Tuy vậy, các biện pháp đó vẫn chưa thực sự hiệu quảtrong việc kiềm chế hiện tượng nhập siêu quá nóng hiện nay.Chỉ xét riêng thị trường trong nước, nhập siêu đã gây tácđộng không nhỏ đến
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Kinh tế Việt Nam trong vài năm trở lại đây đang cónhững bước chuyển biến tích cực như tốc độ tăng trưởngkinh tế bình quân luôn ở mức cao so với khu vực và thế giới,giai đoạn 1991 – 2009 là 7.56% , chỉ đứng sau Trung Quốc
và Ấn Độ; GDP bình quân đầu người tăng cao, bình quân13,6% trong cùng kỳ từ năm 1991 – 2009 và được đánh dấubởi cột mốc năm 2008 khi nền kinh tế Việt Nam chuyển từnhóm nước có thu nhập thấp sang nhóm nước có thu nhậptrung bình
Song song với những chuyển biến tích cực đó thì mộtthực trạng đáng báo động trong bối cảnh nền kinh tế ViệtNam từ những thập niên 90 tới nay là tình trạng thâm hụtcán cân thanh toán vãng lai xuất phát chủ yếu từ thâm hụtcán cân thương mại ngày càng gia tăng Nếu như xuất khẩutăng trưởng đều đặn mỗi năm (đặc biệt, xuất siêu vào năm1992) nhờ xuất những mặt hàng chủ lực như: nguyên vậtliệu thô (dầu mỏ, than đá…), nông sản (gạo, hạt điều, hạttiêu…), thủy hải sản, hàng gia công mỹ nghệ… thì khi đềcập vấn đề nhập khẩu ta sẽ thấy điều hoàn toàn trái ngược.Xét khía cạnh kim ngạch và quy mô nhập khẩu thì tốc độ
Trang 2tăng trưởng nhập khẩu bình quân giai đoạn 1991 - 2000 là17,5%, giai đoạn 2001 – 2006 là 19%, giai đoạn 2007 –
2009 là 11% Nhìn chung tăng trưởng nhập khẩu của nước
ta không ổn định qua các thời kỳ, thậm chí còn vượt xuấtkhẩu rất nhiều mặc dù đã có sự can thiệp của Chính Phủtrong việc điều tiết thị trường, gia tăng tỷ trọng các mặt hàngcông nghiệp, đề ra các chính sách kích thích tăng trưởngxuất khẩu, hạn chế nhập khẩu những mặt hàng không thiếtyếu Tuy vậy, các biện pháp đó vẫn chưa thực sự hiệu quảtrong việc kiềm chế hiện tượng nhập siêu quá nóng hiện nay.Chỉ xét riêng thị trường trong nước, nhập siêu đã gây tácđộng không nhỏ đến các doanh nghiệp trong nước khi chiếmlĩnh thị phần đầu vào và đầu ra khiến những sản phẩm màdoanh nghiệp sản xuất ra khó cạnh tranh trên thị trường dogiá bán cao, gây thiệt hại nặng; bên cạnh đó, nhập siêu còntạo ra sự phụ thuộc vào nước ngoài, làm mất cân đối cán cânthanh toán, ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái …
Trước tình hình đó, đòi hỏi chúng ta cần phải sớm tìm ranhững chính sách hợp lý hơn để kiềm chế nhập siêu, tiến tớicân bằng cán cân thanh toán và thặng dư thương mại
2. Mục đích nghiên cứu.
Trang 3Đề tài nghiên cứu này là nhằm đưa ra những đề suất tốtnhất cho Chính phủ trong việc tiếp tục ra các chính sách mớikiềm chế nhập siêu, tăng cường xuất khẩu để tiến tới cânbằng cán cân thương mại và xa hơn là thặng dư thương mại
ở các giai đoạn tiếp theo của nền kinh tế nước nhà
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Để thực hiện được mục đích đã đề ra, đề tài nghiên cứucần hoàn thành được những nhiệm vụ sau:
–Khát quát hóa cơ sở lý luận về nhập siêu
–Đưa ra thực trạng nhập siêu trong nước và những kinhnghiệm hạn chế nhập siêu của các quốc gia khác làm bàihọc kinh nghiệm cho Việt Nam
–Dự báo tình hình nhập siêu của Việt Nam trong nhữngnăm tiếp theo
–Đưa ra các giải pháp, công cụ để hạn chế nhập siêu
4. Phạm vi nghiên cứu.
Đó là lĩnh vực nhập khẩu hàng hóa (không bao gồm lĩnhvực nhập khẩu dịch vụ) Trong nhập khẩu hàng hóa, cũngchỉ đi sâu nghiên cứu, phân tích một số khía cạnh chủ yếu ởgiai đoạn 2001 – 2009, như: tốc độ tăng trưởng và qui mônhập khẩu, cơ cấu mặt hàng nhập khẩu, cơ cấu thị trườngnhập khẩu, các thành phần kinh tế tham gia vào lĩnh vực
Trang 4nhập khẩu, các điều kiện ảnh hưởng đến nhập khẩu và kinhnghiệm của các quốc gia đã kiềm chế được tình trạng nhậpsiêu Từ đó đề suất các giải pháp kiềm chế nhập siêu choChính phủ trong giai đoạn sau 2010.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu:phương pháp hệ thống hóa, thống kê, tổng hợp, so sánh dẫngiải, phân tích…
6. Kết cấu của đề tài.
Kết cấu đề tài gồm ba chương chính, bao gồm:
Chương I: Khái lược về nhập siêu, dự báo nhập siêu
của Việt Nam trong thời gian tới và kinh nghiệm của một sốnước về giải quyết vấn đề nhập siêu
Chương II: Thực trạng vấn đề nhập siêu của Việt
Nam trong thời gian qua
Chương III: Các biện pháp kiềm chế nhập siêu của
Việt Nam trong thời gian tới
Trang 5CHƯƠNG I KHÁI LƯỢC VỀ NHẬP SIÊU, THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN NHẬP SIÊU CỦA VIỆT NAM TỪ
NĂM 2001 ĐẾN NAY
I KHÁI NIỆM VỀ NHẬP SIÊU, NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NHẬP SIÊU VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NHẬP SIÊU ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ.
1 Khái niệm, đặc điểm và các quan niệm về nhập siêu.
1.1 Khái niệm nhập siêu.
Nhập siêu là khoản thiếu hụt của giá trị xuất khẩu hàng
hoá so với giá trị nhập khẩu hàng hoá của một nước trong mộtkhoảng thời gian nhất định (thường tính theo năm) Nói cáchkhác, nhập siêu là khoản thiếu hụt cán cân thanh toán thươngmại hàng hoá của một nền kinh tế trong quan hệ trao đổi hànghoá với phần còn lại của thế giới trong một khoảng thời gian xácđịnh (thường là một năm) Tỷ lệ nhập siêu là quan hệ so sánh
Trang 6giữa khoản giá trị nhập siêu với tổng giá trị xuất khẩu hàng hoácủa nước đó trong cùng thời gian, được tính bằng số phần trăm(%).
