Trên cơ sở đó đưa ra các nhóm giải pháp: 1 tăng cường công tác giáo dục tuyên truyền, phổ biến cơ chế, chính sách, pháp luật về du lịch cho các cấp, các ngành doanh nghiệp và cán bộ, nhâ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn “Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các nội dung trong luận văn này hoàn toàn được hình thành và phát triển từ những quan điểm của chính
cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Phạm Thị Hồng Điệp Số liệu và kết quả có được trong luận văn là hoàn toàn trung thực
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Bùi Thị Đức Hằng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi muốn gửi lời cảm ơn đến các Quý Thầy Cô Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã truyền đạt những kiến thức quý báu, tạo cho tôi những nền tảng kiến thức
Chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm Khoa Kinh tế chính trị đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học và thực hiện nghiên cứu khoa học Sự quan tâm của thầy, cô đã góp phần tạo động lực cho tôi hoàn thành bài luận văn này
Chân thành cảm ơn PGS TS Phạm Thị Hồng Điệp, người hướng dẫn khoa học của luận văn đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ tôi về mọi mặt trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Đặc biệt, trân trọng cảm ơn Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ, Sở Thương mại du lịch tỉnh Phú Thọ, Ủy ban Nhân dân, Hội đồng Nhân dân tỉnh Phú Thọ đã cung cấp thông tin, tài liệu và hợp tác trong quá trình thực hiện luận văn Cảm ơn những đồng nghiệp, những người bạn
đã không quản ngày đêm hỗ trợ kỹ thuật, góp phần giúp tôi hoàn thành đề tài
Cuối cùng, tôi muốn gửi lời tri ân sâu sắc đến bố, mẹ và gia đình tôi Những người ủng hộ tôi hết mình về tinh thần cũng như tài chính trên con đường học vấn
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Bùi Thị Đức Hằng
Trang 5TÓM TẮT
Tác giả đã tiến hành thu thập số liệu trong giai đoạn từ năm 2005-2013, thực hiện trình bày, phân tích thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Phú Thọ theo các tiêu chí về các mặt kinh tế, chính trị, xã hội Từ đó đưa ra những giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về hoạt động du lịch tỉnh Phú Thọ
Luận văn đã dựa trên nguồn thông tin thứ cấp thu thập được từ những tài liệu thống kê, nghiên cứu trước đây để xây dựng những luận cứ chứng minh giả thuyết đặt ra
Kết quả nghiên cứu chỉ ra công tác quản lý Nhà nước về hoạt động du lịch vẫn còn tồn tại nhiều bất cập Trên cơ sở đó đưa ra các nhóm giải pháp: (1) tăng cường công tác giáo dục tuyên truyền, phổ biến cơ chế, chính sách, pháp luật về du lịch cho các cấp, các ngành doanh nghiệp và cán bộ, nhân dân trong tỉnh; (2) đẩy mạnh công tác quy hoạch, tập trung đầu tư có trọng điểm và thu hút đầu tư để phát triển du lịch; (3) củng cố công tác tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ QLNN
về du lịch từ tỉnh đến cơ sở, đẩy mạnh cải cách các thủ tục hành chính liên quan nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch; (4) đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dwngx
và hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực cho HĐDL ở tỉnh Phú Thọ; (5) tăng cường xúc tiến du lịch, kêu gọi đầu tư, liên kết hợp tác trong phát triển du lịch của tỉnh; (6) tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh;
Trang 6MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH 5
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 5
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH 8
1.2.1 Khái quát về du lịch và hoạt động du lịch 8
1.2.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò quản lý Nhà nước đối với hoạt động du lịch 16
1.2.3 Nội dung quản lý Nhà nước đối với hoạt động du lịch của chính quyền cấp tỉnh 20
1.2.4 Tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch 24
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước của chính quyền cấp tỉnh đối với hoạt động du lịch 26
1.3 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở TỈNH NINH BÌNH VÀ BÀI HỌC CHO TỈNH PHÚ THỌ 29
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch ở tỉnh Ninh Bình 29
1.3.2 Bài học quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch cho tỉnh Phú Thọ 32
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP TÀI LIỆU, DỮ LIỆU 34
2.2 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ TÀI LIỆU, DỮ LIỆU 34
2.3 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 35
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 36
Trang 73.1 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 36 3.1.1 Thực trạng hoạt động du lịch ở tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2005-2013 36 3.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 42 3.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2005-2013 53 3.2.1 Chính sách, pháp luật, văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động du lịch53 3.2.2 Xây dựng và công khai chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch ở tỉnh 57 3.2.3 Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch và các doanh nghiệp nhà nước địa phương hoạt động du lịch 58 3.2.4 Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ 59 3.2.5 Thanh tra, kiểm tra hoạt động du lịch và xử lý vi phạm trong lĩnh vực du lịch 61 3.3 Đánh giá chung về quản lý Nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 62 3.3.1 Những thành tựu đạt được 62 3.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 63 CHƯƠNG 4 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 68 4.1 DỰ BÁO PHÁT TRIỂN NGÀNH VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 68 4.1.1 Dự báo phát triển ngành và quan điểm phát triển du lịch Việt Nam 68 4.1.2 Mục tiêu và phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch ở tỉnh Phú Thọ 72
Trang 84.2 CÁC GIẢI PHÁP CƠ BẢN HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 76 4.2.1 Tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến cơ chế, chính sách, pháp luật về du lịch 76 4.2.2 Đẩy mạnh công tác quy hoạch, tập trung đầu tư có trọng điểm và thu hút đầu tư phát triển du lịch 78 4.2.3 Củng cố bộ máy quản lý nhà nước, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính 79 4.2.4 Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch ở tỉnh Phú Thọ 81 4.2.5 Tăng cường xúc tiến du lịch, kêu gọi đầu tư, liên kết hợp tác 83 4.2.6 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh 84 KẾT LUẬN 86 TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
14 UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc
15 UNWTO Tổ chức Du lịch Thế giới
Trang 10DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 3.1 Thực trạng phát triển du lịch ở tỉnh Phú Thọ giai đoạn
2005-2013
2 Bảng 3.2 Số ngày lưu trú trung bình/ khách
3 Bảng 3.3 Kết quả GDP du lịch ở Phú Thọ giai đoạn 2005-2013
8 Bảng 3.8 Tổng sản phẩm (GRDP) phân theo khu vực kinh tế
9 Bảng 3.9 Tổng sản phẩm bình quân lao động phân theo ngành
kinh tế
10 Bảng 3.10 Sự phân mùa khí hậu ở khu vực tỉnh Phú Thọ
11 Bảng 3.11 Kết quả ban hành chính sách liên quan đến phát triển
du lịch ở tỉnh Phú Thọ
12 Bảng 3.12 Cân đối lao động xã hội
13 Bảng 3.13 Thống kê thu ngân sách Nhà nước
14 Bảng 4.1
Danh mục các dự án ưu tiên đầu tư phát triển du lịch Phú Thọ giai đoạn 2011 - 2020, định hướng đến năm
2030
Trang 11DANH MỤC HÌNH
1 Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh
Phú Thọ
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Du lịch đang ngày càng trở thành hiện tượng kinh tế - xã hội (KT-XH) phổ biến, là cầu nối tình hữu nghị, là phương tiện giữ gìn hòa bình và hợp tác giữa các quốc gia, dân tộc Ở nhiều quốc gia, du lịch là một trong những ngành kinh tế hàng đầu, phát triển với tốc độ cao, đem lại những lợi ích về KT-XH trong phát triển
Ở Việt Nam, sau gần 30 năm đổi mới và phát triển, ngành du lịch đã có nhiều khởi sắc, thay đổi diện mạo và từng bước khẳng định tầm vóc của ngành trong nền kinh tế quốc dân, góp phần phát triển KT-XH, thúc đẩy giao lưu văn hóa làm cho nhân dân thế giới hiểu biết thêm về đất nước con người Việt Nam, tranh thủ được sự thiện cảm và sự đồng tình ủng hộ quốc tế trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc; đóng góp tích cực hơn cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước Hoạt động du lịch (HĐDL) tăng cả bề rộng lẫn chiều sâu Có thể nói rằng không có ngành kinh tế đi tắt đón đầu đuổi kịp trình độ phát triển của các nước trong khu vực, rút ngắn khoảng cách và chống tụt hậu về kinh tế nhanh bằng ngành du lịch Chính vì vậy,
