TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về phát triển du lịch, kinh tế du lịch và quản lý Nhà nước trong lĩnh vực du lịch Một số công trình tiêu biểu trong lĩnh vực này đã đóng góp quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển bền vững ngành du lịch.
Giáo trình “Kinh tế du lịch” do Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa biên soạn cung cấp cái nhìn sâu sắc về nguồn nhân lực du lịch, bao gồm vai trò và đặc trưng của các nhóm lao động trong quản lý Nhà nước, chức năng sự nghiệp và kinh doanh du lịch Tài liệu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của quản lý nhà nước trong phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch, góp phần thực hiện chính sách phát triển con người, tạo việc làm và đảm bảo an ninh xã hội Bên cạnh đó, giáo trình trình bày rõ ràng các vấn đề liên quan đến tổ chức quản lý du lịch Việt Nam, bao gồm lịch sử phát triển, quản lý nhà nước về du lịch và công tác quy hoạch, nhấn mạnh tầm quan trọng của quy hoạch và những hậu quả của việc phát triển du lịch thiếu kế hoạch.
Giáo trình “Quy hoạch du lịch” của tác giả Bùi Thị Hải Yến, xuất bản năm 2009 bởi Nxb Giáo dục, cung cấp những kiến thức cơ bản về quy hoạch du lịch, bao gồm lịch sử phát triển, khái niệm và nguyên tắc quy hoạch Cuốn sách cũng phân tích tiềm năng và điều kiện cần thiết cho quy hoạch du lịch, cùng với thực trạng kinh doanh du lịch hiện nay Ngoài ra, tác giả đề cập đến cơ sở khoa học trong việc xây dựng bản đồ quy hoạch, dự báo nhu cầu phát triển và định hướng chiến lược cho ngành du lịch Cuối cùng, giáo trình hướng dẫn tổ chức thực hiện và đánh giá tác động từ các dự án quy hoạch du lịch.
Bài viết đề cập đến kế hoạch phát triển du lịch liên quan đến tài nguyên và môi trường, rút ra kinh nghiệm từ các quốc gia trên thế giới về quy hoạch ở vùng biển, vùng núi và nông thôn Tác giả khuyến nghị quy hoạch du lịch ở nông thôn và ven đô tại Việt Nam cần gắn liền với việc bảo vệ và tôn tạo tài nguyên môi trường, đảm bảo phát triển bền vững Để khai thác hiệu quả các lợi thế về vị trí và tiềm năng, cần có kế hoạch và cơ chế quản lý phù hợp, nhằm thúc đẩy phát triển du lịch góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội, trong khi vẫn bảo tồn giá trị tự nhiên, văn hóa và xã hội.
Luận văn Thạc sĩ kinh tế của Nguyễn Thanh Vĩnh (2007) tại Trường Đại học Kinh tế Thành Phố Hồ Chí Minh tập trung phân tích khái niệm du lịch và vai trò của nó trong nền kinh tế quốc dân, đồng thời đánh giá thực trạng phát triển du lịch Lâm Đồng Tác giả chỉ ra những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động kinh doanh du lịch tại Việt Nam, nêu rõ thành tựu và hạn chế của du lịch Lâm Đồng trong thời gian qua Để phát triển du lịch Lâm Đồng trong giai đoạn tới, tác giả đề xuất các giải pháp như bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, xúc tiến quảng bá du lịch, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, và hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về du lịch từ tỉnh đến huyện.
Luận án Tiến Sĩ của Trần Sơn Hải (2010) tại Học viện Hành chính nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực ngành Du lịch khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Tác giả đã phân tích các vấn đề cơ bản liên quan đến nguồn nhân lực du lịch, phát triển nguồn nhân lực và quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này Bên cạnh đó, luận án cũng trình bày kinh nghiệm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực từ các quốc gia như Thái Lan, Nhật Bản và Cộng Hòa Liên bang Đức, đồng thời rút ra bài học áp dụng cho Việt Nam Từ đó, tác giả xây dựng khung lý thuyết về hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, tạo nền tảng khoa học cho các phân tích tiếp theo về thực trạng phát triển nguồn nhân lực du lịch.
Bài viết này đề cập đến 7 nguồn nhân lực trong ngành du lịch tại các tỉnh khu vực Duyên Hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Đồng thời, bài cũng đề xuất 3 nhóm giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực cho ngành du lịch ở các khu vực này.