Cán cân thương mại (hay còn gọi là cán cân xuất nhập
khẩu hàng hoá) là mối tương quan giữa giá trị các khoản nhậpkhẩu hàng hoá được tính theo giá CIF, tức là giá trj cả hàng hoá(cost), chi phí bảo hiểm (insurance) và chi phí vận chuyển(freight) với giá trị các khoản xuất khẩu hàng hoá được tính theogiá FOB (free on board), tức là chỉ tính theo giá mua đượckhách hàng nước ngoài chấp nhận, không tính chi phí bảo hiểm
và vận chuyển
Nói cách khác, cán cân thương mại Việt Nam là mứcchênh lệch giữa giá trị xuất khẩu hàng hoá và giá trị nhập khẩuhàng hoá của Việt Nam với các nước trong một thời kì nhấtđịnh Trong cán cân thương mại hàng hoá, trị giá XK được tínhtheo giá FOB, trị giá NK được tính theo giá CIF Khi trị giá XKlớn hơn trị giá NK thì cán cân thương mại mang dấu dương (+)hay còn gọi là xuất siêu; khi trị giá NK lớn hơn trị giá XK thìcán cân thương mại mang dấu âm (-) hay còn gọi là nhập siêu
Cán cân thanh toán quốc tế theo định nghĩa của IMF – là
một bản thống kê cho một thời kì nhất định (thường là một năm)
Trang 7trình bày: a) các luồng trao đổi hàng hoá, dịch vụ và thu nhậpgiữa nền kinh tế trong nước và thế giới bên ngoài; b) những thayđổi về quyền sở hữu và những thay đổi khác về vàng, quyền vayvốn đặc biệt trong nền kinh tế, những khoản có và khoản nợ củanước đó với các nước khác trên thế giới; c) những khoản chuyểntiền không phải bồi hoàn và những khoản thu nhập tương đươngcần phải được cân bằng Nói cách khác, cán cân thanh toán quốc
tế là bảng thống kê tất cả những giao dịch giữa những người cưtrú cả một nước (như Việt Nam) với những người cư trú củanước khác (những người không cư trú ở Việt Nam) trong mộtthời kì nhất định, thường là một năm Trong đó, các giao dịchkinh tế được hiểu là sự trao đổi tự nguyện quyền sở hữu hànghoá, dịch vụ hoặc tài sản chính giữa những người cư trú vànhững người không cư trú (đối với các giao dịch không đòi hỏithanh toán như quà tặng và các di chuyển đơn phương khác vềtiền giữa những người cư trú và những người không cư trú cũngđược đưa vào CCTTQT) Người cư trú được hiểu là những thểnhân hoặc pháp nhân cư trú đang ở quốc gia được xét lâu hơnmột năm, không phụ thuộc vào quốc tịch của họ (các nhà ngoạigiao, các chuyên gia quân sự ở bên ngoài lãnh thổ của họ cũngnhư các tổ chức quốc tế không phải là người cư trú của nơi họlàm việc) Theo IMF, CCTTQT gồm hai tài khoản chính là cán
Trang 8cân thanh toán vãng lai (gọi tắt là tài khoản vãng lai) và cán cântài khoản vốn.
I.2 Đặc điểm của nhập siêu
- Đặc điểm về qui mô, mức độ nhập siêu
Qui mô nhập siêu của nền kinh tế được xác định bằnggiá trị đo bằng ngoại tệ chuyển đổi sau khi thực hiện phéptrừ đại số của tổng giá trị XK hàng hoá với tổng giá trị NKhàng hoá trong một giai đoạn nhất định (thường là mộtnăm) Ví dụ, đối với trường hợp Việt Nam, qui mô nhậpsiêu được tính bằng Đô la Mỹ Mức độ nhập siêu của nềnkinh tế được xác định bằng quan hệ tỷ lệ phần trăm (%)giữa giá trị nhập siêu tính bằng ngoại tệ (đôla Mỹ) với tổnggiá trị (hay kim ngạch) XK hàng hoá tính bằng ngoại tệchuyển đổi (đôla Mỹ) trong cùng một giai đoạn (thường làmột năm)
- Đặc điểm về các dạng thái của nhập siêu
Nếu theo mục đích, nhập siêu của các nền kinh tế thường ở 4dạng thái chủ yếu sau:
Nhập siêu để tăng trưởng (là dạng thái tích cực của nhập
siêu): Đây là trường hợp do đầu tư phát triển nhanh, đòi hỏi
Trang 9phải tăng nhanh nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu “đầu vào” củasản xuất nhưng năng lực sản xuất trong nước đang trong quátrình hấp thụ đầu tư chưa kịp chuyển hoá thành năng lực XKcủa nền kinh tế trong ngắn hạn, nên XK chưa tăng trưởng kịptốc độ của NK, dẫn đến nhập siêu Tuy nhiên, nếu sản xuấttrong nước hấp thụ tốt vốn đầu tư, đầu tư có chọn lợc và hiệuquả, từ đó tăng năng lực sản xuất hàng XK thì nhập siêu cao cóthể là tiền đề của tăng trưởng XK trong dài hạn, tạo hiệu ứngtích cực đối với tăng trưởng kinh tế ở giai đoạn tiếp theo.
Nhập siêu để tiêu dùng: Đây là trường hợp do sản xuất
trong nước bị trì trệ, lượng sản phẩm hàng hoá sản xuất trongnước không đủ cho tiêu dung trong nước (Tổng cung < Tổngcầu) phải tăng NK để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thị trườngtrong nước, trong khi hàng XK có sức cạnh tranh yếu, tăngtrưởng XK chậm hơn tăng trưởng NK dẫn đến nhập siêu (có xuhướng ngày càng cao) Nguyên nhân của tình trạng này có thể
do mức bảo hộ quá cao và cơ cấu bảo hộ bất hợp lý; duy trì tỷgiá và lãi suất thấp trong một thời gian dài; qui mô của khu vựckinh tế Nhà nước vượt quá khả năng chi tiêu của Nhà nước;hoặc/và chính sách tiền tệ lỏng lẻo, chính sách quản lý nhậpkhẩu không dựa trên các dự báo khoa học về cung – cầu, tạokhuynh hướng nhập khẩu hàng tiêu dùng, đầu cơ Dạng thái
Trang 10nhập siêu này có thể được gọi là tiêu cực, nó để lại hậu quả lâudài cho nền kinh tế.