những năm qua Đảng và Nhà nước ta có sự quan tâm đặc biệt đến ngành “công nghiệp
không khói” này Công tác quản lý nhà nước (QLNN) đối với ngành du lịch luôn được
tăng cường, đổi mới, từng bước hoàn thiện để phù hợp với điều kiện phát triển du lịch trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập kinh tế sâu hơn, đầy đủ hơn với khu vực và thế giới
Tỉnh Phú Thọ nằm ở vị trí trung tâm vùng núi phía Bắc Việt Nam, là cửa ngõ Tây Bắc của thủ đô Hà Nội và cầu nối vùng Tây Bắc với các tỉnh đồng bằng Bắc
Bộ Với hai di sản văn hóa thế giới, 1.372 di tích lịch sử văn hóa, 260 lễ hội, hơn 13.000 hiện vật qua các thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước, tỉnh Phú Thọ có lợi thế nổi bật để phát triển du lịch cội nguồn (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ, 2013) Trong giai đoạn 2000-2012, tỉnh Phú Thọ đã thu hút được nhiều du khách trong và ngoài nước về thăm, lượng khách lưu trú bình quân tăng 17,05%/năm (Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ, 2013)
Trang 13Giai đoạn 2005-2013, tỉnh Phú Thọ đã xây dựng và ban hành nhiều văn bản
về phát triển du lịch Đặc biệt, trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2010 - 2015 đã khẳng định: Tạo bước phát triển vượt bậc về du lịch,…, phấn đấu xây dựng Phú Thọ thành trung tâm du lịch về cội nguồn với hạt nhân là Đền Hùng Chủ trương đó được Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh cụ thể hóa thành các Nghị quyết, quyết định, đề án, kế hoạch, chương trình và quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ trong từng giai đoạn Đây là cơ sở cho việc xây dựng các
kế hoạch và định hướng đầu tư phát triển du lịch cội nguồn của tỉnh, trong đó xác định dự án trọng điểm đầu tư là Khu du lịch quốc gia Đền Hùng
Để đạt được những mục tiêu nêu trên, trong những năm qua, Phú Thọ đã tập trung đầu tư phát triển du lịch đồng bộ trên cả ba nội dung: xây dựng cơ sở hạ tầng
du lịch, phát triển sản phẩm du lịch và xây dựng hệ thống cơ sở và đội ngũ nhân viên ngành du lịch
Tuy nhiên, kết quả HĐDL đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của tỉnh Chất lượng các dịch vụ du lịch chưa cao; doanh số kinh doanh du lịch còn khiêm tốn, khách lưu trú, đặc biệt là khách quốc tế ở lại Phú Thọ với số lượng
ít, số ngày lưu trú ngắn… Phú Thọ còn thiếu các khu nghỉ dưỡng, khách sạn, các khu vui chơi giải trí cao cấp đạt chuẩn quốc tế Hơn nữa, tỉnh chưa tạo được sản phẩm du lịch độc đáo, đặc trưng, có sức thu hút khách Về quản lý Nhà nước, còn lúng túng và thực hiện kém hiệu quả ở tất cả các khâu, đặc biệt là công tác xúc tiến, quảng bá du lịch, quản lý các cơ sở du lịch đảm bảo chất lượng và uy tín đối với khách hàng
Làm thế nào để tăng cường Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực du lịch, qua đó phát triển và khai thác hợp lý, có hiệu quả hơn lợi thế của tỉnh Phú Thọ là câu hỏi đang được đặt ra đối với các cấp chính quyền và người dân trong tỉnh
Trong điều kiện hiện nay, để đổi mới, hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với HĐDL trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, cần có những công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới và hoàn thiện công tác này
Trang 14Với những lý do nêu trên, đề tài: “Quản lý nhà nước đối với hoạt động du
lịch trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” được lựa chọn làm luận văn tốt nghiệp khóa học
2.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn xác định có những nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về vai trò, chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với HĐDL trong điều kiện đổi mới hiện nay ở Việt Nam nói chung và ở cấp tỉnh nói riêng
- Phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với HĐDL của tỉnh Phú Thọ từ năm 2005 đến năm 2013; từ đó đánh giá các kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân
- Đề xuất các giải pháp đổi mới và hoàn thiện quản lý nhà nước đối với HĐDL ở tỉnh Phú Thọ, nhằm khai thác có hiệu quả lợi thế tiềm năng du lịch của tỉnh giai đoạn 2015-2020
2.3 Câu hỏi nghiên cứu
Cần phải làm gì để hoàn thiện quản lý Nhà nước trong lĩnh vực du lịch, qua
đó phát triển và khai thác hợp lý, có hiệu quả hơn lợi thế của tỉnh Phú Thọ?
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề quản lý nhà nước đối với HĐDL trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về HĐDL trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Trang 15- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực trạng từ năm 2005 đến 2013, đề xuất phương hướng, giải pháp quản lý và phát triển du lịch Phú Thọ đến 2020, định hướng đến năm 2030
- Phạm vi nội dung: HĐDL ở đây được hiểu là các hoạt động kinh tế tương tác giữa các chủ thể tham gia vào các dịch vụ thuộc ngành du lịch diễn ra trên địa bàn khảo sát ở tỉnh Phú Thọ Các chủ thể đó bao gồm: các cơ sở kinh doanh dịch vụ nghỉ dưỡng, tham quan, khai thác tour, nhà hàng, bán đồ lưu niệm…; khách du lịch; các tổ chức hiệp hội về du lịch Luận văn chủ yếu nghiên cứu các quá trình và hoạt động quản lý nhà nước được thực hiện bởi chính quyền địa phương tỉnh
4 Đóng góp của luận văn
- Góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận cơ bản
về quản lý nhà nước đối với HĐDL trên địa bàn một tỉnh
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với HĐDL trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn từ 2005-2013, làm rõ những điểm tích cực, hạn chế và nguyên nhân
- Đề xuất được những giải pháp cơ bản, có khả năng áp dụng trong thực tiễn, góp phần hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với HĐDL trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới
- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan và
cá nhân trong việc nghiên cứu hoạch định chính sách phát triển du lịch nói chung và
du lịch tỉnh Phú Thọ nói riêng
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, bố cục đề tài gồm 4 Chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý Nhà nước đối với hoạt động du lịch
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản lý Nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH ĐỐI
VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Ở Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về phát triển du lịch, kinh tế du lịch và quản lý Nhà nước về hoạt động du lịch, tiêu biểu có các công trình sau:
- Giáo trình “Kinh tế du lịch”, Chủ biên: Nguyễn Văn Đính; Trần Thị Minh Hòa – Hà Nội: Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân Công trình đã mô tả bản chất của nguồn nhân lực du lịch; vai trò và đặc trưng của nhóm lao động thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về du lịch, nhóm lao động chức năng sự nghiệp ngành du lịch và nhóm lao động chức năng kinh doanh du lịch Những nội dung cơ bản của QLNN
về phát triển nguồn nhân lực ngành Du lịch cũng được đề cập như quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực ngành du lịch góp phần thực hiện đường lối, chính sách và phát triển con người, thúc đẩy phát triển, tạo việc làm, giữ vững an ninh, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo xã hội ổn định và phát triển Một số vẫn đề về nội dung cơ bản
hệ thống tổ chức quản lý du lịch Việt Nam như: Lịch sử hình thành và phát triển ngành du lịch Việt Nam, QLNN về du lịch, công tác quy hoạch du lịch như: Tầm quan trọng của quy hoạch, hậu quả của việc phát triển du lịch thiếu quy hoạch, phạm vi quy hoạch, các thành phần của quy hoạch tổng thể và các giai đoạn cơ bản trong tiến trình quy hoạch du lịch… được trình bày khá rõ ràng
- Giáo trình “Quy hoạch du lịch” của tác giả Bùi Thị Hải Yến, Hà Nội: Nxb Giáo dục, năm 2009 Nội dung cuốn sách hướng dẫn làm rõ các dẫn luận quy hoạch
du lịch: lịch sử phát triển của khoa học quy hoạch du lịch, khái niệm quy hoạch du lịch, nguyên tắc quy hoạch du lịch, tiềm năng và các điều kiện quy hoạch du lịch Thực trạng kinh doanh du lịch và các cơ sở khoa học của việc xây dựng bản đồ trong quy hoạch du lịch Dự báo nhu cầu phát triển du lịch và các định hướng chiến lược phát triển du lịch Tổ chức thực hiện và đánh giá tác động từ các dự án quy
Trang 17hoạch phát triển du lịch đến tài nguyên và môi trường Kinh nghiệm của thế giới về quy hoạch ở vùng biển, vùng núi và các vùng nông thôn và ven đô Tác giả còn đưa
