớ lại khi cần; vô thức làchỗ chứa những cảm xúc, những kinh nghiệm, những khao khát mạnh mẽ bị dồn nén rakhỏi thức Mặc dù con người không nhận biết những cảm xúc này và không thể nhớ lạiđược chúng theo ý muốn nhưng chúng vẫn hiện diện trong vô thức và ảnh hưởng mạnh

mẽ đến cảm xúc cũng như ứng xử của con người qua cơ chế tự vệ/defense mechanism

Trong cấu trúc tâm lý con người của Freud, phần Tôi/ego và phần siêutôi/superego hoạt động trong cả ba tầng của thức Phần thú tính bẩm sinh/Id trái lại chỉhoạt động trong tầng vô thức

Ý nghĩa của các giấc mộng

Theo Freud mộng là “sự thực hiện thầm lén những ước vọng bị dồn nén” và là

“con đường lớn dẫn vào vô thức” Phần thú tính bẩm sinh của con người luôn có những

khát vọng không thể thực hiện một cách an toàn trong đời sống thực, vì vậy chúng bịphần lương tâm và cái Tôi dồn vào vô thức Mặc dù bị dồn nén, những khát vọng đókhông hoàn toàn biến mất và chúng hiện ra dưới hình thức các giấc mộng khi con ngườingủ vì khi người ta ngủ, phần siêu tôi và cái Tôi không hoạt động hữu hiệu như khi thức

Trang 25

Freud chia nội dung mộng làm hai phần, phần nổi/manifest content và phần tiềmẩn/latent content Phần nổi là phần chúng ta nhớ được khi thức dậy, trong phần này có tảnmạn những mảnh vụn của những gì xảy ra khi thức và những khát vọng bị dồn nén, tất cảđược thể hiện dưới hình thức ảo giác/hallucination (1) thường là ảo giác nhìn/visualhallucination Phần tiềm ẩn là những nội dung trôi nổi ra khỏi vô thức, những nội dungnày có thể liền lạc, có ý nghĩa hay rời rạc, quái dị, không rõ nghĩa Trong tâm lý trị liệucủa Freud, phương pháp nói hết/free association giúp nhà trị liệu thu góp những thànhphần rời rạc của các giấc mộng và từ những thành phần rời rạc này hiểu được phần tiềm

ẩn của mộng Đây chính là mục đích của giải mộng: nối kết phần nổi với phần tiềm ẩn vàtìm ra ý nghĩa của giấc mộng (2)

Cơ chế tự vệ/defense mechanism

Là một trong những khám phá quan trọng của Freud, cơ chế tự vệ là những phảnứng do vô thức điều động để giúp con người chống lại trạng thái bồn chồn lo lắng khiphải đối phó với những mối đe doạ không có lối thoát rõ rệt Dưới đây là một số cơ chế

tự vệ thông thường:

Biện luận/Intellectualization: dùng lý luận hay từ ngữ để ngăn không cho một mối

đe dọa gây ra cảm xúc tiêu cực cho bản thân

Đền bù/Compensation: khiếm khuyết ở một lĩnh vực được bù đắp bằng cố gắng và

thành công ở một lĩnh vực khác

Đỗ tội/Blaming: đổ những khiếm khuyết, sai lầm, lỗi… của mình cho người khác

Mộng tưởng/Fantasy: tưởng tượng được trải qua một mơ ước thầm kín nào đó

không thể có trong thực tế

Chối bỏ/Denial: từ chối chấp nhận một thực trạng vì nó tai hại cho sự an toàn của

cái Tôi

Giận cá chém thớt/Displacement: chuyển cảm xúc, năng lực, từ đối tượng này

sang đối tượng khác để được bình an

Chuộc tội/Undoing: đền bù một hành vi hoặc ham muốn xấu bằng một hành động

tốt

Giả bệnh/Somatization: biến đổi những khó chịu hay mối đe doạ thành bệnh tật

Hoán chuyển/Sublimation: chuyển một ham muốn tự nhiên mạnh mẽ không được

xã hội tán đồng thành hành vi phù hợp với giá trị do xã hội đặt ra

Nhập nội/Introjection: Chấp nhận điều tiêu cực người khác gán cho mình mặc dù

mình không có điều tiêu cực đó để tránh va chạm Đây là lý do giải thích tại saongười ta khuyên cha mẹ không nên mắng chửi những lỗi lầm của con cái mà chú ýtìm kiếm những ưu điểm để khen ngợi Ở các nước phát triển, thày cô giáo khôngđược phép dùng những lời lẽ nặng nề để miệt thị học trò

Phóng chiếu/Projection: Đem những điều tiêu cực của mình (mà cái tôi của mình

cố ý bỏ qua không biết đến) gán cho người khác Thí dụ: ông A là người kiêu

Trang 26

căng phách lối xem thường tất cả mọi người, nhưng ông lại rất thường phê bìnhngười khác là kiêu căng.

Nói vậy nhưng không phải vậy/Reaction formation: hành động hay diễn tả ngược

lại với ý định hay cảm xúc của mình

Dồn nén/Repression: đẩy những thực tế đã gây ra cảm xúc tiêu cực vào vô thức để

khỏi phải chịu đựng những cảm xúc đó Những thực tế này có thể trỗi dậy trongcác giấc mơ hoặc trong những câu nói buột miệng và là đối tượng phân tích củakhoa phân tâm Thí dụ một người quên đi một lỗi lầm, một hành vi sai quấy haymột điều xấu hổ trong quá khứ để khỏi phải chịu đựng những dằn vặt, hối hận, khổđau liên quan đến kinh nghiệm đó

Thoái bộ/Regression: dùng lại ứng xử của giai đoạn phát triển tâm lý đã qua Thí

dụ khi hồi hộp xúc động thì tiểu dầm mặc dù đã qua tuổi đó, hoặc van xin khóc lócnăn nỉ như trẻ con khi phải đối phó với những mâu thuẫn trong cuộc sống lứa đôi