Nhập siêu chu kỳ: Đây là dạng thái nhập siêu bị tác động
bởi tính chu kỳ của nền kinh tế Khi nền kinh tế ở giai đoạn suythoái, nhu cầu NK giảm mạnh trong khi đó các nước muốn xuấtkhẩu nhiều hơn và do đó có thể có xuất siêu Ngược lại, khi nềnkinh tế bước vào thời kỳ tăng trưởng thì đầu tư tăng, nhu cầunhập khẩu tăng theo nhưng năng lực xuất khẩu chưa tăng ngaytheo kịp tốc độ tăng trưởng nhập khẩu, nên thường phải nhậpsiêu
Một số công trình nghiên cứu cho thấy, trong thời kỳ pháttriển bùng nổ của nền kinh tế thường xảy ra nhập siêu Trongkhi đó, trong thời kỳ khủng hoảng lại có thể có xuất siêu, điềunày cũng phần nào giúp phục hồi trở lại cho chu kỳ kinh tế Tuynhiên, điều này chỉ có tính tương đối, bởi có những trường hợp,khi nền kinh tế ở thời kỳ suy thoái, nhưng vẫn xảy ra nhập siêutrầm trọng Nhưng nhìn chung, khi nền kinh tế tăng trưởng trởlại, đầu tư tăng nhu cầu nhập khẩu cũng tăng theo, hiện tượngnhập siêu xuất hiện là tín hiệu tích cực vì nó lại có tác dụng thúcđẩy tăng trưởng, tăng năng lực sản xuất hàng XK, khi đó nhậpsiêu cao lại là tiền đề tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn pháttriển tiếp theo của nền kinh tế
Trang 11Nhập siêu lợi thế so sánh: Đây là dạng thái nhập siêu xảy
ra trong trường hợp một nước nào đó có lợi thế so sánh pháttriển XK một số ngành sản phẩm (hàng hoá và dịch vụ) nên chỉtập trung phát triển sản xuất và xuất khẩu các ngành đó; do đóphải tăng nhập khẩu các ngành sản phẩm kém lợi thế hơn để đápứng nhu cầu trong nước nên cán cân thương mại hàng hoá bịthâm hụt, nhưng nước này lại có thể đạt thặng dư cán cân dịch
vụ để bù đắp mà vẫn đạt mục tiêu hiệu quả chung của nền kinhtế
- Đặc điểm về cơ cấu nhập siêu:
+ Cơ cấu nhóm hàng, ngành hàng, mặt hàng được phân nhóm như sau:
Từ góc độ can thiệp của Nhà nước nhằm quản lý, điềutiết hoạt động nhập khẩu, cơ cấu mặt hàng nhập khẩu gồm
3 nhóm lớn: 1) nhóm mặt hàng cần thiết nhập khẩu; 2)nhóm mặt hàng cần kiểm soát nhập khẩu; 3) nhóm mặthàng cần hạn chế nhập khẩu
Theo dây chuyền (chu trình) phát triển giữa nhậpkhẩu và xuất khẩu và cân đối nhập – xuất theo từng ngànhsản phẩm xuất khẩu chủ lực của nền kinh tế; ví dụ: ngànhhàng sản phẩm hoá dầu, ngành sản phẩm thông tin, ngành
Trang 12sản phẩm cà phê … và/hoặc theo các ngành công nghiệp
ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn được xác định tại quyếtđịnh số 55/2007/QĐ-TTG ngày 23/4/2007 của Thủ tướngChính phủ
Theo mục đích sử dụng hàng nhập khẩu, gồm: cácmặt hàng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của sản xuất (vật tư,máy móc thiết bị,…); và các mặt hàng tiêu dùng của dâncư
Theo thông kê hàng hoá nhập khẩu: theo danh mụcthống kê
Theo tính chất của sản phẩm, gồm: sản phẩm hoànchỉnh, bán thành phẩm
Theo trình độ kỹ thuật và công nghệ của sản phẩmnhư: sản phẩm có hàm lượng lao động cao, sản phẩm cóhàm lượng vốn cao, sản phẩm có hàm lượng chất xám cao
+ Cơ cấu chủ thể nhập khẩu, gồm:
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Các doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư trong nước
+ Cơ cấu thị trường nhập siêu, gồm:
Trang 13Cơ cấu nhập siêu theo khu vực thị trường nhập khẩu(châu Á – Thái Bình Dương): châu Phi, Tây Á, Nam Á,châu Âu, châu Mỹ.
Cơ cấu nhập siêu theo các thị trường nhập siêu chính làcác thị trường có qui mô nhập siêu lớn chiếm tỷ trọng lớntrong tổng giá trị nhập siêu
I.3 Một số quan niệm về nhập siêu trong lịch sử các học
thuyết kinh tế.
- Trước thế kỷ XX, các nhà kinh tế và Chính phủ cácnước chủ yếu chú trọng tới sự cân bằng các khoản nhậpkhẩu và các khoản xuất khẩu hàng hoá của một nước
- Từ nửa cuối thế kỷ XX đến nay, vấn đề xác lập cáncân thương mại, giải quyết vấn đề nhập siêu của các nướcgắn với việc xác lập CCTTQT, thực hiện các chiến lượckinh tế như chiến lược thay thế NK, chiến lược hướng về
XK, chiến lược công nghiệp hoá và hiện đại hoá, chiếnlược nâng cao chất lượng tăng trưởng và phát triển kinh tếbền vững … Mặt khác, cách tiếp cận giải quyết vấn đề cáncân thương mại, vấn đề nhập siêu của các nước thườnggắn liền với việc điều chỉnh quan hệ thương mại với cácđối tác chiến lược cạnh tranh quốc tế và chiến lược thị
Trang 14trường quốc tế, điều chỉnh quan hệ thương mại với các đốitác chiến lược, điều chỉnh cơ cấu hàng hoá xuất và nhậpkhẩu, điều chỉnh cơ cấu đầu tư, cơ cấu công nghệ, điềuchỉnh tỷ giá và lãi nhập khẩu, điều chỉnh cơ cấu đầu tư, cơcấu công nghệ, điều chỉnh tỷ giá và lãi suất … Trong thời
kỳ này, có hai trường phái kinh tế ảnh hưởng mạnh đếncác nước trong việc hình thành quan niệm về nhập siêu vàgiải quyết vấn đề nhập siêu
Trường phái kinh tế tân cổ điển cho rằng, đường lối
công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu được hầu hết cácnước đang phát triển thực hiện cho đến đầu những năm 70
đã tạo ra những bất hợp lý và ảnh hưởng xấu đến cơ cấuthương mại nói riêng, cán cân thanh toán vãng lại nóichung Họ cho rằng, có 4 nguyên nhân chính dẫn đến nhậpsiêu và thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai của các nướclà: (1) Mức bảo hộ quá cao kết hợp với cơ cấu bảo hộ bấthợp lý (chủ yếu bảo hộ hàng công nghiệp tiêu dùng) đãlàm cho giá cả trong nước cao hơn giá trên thị trường quốc
tế nên không khuyến khích các nhà sản xuất đẩy mạnh XK
mà ngược lại, các nhà sản xuất được khuyến khích việcnhập khẩu các nguyên liệu và máy móc để sản xuất cácmặt hàng công nghiệp tiêu dùng, do đó nhu cầu về chi tiêu
Trang 15ngoại tệ có thể vượt quá khả năng cung ứng (2) Việc duytrì tỷ giá và lãi suất thấp trong một thời gian dài đã khôngphản ánh đúng giá của tiền tế và tiền vốn nên một mặt làmthui chột khả năng cạnh tranh và xuất khẩu; mặt khác,khuyến khích nhập khẩu và các nhà doanh nghiệp xây nhàmáy với qui mô lớn, sử dụng nhiều vốn trái với lợi thế sosánh của các Nhà nước đang phát triển, cùng với hiệntượng sử dụng năng lực sản xuất không hết công suất cũngtrở nên phổ biến (3) Qui mô của khu vực kinh tế Nhànước nhanh chóng mở rộng vượt ngoài khả năng chi tiêucủa Nhà nước, một phần không nhỏ chi tiêu của Nhà nước
đã phải dựa vào phần vốn vay của nước ngoài với lãi suấtcao, các doanh nghiệp Nhà nước phải gánh chịu phần chủyếu nợ nước ngoài nhưng lại hoạt động kém hiệu quả làmcho khả năng trả nợ xấu thêm, gây ảnh hưởng xấu tới thâmhụt cán cân thanh toán (4) Chính sách tiền tệ lỏng lẻo trởthành nguồn gốc tạo nên nguồn vốn bù đắp bội chi ngânsách của Chính phủ đã góp phần mở rộng thêm sự thâmhụt cán cân thanh toán Do đó, để cải thiện cán cân thanhtoán vãng lai, khắc phục tình trang nhập siêu và thiết lậplại cân bằng cán cân thương mại của nền kinh tế, cần thựchiện 5 cách thức chủ yếu sau:
Trang 16 Thắt chặt cung ứng tiền tệ, giảm chi tiêu của ngânsách Nhà nước.