Luận án Tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Duy Mậu (2011) tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh nghiên cứu về phát triển du lịch Tây Nguyên đến năm 2020 trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Tác giả đã phân tích thực trạng thị trường du lịch Tây Nguyên, chỉ ra những thành tựu và các vấn đề cần khắc phục để mở rộng thị trường Để phát triển bền vững, luận án đề xuất các phương hướng trọng tâm như xây dựng chiến lược thị trường, bảo vệ tài nguyên và môi trường, xúc tiến quảng bá du lịch, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và phát triển liên kết giữa các doanh nghiệp du lịch trong khu vực.
Luận án Tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Tấn Vinh (2008) tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, với tiêu đề “Hoàn thiện QLNN về du lịch trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng”, đã hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về du lịch và thị trường du lịch Nghiên cứu cũng phân tích kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch ở một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, từ đó rút ra bài học cho tỉnh Lâm Đồng Luận án đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Lâm Đồng giai đoạn 2001-2007 và đưa ra dự báo phát triển cùng phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch trong tương lai.
Các nghiên cứu về du lịch chủ yếu tập trung vào phát triển ngành du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn, nhưng thường chỉ giới hạn trong từng lĩnh vực cụ thể như kinh doanh du lịch và quản lý nhà nước Hiện tại, chưa có nghiên cứu tổng thể và toàn diện về quản lý nhà nước trong du lịch tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Ví dụ, các nghiên cứu thường chỉ đề cập đến phát triển du lịch lữ hành của doanh nghiệp hoặc địa phương, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp du lịch, cải thiện chất lượng sản phẩm dịch vụ, và quản lý lao động trong lĩnh vực này.
Trong luận văn này, tác giả đã kế thừa và áp dụng các luận điểm từ những công trình nghiên cứu trước đây về quản lý và kinh doanh du lịch, từ đó đề xuất hướng nghiên cứu riêng Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về du lịch tại tỉnh Phú Thọ và các địa phương cấp tỉnh khác, nhằm phát triển ngành du lịch theo đúng hướng và đạt được các mục tiêu đề ra.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
1.2.1 Khái quát về du lịch và hoạt động du lịch
1.2.1.1 Khái niệm du lịch và hoạt động du lịch
Du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến ở cả nước phát triển và đang phát triển, bao gồm Việt Nam Tuy nhiên, nhận thức về nội dung du lịch vẫn chưa thống nhất Nhiều học giả như Guer Freuler, Azar, Kaspar, Hunziker, và Kraff đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về du lịch, phản ánh sự đa dạng trong cách hiểu và nghiên cứu về lĩnh vực này.
Theo Guer Freuler, "du lịch" trong bối cảnh hiện đại là một hiện tượng nổi bật của thời đại, phản ánh sự gia tăng nhu cầu về việc khôi phục sức khoẻ và tinh thần.
9 thay đổi của môi trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp thiên nhiên”
Kaspar nhấn mạnh rằng du lịch không chỉ đơn thuần là sự di chuyển của con người, mà còn bao gồm tất cả các yếu tố liên quan đến quá trình di chuyển đó.
Theo Hienziker và Kraff, du lịch được định nghĩa là sự tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng phát sinh từ các chuyến đi và lưu trú tạm thời của cá nhân tại những địa điểm không phải là nơi ở và nơi làm việc thường xuyên của họ Định nghĩa này sau đó đã được hiệp hội các chuyên gia khoa học về du lịch công nhận.
Vào năm 1963, Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch tại Roma đã định nghĩa du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và hoạt động kinh tế phát sinh từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hoặc tập thể bên ngoài nơi ở thường xuyên hoặc quốc gia của họ, với mục đích hòa bình.
Từ điển Bách khoa toàn thƣ Việt Nam (1966) đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt
Du lịch được định nghĩa là hình thức nghỉ dưỡng và tham quan tích cực của con người, diễn ra ngoài nơi cư trú với mục đích chính là nghỉ ngơi, giải trí và khám phá các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử cùng các công trình văn hóa nghệ thuật.
Du lịch, từ góc độ kinh tế, là một ngành kinh doanh tổng hợp mang lại hiệu quả cao, không chỉ nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, lịch sử và văn hóa dân tộc, mà còn góp phần tăng cường tình yêu đất nước Đối với người nước ngoài, du lịch thúc đẩy tình hữu nghị với dân tộc mình Hơn nữa, du lịch được coi là một hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ, mang lại lợi ích kinh tế lớn.
Việc phân định rõ hai nội dung cơ bản của khái niệm du lịch là rất quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của ngành này Nhiều người, bao gồm cả cán bộ và nhân viên trong lĩnh vực du lịch, vẫn chỉ hiểu đơn giản rằng du lịch là một hoạt động giải trí.