Cách tiếp cận và mục tiêu của phương pháp phân tâm

Theo Freud, triệu chứng thần kinh tâm trí diễn ra khi người ta dùng cơ chế tự vệmột cách không thích đáng để đối phó với một số mâu thuẫn phần đông mang tính cáchdục tình hay bạo động xuất phát từ tuổi ấu thơ Vì vậy, cách đối phó này không thực sựgiải quyết tận gốc mâu thuẫn mà chỉ giúp con người tạm thời quên đi những cảm xúc tiêucực khó chịu Mâu thuẫn không được giải quyết vẫn còn đó và gây ra những triệu chứng.Điều này có nghĩa, mục tiêu của phương pháp phân tâm là đem cái kinh nghiệm, cái khaokhát, cái sợ hãi đã bị vùi sâu trong vô thức phơi bày ra thức, tạo cho thân chủ cơ hội sốnglại nó và giải quyết nó một cách đúng đắn và rốt ráo để đạt được một kết luận tích cựccho mối mâu thuẫn đó Khi các mối mâu thuẫn của quá khứ được giải quyết thỏa đáng,những triệu chứng thần kinh tâm trí liên quan đến nó sẽ tiêu tan Ở đây nhà phân tâm giữvai trò trung lập, khách quan bằng cách không nói gì về bản thân, không phê phán, mà chỉgiúp bệnh nhân đi ngược lại lịch sử của mình và nói ra tất cả những gì đã xảy ra trong quákhứ, nhất là những kỷ niệm tiêu cực, những dục vọng xấu xa, từ đó diễn dịch những mâuthuẫn không được giải quyết thỏa đáng và bị dồn vào vô thức, những cơ chế tự vệ, những

né tránh… và dần dần giúp bệnh nhận hiểu được những uẩn khúc tâm lý bản thân mộtcách sâu sắc Qua quá trình làm việc lâu dài và hết sức gần gũi này, bệnh nhân tin tưởngtuyệt đối và thố lộ tất cả cuộc đời của mình cho nhà phân tâm, dần dần coi nhà phân tâmnhư đối tượng của những tình cảm thương cũng như ghét bị dồn nén trong quá khứ Quátrình này được Freud đặt tên là chuyển dịch/transference Freud phân biệt hai loại chuyểndịch: chuyển dịch tích cực/positive transference là những tình cảm thương yêu, ái mộ đốivới nhà phân tâm; chuyển dịch tiêu cực/negative transference là những ác cảm đối vớinhà phân tâm Chuyển dịch, cả tích cực lẫn tiêu cực, đều là mục tiêu của phân tâm vì nótạo cơ hội cho bệnh nhân được “làm lại cuộc đời” tức là được sống lại mâu thuẫn cũ vàđược đối tượng của mâu thuẫn (tức là nhà phân tâm qua chuyển dịch) dẫn dắt đến mộtgiải pháp phù hợp nhất có thể được cho mâu thuẫn đó, triệu chứng tâm lý vì vậy tiêu tan

Trang 27

Quá trình làm việc lâu dài và hết sức gần gũi của phương pháp phân tâm cũng cóthể làm cho nhà phân tâm sống lại những ẩn ức bị dồn nén của chính bản thân, phát sinhtình cảm thương ghét đối với bệnh nhân và dùng mối liên hệ nghề nghiệp với bệnh nhân

để giải quyết những ẩn ức (phần đông liên quan đến dục tình) bị dồn nén trong quá khứcủa chính mình Freud gọi hiện tượng này là phản chuyển dịch/counter transference, và

đề nghị nhà phân tâm cảnh giác, nếu thấy dấu hiệu của phản chuyển dịch phải ngừngcông việc ngay, giới thiệu bệnh nhân đi chỗ khác và bản thân mình đi tham vấn để điều trịnhững ẩn ức cũ một cách thỏa đáng

Ngoài nói hết, Freud còn dùng phương pháp giải mộng để khám phá vô thức củabệnh nhân Phương pháp giải mộng đòi hỏi bệnh nhân kể lại tất cả những gì nhớ đượctrong giấc mộng để nhà phân tâm diễn dịch, tìm ra những ẩn ức bị dồn nén vào vô thức vàgiúp bệnh nhân giải quyết những ẩn ức đó một cách thỏa đáng và nhờ vậy hết bệnh

Phương pháp tiếp cận các vấn đề trong phân tâm học của Freud và sau này là AnnaFreud, Hartmanddax là nền tảng cho việc thực hành công tác xã hội hoàn thiện và pháttriển Phân tâm học có những ảnh hưởng khá phức tạp và gián tiếp đến công tác xã hộiqua một số khía cạnh sau:

 Nhiều tư tưởng của Freud thể hiện qua văn hoá, từ đó áp dụng trực tiếp vào côngtác xã hội

 Tư tưởng tâm lí động học trong phân tâm học là lý thuyết kiến giải mạnh đầu tiêntrong công tác xã hội

 Ảnh hưởng liệu pháp phân tâm học làm nảy sinh cách trị liệu thoáng, cởi mở, lắngnghe nhằm kiếm tìm cách lí giải và hiểu thấu nhân cách

 Nhiều thuật ngữ như: cái vô thức, sự thấu cảm, sự hung hăng, xung đột, sự lo âu,những quan hệ mẫu tử, sự chuyển dịch tình cảm xuôi : được nhân viên trị liệu sửdụng nhiều và thường xuyên trong Công tác xã hội

 Nhiều quan điểm của Freud được sử dụng để trị liệu: bệnh tâm thần, hành vi cóvấn đề, mối quan hệ thời thơ ấu và thời trẻ cũng như tình trạng bị tước bỏ tình mẫutử trong Công tác xã hội