ra những khuyến nghị về quy hoạch du lịch vùng nông thôn và ven đô ở Việt Nam, khẳng định phát triển du lịch gắn với việc bảo vệ, tôn tạo tài nguyên môi trường đảm bảo sự phát triển bền vững; cần có kế hoạch và cơ chế quản lý phù hợp để khai thác có hiệu quả các lợi thế về vị trí, tiềm năng, đẩy mạnh phát triển du lịch góp phần vào phát triển KTXH song vẫn bảo tồn được giá trị về tự nhiên, văn hóa, xã hội
- Luận văn Thạc sĩ kinh tế của Nguyễn Thanh Vĩnh (2007), “Phát triển du lịch Lâm Đồng đến năm 2020”, bảo vệ tại Trường Đại học Kinh tế Thành Phố Hồ Chí Minh Nội dung luận văn đã hướng vào phân tích làm rõ khái niệm về du lịch,
vị trí vai trò của du lịch trong nền kinh tế quốc dân, quan điểm của du lịch Việt Nam về phát triển du lịch trong thời kỳ đổi mới, trong đó chỉ ra những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động kinh doanh du lịch ở Việt Nam Đánh giá thực trạng phát triển du lịch Lâm Đồng trong thời gian vừa qua về thành tựu đạt được, hạn chế và nguyên nhân chủ yếu Từ đó tác giả luận văn đưa ra những giải pháp chủ yếu phát triển du lịch Lâm Đồng trong giai đoạn tới: (1) Bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch; (2) Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch; (3) xúc tiến, quảng
bá du lịch; (4) nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; (5) Hoàn thiện nâng cao hiệu lực của bộ máy QLNN về du lịch từ tỉnh đến huyện
- Luận án Tiến Sĩ kinh tế của Trần Sơn Hải (2010), “Phát triển nguồn nhân lực ngành Du lịch khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên”, bảo vệ tại Học viện Hành chính Trong đó tác giả luận án đã nghiên cứu những vấn đề cơ bản
về nguồn nhân lực du lịch, phát triển nguồn nhân lực, QLNN đối với phát triển nguồn nhân lực Cùng với việc trình bày những kinh nghiệm trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực ở một số quốc gia như Thái Lan, Nhật Bản, Cộng Hòa Liên bang Đức và những bài học kinh nghiệm vận dụng vào điều kiện của Việt Nam tác giả đã xây dựng khung lý thuyết về hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, tạo
cơ sở khoa học cho việc phân tích ở phần tiếp theo Phân tích thực trạng phát triển
Trang 18nguồn nhân lực ngành du 9 lịch các tỉnh khu vực Duyên Hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên và đề xuất 3 nhóm giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực ngành Du lịch các tỉnh khu vực Duyên Hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên
- Luận án Tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Duy Mậu (2011), “Phát triển du lịch Tây Nguyên đến năm 2020 đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế”, bảo vệ tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Tác giả luận án đã hướng nghiên cứu vào làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về thị trường du lịch trong Hội nhập kinh
tế quốc tế; phân tích thực trạng của thị trường du lịch Tây Nguyên trong Hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó tác giả đã phác họa rõ nét về những thành tựu, đặc biệt là nêu rõ những vấn đề đặt ra cần khắc phục để mở rộng thị trường du lịch Tây Nguyên đến năm 2020 Nêu rõ xu hướng phát triển của thị trường du lịch quốc tế và quốc gia, từ đó đề xuất phương hướng trọng tâm phát triển thị trường du lịch Tây Nguyên trong Hội nhập kinh tế quốc tế: (1) Xây dựng chiến lược thị trường cho phát triển du lịch Tây Nguyên trong đó xác định thị trường mục tiêu và chiến lược các sản phẩm du lịch; (2) bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch; (3) xúc tiến quảng bá du lịch; (4) đào tạo nguồn nhân lực cho du lịch; (5) phát triển đồng bộ cơ
sở hạ tầng và thu hút vốn đầu tư; (6) nâng cao hiệu lực bộ máy QLNN về du lịch từ tỉnh đến huyện; (7) phát triển các hình thức liên kết các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn khu vực Tây Nguyên
- Luận án Tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Tấn Vinh (2008), “Hoàn thiện QLNN
về du lịch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng”, bảo vệ tại Trường Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội Luận án đã hệ thống hóa những lý luận và thực tiễn về du lịch, thị trường du lịch, phát triển du lịch; QLNN về du lịch trên địa bàn cấp tỉnh; nêu và phân tích kinh nghiệm QLNN về du lịch ở một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, từ đó rút ra bài học đối với công tác QLNN về du lịch tỉnh Lâm Đồng Luận
án đã đánh giá thực trạng QLNN về du lịch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2001-2007 và đưa ra những dự báo phát triển, phương hướng hoàn thiện Quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
Trang 19Nhìn chung, các công trình đã nghiên cứu về du lịch có rất nhiều nội dung và
đi vào từng lĩnh vực cụ thể của ngành du lịch nhưng chủ yếu tập trung vào ngành nghề kinh doanh du lịch và phát triển ngành du lịch để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia hoặc địa phương Các đề tài nghiên cứu QLNN về du lịch chỉ dừng lại ở phạm vi từng lĩnh vực trong ngành du lịch chứ chưa nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện của ngành mà đặc biệt là QLNN về du lịch của một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Ví dụ như phát triển du lịch lữ hành của một doanh nghiệp hoặc một địa phương, tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp
du lịch, nâng cao chất lượng sản phẩm trong các dịch vụ du lịch, quản lý nhà nước
về lao động trong kinh doanh du lịch,…
Trong luận văn này, tác giả đã kế thừa và vận dụng những luận điểm các công trình của tác giả nghiên cứu trước đây về lĩnh vực quản lý và kinh doanh của từng loại hình du lịch, dịch vụ du lịch từ đó đưa ra hướng nghiên cứu cho mình, đồng thời nghiên cứu này có ý nghĩa thiết thực cho công tác QLNN về du lịch trên địa bàn tỉnh Phú Thọ nói riêng và cho địa phương cấp tỉnh nói chung nhằm phát triển ngành du lịch theo đúng hướng và đạt được mục tiêu đề ra
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
1.2.1 Khái quát về du lịch và hoạt động du lịch
1.2.1.1 Khái niệm du lịch và hoạt động du lịch
Khái niệm du lịch
Du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, cho đến nay, nhận thức về nội dung du lịch vẫn chưa thống nhất Đã có nhiều học giả trên thế giới như: Guer Freuler, Azar, Kaspar, Hunziker, Kraff,… đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch Do hoàn cảnh khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có một cách hiểu về du lịch khác nhau
Theo Guer Freuler “du lịch với ý nghĩa hiện đại của từ này là một hiện tượng của thời đại chúng ta, dựa trên sự tăng trưởng về nhu cầu khôi phục sức khoẻ và sự
Trang 20thay đổi của môi trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp thiên nhiên”
Kaspar cho rằng du lịch không chỉ là hiện tượng di chuyển của cư dân mà phải là tất cả những gì có liên quan đến sự di chuyển đó
Hienziker và Kraff “du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc thường xuyên của họ” (Về sau định nghĩa này được hiệp hội các chuyên gia khoa học về du lịch thừa nhận)
Năm 1963, Hội nghị Liên hợp quốc tế về du lịch họp ở Roma, đã đưa ra định
nghĩa về du lịch như sau: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các
hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình
Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (1966) đã tách hai nội dung cơ bản
của du lịch thành hai phần riêng biệt
- Nghĩa thứ nhất (đứng trên góc độ mục đích của chuyến đi): “Du lịch là
một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật,…”
- Nghĩa thứ hai (đứng trên góc độ kinh tế): Du lịch là một ngành kinh
doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiểu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ
Việc phân định rõ hai nội dung cơ bản của khái niệm có ý nghĩa góp phần thúc đẩy sự phát triển du lịch Cho đến nay, không ít người, thậm chí ngay cả các cán bộ, nhân viên đang làm việc trong ngành du lịch, chỉ cho rằng du lịch là một
Trang 21ngành kinh tế Do đó, mục tiêu được quan tâm hàng đầu là mang lại hiệu quả kinh
tế Điều đó cũng có thể đồng nghĩa với việc tận dụng triệt để mọi nguồn tài nguyên, mọi cơ hội để kinh doanh Trong khi đó, du lịch còn là một hiện tượng xã hội, nó góp phần nâng cao dân trí, phục hồi sức khỏe cộng đồng, giáo dục lòng yêu nước, tính đoàn kết,… Chính vì vậy, toàn xã hội phải có trách nhiệm đóng góp, hỗ trợ, đầu tư cho du lịch phát triển như đối với giáo dục, thể thao hoặc một lĩnh vực văn hóa khác
Như vậy, có khá nhiều khái niệm du lịch nhưng tổng hợp lại ta thấy du lịch hàm chứa các yếu tố cơ bản sau:
* Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội
* Du lịch là sự di chuyển và tạm thời lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên của các cá nhân hoặc tập thể nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của họ
* Du lịch là tập hợp các hoạt động kinh doanh phong phú và đa dạng nhằm phục vụ cho các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời và các nhu cầu khác của cá nhân hoặc tập thể khi họ ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ
* Các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời của cá nhân hoặc tập thể đó đều đồng thời có một số mục đích nhất định, trong đó có mục đích hòa bình
Khái niệm hoạt động du lịch
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, bao gồm các hoạt động khá đa dạng
từ dịch vụ phòng nghỉ, ăn uống, mua bán đồ lưu niệm và hàng hóa… các dịch vụ này được gọi là HĐDL có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển Những lợi ích mà HĐDL đem lại thật là to lớn:
- HĐDL giúp phục hồi và tăng cường sức khỏe cho nhân dân, có tác dụng hạn chế các bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động của con người
- Thông qua HĐDL, đông đảo quần chúng nhân dân có điều kiện tiếp xúc với những thành tựu văn hóa phong phú và lâu đời của các dân tộc, làm lành mạnh nền văn hóa địa phương, đổi mới truyền thống cổ xưa, phục hồi ngành nghề truyền thống, bảo vệ vùng sinh thái Từ đó hấp thụ những yếu tố văn minh của nhân loại nhằm nâng cao dân trí, tăng thêm lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết quốc tế, hình
Trang 22thành những phẩm chất đạo đức tốt đẹp trong nhân dân… Điều này quyết định sự phát triển cân đối về nhân cách của một cá nhân trong toàn xã hội
- HĐDL làm tăng khả năng lao động, trở thành nhân tố quan trọng để đẩy mạnh sản xuất xã hội và nâng cao hiệu quả của nó
- HĐDL góp phần giải quyết vấn đề lao động và việc làm, có nghĩa là làm giảm tỷ lệ thất nghiệp
- Các HĐDL là cơ sở quan trọng kích thích sự phát triển kinh tế, là nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nước
- HĐDL đóng vai trò như một nhân tố củng cố hòa bình, đẩy mạnh giao lưu quốc tế, giúp cho nhân dân các nước hiểu biết thêm về đất nước, con người, lịch sử truyền thống dân tộc, qua đó tranh thủ sự đoàn kết giúp đỡ của các nước
- Ngoài ra du lịch còn giúp cho việc khai thác, bảo tồn các di sản văn hóa của dân tộc có hiệu quả, góp phần bảo vệ và phát triển môi trường thiên nhiên xã hội
Như vậy, HĐDL ở đây được tiếp cận bao gồm các dịch vụ trực tiếp và gián tiếp cho du lịch Ở một chừng mực nhất định, HĐDL có thể được coi đồng nghĩa với khái niệm ngành du lịch
1.2.1.2 Đặc điểm các dịch vụ cấu thành hoạt động du lịch
Các chủ thể tham gia hoạt động du lịch và các loại hình kinh doanh du lịch bao gồm: khách du lịch; tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch; cộng đồng dân cư và
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch
Các chủ thể tham gia HĐDL có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, không thể tách rời nhau và là những yếu tố ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển du lịch của một quốc gia, một vùng, một địa phương Muốn HĐDL phát triển, thì quốc gia đó, địa phương đó phải tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể tham gia cùng phát triển, không xem nhẹ bên nào Bởi vì, nếu thiếu một trong những bên tham gia thì HĐDL sẽ không hiệu quả, thậm chí không tồn tại
- Du lịch và kinh doanh du lịch có các loại hình sau:
+ Kinh doanh lữ hành nội địa
+ Kinh doanh lữ hành quốc tế
Trang 23+ Kinh doanh lưu trú du lịch
+ Kinh doanh vận chuyển khách du lịch
+ Kinh doanh các khu du lịch, điểm du lịch
+ Kinh doanh các dịch vụ du lịch khác
Các dịch vụ cấu thành hoạt động du lịch có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất: Dịch vụ du lịch mang đầy đủ tính chất của một ngành dịch vụ
Ngày nay, nền sản xuất xã hội cùng với khoa học – kỹ thuật và công nghệ phát triển với tốc độ cao đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phân công lao động xã hội, làm gia tăng nhu cầu phục vụ sản xuất cũng như cuộc sống văn minh của con người
Từ đó, HĐDL trở thành một ngành kinh tế độc lập Ở các nước phát triển và đang phát triển, tỷ trọng du lịch trong thu nhập quốc dân ngày càng tăng lên Du lịch là một ngành dịch vụ Sản phẩm và quá trình sản xuất của nó vừa mang những đặc điểm chung của dịch vụ vừa mang những đặc điểm riêng của dịch vụ du lịch
Thứ hai: Du lịch là loại hình dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần cho khách du lịch trong thời gian đi du lịch
Dịch vụ du lịch khác với các ngành dịch vụ khác ở chỗ: dịch vụ du lịch chỉ thỏa mãn nhu cầu cho khách du lịch chứ không thỏa mãn nhu cầu cho tất cả mọi người dân Dịch vụ du lịch nhằm thỏa mãn những nhu cầu hàng hóa đặc thù của du khách trong thời gian lưu trú bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ về ăn, ở, nghỉ ngơi, đi lại, tham quan, vui chơi, giải trí, thông tin về văn hóa, lịch sử, tập quán và các nhu cầu khác Như vậy, dịch vụ du lịch là loại hình dịch vụ đời sống nhằm thoả mãn các nhu cầu cao cấp của con người, làm cho con người sống ngày càng phong phú hơn Thực tế hiện nay cho thấy, ở nhiều nước trên thế giới, khi thu nhập của người dân tăng lên, đủ ăn, đủ mặc thì du lịch trở thành không thể thiếu, bởi vì ngoài việc thỏa mãn nhu cầu tình cảm và lý trí, du lịch còn là một hình thức nghỉ dưỡng tích cực, nhằm tái tạo lại sức lao động của con người
Thứ ba: Việc tiêu dùng và cung ứng dịch vụ du lịch xảy ra trong cùng một thời gian và không gian
Trang 24Việc tiêu dùng các dịch vụ và một số hàng hóa (thức ăn, đồ uống chế biến tại chỗ…) xảy ra cùng một thời gian và cùng một địa điểm với việc sản xuất ra chúng Trong du lịch, người cung ứng không phải vận chuyển dịch vụ và hàng hóa đến cho khách hàng, mà ngược lại, tự khách du lịch phải đi đến nơi có dịch vụ, hàng hóa Chính vì vậy, vai trò của việc thông tin, xúc tiến quảng bá du lịch là hết thức quan trọng, đồng thời việc quản lý thị trường du lịch cũng cần có những đặc thù riêng
Thứ tư: Du lịch mang lại lợi ích thiết thực về chính trị, kinh tế, xã hội cho nước làm du lịch và người làm du lịch
Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới du lịch không những đem lại lợi ích thiết thực về kinh tế mà còn mang lại cả lợi ích về chính trị, văn hóa, xã hội… Tuy nhiên, sự chi phối mạnh nhất đối với ngành du lịch vẫn là lợi ích kinh tế Vì vậy, ở nhiều nước đã đưa ngành du lịch phát triển với tốc độ cao và trở thành ngành kinh
tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân, mang lại nguồn thu nhập lớn trong tổng sản phẩm xã hội Do đó, dịch vụ du lịch ngoài việc thỏa mãn các nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch còn phải đảm bảo mang lại lợi ích kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cho quốc gia làm du lịch và cá nhân, tổ chức tham gia HĐDL
Thứ năm: Du lịch chỉ phát triển trong môi trường hòa bình và ổn định
Du lịch là lĩnh vực rất nhạy cảm với những vấn đề chính trị và xã hội Du lịch chỉ có thể xuất hiện và phát triển trong điều kiện hòa bình và quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc Ngược lại, chiến tranh ngăn cản các HĐDL, tạo nên tình trạng mất
an ninh, đi lại khó khăn, phá hoại các công trình du lịch, làm tổn hại đến cả môi trường tự nhiên Hòa bình là đòn bẩy đẩy mạnh HĐDL Ngược lại, du lịch có tác dụng trở lại đến việc cùng tồn tại hòa bình Thông qua du lịch quốc tế con người thể hiện nguyện vọng nóng bỏng của mình là người sống, lao động trong hòa bình và hữu nghị Và hơn thế nữa, không cần phải có chiến tranh mà chỉ cần có những biến động chính trị, xã hội ở một khu vực, một vùng, một quốc gia, một địa phương với mức độ nhất định cùng làm cho du lịch bị giảm sút một cách đột ngột và muốn khôi phục phải có thời gian Ví dụ, vụ khủng bố ngày 11/9 tại Mỹ, khủng bố tại đảo Bali – Indonexia, sự kiện “đảo chính” ở Thái Lan… đã làm cho ngành du lịch các nước
Trang 25này lao đao có thể nhiều năm mới phục hồi Mặt khác, tình trạng dịch bệnh, ô nhiễm môi trường… cũng là những nhân tố rất quan trọng tác động đến khách du lịch
1.2.1.3 Ý nghĩa của hoạt động du lịch
Ý nghĩa về kinh tế
Du lịch phát triển sẽ tăng nguồn thu ngân sách cho các địa phương có HĐDL
từ các khoản trích nộp ngân sách của các cơ sở du lịch trực thuộc quản lý trực tiếp của các địa phương và từ các khoản thuế phải nộp của các doanh nghiệp du lịch kinh doanh trên địa bàn