Phá giá đồng tiền nội để khuyến khích tận dụngnăng lực sản xuất cho nhập khẩu và thay thế nhậpkhẩu
Tự do hoá giá cả, đặc biệt là giá sản phẩm nôngnghiệp; và nâng lãi suất để khuyến khích tăng tiếtkiệm, tăng đầu tư (theo quan niệm trường pháikinh tế này thì tiết kiệm và đầu tư luôn cân bằng)
Tự do hoá thương mại, thực sự khuyến khích XK,
tư nhân hoá các doanh nghiệp nhà nước
Trường phái kinh tế cơ cấu cho rằng, hiện tượng
nhập siêu và thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai của cácnước đang phát triển là khó tránh khỏi do những nguyênnhân khách quan từ nội tại của nền kinh tế các nước này
và những yếu tố bất lợi trên thị trường quốc tế Có 4 lí dochủ yếu sau: (1) Nền kinh tế các nước đang phát triển phụthuộc nặng nề vào bên ngoài về máy móc, thiết bị, côngnghệ sản xuất và một phần quan trọng là các nguyên liệu
cơ bản (kể cả dầu mỏ), cho nên nhập khẩu ở qui mô lớnkhông chỉ là điều kiện tiên quyết để phát triển, mà còn đểduy trì sự sản xuất bình thường của các nước đang phát
Trang 17triển (2) Trong điều kiện khả năng XK còn ở mức hạn chế
do tính giới hạn của xuất khẩu nông sản và các nguyênliệu thô là những mặt hàng XK chủ yếu của nền kinh tế,
độ nhạy cảm về cung của những mặt hàng này là rất nhỏbé… thì những biện pháp nhằm tăng cường cho XK nhưphá giá đồng tiền, tăng đầu tư… sẽ không mang lại kếtquả mong muốn, hoặc cần một thời gian khá dài (3) Điềukiện thương mại quốc tế và cạnh tranh thương mại toàncầu ảnh hưởng bất lợi đối với các nước đang phát triển(cánh kéo giá cả nông sản và sản phẩm thô với hàng côngnghiệp có hàm lượng kỹ thuật cao có xu hướng xoạc rộng;giá cả xuất khẩu hàng nông sản và nguyên lieu thô giảmtương đối…) đã làm cho cầu về những mặt hàng XK củacác nước đang phát triển giảm xuống Điều đó không chỉlàm giảm giá mà còn làm giảm tương đối khối lượng sảnphẩm XK từ các nước đang phát triển Do thuế nhập khẩuchiếm một vị trí quan trọng trong tổng thu về thuế củangân sách Nhà nước các nước đang phát triển nên giảmnhập khẩu để thu hẹp thâm hụt cán cân thương mại có thể
sẽ làm giảm thu ngân sách và cũng có thể làm giảm sảnxuất trong nước, từ đó ảnh hưởng xấu đến nguồn thu ngânsách Nhà nước (4) Trong cơ cấu kinh tế của các nước
Trang 18đang phát triển, hàm lượng nhập khẩu của các mặt hàngxuất khẩu thường khá lớn Do đó, giảm nhập khẩu cũng cóthể làm giảm cả kim ngạch xuất khẩu của nước đó.
Như vậy, theo các nhà kinh tế cơ cấu thì khả năngtăng xuất khẩu ở các nước đang phát triển không thể tănglên một cách nhanh chóng, và phụ thuộc vào cả khả năngnhập khẩu Mặt khác, nếu giảm nhập khẩu để cải thiện cáncân thương mại lại làm tăng thâm hụt ngân sách và giảmkim ngạch xuất khẩu; hậu quả của nó không chỉ làm trầmtrọng thêm thâm hụt cán cân thanh toán mà còn giảm cảnhịp độ tăng trưởng kinh tế, tăng thêm thất nghiệp Do đó,phương thức cơ bản để cải thiện cán cân thanh toán, giảmnhập siêu là tăng đầu tư có hiệu quả, cơ bản cải thiện cáncân thanh toán, giảm nhập siêu là tăng đầu tư có hiệu quả,
là điều kiện cho sự phát triển lâu dài của các nước đangphát triển Đầu tư có hiệu quả để thay đổi căn bản lợi thế
so sánh là một trong những điều kiện tiên quyết để giảiquyết vấn đề nhập siêu, thâm hụt cán cân thanh toán trongdài hạn của các nước đang phát triển Hiện nay, trườngphái kinh tế cơ cáu vẫn đang có ảnh hưởng rất lớn đối vớicác tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như IMF, W.B, ADB
Trang 19nên các nhà hoạch định chính sách kinh tế của Việt Namchú trọng đến quan điểm này.
2 Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến nhập siêu và ảnh hưởng của nhập siêu đối với nền kinh tế.
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng và là nguyên nhân dẫn đến
(2) Nền kinh tế phụ thuộc nặng nề vào bên ngoài về máymóc thiết bị, công nghệ sản xuất và một phần quan trọng là cácnguyên liệu cơ bản (như dầu mở, than, hoá chất cơ bản, phânbón,…) nên phải NK ở qui mô lớn để duy trì sản xuất bìnhthường
(3) Sức cạnh tranh quốc tế của sản phẩm hàng hoá sản xuấttrong nước còn yếu nên không cạnh tranh được với hàng nhậpkhẩu có sức cạnh tranh cao hơn trên thị trường trong nước vàhàng hoá XK cũng có sức cạnh tranh chủ yêu trên thị trường
Trang 20trong nước và hàng hoá XK cũng có sức cạnh tranh yếu trên thịtrường thế giới nên qui mô XK nhỏ, tốc độ tăng trưởng kimngạch XK chậm hơn so với tăng trưởng kim ngạch NK dẫn đếnnhập siêu.
(4) Cơ cấu sản xuất trong nước và cơ cấu hàng hoá xuấtkhẩu còn lạc hậu, giá trị gia tăng thấp nên khả năng XK còn ởmức hạn chế do tính giới hạn (cả về khối lượng và giá trị) của
XK nông sản và các nguyên liệu thô là những mặt hàng XK chủyếu của nền kinh tế, độ nhạy cảm về cung của những mặt hàngnày rất nhỏ bé, không thích ứng kịp thời với những biến đổimau lẹ của thị trường thế giới Do tính giới hạn đó của nền kinh
tế nên qui mô XK nhỏ, không có khả năng tăng trưởng nhanh,không thể cân đối được cán cân thương mại và xảy ra nhập siêu
có tính dài hạn
(5) Đầu tư là một trong những nhân tố hàng đầu ảnh hưởng
đến cán cân thương mại, ảnh hưởng đến nhập siêu Khi đầu tưphát triển sản xuất tăng cao (cả đầu tư trong nước và đầu tư củanước ngoài vào trong nước) làm tăng nhu cầu sử dụng các yếu
tố đầu vào của sản xuất nên nhập khẩu tăng nhanh trong khinăng lực XK chưa tăng kịp so với NK, dẫn đến nhập siêu
(6) Thu nhập quốc dân trong và ngoài nước: Thu nhập
quốc dân tỷ lệ thuận với thu nhập trong nước, do đó cán cân
Trang 21thương mại tỷ lệ nghịch với thu nhập trong nước Trong khi đó,thu nhập nước ngoài và cán cân thương mại tỷ lệ thuận với nhau
do thu nhập nước ngoài tăng sẽ khuyến khích XK Thu nhậptrong nước và giá hàng hoá nhập khẩu là những nhân tố quyếtđịnh đối với cầu nhập khẩu của một nền kinh tế
(7) Lạm phát: Ảnh hưởng của lạm phát đối với cân cân
thương mại thể hiện qua cơ chế giá Lạm phát tăng làm hànghoá sản xuất trong nước đắt hơn so với hàng nhập khẩu, từ đókhuyến khích nhập khẩu Lạm phát tăng cũng quan hệ đến giá
cả đầu vào của hàng hoá sản xuất tạo nguồn hàng XK, làm giáthành hàng hoá XK cao hơn trước, làm giảm lợi thế cạnh tranh
về giá Như thế, với sự ảnh hưởng của lạm phát, nhập khẩu tăng,xuất khẩu giảm sẽ khiến cho cán cân thương mại xấu đi, nhậpsiêu có thể tăng cao trong điều kiện lạm phát
(8) Cán cân ngân sách của Chính phủ: Động thái cán cân
ngân sách của Chính phủ có ảnh hưởng nhất định đến cán cânthương mại Theo quan niệm truyền thống, thâm hụt ngân sách
là một nguyên nhân chính gây nên thâm hụt cán cân thươngmại Và do đó, trong trường hợp nền kinh tế đang nhập siêu thì
sự thâm hụt ngân sách sẽ tác động đồng biến, làm cho nhập siêu
có thể trầm trọng hơn Vì thế, để giảm nhập siêu, cải thiện cáncân thương mại thì cần phải giảm thâm hụt ngân sách với việc
Trang 22tăng thuế Khi thực hiện chính sách như vậy sẽ làm giảm chitiêu từ XK ròng, từ đó giúp giảm nhập siêu, cải thiện cán cânthương mại Tuy nhiên, có quan điểm ngược lại cho rằng chỉtăng thuế sẽ không giải quyết được vấn đề nhập siêu, mà để cảithiện cán cân thương mại thì việc tăng thuế phải đi đôi với việccắt giảm chi tiêu của Chính phủ.