Đại diện cho những người sử dụng lý thuyết phân tâm học về cấu trúc nhân cáchvào can thiệp trong công tác xã hội là Bowlby (1951), Rutter (1981) với nghiên cứu vềquan hệ mẹ - con (việc tước bỏ tình mẫu tử); Salzberger- Wittenberg (1970), Parkes(1972), C.Smith ( 1982) với nghiên cứu về việc mất người thân bằng những phươngpháp khác nhau như: “những màn hình trống”, “dịch chuyển”

1.5.2 Thuyết phát triển tri thức của Jean Piaget (1896 – 1980)

Piaget, tâm lý gia Thụy Sĩ, là người có đóng góp lớn nhất vào kiến thức của nhân

loại về sự phát triển của trí khôn Theo ông, trong quá trình lớn lên của đứa trẻ,

ski-ma-nơi lưu trữ những kiến thức đã thu nhận được và là nền tảng cho sự học hỏi thêm những

kiến thức mới được liên tục bổ sung qua hai quá trình: tiếp nhận/assimilation (quá trình

Trang 28

đưa những thông tin mới, kinh nghiệm mới vào cơ cấu ski-ma có sẵn để làm phong phú

thêm ski-ma ) và hội nhập/accommodation (thay đổi ski-ma có sẵn để chứa đựng được

thông tin và kinh nghiệm mới Khi gặp một kinh nghiệm mới, tình huống mới chưa biếtbao giờ (không có trong ski-ma) đứa trẻ lúng túng, mất thăng bằng/disequilibrium, bắtbuộc phải tiếp nhận hay hội nhập để trưởng thành lên và lấy lại tình trạng thăngbằng/equilibrium) Cuộc sống liên tiếp tạo ra trạng thái mất thăng bằng, đòi hỏi tiếp nhậnhoặc hội nhập để phục hồi trạng thái thăng bằng, nhờ vậy tri thức con người được pháttriển

Piaget chia sự hình thành của tri thức con người ra bốn giai đoạn

 Giai đoạn giác quan và cử động/sensorimotor từ 0 đến 2 tuổi

 Giai đoạn tiền vận hành/pre-operational từ 2 đến 7 tuổi

 Giai đoạn vận hành đơn giản/concrete operational từ 7 đến 11 tuổi

 Giai đoạn vận hành hoàn chỉnh/formal operational từ 11 - 15 tuổi

Chia ra bốn giai đoạn khác nhau nhưng những giai đoạn này không đứt đoạn mộtcách rõ rệt mà diễn ra một cách liên tục và liền mạch Mặt khác, số tuổi của mỗi giai đoạnchỉ là phỏng chừng, tùy theo những yếu tố nội tại cũng như yếu tố môi trường, mỗi trẻ cóthể trải qua từng giai đoạn ở tuổi khác nhau Ngoài ra các giai đoạn có thứ tự cố định và

áp dụng chung cho toàn thể nhân loại, không phân biệt chủng tộc, điều này có nghĩa sựhình thành trí khôn phải bắt đầu bằng giai đoạn xúc giác và cử động, sau khi phát triểnxong giai đoạn một mới có thể tiến lên giai đoạn hai, rồi mới đến giai đoạn ba, và saucùng là giai đoạn bốn Mặc dù đa số mọi người đều trải qua bốn giai đoạn phát triển kểtrên, một thiểu số không hoàn tất được đầy đủ và sự phát triển trí khôn có thể ngừng lại ởbất cứ giai đoạn nào

- Giai đoạn giác quan và cử động (sơ sinh, khoảng 0 đến 2 tuổi): Trí khôn của đứa

trẻ được hình thành qua ngũ giác (nhìn, nghe, nếm, ngửi, sờ) và cử động (nắm, kéo, đẩy,đạp…) Trẻ không có một cử chỉ hay dấu hiệu nào chứng tỏ nó còn biết đến vật thể đó,vật thể hoàn toàn biến mất trong trí khôn của nó Đến khoảng 6-7 tháng tuổi, đứa trẻ chỉcần thấy một phần của vật thể cũng nhận biết được vật thể đó, nhưng nếu cất vật thể đi thì

nó sẽ quên ngay Đây là dấu hiệu của thiếu vật thể thường trực trong trí khôn của đứa trẻ

Ở cuối giai đoạn này (khoảng 18 tháng tuổi) đứa trẻ dần dần xây dựng được sự hiểu biết

về vật thể thường trực/object permanence (vật thể đứa trẻ hiểu được, nhận ra được trongtrí não mặc dù không thấy vật thể đó trước mắt) và song song với vật thể thường trực là

sự hình thành của ngôn ngữ Bởi khi đó trẻ bắt đầu có thể nghĩ về vật thể, tức là thay thế

Trang 29

sự hiện diện thực của vật thể bằng biểu tượng/symbol của nó trong trí não và diễn tả rabằng ngôn ngữ tức là bằng những ký hiệu/sign chấp nhận bởi mọi người chung quanh.

- Giai đoạn tiền vận hành (ấu thơ, khoảng 2 đến 7 tuổi)

Khả năng suy nghĩ và diễn tả của đứa trẻ tiếp tục phát triển qua biểu tượng và kýhiệu Tuy nhiên thế giới của đứa trẻ vẫn xoay quanh cái tôi chủ quan/egocentric dựa vàotrực giác, nặng tính cách cụ thể và tuyệt đối, chưa hiểu được lý luận và cách vận hành củavật thể (chính vì vậy Piaget đặt tên giai đoạn này là tiền vận hành), chưa phân biệt được ýnghĩ và hiểu biết của người khác có thể khác với bản thân nó

- Giai đoạn vận hành đơn giản (trước dậy thì, khoảng 7 đến 11 tuổi):

Lần đầu tiên đứa trẻ hiểu được logic vận hành của sự vật Ý nghĩ không còn bị chiphối hoàn toàn bởi trực giác và đứa trẻ có thể dùng trí khôn để giải quyết được những vấnnạn mà nó có kinh nghiệm (cụ thể) Cũng trong giai đoạn này, đứa trẻ bắt đầu hiểu được

