1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cơ sở lý luận của hoạt động xuất khẩu và tổng quan về hoạt động xuất khẩu của Việt Nam từ khi mở cửa thị trường cho đến nay pptx

25 588 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

lẫn nhau về nền kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêng biệt của cácquốc gia khác nhau trên thế giới.Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu có một vị trí và vai trò vô cùng to lớnt

Trang 1

Bài tập nhóm

Cơ sở lý luận của hoạt động xuất khẩu

và tổng quan về hoạt động xuất khẩu

của Việt Nam từ khi mở cửa

thị trường cho đến nay

Trang 2

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU VÀ TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TỪ KHI

MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG CHO ĐẾN NAY.

I.Cơ sở lý luận của hoạt động xuất khẩu:

1 Khái niệm và đặc điểm của hoạt động xuất khẩu:

a Khái niệm

Hoạt động xuất khẩu là sựtrao đổi hàng hoá, dịch vụ giữacác nước thông qua hành vimua bán.Sự trao đổi đó là mộthình thức của mối quan hệ xãhội và phản ánh sự phụ thuộc

Trang 3

lẫn nhau về nền kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêng biệt của cácquốc gia khác nhau trên thế giới.

Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu có một vị trí và vai trò vô cùng to lớntrong quá trình phát triển kinh tế của mỗi một quốc gia nói chung và công nghiệpnói riêng Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận lớn và là phươngtiện thúc đẩy phát triển nền kinh tế.Nhà nước ta luôn coi trọng và thúc đẩy cácngành kinh tế hướng theo xuất khẩu

b Đặc điểm

- Xuất khẩu hàng hoá thể hiện sự kết hợp chặt chẽ và tối ưu các khoa họcquản lý kinh tế với các nghệ thuật kinh doanh, giữa nghệ thuật kinh doanh với cácyếu tố khác của từng quốc gia như yếu tố luật pháp, kinh tế văn hoá Hơn nữa,hoạt động xuất khẩu hàng hoá nhằm khai thác lợi thế so sánh của từng nước, khaithác các nguồn lực cho phát triển, góp phần cải thiện đời sống nhân dân gia tăngtiến bộ xã hội và góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập, quốc tế hoá Lợi thế sosánh đó là các lợi thế về vị trí địa lý, về lao động, về tài nguyên và sở hữu phátminh sáng chế

- Trong điều kiện hiện nay, xuất khẩu hàng hoá ở nước ta đang là một trongnhững mục tiêu cấp bách hàng đầu được chú trọng Bởi nó đem lại lợi ích vô cùng

to lớn cho sự phát triển nước nhà, tạo cho nhiều quốc gia có cơ hội thuận lợi trongviệc đẩy mạnh sự phát triển kinh tế văn hoá xã hội

- Hoạt động xuất khẩu hàng hoá diễn ra giữa hai hay nhiều quốc gia khácnhau, ở trong các môi trường và bối cảnh khác nhau Điều này đòi hỏi chúng taphải có một trình độ hiểu biết và kinh nghiệm để giao lưu và học hỏi khi xuất khẩu

ra nước ngoài Vì vậy, chúng ta không thểlấy kinh nghiệm trao đổi hàng hoá thôngthường trong một quốc gia để áp đặt hoàntoàn cho hoạt động trao đổi hàng hoá vớinước ngoài

Trang 4

- Hoạt động xuất khẩu có thể được tiến hành bởi tư nhân hoặc nhà nước Đốivới doanh nghiệp nhà nước thì chính phủ có nhiều mục tiêu khác nhau như chínhtrị, ngoại giao, văn hoá Do đó, kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước, chínhphủ có thể hiện hoặc không hoàn toàn hướng về lợi nhuận Còn đối với doanhnghiệp tư nhân thì mục đích của họ là tối đa hoá lợi nhuận, đem lại hiệu quả kinh

tế cao cho đất nước

2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu

Xuất khẩu là hoạt động cơ bản của nền kinh tế quốc dân, là công cụ, phươngtiện thúc đẩy sự phát triển kinh tế.Do vậy, đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề

có ý nghĩa chiến lược để phát triển kinh tế và thực hiện quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước Vai trò của xuất khẩu thể hiện ở các mặt sau:

- Tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá hiện đạihoá

Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, trong mục tiêu kế hoạch 5 năm