(9) Tiết kiệm và đầu tư: Khi bị thâm hụt cán cân thương
mại hàng hoá và dịch vụ, điều đó có nghĩa là quốc gia chi nhiềuhơn so với thu nhập của mình Ngược lại, cán cân thương mạithặng dự quốc gia chị tiêu ít hơn so với thu nhập của mình
Cán cân thương mại còn biểu thị cho tổng tiết kiệm ròngcủa quốc giá, chính là chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư củaquốc gia đó Mối quan hệ giữa cán cân thương mại, đầu tư vàtiết kiệm được biểu thị bằng biểu thức:
e – m = (S – I) + (T – G)Trong đó, S là mức tiết kiệm, I là mức đầu tư, T là thu nhập
từ thuế và G là chi tiêu của Chính phủ Cán cân thương mạithâm hụt có nghĩa là tiết kiệm quốc gia ít hơn đầu tư và ngượclại, nếu cán cân thương mại thặng dư, quốc gia tiết kiệm nhiềuhơn so với đầu tư
(10) Tiết kiệm và tiêu thụ: Sự gia tăng tiết kiệm sẽ làm giảm
bớt thâm hụt hoặc sẽ thặng dư cán cân thương mại Do đó muốn
Trang 23đạt được sự gia tăng vốn tiết kiệm chúng ta cần có những thayđổi trong hệ thống thuế và những cải cách nhằm cải thiện sựhoạt động hữu hiệu của hệ thống tài chính quốc gia Sự thâm hụtcán cân thương mại lâu dài sẽ ảnh hưởng xấu đến khả năng tiêudùng của thế hệ tương lai Mặt khác, sự gia tăng tiêu dùng củadân cư hiện tại cũng ảnh hưởng đến nhập siêu theo chiều hướngxấu.
(11) Năng suất lao động: Năng suất lao động cũng góp
phần ảnh hưởng lên cán cân thương mại vì sự gia tăng năng suấtlao động sẽ làm cho giá thành sản phẩm rẻ hơn có thể cạnh tranhtrên thị trường quốc tế, từ đó gia tăng hàng hoá XK đem lạithằng dư cho cán cân thương mại hoặc giảm bớt sự thâm hụt;trong khi năng suất lao động thấp làm giá thành sản xuất caokhó cạnh tran với hàng hoá nước ngoài, trong khi nhu cầu nhậpkhẩu gia tăng sẽ làm cán cân thương mại bị thâm hụt thêm hoặcgiảm bớt thặng du nếu có Do đó việc xây dựng cơ sở hạ tầngvất chất cũng như phát triển nguồn tài nguyên nhân lực vừa đềcập ở trên cũng là yếu tố thiết yếu có tác động tốt đến cán cânthương mại
2.1.2 Nhóm nhân tố có tính khác quan (bên ngoài) ảnh
hưởng đến nhập siêu:
Trang 24(1) Giá thế giới của hàng hoá xuất nhập khẩu
Giá cả luôn là một nhân tố quan trọng trong việc xác địnhmức cầu của thị trường đối với một loại hàng hoá
Khi giá hàng hoá sản xuất trong nước của một quốc gia thấphơn giá thế giới thì quốc giá đó có tính cạnh tranh tương đối vềgiá với các quốc gia khác, và do đó sẽ khuyến khích hoạt độngxuất khẩu Ngược lại, khi giá hàng hoá trong nước cao hơn giáthế giới thì có thể làm cho hàng hoá nước ngoài tràn vào thịtrường trong nước, dẫn đến nhập siêu
Như vậy có thể thấy, giá hàng hoá NK tăng làm xấu đi cáncân thương mại thông qua hiệu ứng giá làm tăng NK và làmgiảm tiết kiệm quốc dân
(2) Hiệp ước thương mại song phương và đa phương:
Những hiệp ước thương mại ký kết giữa hai quốc gia có ảnhhưởng trực tiếp lên cán cân thương mại; tuy nhiên vấn đề cáncân thương mại của mỗi quốc gia sẽ thặng dư hay thâm hụt hoàntoàn tuỳ thuộc vào cơ cấu kinh tế và khả năng sản xuất của quốcgia đó dựa trên nguồn tài nguyên thìên nhiên và con người cũngnhư trình độ phát triển khoa học kỹ thuật
(3) Hợp đồng thương mại quốc tế:
Trang 25Các doanh nghiệp trong nước có thể ký những hợp đồngthương mại quốc tế với các doanh nghiệp nước ngoài trong việcmua bán hàng tiêu dùng cũng như những phương tiện cần thiếttrong sản xuất kinh doanh Các hợp đồng này cũng có ảnhhưởng trực tiếp lên cán cân thương mại tuỳ vào tính chất muahoặc bán sản phẩm với đối tác nước ngoài Tuy nhiên, các hợpđồng này bị giới hạn bởi những ràng buộc của chính sáchthương mại luật lệ quốc gia.
2.1.3 Nhóm nhân tố có tính chủ quan trong quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế nhằm điều tiết cán cân thanh toán quốc tế, cán cân thương mại ảnh hưởng đến nhập siêu:
(1) Chính sách tỷ giá hối đoái:
Theo lý thuyết co giãn, phá giá tiền tệ có thể cải thiện cán cânthương mại nếu điều kiện Marshll- Lerner được thoả mãn (tổng
hệ số co dãn XK và hệ số co giãn NK với tỷ giá phải lớn hơn 1).Tuy nhiên, trong ngắn hạn có thể xảy ra hiệu ứng giá cả và hiệuứng khối lượng lên XK hàng hoá
Theo cách tiếp cận của trường phái tiền tệ, ảnh hưởng của phágiá tiền tệ đối với cán cân thương mại chỉ là tạm thời
Sự can thiệp của ngân hàng trung ương để làm giảm giá trịtiền đồng so với tiền tệ các nước khác nhằm giảm bớt áp lực cho
Trang 26những doanh nghiệp xuất khẩu cũng không làm giảm được sựthâm hụt cán cân thương mại vì nó có thể làm gia tăng giá cảsinh hoạt Ngay cả khi chính sách tiền tệ được áp dụng để ngănngừa sự tăng giá này thì ảnh hưởng của nó cũng chỉ có đượctrong ngắn hạn.