ý nghĩ khác biệt của người khác và ngôn ngữ của nó càng ngày càng có chức năng xã hội

và truyền thông

- Giai đoạn vận hành hoàn chỉnh (từ 11 - 15 tuổi trở lên):

Đứa trẻ bắt đầu xây dựng được khả năng lý luận về những sự kiện nó chưa hề cókinh nghiệm Ở đầu giai đoạn này ý nghĩ của đứa trẻ có khuynh hướng quay trở lại xoayquanh cái tôi chủ quan/egocentric của giai đoạn tiền vận hành tức là không chú ý đến nhucầu, ý thích, lập luận,… của bất cứ ai ngoài chính bản thân nó

Ứng dụng trong CTXH

Mặc dù ảnh hưởng chính và rất lớn của Piaget nằm trong lĩnh vực giáo dục (giáodục mẫu giáo và tiểu học), song những phát kiến của Piaget cũng được dùng hiệu quảtrong CTXH, đặc biệt là tham vấn cho cha mẹ và thày cô giáo trong những trường hợpkhó khăn về dạy dỗ trẻ em Quá trình tham vấn áp dụng tư tưởng Piaget sẽ giúp cha mẹ

và thày cô giáo tìm được phương pháp giáo dục, uốn nắn, kỷ luật thích hợp để đứa trẻphát huy được đạo đức xã hội và tự nó phát triển được tính thật thà thẳng thắn là mộttrong những yếu tố rất quan trọng giúp nó liên hệ được với mọi người chung quanh vàthành công trong cuộc sống gia đình cũng như xã hội Một cách cụ thể, Piaget phân biệthai lối phạt: phạt bắt đền/expiatory punishment là hình phạt mạnh mẽ có mục đích gây ra

đau đớn khó chịu khi đứa trẻ vi phạm những điều cha mẹ ngăn cấm Hình “phạt bắt đền”

có ý nghĩa áp đặt độc đoán theo ngẫu hứng của người có quyền lực (cha mẹ) và không cóliên quan trực tiếp gì đến nội dung “tội” của đứa trẻ, chỉ nhằm bắt nó phải trả một giá cho

tội của nó để hy vọng nó sẽ nhớ và chừa và “phạt đối xứng”/reciprocal punishment Cách

phạt này luôn luôn liên hệ trực tiếp đến nội dung của “tội” và nhắm củng cố mối quan hệhợp tác với người khác và phát huy tinh thần trách nhiệm tự giác

Trang 30

1.5.3 Lý thuyết trị liệu nhận thức

Trị liệu nhận thức là một trường phái tư tưởng với chủ đề chính tập trung xungquanh khái niệm tư duy Sự tư duy của một cá nhân được định hình bởi xã hội và hoàncảnh trực tiếp của người ấy Trên chiều cạnh này, tư duy quyết định cảm xúc và hành vi.Thông qua tư duy, con người đặt ra mục tiêu ngắn hạn và dài hạn cho hành động củamình trong cuộc sống Điều này có nghĩa, nếu như việc thực hiện chức năng xã hội củamột cá nhân bị khiếm khuyết thìcó nghĩa là tư duy của người ấy không hoàn hảo Chính

vì vậy, hành vi con người thay đổi thì phương thức tư duy cũng phải thay đổi theo

Đại biểu là Albert Ellis, Sheldon(1995) và Beck Trong công tác xã hội, nếu nhưnhận thức: là cách nhìn nhận của một người về một vấn đề nào đó theo hai chiều hướngtích cực hoặc tiêu cực thì trị liệu nhận thức là phương pháp tác động vào thân chủ làmthay đổi nhận thức tiêu cực của họ Phương thức này sử dụng kỹ thuật “chuyển cơ cấu tưduy” trong hoạt động giúp đối tượng Kỹ thuật này gồm các yếu tố:

- Giúp thân chủ nhận thức được các suy nghĩ sai lầm đã có ảnh hưởng đến các hoạtđộng chức năng của thân chủ

- Xóa bỏ những suy nghĩ sai lầm và thay vào đó là những tư duy xác thực và cáchành động có tính chất tích cực để tăng cường các hoạt động chức năng của thân chủ

- Một số ứng dụng có ảnh hưởng về hình thức trị liệu nhận thức chính là chươngtrình “lý luận và phục hồi” được sử dụng theo chương trình Dịch vụ về quản chế vànhững môi trường tư pháp khác

- Tái tạo nhận thức là hình thức nổi tiếng nhất của hình thức trị liệu nhận thức

- Hình thức trị liệu nhận thức cấu trúc có liên quan đến ba cấu trúc về niềm tintrong ý thức của thân chủ

- Một số phương thức trị liệu nhận thức đã được kết hợp với phương thức thay đổihành vi để trị liệu các vấn đề tâm lý như bệnh trầm cảm, lo hãi, giúp những người thiếu tựtin hoặc thiếu tự chủ

1.5.4 Lý thuyết hành vi

Thuyết hành vi ra đời năm 1913 do Watson- một trong những người đầu tiên sánglập ra Nếu như hành vi/ứng xử là hình thức của mối quan hệ giữa kích thích và phản ứng,

là sự ngẫu nhiên mang tính vô thức, không có động cơ chỉ có phản ứng thì thuyết hành vi

là hệ thống các quan điểm lý thuyết nhằm lý giải nguyên nhân, đặc điểm và phương pháptrị liệu hành vi

Trang 31

Trong Công tác xã hội, Công tác xã hội hành vi là trợ giúp thân chủ tăng tốc độhọc hỏi thông qua sử dụng các kĩ năng can thiệp một cách chuyên nghiệp của nhân viênCông tác xã hội.

