1.2 Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp 1.2.1 Đất nông nghiệp và chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp 1.2.1.1 Đất nông nghiệp Khái ni
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
LÊ THỊ BÍCH NGỌC
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHUYỂN ĐỔI MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG
ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
LÊ THỊ BÍCH NGỌC
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHUYỂN ĐỔI MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG
ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành : Quản lý Kinh tế
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong Luận văn là hoàn toàn trung thực Những kết luận khoa học của Luận văn chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Lê Thị Bích Ngọc
Trang 4Ngoài ra, tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, cán bộ đồng nghiệp và bạn
bè đã động viên, khích lệ và tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Lê Thị Bích Ngọc
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHUYỂN ĐỔI MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.2 Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp 7
1.2.1 Đất nông nghiệp và chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp 7
1.2.2 Sự cần thiết phải chuyển đổi MĐSD ĐNN 14
1.2.3 Quản lý nhà nước về chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp 16
1.2.4 Một số quy định cơ bản liên quan đến quản lý nhà nước về chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp 19
1.3 Cơ sở thực tiễn quản lý nhà nước về chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp 26
1.3.1 Tình hình quản lý, sử dụng và chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp tại Việt Nam 26
1.3.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp tại một số địa phương 31
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Thanh Hóa liên quan đến công tác quản lý nhà nước về chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp 35
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1 Phương pháp thu thập thông tin 37
2.1.1 Dữ liệu thứ cấp 37
2.1.2 Dữ liệu sơ cấp 37
2.2 Phương pháp Tổng hợp thông tin 38
2.2.1 Phân tổ thống kê 38
2.2.2 Bảng thống kê 38
Trang 62.2.3 Phương pháp kế thừa và chọn lọc tài liệu 39
2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 39
2.3.1 Phương pháp xử lý số liệu 39
2.3.2 Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp tài liệu 39
2.3.3 Phương pháp thống kê so sánh 39
2.3.4 Phương pháp tổng hợp 40
Chương 3: HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHUYỂN ĐỔI MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA GIAI ĐOẠN 2010 - 2014 41
3.1 Điều kiện tự nhiên, Kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến chuyển đổi MĐSD đất của tỉnh Thanh Hóa 41
3.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên 41
3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 43
3.1.3 Khái quát về kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa 46
3.1.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường tỉnh Thanh Hóa48 3.2 Thực trạng công tác quản lý nhà nước về chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 51
3.2.1 Tình hình thực hiện các nội dung về quản lý đất đai trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 51
3.2.2 Thực trạng chuyển đổi MĐSD ĐNN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 59
3.3 Đánh giá chung công tác quản lý nhà nước về chuyển đổi MĐSD ĐNN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 67
3.3.1 Những mặt đạt được 67
3.3.2 Những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân 68
Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHUYỂN ĐỔI MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA 70
4.1 Định hướng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020 70
Trang 74.2 Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước về chuyển đổi MĐSD ĐNN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 75 4.2.1 Rà soát quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch sử dụng đất và các quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội 75 4.2.2 Xây dựng các chương trình dự án phát triển kinh tế xã hội, liên quan tới các dự án chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp 77 4.2.3 Tổ chức tốt các hoạt động quản lý nhà nước về chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp 79 Kết luận 82 Tài liệu tham khảo 84
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Nguyên nghĩa
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 9
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Thực trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất phân theo mục
Trang 10
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên đặc biệt Trong nền kinh tế thị trường, đất đai được coi là hàng hoá đặc biệt Tuy nhiên, Tuy nhiên, đất đai tham gia vào các hoạt động kinh tế
- xã hội với các vai trò, vị trí khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng (MĐSD)
và đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của các hoạt động đó Đối với công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi đất đai là nền tảng, làm cơ sở, địa điểm để xây dựng các nhà máy công trình , để tiến hành các hoạt động sản xuất hoặc phục vụ sản xuất và đời sống Đối với sản xuất nông nghiệp, đất đai tham gia hoạt động với tư cách là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt, là nguồn gốc tự nhiên để tạo ra nông sản phục vụ cho nhu cầu của con người Chính vì vậy công tác nhà nước về quản lý đất đai có vai trò rất quan trọng
Trong quá trình phát triển, để đáp ứng yêu cầu kinh tế xã hội, nhất là nhu cầu công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) và đô thị hóa (ĐTH) sự chuyển đổi MĐSD từ đất nông nghiệp (ĐNN) sang các nhu cầu phi nông nghiệp là xu hướng mang tính quy luật Kinh tế càng phát triển, quá trình CNH nông thôn được đẩy mạnh góp phần làm cho đời sống của người dân từng bước được cải thiện Mặt khác, dưới áp lực của sự gia tăng dân số và sự phát triển kinh tế nông thôn, nhu cầu
sử dụng đất để phát triển sản xuất, kinh doanh ngày càng tăng cao Từ đó, xuất hiện nhu cầu chuyển đổi MĐSD ĐNN sang mục đích khác Quá trình đó cần phải được tính toán kỹ càng để hạn chế tốc độ giảm ĐNN, đáp ứng yêu cầu sản xuất nông sản ngày càng cao; đồng thời phải đáp ứng yêu cầu sử dụng đất của các ngành và các MĐSD phi nông nghiệp ngày càng lớn Trong thời kỳ đổi mới nước ta đã có những thay đổi lớn trong công tác quản lý nhà nước về đất đai
Ở Việt Nam, thực hiện chủ trương đẩy mạnh CNH, HĐH, trong những năm qua trên khắp các vùng miền của đất nước, nhiều khu công nghiệp (KCN) với quy
mô khác nhau được hình thành và đi vào hoạt động Cùng với xu hướng đó, quá trình xây dựng các KCN, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhu
Trang 11cầu công cộng và lợi ích quốc gia cũng đang diễn ra rất nhanh, không chỉ đối với các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh mà đối với hầu hết các tỉnh, thành phố khác trên phạm vi cả nước Đây là xu thế tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tạo nên động lực mới cho sự phát triển kinh
tế - xã hội Tuy nhiên, ngoài những tác động tích cực của quá trình đó mang lại thì
đã và đang đặt ra những vấn đề rất bức xúc, thậm chí gây nên những tác động tiêu cực, ảnh hưởng xấu đến mục tiêu phát triển dài hạn và bền vững của đất nước
Thanh Hóa là một trong những tỉnh có diện tích tự nhiên lớn nhất cả nước Hiện nay tỉnh đang có những bước tiến lớn, chuyển mình mạnh mẽ trong việc thu hút đầu tư, phát triển kinh tế xã hội Nhu cầu chuyển đổi MĐSD ĐNN để đáp ứng yêu cầu phát triển mở rộng các ngành kinh tế xã hội là một yêu cầu có tính khách quan, nhằm tạo nên sức sản xuất mới, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất Bản thân là người làm việc trong lĩnh vực quản lý đất đai, công tác trong ngành tài nguyên môi trường, tôi có mong muốn tìm hiểu, nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước về chuyển đổi MĐSD ĐNN trên địa bàn tỉnh Vì vậy tôi đã lựa chọn thực hiện