(2) Chính sách đầu tư:
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là bộ phận quantrọng của tài khoản vốn Việc gia tăng thu hút vốn đầu tư nướcngoài có tác dụng bù đắp thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai.Nếu chính sách bảo hộ thiên lệch đối với XK sẽ làm cán cânthương mại thâm hụt Lúc này khi luồng FDI vào tăng lên sẽlàm thay đổi tương quan giữa cung và cầu ngoại tệ; nếu Chínhphủ không can thiệp sẽ dẫn đến khuynh hướng đồng nội tệ tănggiá, gây hậu quả là hạn chế XK và khuyến khích NK, và việcthâm hụt cán cân thương mại là khó tránh
Chính sách đầu tư trong nước theo hướng XK hay thay thế
NK đều ảnh hưởng đến cán cân thương mại Thêm vào đó hiệuquả sử dụng vốn đầu tư và cơ cấu vốn đầu tư cũng ảnh hưởngđáng kể đến cán cân thương mại Chẳng hạn, việc xem nhẹ đầu
tư vào ngành công nghiệp phụ trợ làm tăng NK, nguyên nhiên,phụ liệu đã làm giảm khả năng cạnh tranh hàng XK, hạn chế thu
Trang 27hút vốn đầu tư nước ngoài Hiệu quả kinh tế thấp của các dự ánđầu tư sẽ làm suy yếu khả năng cạnh tranh XK và thay thế NK
do có mức chi phí cao hơn mức quốc tế Điều này gây cản trởcho việc cải thiện cán cân thương mại và trong trường hợp cụthể có thể những dự án đầu tư không hiệu quả sẽ trở thành gánhnặng cho nền kinh tế, đặc biệt là trong dài hạn
(3) Chính sách thương mại:
Chính sách thương mại thường ít ảnh hưởng lên sự thâm hụtcán cân thương mại vì nó không tác dụng trực tiếp đến nguồntiết kiệm và đầu tư trong nước Tuy vậy, cho dù rào cản thươngmại được áp dụng một cách triệt để giới hạn mọi hàng hoá NK
để không còn sự thâm hụt cán cân thương mại, nhưng sự ngừnggiảm NK hay xuất khẩu sẽ làm tê liệt mọi hoạt động kinh tế vàgây nên sự sụp đổ hoàn toàn hệ thống kinh tế của một quốc gia.Điều tiết cán cân thương mại có liên quan chặt chẽ tới khuyếnkhích xuất khẩu và quản lý NK Trong điều kiện thâm hụt cáncân thương mại, chính sách của các nước thường là khuyếnkhích xuất khẩu và hạn chế NK Tuy nhiên, thực tế cho thấy,hạn chế NK không phải là giải pháp hiệu quả điều chỉnh cán cânthương mại Nhập khẩu cạnh tranh là biện pháp hiệu quả nhất đểđiều tiết cán cân thương mại trong dài hạn
Trang 28Về cơ bản, chính sách thương mại của các nước được chialàm hai loại chính: chính sách bảo hoọ thương mại và chínhsách tự do thương mại Chính sách bảo hộ thương mại là chínhsách bảo hộ sản xuất trong nước khỏi sự cạnh tranh của hànghoá nước ngoài bằng cách đánh thuế hàng nhập khẩu hoặc hạnchế số lượng hàng hoá và dịch vụ được phép NK Mục đích củathuế nhập khẩu và hạn ngạch nhập khẩu là chuyển dịch chi tiêutrong nước từ hàng nhập khẩu vào.
Nhập siêu cao thường dẫn tới thâm hụt cán cân vãng lai, đedoạ tới cán cân tổng thể hoặc tăng gánh nặng nợ nước ngoài, dễbùng phát khủng hoảng cán cân vãng lai Khi nhập siêu của mộtnước trở nên trầm trọng, Chính phủ nước đó sẽ rơi vào mộtthách thức khi phải tăng lượng dự trữ ngoại tệ hay tín dụng đểgiải quyết vấn đề cân bằng cán cân thanh toán, đồng thời vẫnphải thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm khôi phục lòngtin của nhà đầu tư Việc thắt chặt tiền tệ để hạn chế nhập siêu làbiện pháp đúng đắn mà nhiều các quốc gia lựa chọn Tuy nhiên,
nó lại có thể tạo ra áp lực với các ngành ngân hàng và doanhnghiệp vay vốn trong cuộc cạnh tranh lãi suất căng thẳng Vềlâu dài, một số nước thường kiềm chế nhập siêu bằng đẩy mạnhxuất khẩu và thực hiện chiến lược công nghiệp hoá mở rộng sảnxuất thay thế hàng nhập khẩu, đồng thời, cân bằng cán cân thanh
Trang 29toán qua việc huy động các nguồn tiết kiệm dài hạn, phát triểnmạnh thị trường chứng khoán và trái phiếu.
Tuy nhiên, việc cán cân thương mại bị thâm hụt có thực sự làmột điều xấu hay không liên quan tới chu kỳ kinh tế của nềnkinh tế Trong thời kỳ khủng hoảng, các nước muốn XK nhiềuhơn, tạo thêm nhiều việc làm và tăng thêm nhu cầu Trong thời
kỳ tăng trưởng, các nước muốn nhập khẩu nhiều hơn, tạo nên sựcạnh tranh về giá cả, từ đó kiềm chế lạm phát và vẫn có thểcung cấp hàng hoá vượt trên cả khả năng của nền kinh tế màkhông cần phải tăng giá nhiều Như vậy, trong suốt thời kỳkhủng hoảng, nhập siêu không phải là điều tốt, nhưng lại có tácdụng tích cực trong thời kỳ tăng trưởng
Đối với một số nước cụ thể, đặc biệt là các quốc gia pháttriển, nhập siêu tăng cao và theo đó là thâm hụt cán cân vãng laitrong ngắn hạn là điều không đáng lo ngại Kinh nghiệm cácnước cho thấy, nếu đầu tư trong nước hấp thụ vốn đầu tư tốt,đầu tư một cách chọn lọc và có hiệu quả, từ đó tăng năng lựcsản xuất hàng xuất khẩu thì nhập siêu tăng cao có thể là tiền đềcủa tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tiếp theo Nhìn từ góc độnày, nhập siêu là một dấu hiệu tích cực của nền kinh tế
Trang 30II Dự báo nhập siêu của Việt Nam trong thời gian tới và kinh nghiệm của 1 số nước về giải quyết vấn đề nhập siêu.
1 Dự báo nhập của Việt Nam với một số đối tác thương mại song phương
1.1 Việt Nam – Trung Quốc:
Xét theo cơ cấu nhập khẩu hiện tại, ba nhóm mặt hàng màViệt Nam đang nhập khẩu nhiều nhất từ Trung Quốc là máymóc thiết bị, sắt thép; vải sợi và nguyên phụ liệu dệt may da.Trong tương lai nhu cầu trong nước đối với ba nhóm mặt hàngnày vẫn sẽ tiếp tục tăng lên trong khi sản xuất trong nước chưathể đáp ứng được toàn bộ nhu cầu Do đó, nhập khẩu từ nhữngnhóm mặt hàng này từ Trung Quốc sẽ còn tiếp tục tăng
Việc các dự án lớn trong lĩnh vực lọc hoá dầu, sản xuất hoáchất, chất dẻo nguyên liệu và sắt thép đang được triển khai thựchiện cho thấy có khả năng trong tương lại tốc độ tăng nhập khẩunhững mặt hàng này từ Trung Quốc sẽ chậm lại, thậm chí đốivới một số mặt hàng có thể sẽ giảm bớt do sản xuất trong nướcđáp ứng được một phần nhu cầu trong nước
Động lực chính tăng xuất khẩu đối với thị trường TrungQuốc trong tương lai nhiều khả năng sẽ là nhóm hàng sản phẩmđiện tử và linh kiện khi các nhà máy sản xuất linh kiện điện tửcủa các tập đoàn đa quốc gia đầu tư tại Việt Nam đi vào hoạt
Trang 31động Các mặt hàng nông sản cũng sẽ tiếp tục đóng góp mộtphần cho tăng trưởng xuất khẩu sang Trung Quốc, mặc dù tăngtrưởng xuất khẩu của những mặt hàng này có khả năng sẽ khôngthể tạo được sự đột phá trong xuất khẩu của ta sang TrungQuốc.