Du lịch thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác Trước hết hoạt động kinh doanh du lịch đòi hỏi sự hỗ trợ của nhiều ngành, yêu cầu về sự hỗ trợ liên ngành, là cơ sở cho các ngành khác (giao thông vận tải, tài chính, bưu điện, công nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp…) phát triển Đối với nền sản xuất xã hội, du lịch còn mở ra thị trường tiêu thụ hàng hóa Mặt khác, sự phát triển của du lịch tạo ra các điều kiện để khách du lịch tìm hiểu thị trường, ký kết hợp đồng về sản xuất kinh doanh trong nước, tận dụng các cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành kinh tế khác
Ý nghĩa về văn hóa, xã hội
Du lịch góp phần thay đổi bộ mặt kinh tế vùng có HĐDL và giảm quá trình
đô thị hóa Thông thường tài nguyên du lịch tự nhiên có ở các vùng hẻo lánh, xa xôi, vùng ven biển… Việc khai thác đưa những tài nguyên này vào sử dụng đòi hỏi phải đầu tư về mọi mặt giao thông, bưu điện, kinh tế, văn hóa – xã hội… Do vậy mà việc phát triển du lịch sẽ làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội ở những vùng đó, giảm đi sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng trong cả nước, đồng thời cũng góp phần làm giảm đi sự tập trung dân cư ở những trung tâm dân cư
Du lịch là phương tiện tuyên truyền quảng cáo có hiệu quả cho đất nước chủ nhà mà không phải mất tiền
Về phương diện kinh tế: là phương tiện tuyên truyền, quảng cáo hữu hiệu cho hàng hóa nội địa ra nước ngoài thông qua du khách Khách hàng được làm quen
Trang 26tại chỗ với các mặt hàng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp… Một số sản phẩm làm cho du khách hài lòng, về nước, du khách tuyên truyền cho bạn bè, người thân…
Và nhiều khi bắt đầu tìm kiếm các mặt hàng đó ở nước mình va nếu không thấy, khách có thể yêu cầu các cơ quan ngoại thương nhập các mặt hàng đó
Về phương diện xã hội: là phương tiện tuyên truyền, quảng cáo hữu hiệu về các thành tựu kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giới thiệu về con người, phong tục, tập quán… nơi họ đã đến
Thông qua du lịch con người được thay đổi môi trường, có ấn tượng và cảm xúc mới, thỏa mãn được trí tò mò, đồng thời mở mang kiến thức, đáp ứng lòng ham hiểu biết, do đó góp phần hình thành phương hướng đúng đắn trong mơ ước sang tạo, trong kế hoạch cho tương lai của con người – khách du lịch
Trong thời gian đi du lịch, khách thường sử dụng các dịch vụ, hàng hóa và thường tiếp xúc với dân cư địa phương Thông qua các cuộc tiếp xúc đó, văn hóa của cả khách và người bản xứ được trao đổi và nâng cao Du lịch còn làm phong phú thêm khả năng thẩm mỹ của con người khi họ được tham quan các kho tàng mỹ thuật của một đất nước
Du lịch còn là phương tiện giáo dục lòng yêu nước, giữ gìn và nâng cao truyền thống của dân tộc Thông qua các chuyến đi tham quan, nghỉ mát, vãn cảnh… người dân có điều kiện làm quen với cảnh đẹp, với lịch sử và văn hóa dân tộc, qua đó thêm yêu đất nước mình
Ngoài ra, việc phát triển du lịch còn có ý nghĩa lớn đối với việc khai thác và bảo tồn các di sản văn hóa của dân tộc, thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề thủ công truyền thống, góp phần bảo vệ và phát triển môi trường thiên nhiên, môi trường xã hội
Ý nghĩa về môi trường sinh thái
Tạo môi trường sống ổn định về mặt sinh thái Nghỉ ngơi du lịch là nhân tố
có tác dụng kích thích việc bảo vệ, khôi phục và tối ưu hóa môi trường thiên nhiên bao quanh, bởi vì môi trường này có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và hoạt động của con người
Trang 27Việc đẩy mạnh HĐDL, tăng mức độ tập trung khách vào những vùng nhất định đòi hỏi phải tối ưu hóa quá trình sử dụng tự nhiên với mục đích du lịch Lúc này đòi hỏi con người phải tìm kiếm các hình thức bảo vệ tự nhiên, đảm bảo điều kiện sử dụng nguồn tài nguyên một cách hợp lý
Giữa xã hội và môi trường trong lĩnh vực du lịch có mối quan hệ chặt chẽ Một mặt xã hội đảm bảo sự phát triển tối ưu của du lịch, nhưng mặt khác lại phải bảo vệ môi trường tự nhiên khỏi tác động phá hoại của các dòng khách du lịch và việc xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch Như vậy, giữa du lịch và bảo vệ môi trường có mối liên quan gần gũi với nhau
1.2.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò quản lý Nhà nước đối với hoạt động du lịch 1.2.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về du lịch
Giáo trình Kinh tế du lịch của Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa (2004)
đã đưa ra định nghĩa về quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về du lịch như sau:
“Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp của nhà nước, đó là
sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng pháp luật nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mỗi quan hệ xã hội
và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.” Hoạt động
quản lý nhà nước do các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương tiến hành Bất kỳ hoạt động kinh doanh nào cũng cần có sự tổ chức và quản lý tương ứng
“Quản lý nhà nước về du lịch là làm chức năng quản lý vĩ mô về du lịch, không làm chức năng chủ quản, không làm chức năng kinh doanh thay các doanh nghiệp du lịch Việc quản lý đó được thông qua các công cụ quản lý vĩ mô, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau hoạt động trên lĩnh vực kinh tế du lịch Quản lý nhà nước về du lịch là nhằm đưa du lịch phát triển định hướng chung của tiến trình phát triển đất nước”
Nhà nước quản lý nền kinh tế nói chung và ngành du lịch nói riêng theo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và lãnh thổ, phân định chức năng quản lý nhà nước về
Trang 28kinh tế với chức năng quản lý trực tiếp sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ
sở nhằm kết hợp chúng tốt hơn trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội
1.2.2.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch
Một là, Nhà nước là người quản lý các HĐDL diễn ra trong nền kinh tế thị trường
Xuất phát từ đặc trưng của nền kinh tế thị trường là tính phức tạp, năng động và nhạy cảm Vì vậy, hoạt động du lịch đòi hỏi phải có một chủ thể có tiềm lực về mọi mặt để đứng ra điều hành, chủ thể ấy không ai khác chính là Nhà nước Để hoàn thành
sứ mệnh của mình, Nhà nước phải đề ra pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch,… và sử dụng các công cụ này để quản lý hoạt động du lịch
Hai là, công cụ để Nhà nước tổ chức và quản lý hoạt động du lịch gồm pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch…
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động du lịch diễn ra hết sức phức tạp với sự
đa dạng về chủ thể, về hình thức tổ chức và quy mô hoạt động… Dù phức tạp thế nào
đi chăng nữa, sự quản lý của Nhà nước cũng phải bảo đảm cho hoạt động du lịch có tính tổ chức cao, ổn định, công bằng và có tính định hướng rõ rệt Do đó, Nhà nước phải ban hành pháp luật, đề ra các chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch… và dùng các công cụ này tác động vào lĩnh vực du lịch
Ba là, QLNN đối với HĐDL đòi hỏi phải có một máy Nhà nước mạnh, có hiệu lực, hiệu quả và một đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước có trình độ, năng lực thật sự
QLNN đối với HĐDL phải tạo được những cân đối chung, điều tiết được thị
trường, ngăn ngừa và xử lý những đột biến xấu, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho mọi HĐDL phát triển Và để thực hiện tốt điều này thì tổ chức bộ máy và đội ngũ cán
bộ QLNN không thể khác hơn là phải được tổ chức thống nhất, đồng bộ, có hiệu quả từ trung ương đến địa phương
Bốn là, QLNN đối với HĐDL còn xuất phát từ chính nhu cầu khách quan của
sự gia tăng vai trò của chính sách, pháp luật… trong nền kinh tế thị trường với tư cách
là công cụ quản lý
Trang 29HĐDL với những quan hệ kinh tế đa dạng và năng động đòi hỏi có một sân chơi
an toàn và bình đẳng, đặc biệt khi lượng khách du lịch tăng cao Trong bối cảnh đó, phải có một hệ thống chính sách, pháp luật hoàn chỉnh, phù hợp không chỉ với điều kiện ở trong nước mà còn với thông lệ và luật pháp quốc tế Đây là thách thức lớn đối với Việt Nam
1.2.2.3 Vai trò quản lý Nhà nước đối với hoạt động du lịch
Vai trò định hướng
- Nhà nước thực hiện chức năng hoạch định để định hướng hoạt động du lịch, bao gồm các nội dung cơ bản là hoạch định chiến lược, kế hoạch phát triển du lịch, phân tích và xây dựng các chính sách du lịch, quy hoạch và định hướng chiến lược phát triển thị trường, xây dựng hệ thống luật pháp có liên quan tới du lịch Xác lập các chương trình, dự án cụ thể hóa chiến lược, đặc biệt là các lộ trình hội nhập khu vực và quốc tế