đề tài "quản lý nhà nước về chuyển MĐSD ĐNN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa" làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý kinh tế Đề tài nhằm trả lời câu hỏi: thực trạng công tác quản lý nhà nước về chuyển đổi MĐSD ĐNN tại tỉnh Thanh Hóa như thế nào? Và đâu là giải pháp giúp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về chuyển đổi MĐSD ĐNN trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.2 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiến về chuyển đổi MĐSD ĐNN, đặc biệt là vai trò của quản lý nhà nước đối với vấn đề này Đánh giá đúng thực trạng quản lý nhà nước về chuyển đổi MĐSD ĐNN trên đại bàn tỉnh Thanh Hóa Qua đó đề xuất kiến nghị một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về chuyển đổi MĐSD ĐNN trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới
Trang 123.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn liên quan đến quản lý nhà nước về chuyển MĐSD ĐNN
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về chuyển đổi MĐSD ĐNN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
- Khuyến nghị, đề xuất một số giải pháp giúp nâng cao hiệu quả công tác quản
lý nhà nước về đất đai, đặc biệt là chuyển đổi MĐSD ĐNN trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề chuyển đổi MĐSD
ĐNN Trong đó chủ yếu tập trung vào sự cần thiết phải chuyển đổi MĐSD đất và
quản lý nhà nước về chuyển đổi MĐSD ĐNN
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: nghiên cứu thực trạng công tác quản lý nhà nước về chuyển đổi MĐSD ĐNN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Đề xuất kiến nghị một số giải pháp giúp tăng cường công tác quản lý nhà nước về chuyển đổi MĐSD đất trên địa bàn tỉnh
trong thời gian tới
- Về không gian: Luận văn chỉ tập trung vào quản lý nhà nước về chuyển MĐSD ĐNN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, không quan tâm đến quy hoạch sử dụng
đất hay các lĩnh vực quản lý đất đai khác
- Về thời gian: Số liệu công tác quản lý nhà nước về chuyển MĐSD ĐNN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong 5 năm từ 2010 đến 2014
4 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về chuyển đổi MĐSD ĐNN
Trang 13Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Hiện trạng quản lý nhà nước về chuyển MĐSD ĐNN tại tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010-2014
Chương 4: Một số kiến nghị, đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về chuyển MĐSD ĐNN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHUYỂN ĐỔI MỤC ĐÍCH
SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Hầu hết các hộ gia đình trong những quốc gia nghèo, những nước đang phát triển như Việt Nam đều sinh sống dựa vào sản xuất nông nghiệp Do vậy ĐNN trở thành một tài sản sinh kế quan trọng Sản xuất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng đối tăng trưởng, việc làm và sinh kế nông hộ trong hầu hết các quốc gia đang phát triển (DFID, 2002) Vì lý do này, đất và sinh kế nông thôn luôn là chủ đề thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách Theo Deininger and Feder (1999, p 1) “ Trong xã hội nông nghiệp, đất đai đóng vai trò như phương tiện chính không chỉ tạo ra sinh kế mà còn được xem như của cải để tích lũy và thừa kế giữa các thế hệ” Vì vậy, đất đai đóng một vai trò quan trọng trong chiến lược sinh kế của người nông dân và bất kỳ sự thay đổi MĐSD ĐNN cũng sẽ dẫn tới những thay đổi lớn đối với sinh kế của họ
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy ĐTH và tăng trưởng kinh tế nhanh luôn đi cùng với việc thu hồi và chuyển đổi MĐSD ĐNN sang các mục đích khác phục vụ cho ngành công nghiệp, dịch vụ Quá trình này gây ra những tác động có thể là tích cực và tiêu cực tới nhiều bên liên quan
Việc chuyển đổi ĐNN có tác động bất lợi vào chiến lược sinh kế của các hộ gia đình phụ thuộc hoàn toàn hoặc phần lớn vào ĐNN và những nguồn tài nguyên thiên nhiên khác Tuy thế, những bất lợi như vậy có khả năng được bù đắp bởi những công việc mới được tạo ra từ quá trình ĐTH và CNH Những cơ hội như vậy
có thể được những hộ nông dân nắm băt để gia tăng lợi ích kinh tế của họ Ví dụ, sự suy giảm diện tích ĐNN ở nông thôn thường đi cùng với việc gia tăng phạm vi không gian đô thị, dẫn tới sự gia tăng trong mối liên hệ giữa nông thôn và thành thị Điều này sẽ đưa đến những thuận lợi cho những người nông dân tiếp cận thị trường
Trang 15đô thị và những cơ hội việc làm phi nông nghiệp (Tacoli, 2004) Thêm nữa, việc chuyển đổi đất thường đi cùng với quá trình cải thiện cơ sở hạ địa phương, và do vậy hỗ trợ việc thúc đẩy năng suất và đa dạng hóa và thâm canh sản xuất nông nghiệp của những người nông dân ở các vùng ven đô (Gregory & Mattingly, 2009) Việc chuyển đổi MĐSD ĐNN trong bối cảnh phát triển kinh tế, tốc độ ĐTH tăng là điều không thể tránh khỏi Lúc này, nhà nước cần giữ vai trò đầu mối trong việc quản lý, điều hành, thanh tra giám sát để quá trình chuyển đổi diễn ra thuận lợi, đảm bảo hài hòa lợi ích giữ các bên liên quan Vì một mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững của toàn xã hội
Tại Việt Nam, đổi mới đất đai đã được thực hiên như một phần của chính
sách đổi mới kinh tế (Kirk & Nguyen, 2009) Kể từ khi luật đất đai được ban hành, việc sử dụng ĐNN dài hạn và ổn định đã được đảm bảo (T T Nguyen, 2012), và luật này đã được thực hiện qua việc trao giấy chứng nhận sử dụng đất tới tất cả các
hộ gia đình Cùng với đổi mới đất đai, tự do hóa thị trường nông nghiệp cũng được tiến hành Một phần, những chính sách như vậy thúc đẩy sự thâm canh về trồng lúa
và đa dạng hóa những mùa màng mới và giá trị cao như cà fê, và điều này dẫn tới một sự cải tiến đáng kể trong thu nhập hộ gia đình, an ninh lương thực và tình trạng dinh dưỡng của người dân (Kirk & Nguyen, 2009)
Trong bối cảnh chuyển đổi ĐNN gia tăng trong các vùng ven đô của các thành phố lớn tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã cố gắng tìm kiếm câu trả lời
về việc mất đất sẽ ảnh hưởng đến sinh kế của những hộ gia đình nông thôn như thế nào bằng việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính và thống kê mô tả Một vài nghiên cứu tình huống tại những vùng ngoại ô của Thành Phố Hồ Chí Minh và
Hà Nội cho thấy những tác động tích cực và tiêu cực của việc thu hồi đất đối đối với lợi ích của người nông dân và cộng đồng dân cư địa phương Một nghiên cứu được tiến hành bởi T N Do (2006) cho rằng thu hồi đất dẫn tới sự mất mất ĐNN, nguồn cung lương thực và nguồn thu nhập nông nghiệp của nhiều hộ gia đình vùng ven đô của Hà Nội Tuy nhiên, rất nhiều hộ gia đình mất đất đã thích ứng một cách tích cực với bối cảnh mới bằng việc đa dạng hóa lao động của họ trong công việc lao động
Trang 16thủ công Nguồn thu nhập cao nhưng không ổn định từ việc làm công ăn lương ở khu vực phi chính thức đã trở thành nguồn thu nhập chính cho rất nhiều hộ gia đình Bên cạnh đó, hệ thống cơ sở hạ tầng ở địa phương cũng được cải thiện đáng kể sau khi có việc thu hồi ĐNN Trong một nghiên khác ở những vùng ven đô của thành phố Hồ Chí Minh nơi hầu hết ĐNN được thu hồi cho các KCN và đất ở của khu dân
cư, Vo (2006) phát hiện rằng những người nông dân mất đất đã chuyển đổi từ trồng lúa sang chăn nuôi và làm vườn Thêm nữa, những cơ hội việc làm phi nông nghiệp được tạo ra nhiều hơn nhờ vào quá trình gia tăng ĐTH và CNH, và điều này làm cho những người dân địa phương không còn ý định tiếp tục làm nghề nông nữa Việc nghiên cứu tài liệu tổng quan cho thấy việc chuyển đổi MĐSD ĐNN được rất nhiều nhà nghiên cứu, học giả và các cơ quan quản lý nhà nước quan tâm Rất nhiều nghiên cứu liên quan đến chuyển đổi MĐSD ĐNN được thực hiện Các nghiên cứu phần nào đã lý giải được tính cấp thiết của việc chuyển đổi MĐSD ĐNN, đánh giá tác động của việc chuyển đổi MĐSD ĐNN đến các bên liên quan Tuy nhiên chưa thấy nhiều nghiên cứu tập trung vào vai trò của quản lý nhà nước