Đại diện tiêu biểu: Watson, Sheldon, Gambrill, Fischer và Gochros, Bandura với

những mô hình trị liệu và đặc điểm cơ bản trong nghiên cứu về hành vi Chẳng hạn như 4

mô hình trị liệu hành vi của Fischer và Gochros:

 Củng cố gián đoạn hành vi không được thường xuyên củng cố

 Lịch trình theo tỷ lệ về củng cố gián đoạn được thực hiện khi có một loạt vấn

đề với những hành vi mong muốn

 Lịch trình tạm ngưng hướng đến sự củng cố sau một loạt giai đoạn hành viđược mong muốn

2 Lượng giá

 Đạt được sự mô tả những vấn đề từ những quan điểm khác nhau

 Đưa ra những ví dụ về ai bị tác động và bị tác động như thế nào

 Tìm kiếm những hình thức khởi đầu,biến đổi,tác động của vấn đề

 Xác định các khía cạnh của vấn đề và mối quan hệ giữa chúng

 Lượng giá về động cơ cho sự biến đổi

 Xác định mô hình tư duy, cảm xúc trước, trong và sau những biến cố về hànhvi

 Xác định những điểm mạnh trong và xung quanh thân chủ

Trang 32

3 Đưa vấn đề vào hệ thống thẻ chế

Tạo nên sự thay đổi của thân chủ thông qua việc xem xét một số vấn đề ưu thế các

cơ sở hoạt động xã hội các quan điểm của thân chủ năng lực của họ đưa ra và động cơ tạo

ra sự thay đổi

4 Đánh giá sự thay đổi

Đưa ra những vấn đề nảy sinh về hành vi trong và sau quá trình đo lường canthiệp

1.5.5 Lý thuyết học tập xã hội

Thuyết học tập xã hội còn gọi thuyết thay đổi hành vi là nhóm nguyên tắc chungthứ 3 trong công tác hành vi và có xuất xứ từ công trình của Bandura Trọng tâm củathuyết học tập xã hội là xã hội hoá Theo thuyết này, phần lớn việc học tập đạt được do sựnhận thức của con người và sự suy nghĩ về những điều họ trải nghiệm Họ học bằng cáchsao chép những ví dụ về người khác xung quanh họ Đối với trẻ em, đây là một quá trình

mà trong đó xã hội cố gắng dạy trẻ cách ứng xử như những người lớn - một hệ thống dạytrẻ dựa trên các quy luật học tập có thể có hiệu quả mạnh mẽ

Quy trình chính này được Hudson và Macdonald mô tả như sau:

 Nhìn thấy ai đó thực hiện một hành động và chú ý tới hành động đó

 Người quan sát “ hình thành một ý niệm” hay mã hoá trong đầu óc mình vềcách mà hành vi đó được tiến hành

 Người quan sát xác định tình huống trong đó hành vi diễn ra và kết quả của nó

 Khi một tình huống thích hợp nảy sinh, người quan sát nhắc lại hành vi theo ýniệm về nó mà họ đã hình thành

Thuyết học tập xã hội theo Goldstien gồm 3 phần liên quan với nhau: triết lý xãhội (đạo dức), học thuyết về nhân cách và các kỹ thuật ảnh hưởng tới hành vi Có thể tómtắt chúng trong 4 điểm:

 Con người hiểu tốt nhất khi tìm kiếm, tiến đến mục tiêu của chính họ

Trang 33

 Con người xây dựng những phân bản của chính mình thông qua những điều họ

 Sự thích nghi: thích nghi với thế giới bên ngoài nhằm đạt các mục tiêu và sự cốgắng của môi người

 Sự ổn định: Giữ cho hệ thống của con người ở trạng thái cân bằng khi thu nhậnnhững sự kiện mới

 Lập các ý định: Tìm cách thay đổi để phù hợp mục tiêu bên trong

Theo Goldstien có 3 loại học tập:

 Học tập có chiến lược: nhận thông tin, kĩ năng dựa trên mục tiêu đặt ra

 Học tập có chiến thuật: có liên quan đến thích nghi với những áp lực của cuộcsống hàng ngày

 Học tập thích nghi: thay đổi bản thân và những cơ cấu của nó về thế giới nhưmột phần của quá trình đối mặt với cuộc đời theo một cách khác

Tất cả các kiểu học tập của con người khi diễn ra thường bị ảnh hưởng bởi chính

họ hoặc môi trường nơi họ sinh sống

Goldstein đã đặt ra 4 giai đoạn học tập, mỗi giai đoạn phải được hoàn tất trước khibước sang giai đoạn tiếp theo Đó là:

 Học tập phân biệt để thân chủ tăng thêm nhận biết và có những nhạy cảm vớicác vấn đề xảy ra trong thế giới của họ

 Học tập khái niệm để thân chủ học các biểu tượng, các ý niệm mà họ sử dụngtheo quy ước trong xử lí thông tin

 Học tập nguyên tắc có liên quan đến các giá trị và khái niệm về bản thân

 Giải quyết một cách khái quát những vấn đề thân chủ gặp khó khăn trong môitrường của họ

Trang 34

Tóm lại: theo lý thuyết học tập, học tập được coi như một sự nhận thức thông quaquá trình nhận thức thông tin Nó nhấn mạnh đến hành vi đã được học, đến sự kiểm soátcủa môi trường đối với hành vi, phá vỡ hành vi thành những đơn vị đơn giản và tập trungvào hành vi có thể quan sát được.

Mặt mạnh: Nó chỉ ra được những kinh nghiệm xã hội có tác động tới nhận thức

của thân chủ bằng cách “mô hình hoá” chỉ dẫn do người khác truyền dẫn thông tin và

cung cấp thông tin Đây còn là thuyết có khả năng trác nghiệm cao nhất trong tâm lí học.