1.2 Việt Nam – Hàn Quốc:
Tính đến hết năm 2010, Hàn Quốc có tổng số 2.605 dự áncòn hiệu lực, với tổng vốn đầu tư đăng ký 23 tỷ USD, đứng đầu
cả về số dự án và vốn đăng ký trong tổng số 88 các quốc gia vàvùng lãnh thổ có đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Các
dự án đầu tư của Hàn Quốc tiếp tục được triển khai, nhập khẩumáy móc thiết bị và nguyên vật liệu phục vụ từ Hàn Quốc chocác dự án đàu tư này có khả năng sẽ còn tiếp tục tăng lên ViệtNam cũng sẽ tiếp tục thực hiện lộ trình giảm thuế nhập khẩutheo cam kết của mình trong Hiệp định thương mại tự doASEAN - Hàn Quốc (AKFFTA) Do tác động của lộ trình giảmthuế, hàng hoá nhập khẩu từ Hàn Quốc sẽ cạnh tranh hơn so vớihàng nhập khẩu từ các nước khác Vì thế, nhu cầu nhập khẩunhiều mặt hàng trong diện giảm thuế từ Hàn Quốc có thể sẽ tănglên Trong khi đó, nhập khẩu xăng dầu từ Hàn Quốc có khảnăng sẽ giảm bớt khi các dự án lọc hoá dầu của Việt Nam tại
Trang 32Nhơn Hội, Phú Yên, Nghi Sơn lần lượt đi vào hoạt động, đápứng một phần nhu cầu xăng dầu trong nước.
Do làm tốt công tác kiểm dịch, xuất khẩu thuỷ sản sangHàn Quốc sẽ vẫn tiếp tục có tốc độ tăng trưởng tốt, thuỷ sản vẫntiếp tục là một mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sangHàn Quốc Tuy nhiên, do giới hạn về sản lượng khai thác, xuấtkhẩu thuỷ sản sang Hàn Quốc khó có khả năng tăng trưởng độtbiến
Nếu làm tốt công tác kiểm dịch giống như hàng thuỷ sản,xuất khẩu các mặt hàng nông sản của Việt Nam sang Hàn Quốc
sẽ có tốc độ tăng trưởng cao trong ngắn hạn Tuy nhiên, do giớihạn về diện tích canh tác và năng suất cùng với việc Hàn Quốcchắc chắn sẽ duy trì nhiều biện pháp bảo hộ để bảo vệ ngườinông dân trong nước, trong dài hạn xuất khẩu nông sản khó cóthể trở thành một mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ta sang thịtrường này
Do chi phí nhân công tăng cao, Hàn Quốc đang có xuhướng đầu tư chuyển dịch ngành công nghiệp dệt may ra nướcngoài, chỉ giữ lại trong nước sản xuất các sản phẩm dệt may caocấp Vì thế, trong tương lai xuất khẩu hàng dệt may sang HànQuốc có khả năng sẽ tăng nhanh do thị trường Hàn Quốc có vẫn
có nhu cầu đối với các sản phẩm dệt may có chất lượng trung
Trang 33bình, giá cả vừa phải Nhiều nhà máy dệt Hàn Quốc đã chuyểnsang Trung Quốc, Việt Nam và một số nước Châu Á khác sảnxuất xuất khẩu sang nước thứ ba hoặc xuất trở lại Hàn Quốc.Tiềm năng xuất khẩu sang Hàn Quốc của nhiều mặt hàng thuộcnhóm hàng công nghiệp chế tạo như dây điện, dây cáp điện, sảnphẩm nhựa, sản phẩm điện tử và linh kiện còn lớn Mức độ tăngkim ngạch xuất khẩu của những mặt hàng trong nhóm này sẽphụ thuộc nhiều vào đầu tư của các công ty nước ngoài, đặc biệt
là của các công ty Hàn Quốc, trong các lĩnh vực này tại ViệtNam
1.3 Việt Nam – Đài Loan:
Việt Nam đang nhập khẩu một khối lượng lớn xăng dầu từĐài Loan Nhập khẩu xăng dầu đến cuối năm 2010 đạt 109,5triệu USD, chiếm 1,6% trong tổng kim ngạch nhập khẩu củaViệt Nam từ Đài Loan Do đó, khi các nhà máy lọc dầu của ViệtNam lần lượt đi vào hoạt động, nhiều khả năng nhập khẩu xăngdầu từ Đài Loan sẽ giảm, dẫn đến tốc độ tăng trưởng kim ngạchnhập khẩu của Việt Nam từ Đài Loan sẽ chậm lại
Mặc dù vậy, do Đài Loan vẫn là một trong những nhà đầu
tư nước ngoài lớn tại Việt Nam nên nhập khẩu các mặt hàng tưliệu sản xuất từ Đài Loan như máy móc thiết bị phụ tùng,
Trang 34nguyên phụ liệu dệt may da, chất dẻo nguyên liệu, phôi thép,sản phẩm điện tử… sẽ vẫn tiếp tục tăng.
1.4 Việt Nam – Hồng Kong:
Với vai trò là một thị trường chuyển tải, xuất khẩu sangHồng Kông trong giai đoạn tới sẽ khó có khả năng tăng mạnh vìnhiều mặt hàng của Việt Nam đã xuất khẩu trực tiếp đi các thịtrường khác Trong khi đó, nhập khẩu sản phẩm điện tử, máymóc thiết bị phụ tùng và nguyên phụ liệu dệt may da từ HồngKông sẽ tiếp tục tăng mạnh để phục vụ nhu cầu sản xuất trongnước, đặc biệt là của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài vàdoanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu Do đó, nhập siêu từHồng Kông sẽ còn tiếp tục tăng lên Tuy nhiên, tốc độ tăng củanhập siêu có thể không cao do dần dần các ngành công nghiệpcủa Việt Nam sẽ đáp ứng được một phần cầu nguyên vật liệuphục vụ sản xuất trong nước
1.5 Việt Nam – Singapore:
Singapore đang là nguồn cung cấp xăng dầu lớn nhất củaViệt Nam với hơn một nửa lượng xăng dầu nhập khẩu của ViệtNam là từ Singapore Sauk hi các nhà máy lọc dầu của ViệtNam lần lượt đi vào hoạt động, chắc chắn kim ngạch nhập khẩu
từ Singapore sẽ giảm xuống do kim ngạch nhập khẩu xăng dầu
Trang 35giảm Tuy nhiên, do xuất khẩu dầu thô chiếm đến trên 70% tổngkim ngạch xuất khẩu sang Singapore nên xuất khẩu sangSingapore cũng sẽ giảm mạnh vì dầu thô trước đây xuất khẩunay được cung cấp cho các nhà máy lọc dầu trong nước Mặc dùvậy, do kim ngạch xuất khẩu dầu thô sang Singapore nhỏ hơnnhiều so với kim ngạch nhập khẩu xăng dầu từ Singapore nênnhiều khả năng mức độ nhập siêu vẫn sẽ được thu hẹp lại.
Do đầu tư của Singapore vào Việt Nam tương đối lớn, nhucầu nhập khẩu tư liệu sản xuất từ Singapore phục vụ cho các dự
án đầu tư này còn tiếp tục ở mức cao Mặt khác, Singapore vẫn
là một trong những cửa ngõ cung cấp các loại nguyên vật liệu
mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu Do
đó, kinh tế Việt Nam tiếp tục phát triển thì nhu cầu nhập khẩuhàng hoá từ Singapore sẽ vẫn tiếp tục tăng vững
1.6 Việt Nam – Thái Lan:
Cùng với xu hướng các tập đoàn đa quốc gia tiếp tụcchuyển dịch sản xuất, xây dựng các nhà máy tại Việt Nam, nhậpkhẩu nguyên vật liệu, linh kiện từ Thái Lan để thực hiện cáccông đoạn chế tạo, gia công, lắp ráp tiếp theo tại Việt Nam vẫn
sẽ có xu hướng tăng lên Đây sẽ là một thách thức đối với ViệtNam Nếu ta không phát triển thành công các ngành công
Trang 36nghiệp phụ trợ thì nhập khẩu từ Thái Lan sẽ còn tiếp tục tănghơn nữa.