về chuyển đổi MĐSD ĐNN, đặc biệt là trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Vì lý do này, tác giả quyết định lựa chọn đề tài quản lý nhà nước về chuyển đổi MĐSD đất trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa cho luận văn thạc sỹ quản lý kinh tế
1.2 Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1 Đất nông nghiệp và chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1.1 Đất nông nghiệp
Khái niệm ĐNN:
ĐNN là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng ĐNN bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nôi trồng thủy sản, đất làm muối và ĐNN khác (Luật đất đai 2013)
Phân loại ĐNN
Trang 17- Đất sản xuất nông nghiệp: là ĐNN sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp; bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm
+ Đất trồng cây hàng năm: là đất chuyên trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch không quá một năm, kể cả đất sử dụng theo chế độ canh tác không thường xuyên, đất cỏ tự nhiên có cải tạo sử dụng vào mục đích chăn nuôi Loại này bao gồm đất trồng lúa, đất cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác
+ Đất trồng lúa: là ruộng, nương rẫy trồng lúa từ một vụ trở lên hoặc trồng lúa kết hợp với sử dụng vào mục đích khác được pháp luật cho phép nhưng trồng lúa là chính; bao gồm đất chuyên trồng lúa nước, đất trồng lúa nước còn lại, đất trồng lúa nương
+ Đất cỏ dùng cho chăn nuôi: là đất trồng cỏ hoặc đồng cỏ, đồi cỏ tự nhiên
có cải tạo để chăn nuôi gia súc; bao gồm đất trồng cỏ và đất cỏ tự nhiên có cải tạo
+ Đất trồng cây hàng năm khác: là đất trồng cây hàng năm không phải đất trồng lúa và đất cỏ dùng vào chăn nuôi gồm chủ yếu để trồng mầu, hoa, cây thuốc, mía, đay, gai, cói, sả, dâu tằm, cỏ không để chăn nuôi; gồm đất bằng trồng cây hàng năm khác và đất nương rẫy trồng cây hàng năm khác
- Đất trồng cây lâu năm: là đất trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng trên một năm từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch kể cả cây có thời gian sinh trường như cây hàng năm nhưng cho thu hoạch trong nhiều năm như Thanh Long, Chuối, Dứa, Nho,…; Bao gồm đất trồng cây công nghiệp lâu năm, đất trồng cây ăn quả lâu năm
và đất trồng cây lâu năm khác
+ Đất trồng cây công nghiệp lâu năm: là đất trồng cây lâu năm có sản phẩm thu hoạch (không phải là gỗ) để làm nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp hoặc phải qua chế biến mới sử dụng được gồm chủ yếu là Chè, Cà phê, Cao
su, Hồ tiêu, Điều, Ca cao, Dừa,…
+ Đất trồng cây ăn quả lâu năm: là đất trồng cây lâu năm có sản phẩm thu hoạch là quả để ăn tươi hoặc kết hợp chế biến
Trang 18+ Đất trồng cây lâu năm khác: là đất trồng cây lâu năm không phải đất trồng cây công nghiệp lâu năm và đất trồng cây ăn quả lâu năm gồm chủ yếu là đất trồng cây lấy gỗ, lấy bóng mát, tạo cảnh quan không thuộc đất lâm nghiệp, đất vườn trồng xen lẫn nhiều loại cây lâu năm hoặc cây lâu năm xen lẫn cây hàng năm
- Đất lâm nghiệp: là đất đang có rừng tự nhiên hoặc đang có rừng trồng đạt tiêu chuẩn rừng, đất đang khoanh nuôi phục hồi rừng (đất đã có rừng bị khai thác, chặt phá, hỏa hoạn được đầu tư để phục hồi rừng), đất để trồng rừng mới (đất có cây rừng mới trồng chưa đạt tiêu chuẩn rừng hoặc đất đã giao để trồng rừng mới); bao gồm đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng
+ Đất rừng sản xuất: là đất sử dụng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; bao gồm đất có rừng tự nhiên sản xuất, đất có rừng trồng sản xuất, đất khoanh nuôi phục hồi rừng sản xuất, đất trồng rừng sản xuất
+ Đất rừng phòng hộ: là đất để sử dụng vào mục đích phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ đất, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái, chắn gió, chắn cát, chắn sóng ven biển theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; bao gồm đất có rừng tự nhiên phòng hộ, đất có rừng trồng phòng hộ, đất khoanh nuôi phục hồi rừng phòng hộ, đất trồng rừng phòng hộ
- Đất nuôi trồng thủy sản: là đất được sử dụng chuyên vào mục đích nuôi, trồng thủy sản; bao gồm đất nuôi trồng thủy sản nước lợ, mặn và đất chuyên nuôi trồng thủy sản nước ngọt
- Đất làm muối: là ruộng muối để sử dụng vào mục đích sản xuất muối
- ĐNN khác: là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống; xây dựng kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực
Trang 19vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp (luật đất đai 2013)
Nghiên cứu ĐNN tại tỉnh Thanh Hóa có đầy đủ tất cả các loại ĐNN theo phân loại bên trên
Vai trò và ý nghĩa của ĐNN
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là điều kiện cho sự sống của động – thực vật và con người trên trái đất Đất đai là điều kiện rất cần thiết để con người tồn tại và tái sản xuất các thế hệ kế tiếp nhau của loài người Đất đai tham gia vào tất cả các ngành kinh tế và xã hội Tuy vậy, đối với từng ngành cụ thể đất đai có vị trí khác nhau
Trong nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng, đất đai có vị trí đặc biệt Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế Đặc biệt vì đất đai vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động Đất đai là đối tượng lao động vì đất đai chịu sự tác động của con người trong quá trình sản xuất như: cày, bừa, xới,… để có môi trường tốt cho sinh vật phát triển Đất đai là tư liệu lao động vì đất đai phát huy tác dụng như một công cụ lao động Con người sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi Không có đất đai thì không có sản xuất nôn nghiệp Với sinh vật, đất đai không chỉ là môi trường sống, mà còn là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng Năng suất cây trồng, vật nuôi phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đất đai Diện tích, chất lượng của đất đai quy định lợi thế so sánh của mỗi vùng cũng như cơ cấu sản xuất của từng nông trại nói riêng một cách đúng hướng, có hiệu quả, sẽ góp phần làm tăng thu nhập, ổn định kinh tế, chính trị và xã hội
Bên cạnh đó, một bộ phận lớn đất ngập nước: các đầm lầy, sông ngòi, kênh rạch, rừng ngập mặn, các vugnx, vịnh ven biển, hồ nước nhân tạo,… còn có nhiều vai trò quan trọng khác Đây là nơi cung cấp nhiên liệu, thức ăn, là nơi diễn ra các hoạt động giải trí, nuôi trồng thủy sản, lưu trữ các nguồn gien quý hiếm Ngoài ra, ĐNN cũng đóng vai trò quan trọng trong việc lọc nước thải, điều hòa dòng chảy (giảm lũ lụt và hạn hán), điều hòa khí hậu địa phương, chống xói lở ở bờ biển, ổn định mạch nước ngầm cho nguồn sản xuất nông nghiệp, tích lũy nước ngầm, là nơi
Trang 20cư trú của các loại chim, phát triển du lịch,…
Hướng sử dụng đất quy định hướng sử dụng các tư liệu sản xuất khác và hiệu quả sản xuất Chỉ có thông qua đất, các tư liệu sản xuất mới tác động đến hầu hết các cây trồng, vật nuôi Vì vậy, muốn làm tăng năng suất đất đai, giữ gìn và bảo vệ đất đai để đảm bảo cả lợi ích trước mắt cũng như mục tiêu lâu dài, cần sử dụng đất tiết kiệm có hiệu quả, cần coi việc bảo vệ lâu bền nguồn tài nguyên vô giá này là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cấp bách đối với mỗi quôc gia (Đỗ Kim chung và cộng sự, 1997)
1.2.1.2 Chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp
Khái niệm:
Chuyển MĐSD đất mới được pháp luật đất đai đề cập đến từ năm 2001 (khi sửa đổi, bổ sung lần thứ 2 luật đất đai 1993) Chuyển MĐSD đất là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định hành chính cho phép chuyển MĐSD đất với những diện tích đất cụ thể từ mục đích này sang mục đích khác
Luật đất đai số 40/2013/QH 13 ban hành ngày 29/11/2013 qui định Nhà nước căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch đã phê duyệt và nhu cầu sử dụng đất mà cho phép người sử dụng đất được chuyển sang sử dụng vào mục đích khác ngay trên diện tích đất mà họ đang sử dụng Nhà nước không phải thu hồi rồi giao lại mà chỉ cần cho phép người sử dụng được thực hiện nghĩa vụ tài chính và công nhận cho họ được chuyển sang sử dụng vào mục đích khác