- Thiết lập khuôn khổ pháp lý thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về du lịch, tạo ra môi trường pháp lý cho hoạt động du lịch
- Chức năng hoạch định giúp cho các doanh nghiệp du lịch có phương hướng hình thành phương án chiến lược, kế hoạch kinh doanh Nó vừa giúp tạo lập môi trường kinh doanh, vừa cho phép Nhà nước có thể kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh du lịch trên thị trường
Vai trò tổ chức và phối hợp
- Nhà nước bằng việc tạo lập các cơ quan và hệ thống tổ chức quản lý về du
lịch, sử dụng bộ máy này để hoạch định các chiến lược, quy hoạch, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật,… đồng thời sử dụng sức mạnh của bộ máy tổ chức để thực hiện những vấn đề thuộc về quản lý nhà nước, nhằm đưa chính sách phù hợp về du lịch vào thực tiễn, biến quy hoạch, kế hoạch thành hiện thực, tạo điều kiện cho du lịch phát triển
- Hình thành cơ chế phối hợp hữu hiệu giữa cơ quan quản lý nhà nước về du lịch với các cấp trong hệ thống tổ chức quản lý du lịch của trung ương, tỉnh (thành phố), và quận (huyện, thị xã)
Trang 30- Trong lĩnh vực du lịch quốc tế, chức năng này được thể hiện ở sự phối hợp giữa các quốc gia có quan hệ song phương hoặc trong cùng một khối kinh tế, thương mại du lịch trong nỗ lực nhằm đa dạng hóa đa phương thức quan hệ hợp tác quốc tế trong du lịch, đạt tới các mục tiêu và đảm bảo thực hiện các cam kết đã ký kết
- Tổ chức và quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực du lịch, nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ, bảo vệ tài nguyên du lịch, môi trường, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc trong hoạt động du lịch
Vai trò điều tiết các hoạt động du lịch và can thiệp thị trường
- Nhà nước là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể kinh doanh nói chung và kinh doanh du lịch nói riêng, khuyến khích và đảm bảo bằng pháp luật cạnh tranh bình đẳng, chống độc quyền Để thực hiện chức năng này, một mặt, Nhà nước hướng dẫn, kích thích các doanh nghiệp du lịch hoạt động theo định hướng đã vạch ra, mặt khác, Nhà nước phải can thiệp, điều tiết thị trường khi cần thiết để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô Trong hoạt động kinh doanh du lịch ở nước ta hiện nay, cạnh tranh chưa bình đẳng, không lành mạnh là một trong những vấn đề gây trở ngại lớn cho quá trình phát triển ngành Do vậy, Nhà nước phải có vai trò điều tiết mạnh
- Nhà nước có thể sử dụng nhiều công cụ, biện pháp khác nhau để điều tiết hoạt động kinh doanh du lịch, xử lý đúng đắn mâu thuẫn của các quan hệ
Vai trò giám sát
- Nhà nước giám sát hoạt động của mọi chủ thể kinh doanh du lịch cũng như chế độ quản lý của các chủ thể đó (về các mặt đăng ký kinh doanh, phương án sản phẩm, chất lượng và tiêu chuẩn sản phẩm, môi trường ô nhiễm, cơ chế quản lý kinh doanh, nghĩa vụ nộp thuế,…), cấp và thu hồi giấy phép, giấy hoạt động trong hoạt động
du lịch
- Phát hiện những lệch lạc, nguy cơ chệch hướng hoặc vi phạm pháp luật và các quy định của Nhà nước, từ đó đưa ra các quyết định điều chỉnh thích hợp nhằm tăng cường hiệu quả của quản lý nhà nước về hoạt động du lịch
Trang 31- Nhà nước cũng phải kiểm tra, đánh giá hệ thống tổ chức quản lý du lịch của Nhà nước cũng như năng lực của đội ngũ cán bộ công chức quản lý nhà nước về HĐDL
- Tổ chức và quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực du lịch, nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ, việc bảo vệ tài nguyên du lịch, môi trường, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc trong hoạt động du lịch
1.2.3 Nội dung quản lý Nhà nước đối với hoạt động du lịch của chính quyền cấp tỉnh
Thực tế HĐDL đã chỉ rõ, trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, rất cần sự quản lý điều hành của Nhà nước Du lịch là hoạt động liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, nếu để tự nó phát triển, để thị trường tự phát triển, buông lỏng quản lý của Nhà nước, không có sự thống nhất các yếu tố liên ngành, liên vùng, HĐDL sẽ bị chệch hướng, thị trường bị lũng đoạn, tài nguyên du lịch bị khai thác kiệt quệ, không đảm bảo phát triển du lịch bền vững Đặc biệt trong xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa của HĐDL, việc hợp tác liên kết luôn đi liền với cạnh tranh đòi hỏi mỗi nước phải có chiến lược tổng thể phát triển du lịch xuất phát từ điều kiện của mình, vừa phát huy được tính đặc thù, huy động được nội lực để tăng khả năng hấp dẫn khách du lịch vừa phù hợp với thông lệ quốc tế, tranh thủ được nguồn lực bên ngoài, để có điều kiện hội nhập Đây là vấn đề thuộc quyền nhà nước
và cũng là trách nhiệm của Nhà nước trong phát triển du lịch
Để thúc đẩy du lịch phát triển nhanh và bền vững, đảm bảo các mục tiêu về kinh tế, văn hóa, xã hội, đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường,… quản lý nhà nước về du lịch có các nội dung chủ yếu sau:
1.2.3.1 Ban hành chính sách, văn bản mang tính đặc thù của địa phương
Để phát triển du lịch trên cơ sở khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh của địa phương, chính quyền cấp tỉnh phải tích cực cải thiện môi trường pháp lý, môi trường đầu
tư và kinh doanh thông qua việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật chung của Nhà nước về phát triển du lịch phù hợp với điều kiện ở địa phương Đồng
Trang 32thời, nghiên cứu và ban hành các cơ chế, chính sách thuộc thẩm quyền mang tính đặc thù
ở địa phương như chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách ưu đãi tiền thuê đất, thời hạn thuê đất, chính sách ưu đãi tín dụng,… nhằm tạo điều kiện thuận lợi, tạo sự an tâm, tin tưởng cho các tổ chức, cá nhân (kể cả trong nước và ngoài nước) khi bỏ vốn đầu tư kinh doanh du lịch Tuy nhiên, việc ban hành các cơ chế, chính sách của địa phương vừa phải đảm bảo theo đúng các quy định của pháp luật và quy định của cơ quan Nhà nước cấp trên, vừa phải thông thoáng trên cơ sở sử dụng nguồn lực của địa phương để khuyến khích phát triển, đồng thời cũng phải đảm bảo tính ổn định và bình đẳng, tính nghiêm minh trong quá trình thực thi Bên cạnh đó, chính quyền cấp tỉnh cần tiếp tục thực hiện cải cách hành chính ở địa phương theo hướng chuyên nghiệp và hiệu quả Tiếp tục thực hiện mô hình một cửa trong đăng ký đầu tư, đăng ký kinh doanh… Thực hiện chuẩn hóa các thủ tục hành chính theo tinh thần triệt để tuân thủ pháp luật, công khai, minh bạch, thuận tiện
1.2.3.2 Xây dựng, quy hoạch, kế hoạch
Công tác xây dựng và công khai quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch ở địa bàn để giúp các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực du lịch định hướng phát triển
Trong hoạt động kinh doanh du lịch, mục tiêu cuối cùng của các đơn vị kinh doanh là lợi nhuận Do đó, nếu không được định hướng phát triển đúng sẽ gây ra lãng phí, kém hiệu quả do không phù hợp với nhu cầu thị trường và thực tế phát triển của địa phương, nhất là các hoạt động đầu tư xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng các khu, điểm du lịch,… hoặc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật như các nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ… Vì thế, chính quyền cấp tỉnh phải hết sức quan tâm đến việc xây dựng và công khai kịp thời các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch của địa phương Các mục tiêu, chỉ tiêu trong chiến lược, quy hoạch phát triển chung của cả nước Đáp ứng những yêu cầu của quá trình hội nhập ngày càng sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới gắn với tiến trình đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Có như vậy, mỗi đơn vị hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch mới có thể xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển riêng phù hợp với chiến lược và kế hoạch phát triển chung của địa phương
Trang 331.2.3.3 Tổ chức thực hiện chính sách
Hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật đã khó, nhưng cái khó hơn là làm thế nào để đưa nó đi vào đời sống thực tế Bản thân chính sách, pháp luật đối với nền kinh tế của một đất nước nói chung và trong lĩnh vực du lịch nói riêng mới chỉ
là những quy định của Nhà nước, là ý chí của Nhà nước bắt mọi chủ thể khác (trong
đó có chính bản thân nhà nước) phải thực hiện Vì vậy, để chính sách, pháp luật đi vào cuộc sống các cơ quan nhà nước nói chung, chính quyền cấp tỉnh nói riêng phải
tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh Chính quyền cấp tỉnh phải tổ chức tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về du lịch cho cán bộ, công nhân viên chức tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về du lịch cho cán bộ, công nhân viên chức