Việc đưa vào vận hành những nhà máy lọc dầu sẽ làmgiảm đáng kể kim ngạch nhập khẩu xăng dầu của Việt Nam từthế giới nói chung và từ Thái Lan nói riêng Mặt khác, xuấtkhẩu dầu thô của ta sang Thái Lan cũng sẽ giảm do nguồn dầuthô xuất khẩu được chuyển sang cung cấp cho các nhà máy lọcdầu trong nước
Hiện tại, nhiều dự án đầu tư lớn trong lĩnh vực sản xuấthoá chất, chất dẻo nguyên liệu, sắt thép đang được triển khaithực hiện Khi những dự án này hoàn thành và đi vào hoạt động
sẽ giải quyết được một phần nhu cầu nhập khẩu phục vụ sảnxuất trong nước Do đó, tốc độ tăng nhập khẩu những mặt hàngnày từ Thái Lan sẽ không còn cao như trong giai đoạn vừa qua
1.7 Việt Nam – Indonesia:
Trong số hai mặt hàng xuất khẩu lớn nhất từ Indonesia làgạo và dầu thô, xuất khẩu gạo có khả năng duy trì về khối lượng
và tăng về giá trị do giai đoạn tới sản lượng lương thực củaIndonesia vẫn chưa thể đáp ứng đủ nhu cầu của người dân, đồngthời tình trạng thiếu lương thực trên thế giới sẽ giữ giá gạo ởmức cao Xuất khẩu dầu thô có khả năng giảm vì dầu thô xuất
Trang 37khẩu được chuyển sang cung cấp cho các nhà máy lọc dầu trongnước.
Cơ cấu hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Indonesia tronggiai đoạn trước mắt có thể sẽ không thay đổi nhiều Một số mặthàng có kim ngạch nhập khẩu lớn từ Indonesi sẽ là sản phẩmđiện tử và linh kiện, linh kiện ôtô, máy móc thiết bị phụ tùng,sắt thép, chất dẻo nguyên liệu, cao su định chuẩn kỹ thuật và hạtđiều nguyên liệu Là một nước xuất khẩu dầu mỏ lớn, lại có vịtrí địa lý gần với Việt Nam, có thể trong tương lai xa Việt Nam
sẽ nhập khẩu dầu mỏ từ Indonesia
1.8 Việt Nam – Ấn Độ:
Dự đoán kim ngạch xuất khẩu Việt Nam - Ấn Độ chủ yếu
là các mặt hàng hạt tiêu, quế, sắt thép, sản phẩm điện tử và linhkiện, hàng thủ công mỹ nghệ, giày dép … Kim ngạch XK hànghóa của Việt Nam sang Ấn Độ có thể đạt khoảng 0,9 - 1,0 tỷUSD vào năm 2015
Trong giai đoạn 2011-2-15, mức tăng nhập khẩu từ Ấn Độ
dự kiến sẽ đạt nhịp độ bình quân trên 20%/năm do sản xuấttrong nước đạt những tiến bộ nhất định nhờ vào hàng loạt cácbiện pháp cải tiến kỹ thuật, nâng câo năng suất và các dự án đầu
tư nước ngoài đi vào hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp phụ
Trang 38hàng thế mạnh của Ấn Độ mà không chỉ Việt Nam chịu nhậpsiêu mà nhiều nước trên thế giới cũng phải nhập siêu từ Ấn Độ
do Ấn Độ có lợi thế cạnh tranh đối với lĩnh vực này Dự báonhập khẩu tân dược từ Ấn Độ sẽ tiếp tục tăng với mức 10% giaiđoạn 2011-2015 Một số mặt hàng có nhiều khả năng Việt Nam
sẽ phải nhập khẩu với khối lượng lớn nhưng khá ổn định từ Ấn
Độ như: nguyên liệu dệt may và da giày; hóa chất, nguyên liệu
và các sản phẩm hóa chất, sản phẩm từ sắt thép
2 Dự báo nhập siêu của Việt Nam theo một số ngành nghề.
- Cán cân thương mại nhóm hàng nông lâm thủy sản XK và
NK nguyên liệu đầu vào
Do tính giới hạn về sản xuất nên xuất khẩu nông lâm thủysản của Việt Nam giai đoạn tới tuy vẫn tăng chậm về số tuyệtđối nhưng sẽ giảm về số tương đối Trong khi đó nhu cầu NKvật tư cơ bản cho xản suất hàng nông lâm thủy sản thời kỳ tớivẫn tăng cả số tuyệt đối và số tương đối Vì thế, tỷ lệ NK cácnguyên liệu đầu vào sẽ vẫn chiếm khoảng 32-34% kim ngạch
Trang 39- Nhóm ngành sản phẩm XK dệt may, giày da và NK nguyên phụ liệu đầu vào
Mặc dù đây là nhóm ngành hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọnglớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của VN trong giai đoạn tới(dự báo giai đoạn 2011-2015 chiếm gần 19%) nhưng khả năngsản xuất trong nước về các nguyên vật liệu đầu vào cho nhómngành hàng xuất khẩu này của Việt Nam còn hạn chế nên nhucầu nhập khẩu nguyên phụ liệu đáp ứng sản xuất hàng xuất khẩuvẫn rất cao, chiếm khoảng 63% kim ngạch XK nhóm hàng này
- Nhóm sản phẩm gỗ
Mặc dù đây là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam,nhưng do 80% gỗ nguyên liệu nước ta phải nhập khẩu và đồ gỗcao cấp nhập khẩu có xu hướng tăng trong những năm qua (dothu nhập của dân cư tăng lên) nên dự kiến trong 2 năm tới thặng
dư thương mại của mặt hàng đồ gỗ chỉ bằng khoảng 55%KNXK Để nâng cao tỷ lệ xuất khẩu nhóm sản phẩm đồ gỗ thìtrước hết phải nâng cao được tỷ trọng và chất lượng gỗ nguyênliệu trong nước, nâng cao cấp độ chế biến để tăng tỷ trọng củanhóm sản phẩm đồ gỗ cao cấp để xuất khẩu sang EU, Nhật, Bắc
Mỹ …
Trang 40- Nhóm sản phẩm điện tử, máy tính và linh kiện
Cũng sẽ tiếp tục nhập siêu trong những năm tới nhưng tỷ lệnhập siêu so với xuất khẩu sẽ có xu hướng giảm đáng kể
- Nhóm sản phẩm cơ khí
Sẽ có xu hướng nhập siêu giảm nhẹ hoặc khá ổn định đểđáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất trong nước trong khi nănglực cạnh tranh nhóm sản phẩm này của Việt Nam còn yếu, dựbáo tỷ lệ nhập siêu so với nhóm hàng này sẽ tăng
- Nhóm sản phẩm chế tác
Vừa tiếp tục có xuất siêu trong khi nhóm sản phẩmphwong tiện vận tải tuy giá trị nhập siêu vẫn cao nhưng tỷ lệnhập siêu so với xuất khẩu sẽ giảm dần
Theo các số liệu dự báo về cán cân thương mại giai đoạn2011-2015: nhóm hàng thiết bị điện và chế tác có giá trị xuấtkhẩu khả quan (cả 2 nhóm này đều xuất siêu) Đối với nhómhàng máy tính, cơ khí, phương tiện vận tải, số liệu dự báo chothấy giai đoạn 2011-2015 các mặt hàng này có giá trị xuất khẩu
và nhập khẩu đều tăng, vẫn xảy ra tình trạng nhập siêu nhưng có
tỷ lệ Nhập siêu/ Xuất khẩu giảm dần
- Dự báo cán cân thương mại ngành hàng nhựa