Ngành du lịch không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế mà còn góp phần nâng cao dân trí và phục hồi sức khỏe cộng đồng Để phát triển du lịch bền vững, cần tận dụng mọi nguồn tài nguyên và cơ hội kinh doanh Toàn xã hội cần có trách nhiệm hỗ trợ và đầu tư cho du lịch, tương tự như trong các lĩnh vực giáo dục, thể thao và văn hóa khác.
Nhƣ vậy, có khá nhiều khái niệm du lịch nhƣng tổng hợp lại ta thấy du lịch hàm chứa các yếu tố cơ bản sau:
* Du lịch là một hiện tƣợng kinh tế - xã hội
Du lịch là hoạt động di chuyển và lưu trú tạm thời ngoài nơi ở chính, nhằm đáp ứng các nhu cầu đa dạng của cá nhân hoặc nhóm người.
Du lịch bao gồm nhiều hoạt động kinh doanh phong phú, phục vụ cho các chuyến đi, lưu trú tạm thời và nhu cầu khác của cá nhân hoặc tập thể khi rời khỏi nơi cư trú thường xuyên.
Các cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của cá nhân hoặc tập thể thường hướng đến những mục đích nhất định, trong đó nổi bật là mục đích hòa bình.
Khái niệm hoạt động du lịch
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, bao gồm nhiều hoạt động đa dạng như dịch vụ phòng nghỉ, ăn uống, và mua bán đồ lưu niệm Các hoạt động du lịch này đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế Những lợi ích mà ngành du lịch mang lại là vô cùng to lớn.
Hội đồng Dân tộc (HĐDL) đóng vai trò quan trọng trong việc phục hồi và nâng cao sức khỏe cộng đồng, đồng thời giúp hạn chế các bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và cải thiện khả năng lao động của con người.
Thông qua hoạt động du lịch, người dân có cơ hội tiếp cận các giá trị văn hóa phong phú và lâu đời của các dân tộc, từ đó làm phong phú thêm nền văn hóa địa phương, đổi mới các truyền thống cổ xưa, phục hồi nghề truyền thống và bảo vệ các vùng sinh thái Điều này không chỉ giúp nâng cao dân trí mà còn khơi dậy lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết quốc tế.
KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở TỈNH NINH BÌNH VÀ BÀI HỌC CHO TỈNH PHÚ THỌ
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch ở tỉnh Ninh Bình
Ninh Bình, nằm ở cực Nam đồng bằng Bắc Bộ và cách Hà Nội 96km về phía Nam, có vị trí địa lý quan trọng, đóng vai trò là cầu nối kinh tế và văn hóa giữa lưu vực sông Hồng và sông Mã Dãy núi Tam Điệp tạo thành ranh giới tự nhiên giữa Ninh Bình và Thanh Hóa Tài nguyên du lịch của Ninh Bình rất phong phú, bao gồm hệ thống núi đá vôi, rừng, hồ, cùng với các di tích lịch sử - văn hóa nổi tiếng và văn hóa của cư dân nông nghiệp địa phương Những tài nguyên này được phân bố tập trung ở một số khu vực chính trong tỉnh.
Ninh Bình, nổi bật với 30 địa danh như Hoa Lư, Gia Viễn, Nho Quan và Kim Sơn, là điểm đến du lịch hấp dẫn với các khu du lịch nổi tiếng như Tam Cốc – Bích Động, Tràng An, rừng quốc gia Cúc Phương, khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long và suối khoáng nóng Kênh Gà – Vân Trình Ngoài ra, Ninh Bình còn có nguồn tài nguyên văn hóa phong phú với những địa danh lịch sử như cố đô Hoa Lư, nhà thờ đá Phát Diệm và chùa Bái Đính Nhằm phát huy lợi thế này, Ninh Bình đã đầu tư mạnh mẽ vào phát triển du lịch, bao gồm xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển sản phẩm du lịch và nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên ngành du lịch.
Du lịch Ninh Bình đã có sự phát triển đáng kể trong thời gian qua, phản ánh sự lớn mạnh chung của ngành du lịch cả nước.
Từ năm 2007, lượng khách du lịch đến tỉnh đã tăng trưởng mạnh mẽ, với gần một triệu lượt khách tham quan, nghỉ dưỡng Đến năm 2013, con số này đã đạt 4,5 triệu lượt khách, tăng 99% so với năm 2009, trong đó có 520 nghìn lượt khách quốc tế Doanh thu từ du lịch năm 2013 đạt 897,4 tỷ đồng, với mức tăng trưởng bình quân 37,63% so với năm trước đó.