2001-2005 có nói: “tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Chuyển dịch nhanh cơ cấukinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ”.Như vậy, đểlàm được điều đó tât yếu phải cần một lượng vốn lớn để thực hiện Cho nên vốn làmột nhân tố không thể thiếu được, là vấn đề sống còn với tiến trình công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước.Bởi vì khi có một lượng vốn lớn chúng ta có thể xâydựng cơ sở hạ tầng, nhập khẩu máy móc thiết bị, kỹ thuật công nghệ sản xuất hiệnđại phục vụ cho phát triển kinh tế

Để có được một lượngvốn cho nhập khẩu có thểđược hình thành từ nhiềunguồn như: liên doanh đầu

tư nước ngoài với nước ta;vay nợ, viện trợ, tài trợ;

Trang 5

hoạt động du lịch, dịch vụ; xuất khẩu hàng hoá,lao động Nhưng vẫn quan trọnghơn cả là xuất khẩu hàng hoá.Bởi vì các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, vay nợ,viện trợ tuy quan trọng nhưng rồi cũng phải trả bằng cách này hoặc cách khác.Ngoại tệ thu được qua các hoạt động du lịch, dịch vụ hiện nay chỉ là rất nhỏ so vớinhu cầu về vốn của tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Xuất khẩulao động không ổn định đang có xu hướng giảm dần.Do vậy, nguồn ngoại tệ quantrọng nhất chi dùng cho nhập khẩu chính là từ xuất khẩu.

- Đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển:Việc coi thị trường và đặc biệt là thị trường quốc tế là hướng quan trọng để tổchức sản xuất chính là xuất phát từ nhu cầu của thị trường thế giới để tổ chức sảnxuất.Điều này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuấtphát triển.Sự tác động đến sản xuất thể hiện ở chỗ:

+ Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển thuận lợi Chẳng hạn,khi phát triển ngành dệt xuất khẩu sẽ tạo cơ hội đầy đủ cho việc phát triển ngànhsản xuất nguyên liệu như bông hoặc thuốc nhuộm.Mặt khác sẽ kéo theo sự pháttriển của ngành công nghiệp chế tạo thiết bị phục vụ cho nó

+ Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần thúc đẩy sảnxuất phát triển và ổn định

+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất,nâng cao năng lực sản xuất trong nước

+ Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng caonăng lực sản xuất trong nước thông qua việc thu hút vốn, kỹ thuật, công nghệ từcác nước phát triển và Việt Nam nhằm hiện đại hoá nền kinh tế đất nước tạo ramột năng lực sản xuất mới

Trang 6

+ Thông qua xuất khẩu, hàng hóa của Việt Nam sẽ tham gia vào cuộc cạnhtranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng.Cuộc cạnh tranh này đòi hỏichúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi đượcvới mọi thị trường.

+ Xuất khẩu còn đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện côngviệc quản trị sản xuất và kinh doanh

- Xuất khẩu có tác động tích cực đến giải quyết công ăn việc làm và cải thiệnđời sống nhân dân:

Việc xuất khẩu sản phẩm hàng hoá qua các thị trường quốc tế phải cần mộtlượng lớn nhân công để sản xuất và hoạt động xuất khẩu thu về một lượng ngoại tệđáng kể để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng phục vụ đời sống và đáp ứng nhu cầungày càng đa dạng, phong phú của nhân dân Những mặt hàng trong nước chưasản xuất được hoặc sản xuất còn kém như: ô tô,xe máy do đòi hỏi trình độ và kỹthuật cao cho nên việc đáp ứng nhu cầu đều qua con đường nhập khẩu đến vớingười tiêu dùng

- Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế đốingoại của nước ta:

Quan hệ kinh tế đối ngoại bao các hoạt đông giao lưu giữa các nước vớinhau.Trong đó xuất khẩu là một hình thức của hoạt động kinh tế đối ngoại.Điềunày làm cho hoạt động xuất khẩu cùng với các mối quan hệ kinh tế quốc tế kháclàm cho nền kinh tế nước ta gắn chặt với nền kinh tế thế giới và tham gia vào phâncông lao động quốc tế Chính nhờ thông qua xuất khẩu và các quan hệ đối ngoạikhác nhau mà hiện nay nước ta đã thiết lập mối quan hệ thương mại với hơn 140nước trên thế giới, ký các hiệp định thương mại với hơn 70 nước là thành viên của

tổ chức kinh tế của thế giới và khu vực

Trang 7

II.Tổng quan về hoạt động xuất khẩu của Việt Nam từ khi mở cửa thị trường

cho đến nay:

Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá củanước ta đã gia tăng nhanh chóng trongnhững năm qua

Từ năm 1995, sau khi Mỹ bỏ cấm vận, giữa Việt Nam và Mỹ thiết lập quan hệ bình thường,Việt Nam gia nhập Hiệp hội Các nước Đông Nam Á, số nước và vùng lãnh thổ nhập khẩu hàng hoá từ Việt Nam đã tăng nhanh.

Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá đã tăng từ 2,4 tỷ USD trong năm 1990 lên

trên 5,4 tỷ USD năm 1995, lên gần 14,5 tỷ USD năm 2000, lên gần 32,5 tỷ USDnăm 2005, lên trên 39,8 tỷ USD trong năm 2006 và có khả năng đạt 47,5 tỷ USDtrong năm 2007

Tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu so với GDP cũng tăng nhanh từ 30,8% năm 1990lên 46,5% năm 2000, lên 61,3% năm 2005, lên 65% năm 2006 và 67% năm 2007 -thuộc loại cao so với các nước (đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN, đứng thứ 5 ởchâu á và thứ 8 trên thế giới)

Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người cũng tăng từ 36,4 USD năm 1990,lên 75 USD năm

Trang 8

Sự tăng tốc của xuất khẩu của Việt Nam do nhiều nguyên nhân, trong đó cónguyên nhân quan trọng là do mở rộng thị trường xuất khẩu.Vậy từ thị trường xuấtkhẩu của Việt Nam trong thời gian qua và hiện nay có thể rút ra một số nhận xétđáng lưu ý

Thứ nhất, số nước và vùng lãnh thổ nhập khẩu hàng hoá từ nước ta đã tăng

nhanh trong hơn mười năm qua Trước đổi mới, Việt Nam chủ yếu có quan hệbuôn bán với các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa cũ và một số nước bạn bè

có cảm tình với Việt Nam Từ sau đổi mới, đặc biệt là từ sau khi Quốc hội banhành Luật Đầu tư nước ngoài, số nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam cũngnhư nhập khẩu hàng hoá từ Việt Nam bước đầu được mở rộng Nhưng do ViệtNam còn là nền kinh tế thiếu hụt, lại vẫn còn bị bao vây cấm vận, nên số nước vàvùng lãnh thổ đầu tư này vẫn còn rất ít và quy mô xuất khẩu của Việt Nam cũngcòn rất nhỏ bé

Từ năm 1995, sau khi Mỹ bỏ cấm vận, giữa Việt Nam và Mỹ thiết lập quan

hệ bình thường, Việt Nam gia nhập Hiệp hội Các nước Đông Nam Á, số nước vàvùng lãnh thổ nhập khẩu hàng hoá từ Việt Nam đã tăng nhanh

Đặc biệt, từ sau khi Hiệp định Thương mại Việt- Mỹ được ký kết năm 2000

và khi Việt Nam trở thành thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm

2007, hầu hết các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới đã nhập khẩu hàng hoá từViệt Nam Cũng vì thế mà kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng lên nhanhchóng

Thứ hai,trong 200 nước và vùng lãnh thổ nhập khẩu hàng hoá từ Việt Nam,

số đạt trên 100 triệu USD có 28, số đạt trên 500 triệu USD có 16, số đạt trên 1 tỷUSD có 7, đứng đầu là Mỹ, tiếp đến là Nhật Bản, CHND Trung Hoa, Australia,Singapore, Đức, Malaysia, Anh

Trang 9

Như vậy, bên cạnh việc mở rộng thị trường, theo phương châm đa dạng hoá,

đa phương hoá, việc xác định các thị trường trọng điểm là hết sức cần thiết đểgiảm chi phí vận chuyển, tiếp thị quảng cáo

Tuy nhiên, việc "bỏ trứng vào một giỏ"cũng là điều nên tránh và việc mởrộng thị trường để tăng lượng tiêu thụ, phòng tránh những rủi ro khi xảy ra ở mộtthị trường nào đó (chẳng hạn như việc kiện bán phá giá)

Thứ ba, trong các thị trường trên có một số thị trường truyền thống, thịtrường tiềm năng, thị trường mới, thì kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam còn thấp,như Indonesia, Mông Cổ, các nước Trung Nam Á, (kể cả Ấn Độ), các nước xã hộichủ nghĩa cũ, các nước Mỹ La tinh, các nước châu Phi, các nước Châu Đại Dương(trừ Australia là thị trường lớn)

Thứ tư,trong hơn 200 nước và vùng lãnh thổ có quan hệ buôn bán với ViệtNam, thì: Việt Nam đã có vị thế xuất siêu đối với 159 nước và vùng lãnh thổ,trong đó xuất siêu lớn là Mỹ, Australia, Anh, Philippines, Đức, Bỉ, Việt Nam còn ở vị thế nhập siêu đối với 47 nước và vùng lãnh thổ, trong đónhiều nhất là Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Thái Lan, Hồng

Kông, Thụy Sĩ, Ấn Độ,Kuwait,

Theo đó, thì nhập siêu củaViệt Nam chủ yếu là ở các thịtrường gần, chưa phải là nơi

có công nghệ nguồn; còn xuấtsiêu của Việt Nam lại chủ yếu

là ở các thị trường xa, thịtrường có công nghệ nguồn

Trang 10

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG, CƠ HỘI, THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGÀNH XUẤT KHẨU DỆT MAY VIỆT NAM MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY

XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM.