Hiểu theo nghĩa thông thường, “chuyển đổi MĐSD đất” nói chung bản thân nó
đã đủ nghĩa là sự thay đổi về MĐSD của đất Điều đó được giải nghĩa là: chủ thể sử dụng đất không sử dụng cho mục đích trước đây nữa và sẽ thay đổi nó sang MĐSD khác Đất đó có thể là ĐNN, nhưng cũng có thể là đất phi nông nghiệp Ví dụ: Đất khu dân cư, với tư cách là đất ở nông thôn (hay thành thị) được giải tỏa để mở đường là sự chuyển đổi từ mục đích đất ở sang mục đích đất giao thông
Chuyển đổi MĐSD ĐNN là phạm trù hẹp hơn, tuy cũng chỉ sự thay đổi về MĐSD của đất, nhưng đó là mục đích của ĐNN này sang mục đích nông nghiệp khác hoặc từ ĐNN sang đất phi nông nghiệp Ví dụ: Đất đang sử dụng vào mục
Trang 21đích nông nghiệp, đang trồng lúa chuyển sang nuôi trồng thủy sản hoặc đất đang sử dụng vào mục đích nông nghiệp chuyển sang xây dựng KCN, sẽ trở thành đất khu, cụm công nghiệp
Chuyển đổi MĐSD ĐNN còn được hiểu theo các góc độ về mặt pháp lý, về mặt kinh tế tổ chức Về mặt pháp lý, chuyển đổi MĐSD ĐNN là thay đổi MĐSD đất theo quy hoạch sử dụng đất, được duyệt bằng quyết định hành chính (trong trường hợp phải xin phép) khi người sử dụng đất có yêu cầu Trên thực tế, do đặc điểm của đất nói chung, ĐNN có giới hạn về mặt số lượng Trong khi đó, ĐNN là
cơ sở tự nhiên cần thiết để tạo ra các nông sản duy trì sự tồn tại của con người Mâu thuẫn giữa nhu cầu về nông sản ngày càng tăng do sự gia tăng với quỹ ĐNN ngày càng giảm do yêu cầu sử dụng vào các ngành phi nông nghiệp đã khiến nhiều quốc gia phải hạn chế chuyển ĐNN sang mục đích phi nông nghiệp Sự phê duyệt bằng các quyết định hành chính, vì thế được sử dụng trong quản lý chuyển đổi MĐSD của ĐNN
Về mặt kinh tế tổ chức, đất đai được sử dụng vào tất cả các hoạt động kinh tế
và đời sống kinh tế xã hội Để sử dụng đất đai có hiệu quả hay vì một mục đích kinh
tế nào đó, người ta có thể chuyển đổi MĐSD nó Trong nông nghiệp, đó là quá trình chuyển đổi từ mục đích trồng các cây trồng, nuôi các vật nuôi có giá trị kinh tế thấp sang các cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao Là quá trình chuyển đổi từ MĐSD vào nông nghiệp sang các mục đích phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và rộng hơn là phục vụ cho cả nền kinh tế quốc dân
Mục đích của chuyển MĐSD đất:
- Đa dạng các hình thức có được đất để sử dụng của người sử dụng
- Đơn giản thủ tục hành chính trong việc phân phối lại đất đai
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất
Như vậy, Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép người sử dụng đất chuyển MĐSD đất đều là các hoạt động trao quyền sử dụng đất từ Nhà nước cho người sử dụng đất hoặc đồng ý cho người đang sử dụng đất chuyển sang mục đích khác Các hoạt động này đều nhằm:
Trang 22- Đáp ứng được các nhu cầu đối tượng sử dụng đất, kể cả trong nước và ngoài nước
- Đảm bảo cho đất đai được phân phối và phân phối lại cho các đối tượng sử dụng được sử dụng hợp pháp, đúng mục đích mà Nhà nước đã quy định, đạt hiệu quả cao, thúc đẩy nền kinh tế phát triển
- Xác lập mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước với người sử dụng làm cơ sở
để giải quyết mọi mối quan hệ đất đai và người sử dụng yên tâm thực hiện các quyền của mình trên diện tích đất đó
Nhà nước thu hồi đất nhằm thực hiện quyền định đoạt của Nhà nước đối với đất đai để thực hiện quyền quyết định duy nhất của Nhà nước đối với đất đai và đơn giản hóa các thủ tục hành chính trong quản lý đất đai
Vai trò của chuyển MĐSD đất:
Chuyển đổi MĐSD đất đóng vai trò trung tâm để phát triển kinh tế, chính trị, thương mại, văn hóa của xã hội Chuyển đổi MĐSD đất có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tạo điều kiện thúc đẩy công nghiệp hóa nhanh chóng
Các đối tượng nhà nước cho phép chuyển MĐSD đất
Các đối tượng nhà nước cho phép chuyển MĐSD đất:
- Tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp
- Tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế - xã hội
- Tổ chức sự nghiệp công
- Hộ gia đình, cá nhân trong nước
Các đối tượng trên khi được giao đất, cho thuê đất, chuyển MĐSD đất có đầy
đủ các điều kiện về hồ sơ theo quy định thể hiện nhu cầu xin giao đất, xin thuê đất, xin chuyển MĐSD đất của họ; phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt sẽ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, hay chuyển MĐSD đất
Trang 231.2.2 Sự cần thiết phải chuyển đổi MĐSD ĐNN
Theo Azadi et al (2011), có hàng loạt nhân tố dẫn tới sự cần thiết hay tính tất yếu phải chuyển đổi MĐSD ĐNN sang phi nông nghiệp Đó là các nhân tố như CNH, ĐTH, sự phát triển hạ tầng giao thông đường bộ, và chính sách của chính phủ Việc chuyển đổi ĐNN được coi là hệ quả tất yếu của quá trình tăng trưởng kinh tế và dân số, ĐTH và CNH ở hầu hết các quốc gia (Ramankutty et al., 2002; R Tan, Beckmann, Van Den Berg, & Qu, 2009)
CNH: Để cung cấp không gian kinh tế cho các CNH, như việc xây dựng các
KCN, các nhà máy và đơn vị sản xuất, một lượng đất, trong đó có ĐNN phải chuyển đổi thành đất phi nông nghiệp Ở Trung quốc được biết như sự tăng trưởng nhanh trong suốt thời gian the 1980s–1990s, gắn liền việc chuyển đổi MĐSD ĐNN với sự phát triển của khu vực phi nông nghiệp nông thôn, đặc biệt sự phát triển của các doanh nghiệp làng xã (TVEs) (Ho & Lin, 2004) Tại Trung Quốc, công nghiệp nông thôn được đặt tại những vùng nơi nông nghiệp được phát triển tốt hơn và được đặt gần khu đô thị 62% trong doanh nghiệp làng xã được tập trung tại tỉnh ven biển
vì vậy, ngành công nghiệp tại những vùng nông thôn tạo ra nhiều áp lực vào cộng đồng ở nông thôn để chuyển đổi từ việc sử dụng ĐNN sang mục đích phi nông nghiệp
Firman (1997) chỉ ra rằng sự phát triển các vùng công nghiệp, đặc biệt các vùng xung quanh Jakarta, là nhân tố dẫn tới sự chuyển đổi ĐNN quy mô lớn tại Indonesia Một vài vùng diễn ra sự chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang những hoạt động công nghiệp và dịch vụ Sự chuyển đổi này cũng được phản ánh bởi cấu trúc việc làm Cấu trúc việc làm chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp Số hộ gia đình tham gia vào sản xuất nông nghiệp giảm Chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và cải thiện cạnh tranh toàn cầu tại các KCN tại Indonesia làm gia tăng việc thu hồi đất trong những vùng đô thị Chiến lược này thúc đẩy sự phát triển của rất nhiều ngành công nghiệp nhẹ như giầy dép, điện tử và sản xuất đồ nhựa Chiến lược này vì vậy đã làm cho việc thu hồi đất nghiêm trọng hơn
Trang 24ĐTH: Tiến trình ĐTH và di cư từ nông thôn ra thành thị là hai nhân tố chính
ảnh hưởng đến việc chuyển đổi MĐSD ĐNN và được nghiên cứu rộng rãi Do dân
số đô thị tăng nhanh cùng với quá trình di cư đã dẫn tới nhu cầu lớn về đất đai cho nhà ở và hạ tầng đô thị Sun Sheng Han and He (1999) nghiên cứu cấu trúc phân phối của việc chuyển đổi ĐNN trong một vài thành phố tại Trung Quốc và cũng kiểm tra mối quan hệ giữa ĐTH và thu hồi ĐNN trong các thành phố Họ tìm thấy rằng có một mối quan hệ tương quan dương giữa gia tăng dân số và thu hồi đất tại những vùng ven biển Kết quả của họ giống với kết quả nghiên cứu bởi Ho and Lin’s (2004) cho rằng CNH làm gia tăng quá trình chuyển đổi ĐNN trong những vùng duyên hải tại Trung Quốc Họ kết luận rằng tiến trình CNH tai Trung Quốc thường đi cùng với tiến trình ĐTH và kết quả gây ra sự thu hồi ĐNN
Việc gia tăng dân số nhanh cũng ảnh hưởng đến việc thu hồi đất bởi vì dân số cao hơn dẫn tới cần mở rộng các khu xây dựng để cung cấp nhà ở và cơ hội việc làm Fazal (2001) đã phân tích việc ĐTH ảnh hưởng như thế nào đến chuyển đổi ĐNN tại Ấn Độ Tác giả cho rằng cấu trúc đô thị và gia tăng dân số nhanh trong các quốc gia phát triển và đang phát triển dẫn tới áp lực về đất Sự mở rộng ĐTH xâm lấn những vùng ĐNN màu mỡ Ấn Độ đã trải qua một sự mất mát lớn ĐNN bởi vì ĐTH nhanh và việc mở rộng các khu đô thị kết hợp với sự gia tăng dân số Vấn đề tương tự cũng được diễn ra tại Jakarta, Indonesia Ví dụ, Firman (1997) chỉ ra rằng