Thông qua lịch sử của thuyết những nhà nghiên cứu về học tập đã định nghĩa rõ ràng các

từ ngữ, các giả thuyết có tác động đến đối tượng nghiên cứu

Mặt hạn chế: Những mô tả của lý thuyết còn chưa phù hợp về phát triển nhận thức

và chưa phù hợp với môi trường tự nhiên

 Hệ thống đóng là khi không có sự trao đổi lẫn nhau qua đường biên

 Hệ thống mở là khi có các năng lượng thẩm thấu qua đường biên

Theo lý thuyết hệ thống, trạng thái của hệ thống tại bất kì thời điểm nào cũng đượcxác định bởi 5 đặc tính:

 Trạng thái vững, ổn định (steady state): khả năng duy trì bản thân thông quaviệc nhận đầu vào sử dụng nó

 Sự điều bình hay cân bằng: khả năng duy trì các bản chất cơ bản

 Sự phân biệt: qua thời gian, các hệ thống sẽ trở nên phức tạp hơn với càng lúccàng thêm nhiều loại thành phần cấu tạo khác nhau

Trang 35

 Tính phi tập hợp: Hệ thống thiên về tính tổng thể nhiều hơn là sự tổng cộng củacác bộ phận

 Sự trao đổi lẫn nhau: Nếu một phần của hệ thống thay đổi, thì sự thay đổi tácđộng tới tất cả các phần khác, và các phần khác đó cũng thay đổi

Đại diện cho những người đi theo lý thuyết hệ thống: Bertalanffy (1901-1972),Hanson, Mancoske, Siporin, Germain, Giterman và đặc biệt Hearn là người có nhữngđóng góp sớm nhất trong việc áp dụng lí thuyết hệ thống trong công tác xã hội Tuynhiên, tác động lớn nhất của lí thuyết hệ thống tới công tác xã hội phải kể đến sự xuấthiện của hai tác phẩm được dịch thuật cùng lúc về ứng dụng những quan điểm hệ thốngtrong thực hành công tác xã hội là Goldstein, Pincus và Minahan

Thuyết hệ thống tác động lớn đến công tác xã hội kể từ thập niên 1970 theonguyên tắc: con người phụ thuộc vào hệ thống trong môi trường xã hội nhằm đáp ứngnhững nhu cầu trực tiếp của mình trong cuộc sống Các tư tưởng lí thuyết về hệ thốngtrong công tác xã hội có nguồn gốc từ hệ thống khái quát của von Bertalanffy Đây là mộtthuyết sinh học trong đó đề xuất rằng mọi tổ chức đều là các hệ thống Một ngươì là mộtphần của xã hội và được làm nên bởi các hệ thống chu kì Các tế bào và hệ thống này đếnlượt mình được làm nên bởi các nguyên tử vốn được tạo ra bởi các phần tử nhở hơn.Thuyết hệ thống được áp dụng cho các hệ thống xã hội, như các nhóm, các gia đình, các

xã hội cũng như các hệ thống sinh học Có ba loại hệ thống có thể giúp con người:

 Hệ thống thân tình/ tự nhiên như: gia đình, bạn bè, người đưa thư

 Hệ thống chính quy như: các nhóm cộng đồng, công đoàn

 Hệ thống tập trung của tổ chức xã hội như: bệnh viện hay trường học

Những người có vấn đề có thể không sử dụng hệ thống trợ giúp vì:

 Những hệ thống đó không tồn tại trong cuộc sống của họ, không có nhữngnguồn hỗ trợ cần thiết hay thích hợp với vấn đề của họ

 Con người không biết, không thích sử dụng những hệ thống như vậy

 Các chính sách của hệ thống tạo ra vấn đề mới cho người sử dụng

 Các hệ thống có những mâu thuẫn lẫn nhau

Công tác xã hội cố gắng tìm ra những chỗ mà thân chủ và môi trưòng của họ đang

có những vấn đề khó khăn trong tương tác từ đó giúp họ thực hiện các công việc trongcuộc sống Vì thế nhiệm vụ của công tác xã hội là:

 Giúp con người sử dụng và nâng cao khả năng của bản thân nhằm giải quyếtvấn đề

Trang 36

 Xây dựng mối quan hệ mới giữa người và các hệ thống nguồn lực

 Giúp, chỉnh sửa tương tác giữa mọi người với các hệ thống nguồn lực

 Giúp phát triển và thay đổi chính sách xã hội

 Đưa ra sự trợ giúp thực tế

 Hoạt động như một tác nhân kiểm soát xã hội

Pincus và Minahan (1973) đã đưa ra một cách tiếp cận đến công tác xã hội trong

đó họ áp dụng các tư tưởng hệ thống Nguyên tắc của những đường hướng của họ là conngười phụ thuộc vào những hệ thống trong môi trường xã hội trực tiếp của họ để có cuộcsống thoả mãn, do đó công tác xã hội phải tập trung vào làm việc với những hệ thống nhưvậy Dưới đây là định nghĩa bốn hệ thống cơ bản trong công tác xã hội của họ như sau:

Hệ thống tác

nhân thay đổi

Nhân viên CTXH và cơ sở nơi họlàm việc

Hệ thống

khách hàng

Con người, các nhóm, các giađình, các cộng đồng tìm kiếm sựgiúp đỡ và tham gia vào làm việcvới hệ thống tác nhân thay đổi

Khách hàng thực sự đã đồng ýnhận sự trợ giúp và đã tự gắn kếtvào, các khách hàng tiềm năng lànhững người mà nhân viênCTXH đang cố gắng làm việcvới

Hệ thống mục

tiêu

Những người mà hệ thống tácnhân thay đổi đang cố thay đổi đểđạt được mục tiêu của họ

Hệ thống khách hàng có thể làhoặc không phải là hệ thống mụctiêu

Hệ thống hành

động

Những người mag hệ thống tácnhân thay đổi làm việc với để đạtđược các mục tiêu của họ

Các hệ thống khách hàng, mụctiêu hoặc hành động có thể hoặc

là không phải là mộtCác mối quan hệ giữa nhân viên công tác xã hội và người khác có thể là:

 Hợp tác - có chung mục đích

 Thương lượng - cần đạt được một thoả thuận

 Mâu thuẫn - Các mục tiêu của họ đối ngược nhau

Trang 37

Một lần nữa việc phân tách bản chất các mối quan hệ với mỗi hệ thống giúp nhânviên CTXH làm sáng tỏ vấn đề và giúp thân chủ tham gia vào các mối quan hệ một cáchphù hợp và chân thành.