và nhân dân trên địa bàn giúp họ nhận thức đúng đắn, từ đó có hành động đúng trong hoạt động thực tiễn; đảm bảo sự tuân thủ, thi hành chính sách, pháp luật về du lịch một cách nghiêm túc Mặt khác, chính quyền cấp tỉnh phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật du lịch trên địa bàn tỉnh, xử
lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật Không tùy tiện thay đổi các chính sách của mình, nhanh chóng xóa bỏ các văn bản cũ trái với các văn bản mới ban hành, giảm tối đa sự trùng lặp, gây khó khăn cho HĐDL
Mặt khác, hệ thống kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch là một trong những điều kiện quan trọng để phát triển du lịch Vì vậy, chính quyền cấp tỉnh cần có chính sách ưu tiên, hỗ trợ cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch tại các khu, điểm du lịch như: mở đường giao thông, xây dựng hệ thống điện, cung cấp nước sạch, phát triển hệ thống thông tin liên lạc, hỗ trợ trong việc tôn tạo các di tích văn hóa, lịch sử, các công trình kiến trúc, cảnh quan du lịch… Ngoài ra, chính quyền cấp tỉnh cần phải đảm bảo bình ổn giá cả tiêu dung và thị trường du lịch, có chính sách điều tiết thu nhập hợp lý và hướng các doanh nghiệp du lịch tham gia thực hiện các chính sách xã hội ở địa phương Để thực hiện điều này, chính quyền cấp tỉnh phải sử dụng linh hoạt các công cụ quản lý nhằm hạn chế tình trạng nâng giá, độc quyền trong hoạt động kinh doanh du lịch ở địa phương Du lịch là khâu đột phá kích thích sự phát triển của nhiều ngành, lĩnh cực và cũng là lĩnh vực tạo ra
Trang 34lợi nhuận cao Vì vậy, phải có chính sách hợp lý để hướng các doanh nghiệp sử dụng nguồn lợi nhuận thu được tiếp tục đầu tư cho sự phát triển lâu dài và bền vững, khai thác hợp lý tiềm năng du lịch sẵn có của địa phương, nhất là ở các xã vùng sâu, vùng xa có tiềm năng phát triển du lịch để góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân sở tại
1.2.3.4 Đào tạo nguồn nhân lực
Cũng như trong các lĩnh vực, ngành nghề khác, chất lượng nguồn nhân lực trong HĐDL cũng ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của lĩnh vực này Bởi vì, từ cạnh tranh toàn cầu, cạnh tranh giữa các quốc gia, các ngành, các doanh nghiệp cho đến cạnh tranh từng sản phẩm suy cho cùng cũng là cạnh tranh bằng trí tuệ của nhà quản lý và chất lượng của nguồn nhân lực Để HĐDL của một quốc gia, một vùng, một địa phương phát triển, việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và hỗ trợ đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực cho hoạt động cần được quan tâm thực hiện thường xuyên Đặc biệt, những địa phương có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch cần phải có chiến lược, kế hoạch phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có như vậy mới khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch góp phần thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
1.2.3.5 Kiểm tra, giám sát
Sự phát triển nhanh của du lịch sẽ làm phát sinh các hành vi tiêu cực như khai thác quá mức các công trình, khu, điểm du lịch, làm ô nhiễm môi trường sinh thái, những hoạt động kinh doanh du lịch trái với bản sắc văn hóa của đất nước, của địa phương… Do đó, chính quyền cấp tỉnh phải chỉ đạo thực hiện thường xuyên công tác kiểm tra, thanh tra và giám sát đối với HĐDL để phòng ngừa hoặc ngăn chặn kịp thời những hành vi tiêu cực có thể xảy ra Để thực hiện tốt nội dung này, chính quyền cấp tỉnh cần làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật
và những quy định của tỉnh về đầu tư khai thác các khu, điểm du lịch trên địa bàn; thực hiện việc đăng ký và hoạt động theo đăng ký kinh doanh, nhất là những hoạt động kinh doanh có điều kiện như: kinh doanh lưu trú, kinh doanh lữ hành,…; đồng thời cần xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật về du lịch trên địa bàn
Trang 351.2.4 Tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch
Hiệu quả là tiêu chí đánh giá mọi hoạt động nói chung và hoạt động quản lý nhà nước nói riêng Đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước đối với HĐDL
là công việc khó khăn và phức tạp Trong luận văn này, học viên đã phác thảo một
số tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động QLNN đối với HĐDL như sau:
Thứ nhất, các văn bản pháp lý về quản lý có hiệu lực
Nhà nước, trong mọi trường hợp đều mong muốn tạo ra các thay đổi và phát triển bằng việc thiết lập môi trường lành mạnh, trong đó, con người có thể ứng xử theo cách làm tăng sự chuyên môn hóa, sự trao đổi, tăng năng suất lao động và dẫn đến tăng phúc lợi xã hội
Pháp luật hay văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước không đơn giản chỉ dừng ở việc điều chỉnh các quan hệ xã hội theo nghĩa “bảo đảm trật tự an ninh xã hội" mà ở tầm vĩ mô, pháp luật còn phải phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế –
xã hội Với tư cách là công cụ chính, quan trọng của các cơ quan quản lý nhà nước
để điều chỉnh các quan hệ xã hội, văn bản quy phạm pháp luật có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm sự ổn định và phát triển xã hội
Văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng các quy phạm pháp luật (các quy định của pháp luật) Đó cũng là cơ sở pháp lý quan trọng để Nhà nước giải quyết những vấn đề phát sinh trong xã hội và sự vụ xảy ra trên thực tế Để xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chú nghĩa Việt Nam (theo đúng tinh thần của Đại hội XI) - một nhà nước tôn trọng tính tối cao của pháp luật - việc xác định hiệu lực của văn bản qui phạm pháp luật là hết sức quan trọng và rất cần được quan tâm Văn bản qui phạm pháp luật nào được áp dụng? Nếu văn bản qui phạm pháp luật này mâu thuẫn với văn bản qui phạm pháp luật kia thì áp dụng văn bản nào? Khi nào một văn bản qui phạm pháp luật bắt đầu có hiệu lực, khi nào hết hiệu lực?
Thứ hai, quy hoạch phù hợp với tiềm năng thế mạnh du lịch
Xây dựng và công khai các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch là một trong những nội dung quản lý nhà nước có tính quyết định đối với sự phát triển du lịch trên địa bàn của chính quyền cấp tỉnh Việc xác định tiềm năng,
Trang 36lợi thế của địa phương để đưa ra định hướng quy hoạch và lựa chọn loại hình du lịch đầu tư phát triển trọng điểm là hết sức cần thiết
Công tác quy hoạch chỉ nên đưa ra những mục tiêu có tính định hướng dựa trên cơ sở dự báo Quy hoạch nên mang tinh chiến lược hơn, xác định rõ các ưu tiên, các quy định cứng đối với những mảng không thể xâm phạm, các quy định mềm dẻo với những mảng phát triển kinh tế xã hội Quy hoạch xây dựng đô thị cần có tính đàn hồi nhất định, thích ứng với sự phát triển của kinh tế thị trường, như vậy mới
có thể thực sự chỉ đạo xây dựng
Thứ ba, thực thi hiệu quả các quyết định quản lý nhà nước
Hoạt động quan trọng trong QLNN là ban hành các văn bản pháp lý về quản
lý nhằm đưa ra các chủ trương, biện pháp, đặt ra các quy tắc sử xự hoặc áp dụng các quy tắc đó để giải quyết một công việc cụ thể trong đời sống xã hội ở địa phương Suy cho cùng, các quyết định quản lý nhà nước chỉ thực sự có ý nghĩa khi được thực hiện một cách có hiệu quả trong đời sống xã hội Việc thực hiện có hiệu quả các quyết định QLNN là yếu tố rất quan trọng để hiện thực hóa ý chí của nhà quản
lý thành những hoạt động thực tiễn Điều này chỉ đạt được khi tổ chức thực hiện khoa học, hợp lý, đúng lúc, kịp thời đáp ứng những đòi hỏi bức xúc của đời sống xã hội Quá trình tổ chức thực hiện không hợp lý, không kịp thời không thể mang lại kết quả như mong muốn và hơn thế nữa, có thể trực tiếp làm giảm sút uy quyền của
cơ quan quản lý
Thứ tư, bộ máy quản lý vận hành có hiệu quả
Sự vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam đòi hỏi bộ máy nhà nước phải có đủ năng lực để xây dựng được một hệ thống pháp luật đáp ứng các yêu cầu của thị trường, tổ chức thực thi luật pháp vì lợi ích của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, vì lợi ích của tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong một môi trường cạnh tranh, công bằng và minh bạch
Với bất kỳ một doanh nghiệp nào thì mục tiêu hoạt động lớn nhất là lợi nhuận Nhưng muốn đạt hiệu quả cao nhất trong kinh doanh thì đòi hỏi nhà quản lý phải trau rồi cả về lý luận và thực tiễn Vì vậy công việc của hệ thống phải thường