sự phát triển nhà ở là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới việc thu hồi ĐNN trong suốt 20 năm qua ở quốc gia này Metro Manila là một thành phố khác cũng trải qua quá trình thu hẹp ĐNN do tiến trình ĐTH (Malaque & Yokohari, 2007)
Sự phát triển cơ sở hạ tầng như đường xá cũng dẫn tới việc chuyển đổi ĐNN
ở hầu hết các quốc gia Vấn đề này đã diễn ra mạnh mẽ ở Trung Quốc hai thập kỷ trước đây (Lichtenberg & Ding, 2008) Khi ngành công nghiệp tăng trưởng nhanh, khu vực nông nghiệp trở thành thương mại hóa, thu nhập của người dân gia tăng và
số người di chuyển cũng gia tăng, hệ thống đường xá trở nên tắc nghẽn và cần được
mở rộng và xây dựng mới và do vậy một diện tích lớn ĐNN buộc phải bị thu hồi cho việc xây dựng đường giao thông và các công trình hạ tầng liên quan Theo Ho
Trang 25và Lin (2004), những dự án đường xá khác nhau tại Trung Quốc đòi hỏi một khối lượng lớn ĐNN Rất nhiều học giả tin rằng việc xây dựng đường xá hỗ trợ phát triển công nghiệp để kết nối với đường cao tốc đã dẫn tới việc chuyển đổi đất ở các vùng ĐNN màu mỡ
Chính sách phát triển kinh tế của chính phủ: hầu hết các chính sách phát triển
kinh tế có khuynh hướng thúc đẩy gia tăng công nghiệp và gián tiếp thúc đẩy việc thu hồi ĐNN trong rất nhiều các quốc gia đang phát triển như Indonesia, China, Vietnam, và the Philippines (Irawan, 2008; Lichtenberg & Ding, 2008; Malaque & Yokohari, 2007; Van den Berg, Van Wijk, & Van Hoi, 2003) Thêm nữa, những chính sách phát triển không gian quyết định chuyển đổi hoặc mở rộng một vùng trở thành KCN hay nơi cư dân sinh sống thúc đẩy sự thu hồi ĐNN trong vùng đó Chính sách thiết lập các KCN trong những vùng đô thị của Jakarta, như là Tanggerang, Bekasi and Karawang dẫn tới việc thu hồi đất trên diện rộng tại Indonesia (Firman, 1997) Chính phủ Trung Quốc quyết định di dời các KCN tới những vùng ven đô để giải quyết vấn đề tắc nghẽn giao thông và điều này đã gây ra một sự mất ĐNN lớn trong những vùng duyên hải (Ho and Lin, 2004)
Như vậy, việc chuyển đổi MĐSD ĐNN sang cho MĐSD phi nông nghiệp là một đòi hỏi khách quan của quá trình CNH, ĐTH, phát triển kinh tế và tăng trưởng dân số ở hầu hết các nước Quá trình này cũng được thúc đẩy bởi các mong muốn
về chính sách của chính phủ các nước hướng tới sự tập trung phát triển công nghiệp trong tiến trình phát triển kinh tế của một quốc gia
1.2.3 Quản lý nhà nước về chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp
Chuyển đổi MĐSD đất là chuyển từ mục đích này sang MĐSD khác - như trên đã đề cập Nhưng xét dưới góc độ tổ chức và quản lý, chuyển đổi mục đích là quá trình với các căn cứ và các nội dung cụ thể sau đây:
Quy hoạch sử dụng đất: Để chuyển đổi MĐSD đất cần phải tiến hành quy hoạch
sử dụng đất nói chung, quy hoạch sử dụng ĐNN nói riêng
Quy hoạch sử dụng đất được hiểu là tổng thể các biện pháp kinh tế, kỹ thuật
và pháp lý của Nhà nước về tổ chức sử dụng đất bền vững, hợp lý và có hiệu quả
Trang 26cao thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất, tổ chức sử dụng nguồn lao động và tư liệu sản xuất khác liên quan để nâng cao hiệu quả sản xuất, bảo vệ đất và môi trường Hay, quy hoạch sử dụng đất là bố trí sắp xếp lại đất đai theo các MĐSD khác nhau nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành, các lĩnh vực kinh tế xã hội, đảm bảo sử dụng đất đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả
Như vậy, quy hoạch sử dụng đất có thể coi là nội dung của chuyển đổi MĐSD đất, hay chính xác hơn, chuyển đổi MĐSD đất là một trong các nội dung cốt lõi của quy hoạch đất đai nói chung, quy hoạch sử dụng ĐNN nói riêng Tuy nhiên trong quy hoạch sử dụng đất, chuyển đổi MĐSD đất được thể hiện ở các phương án sử dụng đất và chu chuyển các loại đất Đặc biệt, việc xác định các phương án sử dụng đất được xác định một cách khái quát, dựa trên mục tiêu phát triển kinh tế và các điều kiện gắn với sử dụng đất Vì vậy, đối với chuyển đổi MĐSD đất cho một diện tích cụ thể nào đó, quy hoạch sử dụng đích chỉ được coi như là yêu cầu, là cơ sở cho chuyển đổi
Xây dựng các luận chứng chuyển đổi MĐSD ĐNN: Xây dựng luận chứng
chuyển đổi MĐSD đất nói chung, ĐNN nói riêng là tạo lập các cơ sở khoa học để minh chứng về sự cần thiết, về hiệu quả kinh tế, xã hội của chuyển đổi MĐSD đất; thiết lập các điều kiện, quy trình và các biện pháp triển khai các hoạt động chuyển đổi, thậm chí soạn thảo các chính sách cần thiết cho quá trình chuyển đổi
Ví dụ, việc chuyển đổi từ đất trồng lúa bấp bênh sang nuôi trồng thủy sản có hiệu quả rất rõ Tuy nhiên, do đất đai manh mún không thể hình thành các hồ đầm, đặc biệt do nguồn lực của người dân hạn chế trong việc cải tạo ruộng thành hồ đầm Nhà nước cần có chính sách tổ chức triển khai dồn điền đổi thửa, hỗ trợ nguồn vốn cho nông dân…
Các luận chứng chuyển đổi MĐSD đất có thể được xây dựng thành các đề án hay dự án Nếu quy mô chuyển đổi MĐSD đất lớn, việc xây dựng đề án hay dự án
có sự hỗ trợ của các nhà khoa học và quản lý
Phê duyệt các phương án chuyển đổi MĐSD ĐNN: Để triển khai các đề án,
dự án chuyển đổi MĐSD đất (kể cả chuyển đổi từ mục đích này sang mục đích khác
Trang 27trong nội bộ nông nghiệp hay chuyển từ MĐSD cho nông nghiệp sang mục đích phi nông nghiệp) đều phải được các cấp có thẩm quyền phê duyệt và phù hợp với bản quy hoạch sử dụng đất của địa phương đã được thông qua Nếu đề án, dự án chuyển đổi MĐSD đất để xây dựng nhà để ở hoặc để bán thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật về nhà ở, pháp luật xây dựng, luật kinh doanh bất động sản;
Các đề án, dự án được đưa ra thẩm định phê duyệt phải qua những thủ tục hành chính Theo quy định hiện hành, các thủ tục đó bao gồm:
+ Đơn xin chuyển đổi MĐSD đất (làm theo mẫu);
+ Phương án sản xuất, kinh doanh (nếu Chuyển đổi MĐSD đất sang làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp);
Đối với chuyển đổi MĐSD đất ở quy mô nhỏ, nhất là từ mục đích nông nghiệp sang các mục đích phi nông nghiệp, việc phê duyệt chuyển đổi MĐSD đất cũng bao gồm các đơn, luận chứng chuyển đổi và kèm theo bản sao Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất; bản sao hộ khẩu thường trú và chứng minh nhân dân của người xin chuyển đổi MĐSD đất; bản cam kết theo quy định về điều kiện chuyển đổi MĐSD đất
Tổ chức các phương án chuyển đổi MĐSD ĐNN: Sau khi các đề án, dự án
chuyển đổi mục đích được phê duyệt, các nội dung của tổ chức chuyển đổi MĐSD đất được triển khai Thường các công việc gồm:
+ Thu hồi đất, giải quyết các bồi thường, khiếu kiện (nếu có sự chuyển quyền
sử dụng đất từ chủ thể này sang chủ thể khác và thường xảy ra đối với chuyển đổi
từ MĐSD cho nông nghiệp sang các mục đích phi nông nghiệp)
+ Triển khai các hoạt động chuyển MĐSD ĐNN theo các phương án đã phê duyệt: Tùy theo các mục đích chuyển đổi, đặc biệt từ hiện trạng sử dụng so với yêu cầu hiện trạng sau chuyển đổi sẽ có những hoạt động cải tạo, xây dựng trên đất được chuyển đổi MĐSD Ví dụ: Đối với đất trũng trồng lúa chuyển sang nuôi trồng thủy sản, cần phải xây dựng hồ, đầm…sẽ liên quan đến các hoạt động san lấp, đắp các bờ hồ, đầm, xây dựng các cống, đập, san phẳng, cải tạo làm sạch mặt hồ, đầm… Đối với ĐNN chuyển sang xây dựng KCN, đô thị cần phải san lấp mặt bằng, xây
Trang 28dựng các hạ tầng công nghiệp, đô thị, phân lô… Tùy theo MĐSD việc triển khai sẽ
do chủ đầu tư và chủ quản đầu tư triển khai và quản lý
Sau khi các dự án, đề án triển khai xong phần thực hiện chuyển đổi, khai thác các kết quả chuyển đổi là bước cuối cùng Tùy theo mục đích chuyển đổi, đặc biệt