1.6 NGUYÊN TẮC HÀNH ĐỘNG TRONG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN

1 Nguyên tắc cá nhân hoá

Mỗi thân chủ phải được nhân viên xã hội hiểu và nhìn nhận như một cá nhân độclập có cá tính riêng biệt, không giống ai trong cộng đồng của mình Đây chính là điềuquan trọng nhất trong nguyên tắc cá nhân hoá để nhân viên xã hội can thiệp trong quátrình giúp đỡ thân chủ

2 Chấp nhận thân chủ

Chấp nhận thân chủ có nghĩa đòi hỏi nhân viên xã hội phải nhìn nhận thân chủ nhưvốn thân chủ đó có với mọi phẩm chất tốt và xấu, điểm mạnh, điểm yếu của thân chủ.Điều đó có nghĩa, thân chủ được chấp nhận là một con người bình thường cho dù tội lỗicủa họ là không thể chấp nhận Tuy nhiên, việc chấp nhận không có nghĩa là tha thứ thậmchí biện hộ hay chạy tội cho những hành vi, hành động xã hội của thân chủ mà xã hộikhông thể chấp nhận Có như vậy, thân chủ mới bộc lộ những vấn đề của họ cho mình

3 Không phê phán

Không phê phán có nghĩa đòi hỏi nhân viên xã hội trong quá trình làm việc không

được đưa ra bất cứ một sự bình phẩm, kỳ thị hay tỏ vẻ bất bình, bất hợp tác, về hành vicủa thân chủ, cho dù họ trong cuộc sống có thể họ là những người tội lỗi Nói chung, thânchủ của công tác xã hội cá nhân là những người có khó khăn khi giải quyết vấn đề trongcuộc sống Họ có những căng thẳng dưới dạng này hay dạng khác Việc chập nhận,không phê phán của nhân viên xã hội sẽ giúp thân chủ yên tâm và hoàn toàn sẻ chianhững điều vướng mắc của mình cho nhân viên xã hội

4 Quyền tự quyết của đối tượng

Sự tự quyết, cùng sự tự do trong những quyết định của thân chủ là một trongnhững nguyên tắc căn bản của công tác xã hội cá nhân miễn sao hậu quả của những quyếtđịnh ấy không làm ảnh hưởng, thậm chí gây tổn hại đến người khác và bản thân họ Điềunày có nghĩa, những quyết định này phải ở trong những chuẩn mực hành vi mà xã hội cóthể chấp nhận được và thân chủ với tư cách là người ra quyết định phải tự chịu tráchnhiệm thực hiện và gánh lấy những hậu quả (nếu xảy ra) từ những quyết định của chínhmình Còn nhân viên xã hội không được đưa ra những quyết định, lựa chọn hay vạch kếhoạch giúp thân chủ, mà chỉ có thể giúp thân chủ đưa ra những giải pháp để thân chủ tựquyết mà thôi

Trang 38

5 Sự tham gia của đối tượng trong việc giải quyết vấn đề

Kết hợp chặt chẽ với nguyên tắc quyền tự quyết là sự tham gia của thân chủ trongviệc giải quyết vấn đề Thân chủ trở thành đối tượng chính trong việc theo đuổi kế hoạch

và thực hiện kế hoạch hành động và nhân viên xã hội đóng vai trò là người tạo cơ hội chothân chủ tham gia

6 Sự bí mật của nhân viên xã hội

Sự chia sẻ thông tin của thân chủ với người khác của nhân viên xã hội cho dùngười đó là thành viên của gia đình mình hay một đồng nghiệp thân cận mà chưa có sựđồng ý của thân chủ thì đó là một điều tối kỵ trong hành nghề công tác xã hội cá nhân.Điều đó có nghĩa trong tiến trình công tác xã hội cá nhân, có nhiều điều chỉ nhân viên xãhội mới được thân chủ chia sẻ Những thông tin này đòi hỏi nhân viên xã hội phải giữ bímật Có như vậy thì mối quan hệ giữa nhân viên xã hội với thân chủ mới bền chặt và qua

đó nhân viên xã hội mới hiểu, cảm nhận được xúc cảm của thân chủ và nhìn nhận tình thếcủa thân chủ như vấn đề của chính mình Tuy nhiên, nhân viên xã hội phải có cách nhìnkhách quan để khỏi bị mù quáng bởi cảm xúc quá độ về tình huống Điều này đòi hỏinhân viên xã hội phải duy trì một mức độ suy xét độc lập nhất định và mức độ xúc cảmthích hợp để giúp thân chủ nhìn vấn đề một cách khách quan, vạch kế hoạch một cáchthực tế

Chương 2 MỘT SỐ KỸ NĂNG CƠ BẢN TRONG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN2.1 KỸ NĂNG LẮNG NGHE

2.1.1 Lắng nghe tích cực

- Lắng nghe là sự tập trung cao độ để nghe và hiểu người đối thoại với mình,nghe không chỉ bằng tai mà cả bằng các giác quan khác Khi lắng nghe thân chủ tronglúc giao tiếp chính là lúc nhân viên xã hội tập trung chú ý đến họ, đến những điều họnói, những hành vi cử chỉ mà họ thể hiện trong khi nói và những yếu tố tác động khácngay cả yếu tố trong chính bản thân mình

- Lắng nghe là sự đi theo những suy nghĩ, cảm xúc cuả đối tác và hiểu cái mà họnói và họ nghĩ, họ cảm nhận theo quan điểm, giá trị của họ, theo khung quy chiếu của họ(Frame of Refence)

Tác dụng của lắng nghe

Trang 39

- Lắng nghe sẽ phát triển mối quan hệ giữa nhân viên xã họi và thân chủ vì khiđược người khác lắng nghe, thân chủ cảm thấy mình được tôn trọng, được chấp nhận Vìthế đòi hỏi nhân viên xã hội khi lắng nghe cần tỏ thái độ sẵn sàng nghe để hiểu, để chiasẻ.