Trong thời gian qua, cơ sở vật chất kỹ thuật tại thành phố Ninh Bình, thị xã Tam Điệp và các khu du lịch trọng điểm như Tràng An, Vân Long, Bái Đính, Hoa Lư đã được cải thiện đáng kể Số lượng khách sạn tăng gần 10% và số phòng tăng 15%, cùng với nhiều nhà hàng mới được xây dựng và mở rộng, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch tại địa phương.
Các loại hình du lịch đặc trưng của tỉnh đã thu hút đông đảo khách du lịch Công tác tuyên truyền và quảng bá du lịch, cùng với việc giới thiệu các địa danh với những nét đặc sắc mới mẻ hàng năm, đã tạo ấn tượng tốt đẹp trong lòng du khách.
Đội ngũ lao động du lịch đang được chuẩn hóa và bổ sung kịp thời, với công tác đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực được tổ chức thường xuyên Hình thức đào tạo đa dạng đã góp phần quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành du lịch địa phương.
Công tác quản lý Nhà nước về du lịch tại Ninh Bình đã có nhiều tiến bộ, với sự tham mưu của Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện hiệu quả các hoạt động liên quan đến quản lý kinh doanh du lịch.
Xây dựng và triển khai quy hoạch phát triển du lịch phù hợp với quy hoạch ngành và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đã được phê duyệt Đồng thời, thực hiện hiệu quả công tác phòng chống các tệ nạn xã hội, quản lý chuyên ngành ngày càng đi vào nề nếp, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động du lịch phát triển.
Ngành du lịch đã dần được công nhận về vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và xã hội địa phương, với sự quan tâm ngày càng tăng từ các cấp, ngành Để đạt được những thành tựu này, Ninh Bình đã tập trung thực hiện nhiều giải pháp hiệu quả trong thời gian qua.
Cần kiện toàn tổ chức ngành du lịch, sắp xếp và luân chuyển cán bộ công chức tại Sở và các doanh nghiệp theo phân cấp quản lý chuyên ngành, nhằm phát huy sức mạnh toàn ngành và thúc đẩy sự phát triển của hoạt động du lịch.
Để phát huy vai trò quản lý nhà nước về hoạt động du lịch, cần tạo điều kiện cho tất cả các thành phần kinh tế tham gia vào lĩnh vực dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh Ngành du lịch cần tăng cường phối hợp với các cấp, ngành để đạt được sự chuyển biến đồng bộ Cải cách hành chính là cần thiết để thuận lợi hóa việc đầu tư phát triển du lịch theo cơ chế một cửa Đồng thời, cần phối hợp với các ngành chức năng để tăng cường phòng chống tệ nạn xã hội, đảm bảo an ninh trật tự và an toàn cho du khách, cũng như bảo vệ môi trường du lịch Việc sắp xếp bộ máy quản lý theo hướng tinh gọn và đẩy mạnh tin học hóa sẽ giúp giải quyết kịp thời khó khăn của các doanh nghiệp du lịch, từ đó tạo sự gắn bó và hợp tác vì mục tiêu phát triển du lịch Cuối cùng, cần nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban chỉ đạo nhà nước về du lịch tỉnh.
Ba là, tổ chức lấy ý kiến đông đảo công chức trong ngành và nhân dân địa bàn để xây dựng hình ảnh, biểu tƣợng của du lịch Phú Thọ
Đầu tư xây dựng quy hoạch chi tiết tại các khu du lịch trọng điểm là cần thiết để tạo nền tảng cho việc thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế trong và ngoài nước.
Năm nay, cần tăng cường sự phối hợp liên ngành và liên vùng để thực hiện quy hoạch, quản lý ngành du lịch, xúc tiến quảng bá du lịch và bảo vệ môi trường hiệu quả hơn.
1.3.2 Bài học quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch cho tỉnh Phú Thọ
Từ kinh nghiệm QLNN đối với HĐDL ở Ninh Bình nêu trên có thể rút ra một số bài học cho tỉnh Phú Thọ nhƣ sau:
Để phát triển du lịch bền vững, cần xây dựng quy hoạch tổng thể dài hạn và hợp lý, cùng với chiến lược, kế hoạch và chính sách khai thác tiềm năng du lịch Nhiều tỉnh, thành phố, đặc biệt là Phú Thọ, đã coi du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương Những địa phương này đã thiết lập quy hoạch tổng thể và các chính sách đồng bộ, nhằm huy động nguồn lực trong và ngoài nước Đồng thời, họ cũng chú trọng đầu tư vào cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch để nâng cao chất lượng dịch vụ.