là phương thức đầu tư, các kết quả đầu tư sẽ do các chủ thể khác nhau quản lý sử dụng Đối với chuyển đổi mục đích ĐNN sang các mục đích khác của nông nghiệp thường do những người sản xuất nông nghiệp thực hiện nên họ là những người khai thác kết quả đầu tư và lợi ích tăng thêm từ sự chuyển đổi Đối với chuyển đổi MĐSD ĐNN sang các mục đích phi nông nghiệp thường có sự chuyển đổi chủ sử dụng Vì vậy, người khai thác kết quả của chuyển đổi MĐSD ĐNN là những người khác Ở đây có sự điều tiết lợi ích tăng thêm của chuyển đổi MĐSD ĐNN
1.2.4 Một số quy định cơ bản liên quan đến quản lý nhà nước về chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp
1.2.4.1 Các quy định về chuyển mục đích sử dụng đất
Căn cứ chuyển MĐSD đất
Điều 14 nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều luật đất đai quy định chi tiết về điều kiện đối với người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư
1 Dự án có sử dụng đất phải áp dụng điều kiện quy định tại Khoản 3 Điều 58 của Luật Đất đai gồm:
a) Dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để cho thuê hoặc để bán kết hợp cho thuê theo quy định của pháp luật về nhà ở;
b) Dự án đầu tư kinh doanh bất động sản gắn với quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản;
c) Dự án sản xuất, kinh doanh không sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước
2 Điều kiện về năng lực tài chính để bảo đảm việc sử dụng đất theo tiến độ của dự
án đầu tư được quy định như sau:
Trang 29a) Có vốn thuộc sở hữu của mình để thực hiện dự án không thấp hơn 20% tổng mức đầu tư đối với dự án có quy mô sử dụng đất dưới 20 héc ta; không thấp hơn 15% tổng mức đầu tư đối với dự án có quy mô sử dụng đất từ 20 héc ta trở lên;
b) Có khả năng huy động vốn để thực hiện dự án từ các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các tổ chức, cá nhân khác
3 Việc xác định người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư không vi phạm quy định của pháp luật
về đất đai đối với trường hợp đang sử dụng đất do Nhà nước giao đất, cho thuê đất
để thực hiện dự án đầu tư khác xác định theo các căn cứ sau đây:
a) Kết quả xử lý vi phạm pháp luật về đất đai đối với các dự án tại địa phương được lưu trữ tại Sở Tài nguyên và Môi trường;
b) Nội dung công bố về tình trạng vi phạm pháp luật đất đai và kết quả xử lý vi phạm pháp luật đất đai trên trang thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Quản lý đất đai đối với các dự án thuộc địa phương khác
4 Thời điểm thẩm định các điều kiện quy định tại Điều này được thực hiện đồng thời với việc thẩm định nhu cầu sử dụng đất của chủ đầu tư khi cấp Giấy chứng nhận đầu tư, thẩm định dự án đầu tư, lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật hoặc chấp thuận đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về xây dựng đối với trường hợp giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất Trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất thì thời điểm thẩm định được thực hiện trước khi tổ chức phiên đấu giá quyền sử dụng đất
Thẩm quyền cho phép chuyển MĐSD đất
Điều 59 Luật đất đai 2013 quy định:
1 Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển MĐSD đất đối với tổ chức; giao đất đối với cơ
sở tôn giáo; giao đất, cho thuê đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài; cho thuê đất đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài
Trang 302 Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển MĐSD đất đối với hộ gia đình, cá nhân; giao đất đối với cộng đồng dân cư
3 Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn cho thuê đất thuộc quỹ ĐNN sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn
4 Cơ quan có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển MĐSD đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này không được ủy quyền
Điều 9 nghị định số 43/2014/NĐ-CP ban hành ngày 15/05/2014 quy định chi tiết một số điều của luật đất đai đã làm rõ trình tự, thủ thục thẩm định, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Chuyển ĐNN sang đất phi nông nghiệp;
- Chuyển đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất;
- Chuyển đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở;
- Chuyển đất xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng có mục đích kinh doanh, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải
là đất thương mại, dịch vụ sang đất thương mại, dịch vụ; chuyển đất thương mại, dịch vụ, đất xây dựng công trình sự nghiệp sang đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp
Trang 31Khi chuyển MĐSD đất theo quy định trên thì người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; chế độ sử dụng đất, quyền và nghĩa
vụ của người sử dụng đất được áp dụng theo loại đất sau khi được chuyển MĐSD
Thời hạn sử dụng đất khi chuyển MĐSD đất
Điều 127 Luật đất đai 2013 quy định:
- Thời hạn sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân khi chuyển MĐSD đất được quy định như sau:
+ Trường hợp chuyển đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng sang sử dụng vào mục đích khác thì thời hạn được xác định theo thời hạn của loại đất sau khi được chuyển MĐSD Thời hạn sử dụng đất được tính từ thời điểm có quyết định cho phép chuyển MĐSD đất;
+ Trường hợp chuyển đất trồng lúa, đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối sang trồng rừng phòng hộ, trồng rừng đặc dụng thì hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất ổn định lâu dài;
+ Trường hợp chuyển MĐSD giữa các loại đất bao gồm đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối thì hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất được tiếp tục sử dụng đất đó theo thời hạn đã được giao, cho thuê
+ Khi hết thời hạn, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất được Nhà nước xem xét gia hạn sử dụng đất nhưng không quá thời hạn quy định tại khoản 1 Điều
126 của Luật này nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng;
+ Trường hợp chuyển ĐNN sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp thì thời hạn sử dụng đất được xác định theo thời hạn của loại đất sau khi được chuyển MĐSD Thời hạn sử dụng đất được tính từ thời điểm có quyết định cho phép chuyển MĐSD đất;
+ đ) Trường hợp chuyển MĐSD từ đất phi nông nghiệp sử dụng ổn định lâu dài sang đất phi nông nghiệp sử dụng có thời hạn hoặc từ đất phi nông
Trang 32nghiệp sử dụng có thời hạn sang đất phi nông nghiệp sử dụng ổn định lâu dài thì hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất ổn định lâu dài
- Thời hạn sử dụng đất đối với tổ chức, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư không thuộc KCN, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao khi chuyển MĐSD đất được xác định theo dự án đầu tư quy định tại khoản 3 Điều 126 của Luật này
- Tổ chức kinh tế chuyển MĐSD từ đất phi nông nghiệp sử dụng ổn định lâu dài sang đất phi nông nghiệp sử dụng có thời hạn hoặc từ đất phi nông nghiệp sử dụng có thời hạn sang đất phi nông nghiệp sử dụng ổn định lâu dài thì tổ chức kinh
3 Việc đăng kí chuyển MĐSD đất được quy định như sau:
a) Văn phòng đăng kí quyền sử dụng đất có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ; trường hợp đăng kí chuyển MĐSD đất không phù hợp với quy định tại Luật đất đai
2013 thì trả lại hồ sơ và thông báo rõ lí do; nếu phù hợp với quy định tại Luật đất đai 2013 thì xác nhận vào tờ khai đăng kí và chuyển hồ sơ đến cơ quan tài nguyên
và môi trường cùng cấp để chỉnh lí Giấy chứng nhận;
Trang 33b Cơ quan Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm chỉnh lí Giấy chứng nhận
4 Thời gian thực hiện các công việc quy định tại khoản 3 Điều này không quá mười tám (18) ngày làm việc kể từ ngày Văn phòng đăng kí quyền sử dụng đất nhận đủ hồ sơ hợp lệ cho tới ngày người sử dụng đất nhận được Giấy chứng nhận
đã chỉnh lí
* Trình tự, thủ tục chuyển MĐSD đất đối với trường hợp phải xin phép
1 Người xin chuyển MĐSD đất nộp một (01) bộ hồ sơ tại Sở Tài nguyên và Môi trường nơi có đất đối với tổ chức, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài; tại phòng Tài nguyên và Môi trường nơi có đất đối với hộ gia đình, cá nhân; hồ sơ gồm có:
a) Đơn xin chuyển MĐSD đất;
b) Giấy chứng nhận hoặc một trong các loại giấy tờ Giấy chứng nhận hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Luật đất đai 2013 (nếu có)
c) Dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư đối với trường hợp người xin chuyển MĐSD đất là tổ chức, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài
2 Cơ quan tài nguyên và môi trường có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ, xác minh thực địa; xem xét tính phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết hoặc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đối với trường hợp chưa có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết; chỉ đạo Văn phòng đăng kí quyền sử dụng đất trực thuộc làm trích sao hồ sơ địa chính
3 Văn phòng đăng kí quyền sử dụng đất có trách nhiệm làm trích sao hồ sơ địa chính gửi cơ quan tài nguyên và môi trường cùng cấp và gửi số liệu địa chính cho cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính
4 Cơ quan tài nguyên và môi trường có trách nhiệm trình ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định cho chuyển MĐSD đất; chỉnh lí giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; kí lại hợp đồng thuê đất đối với trường hợp thuê đất
Trang 345 Thời gian thực hiện các công việc quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này không quá ba mươi (30) ngày làm việc (không kể thời gian người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính) kể từ ngày cơ quan tài nguyên và môi trường nhận đủ
hồ sơ hợp lệ cho tới ngày người sử dụng đất nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã chỉnh lí
Nghĩa vụ tài chính khi chuyển MĐSD đất
Là số tiền mà người sử dụng đất phải trả trong trường hợp chuyển MĐSD đất với một diện tích đất xác định
Luật đất đai 2013 quy định:
Khi chuyển MĐSD đất trong trường hợp quy định tại các điểm c, d và đ khoản 1 Điều này thì người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định sau đây:
a) Nộp tiền sử dụng đất theo loại đất sau khi được chuyển MĐSD đối với trường hợp chuyển đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất phi nông nghiệp không thu tiền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp có thu tiền sử dụng đất;
b) Nộp tiền sử dụng đất theo loại đất sau khi được chuyển MĐSD trừ đi giá trị quyền sử dụng đất của loại đất trước khi chuyển MĐSD tính theo giá đất do Nhà nước quy định tại thời điểm được phép chuyển MĐSD đất đối với trường hợp chuyển đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối sang đất phi nông nghiệp có thu tiền sử dụng đất;
c) Nộp tiền sử dụng đất theo loại đất sau khi được chuyển MĐSD trừ đi tiền
sử dụng đất theo loại đất trước khi chuyển MĐSD đối với trường hợp chuyển đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở;
d) Trả tiền thuê đất theo loại đất sau khi chuyển MĐSD đối với trường hợp người sử dụng đất lựa chọn hình thức thuê đất;
đ) Việc tính giá trị quyền sử dụng đất được áp dụng chế độ miễn, giảm tiền
sử dụng đất theo quy định của Chính phủ
Trang 35Chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai 2013 đã được chính phủ cụ thể hóa bằng nghị định số 43/2014/NĐ-CP ban hành ngày 15/05/2014 và có hiệu lực từ ngày 01/07/2014
1.3 Cơ sở thực tiễn quản lý nhà nước về chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp
1.3.1 Tình hình quản lý, sử dụng và chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp tại Việt Nam
Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.121,20 nghìn ha, trong đó ĐNN là 24.696 nghìn ha (chiếm 74,56% tổng diện tích tự nhiên) Diện tích đất bình quân trên đầu người ở Việt Nam thuộc nhóm thấp nhất thế giới Ngày nay với áp lực
về dân số và tốc độ đô thị hóa kèm theo là những quá trình xói mòn, rửa trôi bạc màu do mất rừng, mưa lớn, canh tác không hợp lý, chăn thả quá mức, quá trình chua hóa, mặn hóa, hoang mạc hóa, cát bay, đá lộ đầu, mất cân bằng dinh dưỡng… cùng với chế độ chăm bón chưa phù hợp, tỷ lệ bón phân N : P : K trên thế giới là
100 : 33 : 17, còn ở Việt Nam là 100 : 29 : 7 thiếu lân và kali nghiêm trọng dẫn đến diện tích đất đai nước ta nói chung ngày càng giảm, đặc biệt là ĐNN Tính theo bình quân đầu người thì diện tích đất tự nhiên giảm 26,7%, đất nông nghiệp giảm 21,5% Vì vậy, để đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm trong khi diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm đang là một áp lực rất lớn Do đó, việc
sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên ĐNN càng trở nên quan trọng đối với nước ta (Minh Quang, 2010)
Tình hình sử dụng đất cũng như quản lý đất đai của nước ta qua mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau thì lại có những điểm mới để phù hợp với quá trình phát triển chung Trong những năm gần đây đặc biệt là từ khi có Luật Đất đai năm 1987 thì tình hình quản lý về đất đai đã được cải thiện Đây là văn bản luật đầu tiên điều chỉnh quan hệ đất đai, bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước, giao đất ổn định lâu dài Theo tinh thần của Luật này thì: Kinh tế nông hộ đã được khôi phục và phát triển Các hộ nông dân đã được giao ruộng đất để sử dụng lâu dài, khuyến khích
Trang 36kinh tế tư nhân trong lĩnh vực khai thác sử dụng đất v.v Tuy nhiên Luật Đất đai
1987 được soạn thảo trong bối cảnh nước ta bắt đầu đổi mới, vừa tuyên bố xóa bỏ chế độ quan liêu bao cấp nên còn mang nặng tính chất của cơ chế đó khi soạn luật;
do đó đã bộc lộ một số tồn tại sau:
Việc tính thuế trong giao dịch đất đai rất khó khăn vì Nhà nước chưa thừa nhận quyền sử dụng đất có giá trị; chưa quy định rõ những cơ sở pháp lý cần thiết để điều chỉnh về quan hệ đất đai trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, trong quá trình tích tụ tập trung sản xuất trong nông nghiệp và phân công lại lao động trong nông thôn; chính sách tài chính đối với đất đai chưa
rõ nét, đặc biệt là giá đất; chưa có điều chỉnh thích đáng đối với những bất hợp lý trong những chính sách cũ vv…
Như vậy giai đoạn này, công tác quản lý đất đai đã bắt đầu đi vào nề nếp và đặc biệt chú ý tới việc xác định, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính các cấp địa phương Tuy nhiên, đất nông nghiệp đã giao cho nông dân sử dụng lâu dài nhưng công tác quản lý chưa được chặt chẽ
Sau giai đoạn đổi mới (từ năm 1986 – 1991), chúng ta vẫn còn thiếu nhiều quy định và ngay cả hệ thống pháp luật đã ban hành cũng còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được tình hình đổi mới của đất nước Vì vậy, Hiến pháp
1992 ra đời đã khắc phục được những hạn chế của Luật Đất đai 1987 và trên cơ sở của Hiến pháp 1992 thì ngày 14 tháng 7 năm 1993 Luật Đất đai năm 1993
đã được Quốc hội khóa IX thông qua
Luật Đất đai năm 1993 đã chế định cơ sở pháp lý cơ bản để quan hệ đất đai ở nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN Luật này đã đề cập đến nhiều nội dung quan trọng và hoàn thiện hơn Trong quá trình chúng ta thực hiện Luật Đất đai 1993 đã đạt được khá nhiều thành tựu đáng kể nhưng cùng với sự phát triển thì một số nội dung của Luật cần được thay đổi và bổ sung thêm để đáp ứng kịp thời nhu cầu của đất nước đặt ra Ngày 26 tháng 12 năm 2003, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Đất đai mới – Luật Đất đai 2003 Và trong số các nội dung đổi mới mà Luật đề
Trang 37cập có nội dung về chuyển mục đích sử dụng đất nói chung và chuyển MĐSD ĐNN nói riêng Như vậy, Đảng và Nhà nước đã quan tâm tới việc sử dụng đất đúng theo mục đích cũng như hạn chế việc tự ý chuyển đổi mục đích đất nông nghiệp đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Và cho đến nay chúng ta vẫn đang thực hiện theo Luật Đất đai 2003 cùng với những văn bản dưới Luật để quản
lý và bảo vệ nguồn tài nguyên đất đai một cách tốt nhất (Luật đất đai, 2003)