- Lắng nghe cũng là cách tạo lập sự tin tưởng của thân chủ với nhân viên xã hộibởi vì thân chủ khi được lắng nghe họ cảm nhận sự tin tưởng, sự đồng cảm của nhân viên

xã hội và vì vậy họ cũng sẵn sàng tin tưởng đối với người đang lắng nghe, tin tưởng họ

- Lắng nghe là cách thu thập thông tin nhiều nhất Nghe tích cực sẽ giúp cho nhânviên xã hội tập trung chú ý của mình hướng vào thân chủ, quan sát mọi hành vi, ứng xử,theo dõi được các diễn biến tâm lý thân chủ

Nguyên tắc khi nghe

Khi đối tác đang truyền thông (nói) với mình, mình cố gắng lắng nghe bởi đó làlúc họ thể hiện hoặc mô tả một cách chính xác cái mà họ đã, đang trải nghiệm, có thể đó

là suy nghĩ, ý kiến, ý tưởng, cảm xúc về một sự kiện tại một thời điểm đó hay trong quákhứ Chính vì thế khi lắng nghe, nhân viên xã hội cần lắng nghe, quan sát những biểuhiện của đối tượng một cách chính xác và làm sáng tỏ nó để hiểu ý nghĩa của nó

2.1.2 Những trở ngại khi lắng nghe

Sự xao nhãng: làm người nghe không còn lắng nghe tích cực nữa Có những sự

xao nhãng từ bên ngoài và có những sự xao nhãng nội tâm Điều này dễ để lại hậu quả

vô cùng to lớn Thứ nhất: nhân viên xã hội sẽ không nắm được vấn đề nên không thể giúpthân chủ giải quyết vấn đề chứ chưa nói đến giải quyết vấn đề một cách tốt nhất Thứ hai

là những người cần sự giúp đỡ sẽ trở nên mất niềm tin vào sự giúp đỡ và càng bị sa vào

hố sâu của vấn đề

Sự lo âu hay lo sợ của người nghe: đối với người nói đây là trở ngại cho việc lắng

nghe tốt Bởi,thay vì tập trung chú ý vào lời nói của thân chủ, người nghe lại tập trungchú ý vào cách mà mình sẽ đáp ứng

Nghe chọn lọc: (chỉ nghe những gì người ta thích nghe) Điều này làm cản trở lắng

nghe tích cực

Thói quen suy nghĩ nhiều hơn là nghe.

Lắng nghe là một công việc khó khăn: Thường nghe người hay đề tài mà mình thích.Nếu thấy không thích hoăc khó thì có khuynh hướng loại bỏ, không nghe.

Thiếu kỹ năng lắng nghe: không phải nghe được là lắng nghe được vì cần phải

hiểu hết ý nghĩa của thông điệp

Trang 40

Sự dửng dưng: buồn chán, mệt mõi, không quan tâm, không muốn nghe.

Sự thiếu kiên nhẫn.

Những thành kiến tiêu cực: lắng nghe một cách chủ quan do phản ứng tạo nên bởi trang phục, tóc, giọng nói, niềm tin, đề tài, chủng tộc, giới tính Chúng ta từ chối nghe

hoặc rất nhạy bén với những gì chúng ta ghét

Thiếu quan sát các cử điệu, âm giọng, sự cường điệu, nét mặt để hiểu rõ thái độ

và cảm nghĩ.

Những thói quen không tốt: Giả bộ chú ý, cắt ngang, đoán trước thông điệp, không chú ý ngay từ đầu, không có phản hồi.

Những trở ngại về mặt thể lý: tiếng ồn, ánh sáng, nóng, sự chật chội,

2.1.3 Một số kỹ năng cần thiết khi lắng nghe

- Người nhân viên xã hội nghe thân chủ không chỉ bằng tai mà cả bằng mắt, bằngtrái tim Nghe và quan sát thế nào đó để tạo cho thân chủ cảm giác được tôn trọng, đượcngười khác chú ý đến lời mình nói, đến câu chuyện mình đang trình bày

- Thân chủ trình bày và im lặng đến mức cần thiết Người nhân viên xã hội phảichú ý đến thân chủ, chú ý đến câu chuyện của thân chủ và phải đảm bảo nguyên tắc 20%

và 80% (nhân viên xã hội phải lắng nghe thân chủ nói và chỉ nói 20%, còn thân chủ nói80%)

- Trả lời hoặc phản ánh bằng những từ mà thân chủ sử dụng hoặc tóm tắt ý củathân chủ Sử dụng ánh mắt, cử chỉ để chứng tỏ mình đang theo dõi câu chuyện Người

nhân viên xã hội không nên nhìn đi nơi khác và những “cái gật đầu cảm thông” cũng

làm cho thân chủ cảm thấy mình được tôn trọng, được chú ý

- Sử dụng các câu hỏi đúng lúc, hợp lý Khi sử dụng những câu hỏi đúng lúc hợp

lý không những khai thác thông tin một cách chính xác mà còn làm cho thân chủ thấymình được lắng nghe, được tôn trọng Bên cạnh đó cần phải tóm tắt những thông tin,làm rõ ý, tâm trạng mà thân chủ trình bày

- Nhân viên xã hội phải tỏ sự đồng cảm, đặt mình vào vị trí và hoàn cảnh của thânchủ để hiểu họ

- Tuy chúng ta im lặng nhưng không có nghĩa là nghĩ đến việc khác, không luônchú ý hay nghĩ cách ứng phó, trả lời của bản thân mà quên đi sự có mặt của người ngồitrước mình

- Không ngắt lời thân chủ giao tiếp, hãy để họ trình bày hết những ý định, suynghĩ của họ trước khi hỏi họ hay có các ý kiến khác tham gia

Ngày đăng: 11/01/2019, 15:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w