Trang 37xuyên điều tra, phân tích, tính toán, cân nhắc, lựa chọn và soạn thảo phương án kinh doanh tối ưu sao cho với chi phí thấp nhất mà mang lại hiệu quả cao nhất Công tác quản lý là một trong những nhân tố quyết định sự phát triển của hệ thống Mà để thực hiện được công tác quản lý tốt thì phải xuất phát từ một bộ máy quản lý ổn định và thích hợp Do đó hoàn thiện bộ máy quản lý là nhân tố quan trọng đảm bảo thực hiện có hiệu quả sản xuất kinh doanh, không ngừng nâng cao năng suất lao động của doanh nghiệp
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước của chính quyền cấp tỉnh đối với hoạt động du lịch
1.2.5.1 Yếu tố khách quan
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của một quốc gia, một vùng, một địa phương như địa hình, rừng, biển, khí hậu, nguồn nước, tài nguyên thực vật, động vật… có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hình thành các trung tâm, khu, điểm đến du lịch và tính bền vững của các sản phẩm du lịch Thực tiễn cho thấy, một quốc gia, một vùng, một địa phương nếu có nhiều cảnh đẹp tự nhiên, có khí hậu ấm
áp, có rừng, biển, động vật, thực vật phong phú,… cộng với nằm ở vị trí có hệ thống giao thông thuận lợi thì ở đó chắc chắn sẽ có sức hấp dẫn lớn thu hút du khách du lịch đến tham quan, nghiên cứu Đồng thời, nơi đó cũng có khả năng đáp ứng các yêu cầu của nhiều loại hình du lịch với các đối tượng khác nhau, góp phần thúc đẩy mạnh hoạt động du lịch phát triển
Điều kiện kinh tế - xã hội
Điều kiện kinh tế - xã hội, sự phát triển của nền sản xuất xã hội và các ngành kinh tế có tầm quan trọng hàng đầu làm xuất hiện nhu cầu du lịch và biến nhu cầu của con người thành hiện thực Không thể nói tới nhu cầu hoặc hoạt động du lịch của xã hội nếu như lực lượng sản xuất xã hội còn ở trong tình trạng thấp kém Thực
tế cho thấy ở các nước có nền kinh tế chậm phát triển, nhìn chung nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch còn rất hạn chế Ngược lại, nhu cầu nghỉ ngơi du lịch ở các nước kinh
tế phát triển rất đa dạng Sự phát triển của du lịch bị chi phối bởi nền sản xuất xã
Trang 38hội Để giải quyết nhu cầu ăn, ở, đi lại nghỉ ngơi du lịch của con người, những điều thiết yếu nhất đối với du lịch như mạng lưới giao thông, phương tiện giao thông, khách sạn nhà hàng… khó có thể trông cậy vào một nền kinh tế yếu kém
Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội là nhân tố quan trọng tác động tới sự phát triển của du lịch và quản lý du lịch Khi kinh tế phát triển ổn định cộng với môi trường chính sách thuận lợi sẽ tạo điều kiện cho các tổ chức, doanh nghiệp và du khách tham gia và các hoạt động du lịch, đồng thời tạo điều kiện cho công tác quản
lý Nhà nước
Trong thực tế, sự ổn định chính trị và xã hội được một số nghiên cứu coi như
là một đặc điểm của sản phẩm du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến cầu của nhiều phân đoạn thị trường du lịch Khi các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của một điểm du lịch biến động nhiều hơn khả năng dự trữ nguồn tài nguyên thì chúng có thể là nguyên nhân khiến cho đóng góp của ngành du lịch trong GDP không ổn định
Cơ sở vật chất kỹ thuật ảnh hưởng đến sự sẵn sang đón tiếp cũng như chất lượng dịch vụ du lịch Có hai loại cơ sở vật chất kỹ thuật đó là: cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và cơ sở hạ tầng xã hội
Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa, lịch sử cùng các thành phần của chúng được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp cho việc sản xuất dịch vụ du lịch nhằm góp phần khôi phục và phát triển thể lực và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ
Xét về cơ cấu, tài nguyên du lịch có thể chia làm 2 nhóm: tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn Các tài nguyên thiên nhiên bao gồm: địa hình, khí hậu, suối nước khoáng, biển, sông, hồ, thực vật, động vật, rừng núi,… Tài nguyên nhân văn: các tượng đài kiến trúc, công trình văn hóa (viện bảo tàng, triển lãm, trưng bày nghệ thuật, nhà hát, thư viện,…), các di tích văn hóa, lịch sử, các loại hình văn hóa phi vật thể (lễ hội, âm nhạc cổ truyền, nghệ thuật,…)
Điều kiện này thuận lợi cho hoạch định phát triển du lịch và đưa ra thực thi các quyết định quản lý nhà nước về du lịch Đây là cơ sở cho quy hoạch phát triển
Trang 39du lịch và các biện pháp chính sách để phát triển sản phẩm du lịch, khai thác và bảo
vệ tài nguyên du lịch Các thành tựu kinh tế, chính trị có sức hút đối với nhiều khách du lịch Các cuộc triển lãm thành tựu kinh tế, kỹ thuật là một ví dụ cho việc thu hút du khách Các thương nhân tìm đến để thiết lập quan hệ, quảng bá sản phẩm Khách tham quan tìm đến để thỏa mãn những mối quan tâm, hiếu kỳ Các nhà nghiên cứu tìm đến để quan sát, xem xét và học hỏi,…
1.2.5.2 Yếu tố chủ quan
Một là, chính sách pháp luật do nhà nước ban hành
Để tối đa hoá lợi nhuận, các doanh nghiệp có thể bất chấp những lợi ích chung của toàn xã hội Để hạn chế mặt tiêu cực đó, bên cạnh “bàn tay vô hình”- các quy luật của thị trường còn có “bàn tay hữu hình”-sự can thiệp của nhà nước Sự can thiệp của nhà nước thể hiện qua những chính sách quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế, qua hệ thống pháp luật Các chính sách quản lý của nhà nước vừa trực tiếp, vừa gián tiếp tác động tới quản lý hoạt động du lịch tại doanh nghiệp nhà nước
Sự tác động trực tiếp thể hiện qua những chính sách trực tiếp liên quan tới quản lý hoạt động du lịch tại doanh nghiệp Đó là những chính sách quy định về nội dung quản lý hoạt động du lịch, phương pháp quản lý hoạt động du lịch, bộ máy quản lý hoạt động du lịch Các chính sách này được thực hiện bởi cơ quan quản lý nhà nước cũng như hệ thống các doanh nghiệp nhà nước Một hệ thống chính sách quản lý đúng đắn, đầy đủ sẽ đem lại hiệu quả quản lý cao và ngược lại, một hệ thống chính sách quản lý chưa đầy đủ, không đồng bộ, còn thiếu sót sẽ làm giảm hiệu quả của công tác quản lý
Sự tác động gián tiếp của chính sách quản lý của nhà nước tới hoạt động du lịch thể hiện ở chỗ: các chính sách quản lý của nhà nước có tạo ra được một môi trường thuận lợi cho công tác quản lý hoạt động du lịch hay không, hay tạo khó khăn cho công tác quản lý?
Hai là, tổ chức bộ máy quản lý
Công tác quản lý hoạt động du lịch tiếp đó phụ thuộc vào tổ chức bộ máy quản lý, hoạt động du lịch sẽ không thể được quản lý tốt nếu tổ chức bộ máy quản
Trang 40lý không hợp lý Bộ máy quản lý gồm một cơ quan trung ương và các cơ quan địa phương Với mô hình này, việc giám sát doanh nghiệp được thực hiện theo phương thức từ xa, định kỳ theo quy định, tiến hành từ cấp địa phương đến trung ương Công tác giám sát từ xa nếu được thực hiện đầy đủ, kịp thời sẽ tạo điều kiện cho cơ quan quản lý có được cái nhìn tổng thể về toàn bộ hệ thống doanh nghiệp trong nền kinh tế Tuy nhiên, việc quản lý hoạt động du lịch không chỉ là nhiệm vụ của một cơ quan duy nhất, nó đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ của các cơ quan quản lý khác Các cơ quan này cũng thực hiện việc giám sát tại chỗ đối với các doanh nghiệp hoạt động
du lịch
Ba là, trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức của cán bộ quản lý
Trình độ, năng lực của cán bộ quản lý trực tiếp tác động tới hoạt động quản
lý HĐDL.Sự am hiểu của cán bộ quản lý về ngành nghề lĩnh vực mình quản lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng nắm bắt tình hình của họ với lĩnh vực đó, do đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới việc cán bộ quản lý đó có phân tích và đưa ra được những kết luận đúng đắn hay không, có dự thảo ra được những chính sách quản lý đúng đắn hay không? Thêm vào đó, phẩm chất đạo đức của cán bộ quản lý sẽ quyết định việc họ có thực hiện quản lý đúng theo lương tâm trách nhiệm hay không?
1.3 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở TỈNH NINH BÌNH VÀ BÀI HỌC CHO TỈNH PHÚ THỌ
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch ở tỉnh Ninh Bình
Ninh Bình nằm ở cực Nam đồng bằng Bắc Bộ, cách Hà Nội 96km về phía Nam Dãy núi Tam Điệp chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam làm ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa Ninh Bình có vị trí quan trọng, là nơi giao lưu kinh tế và văn hóa giữa lưu vực sông Hồng với lưu vực sông Mã, giữa đồng bằng Bắc Bộ với vùng núi Tây Bắc và miền Trung Tài nguyên du lịch của Ninh Bình tương đối phong phú, bao gồm hệ thống núi đá vôi, rừng, hồ, các di tích lịch sử - văn hóa nổi tiếng,… cùng văn hóa của cư dân nông nghiệp địa phương Tài nguyên du lịch Ninh Bình được phân bố tương đối tập trung ở một số khu vực chính