Luật Đất đai là công cụ pháp lý quan trọng để Nhà nước quản lý, điều tiết các mối quan hệ về đất đai Qua gần 10 năm thi hành, Luật Đất đai năm 2003 đã phát huy khá tốt vai trò ổn định các mối quan hệ về đất đai Tuy nhiên, nó cũng đã bộc lộ những hạn chế nhất định, dẫn đến việc thực thi pháp luật về đất đai còn nhiều bất cập, ảnh hưởng không tốt đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Do vậy, cần thiết phải ban hành Luật Đất đai mới thay thế Luật Đất đai năm 2003 Ngày 29/11/2013, Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai năm 2013, Luật này sẽ có hiệu lực kể từ 01/7/2014 So với Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013 có
14 chương với 212 điều, tăng 7 chương và 66 điều, đã khắc phục, giải quyết được những tồn tại, hạn chế phát sinh trong quá trình thi hành Luật đất đai năm 2003 Đây là đạo luật quan trọng, có tác động sâu rộng đến chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, thu hút được sự quan tâm rộng rãi của nhân dân
Luật Đất đai năm 2013 vừa tiếp tục kế thừa, luật hóa những quy định còn phù hợp đã và đang đi vào cuộc sống của Luật Đất đai năm 2003, nhưng đồng thời đã sửa đổi, bổ sung một số quy định định mới nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập của Luật Đất đai năm 2003 Luật Đất đai năm 2013 được Quốc hội thông qua là sự kiện quan trọng đánh dấu những đổi mới về chính sách đất đai, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, thể hiện được ý chí, nguyện vọng của đại đa số nhân dân Để các quy định đổi mới của Luật sớm đi vào cuộc sống, các bộ, ngành và địa phương vẫn đang khẩn trương phối hợp triển khai xây dựng các văn bản hướng dẫn và tổ chức thực hiện, nhằm nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về đất đai
Trang 38Quá trình chuyển mục đích sử dụng đất luôn diễn ra ở mọi thời điểm Trước kia khi chưa có Luật Đất đai quy định về trình tự, thủ tục chuyển mục đích thì quá trình chuyển mục đích vẫn luôn diễn ra Sau khi chúng ta xây dựng luật để quản lý cũng như bảo vệ quỹ đất nói chung và quỹ đất nông nghiệp nói riêng thì vấn đề chuyển MĐSD đất vẫn chưa được quan tâm Cho đến lần sửa đổi thứ 2 (năm 2001) của Luật Đất đai 1993 thì vấn đề chuyển mục đích sử dụng đất mới được đưa ra và chính thức được bổ sung vào các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai của Luật Đất đai 2003 Hiện nay cùng với quá trình ĐTH mạnh mẽ đã kéo theo việc chuyển MĐSD các loại đất cũng như chuyển MĐSD ĐNN ngày càng tăng Việc mở rộng không gian đô thị đang có nguy cơ làm giảm diện tích đất nông nghiệp Theo Hội nông dân Việt Nam, trong quá trình xây dựng, các khu công nghiệp, khu đô thị, cơ sở hạ tầng, mỗi năm Việt Nam
có gần 200 nghìn ha ĐNN bị chuyển đổi MĐSD đất, tương ứng mỗi hộ có khoảng 1,5 lao động mất việc làm
Tốc độ ĐTH quá nhanh cùng với sự gia tăng dân số đã làm ảnh hưởng tới nhiều vấn đề như: vấn đề đói nghèo, thất nghiệp, ô nhiễm môi trường vv… Đứng trước vấn đề đó ngày 23 tháng 01 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “ Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị đến năm 2020” trong quyết định số 10/1998/QĐ-TTG, trong đó xác định phương hướng xây dựng và phát triển đô thị trên địa bàn cả nước và các vùng đặc trưng
Ở Việt Nam hiện nay cũng đã có những công trình nghiên cứu, hội thảo về quá trình chuyển MĐSD ĐNN, các yếu tố ảnh hưởng cũng như các đề tài liên quan tới vấn đề này Từ đó cung cấp những cơ sở khoa học cho các cơ quan liên quan đến việc quy hoạch, định hướng cuộc sống và sử dụng quỹ ĐNN sao cho hợp lý và hiệu quả nhất
Ngày 6 tháng 9, tại TP HCM đã diễn ra hội thảo “Công tác quy hoạch sử dụng ĐNN và chính sách pháp luật về sử dụng đất trong tình hình hiện nay” Hội thảo
do Văn phòng Quốc hội phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức nhằm đóng góp những ý kiến giúp Chính phủ xây dựng dự án Luật Đất đai sửa đổi
Trang 39cho phù hợp, góp phần đảm bảo hài hòa lợi ích phát triển kinh tế đất nước, đồng thời đảm bảo ổn định xã hội và an ninh lương thực quốc gia
Bên cạnh đó, trong quá trình đổi mới, đẩy mạnh CNH-HĐH cũng nảy sinh nhiều vấn đề bất cập như thu hồi đất nông nghiệp, giá cả đền bù, tạo công ăn việc làm cho nông dân bị thu hồi đất, tái định cư Kết quả giám sát của Quốc hội cho thấy hơn 80% đơn khiếu nại tố cáo liên quan về đất đai cần tiếp tục xem xét giải quyết Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường trong 7 năm qua (2001-2007) đã có trên 500.000 ha diện tích ĐNN đã thu hồi chuyển sang đất phi nông nghiệp, chiếm 5% đất nông nghiệp đang sử dụng; đặc biệt, ĐNN
bị thu hồi chuyển sang mục đích ĐTH và CNH năm sau luôn tăng hơn năm trước Chỉ tính trong năm 2007, diện tích đất trồng lúa của cả nước đã giảm 125.000 ha Riêng tỉnh Đồng Tháp, công tác quy hoạch sử dụng đất từng lúc, từng nơi chưa theo kịp yêu cầu phát triển; tình hình quy hoạch treo còn khá phổ biến, có những dự án kéo dài 5-7 năm không thực hiện dẫn đến đời sống của người dân trong nhiều khu quy hoạch chưa được đảm bảo
Ông Trần Văn Kiệt - Đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Long cho rằng, một số nơi không cần đất nông nghiệp hoặc sản xuất không hiệu quả cần được chuyển mục đích thì không được quy hoạch Nơi đất sản xuất nông nghiệp tốt thì lại quy hoạch chuyển mục đích, không phải để phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, cũng không phải mở rộng đô thị mà quy hoạch để làm sân golf dẫn đến hàng vạn nông dân mất đất sản xuất, đời sống khó khăn phải đi tha phương cầu thực, thậm chí đây là một trong những nguyên làm cho tình hình mất an ninh trật tự,
tệ nạn xã hội tăng lên (Nghị định số 197/2004/NĐ-CP)
Cục Trồng trọt (Bộ NN PTNT) báo động về việc ĐNN đang từng ngày bị chuyển đổi MĐSD một cách thiếu quy hoạch và tùy tiện nên ngày càng bị thu hẹp một cách báo động Tổng diện tích đất lúa toàn quốc hiện nay là trên 4,1 hécta Song từ năm 2000 - 2005, diện tích đất lúa đã giảm nghiêm trọng với hơn 302.000ha Gần 9 năm qua, đất lúa đã bị giảm trên 59.000ha Riêng tại ĐBSCL, tính toán sơ bộ cho thấy từ năm 2000 - 2007, đất lúa đã bị giảm
Trang 40205.000ha (chiếm 57% đất lúa bị suy giảm toàn quốc) Tại phía Bắc, Hải Dương là tỉnh có tỉ lệ đất lúa giảm lớn nhất, bình quân 1.569ha/năm, Hưng Yên 939ha/năm, Hà Nội (cũ) là 653ha/năm
Theo tính toán, năm 2020 dân số cả nước sẽ xấp xỉ 100 triệu người, năm 2030
sẽ có khoảng 110 triệu người Tổng nhu cầu lúa cho năm 2015 là 32,1 triệu tấn, năm 2020 là 35,2 triệu tấn và năm 2030 là 37,3 triệu tấn Tuy nhiên, tình trạng ồ
ạt chuyển đổi đất nông nghiệp đã khiến sản lượng lúa suy giảm khá lớn qua mỗi năm, trung bình giảm từ 400.000 - 500.000 tấn/năm Cục Trồng trọt báo động, với tốc độ đô thị hóa chóng mặt như hiện nay thì sẽ không còn lúa gạo để xuất khẩu vào năm 2020 Một số liệu đáng chú ý khác cho thấy, tại cả hai miền Nam và Bắc, số lượng các khu công nghiệp lấy từ quỹ đất nông nghiệp đang bị bỏ hoang không ít và hiện chỉ lấp đầy khoảng 50%-70% số lượng doanh nghiệp hoạt động (Nghị định số 197/2004/NĐ-CP)
1.3.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp tại một số địa phương
1.3.2.1 Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng
Đà Nẵng là thành phố trực thuộc Trung ương được thành lập ngày 6-11-1996 Thành phố Đà Nẵng có 6 quận nội thành, 1 huyện ngoại thành và 1 huyện đảo Hoàng
Sa với tổng diện tích 1.255,53 km2, dân số 904.919 người (số liệu ước tính năm 2011) Tuy nhiên, Đà Nẵng được coi là thành phố năng động trong phát triển kinh tế
xã hội, trong đó có chuyển đổi MĐSD đất, nhất là ĐNN đô thị để có tốc độ CNH, HĐH nông thôn lớn Vì vậy, nghiên cứu kinh nghiệm của Đà Nẵng có thể rút ra được những điều bổ ích về chuyển đổi MĐSD ĐNN, nhất là xử lý các mối quan hệ lợi ích trong quá trình chuyển đổi cho các địa phương khác, trong đó có Thanh Hóa
Đà Nẵng đã triển khai quy hoạch đi trước một bước, cơ sở hạ tầng được đầu tư đồng bộ nên đã được các nhà đầu tư xem Đà Nẵng là điểm đến hấp dẫn… Trên thực
tế, Thành phố có rất nhiều dự án đã, đang triển khai và đưa vào sử dụng… nên đô thị Thành phố ngày càng khang trang, hiện đại như ngày hôm nay