I: Thực trạng ngành xuất khẩu dệt may Việt Nam:

Việt Nam được đánh giá là nước đứng đầu thế giới trong lĩnh vực xuất khẩudệt may Cũng như nhiều mặt hàng xuất khẩu đang biến động trên thế giới thì dệtmay Việt Nam cũng chịu nhiều tác động từ phía các bạn hàng khó tính Hãy cùngnhìn vào thực trạng dệt may Việt Nam:

Từ tháng 3 năm 2007 Việt Nam bắt đầu thực hiện các cam kết với WTO.Mộtvấn đề đặt ra là khi cắt giảm thuế nhập khẩu và bỏ hạn ngạch, dệt may Việt Namliệu có bất lợi trong cạnh tranh? Theo Nghị định thư gia nhập WTO của ViệtNam, trong toàn bộ biểu thuế gồm 10.689 dòng thuế, Việt Nam sẽ cắt giảmkhoảng 3.800 dòng, chiếm 34,5% số dòng thuế của biểu thuế Với nhóm hàng dệt -may: nhóm hàng xơ, sợi, thuế suất giảm từ 20% xuống 5%; nhóm hàng vải, thuếsuất từ 40% xuống 12%; nhóm quần áo và đồ may sẵn giảm từ 50% xuống 20%

Việc cắt giảm thuế nhập khẩu như trên cùng với “tự do hóa hạn ngạch”, đã làmcho dệt may Việt Nam gặp khó khi cạnh tranh với các sản phẩm dệt may củaTrung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Hàn Quốc tràn vào Hàng dệt may Việt Nam từđầu năm 2007 tuy có được lợi thế trên thị trường Hoa Kỳ và EU, nhưng lại bất lợitrên thị trường khu vực và ngay trên sân nhà Theo báo cáo của Hiệp hội dệt mayViệt Nam, năm 2006 kim ngạch xuất khẩu đạt 5,834 tỷ USD, trong đó vào thị

Trang 11

trường Hoa Kỳ đạt 3,044 tỷ USD (chiếm 52%), EU - 1,243 tỷ USD (chiếm 21%),Nhật Bản - 628 triệu USD (chiếm 11%), ASEAN - 107 triệu USD (chiếm 1,8%) trong khi đó tại thị trường nội địa hàng dệt may Việt Nam chỉ chiếm 7% tổng mứcbán lẻ (1,8 tỷ USD) Như vậy trên thị trường khu vực ASEAN, đặc biệt là thịtrường nội địa, hàng dệt may Việt Nam đã lâm vào tình thế “bỏ trống sân nhà”.Cũng theo Hiệp hội dệt may Việt Nam, năm 2006 xuất khẩu của dệt may đạt 5,834

tỷ USD, thì nhập khẩu vải, sợi, bông, phụ liệu đã ở mức 5 tỷ USD Chênh lệchchỉ là 0,8 tỷ USD Mức chênh lệch này chỉ là lấy công làm lãi, vì ngành dệt mayViệt Nam có tới 2 triệu lao động (chiếm 24% số lao động công nghiệp) trong 2000doanh nghiệp dệt may và chưa hạch toán chi tiết chi phí khấu hao máy, thiết bị,nhà xưởng, đất đai do đó hiệu quả của dệt may Việt Nam cần được đánh giákhách quan và chính xác

Mặc dù hiện nay Việt Nam đang được xếp hạng ở mức 16/153 nước xuất khẩudệt may của thế giới; Kim ngạch xuất khẩu được đánh giá là lớn, nhưng lợi nhuậnròng đem lại là rất thấp.Thực tế cho thấy Việt Nam chưa chú trọng đầu tư vùngnguyên liệu cho công nghiệp dệt, mặc dù Việt Nam có điều kiện để phát triểnbông xơ, dâu tằm, đay gai Mặt khác, Việt Nam cũng chưa đầu tư phát triểnngành cơ khí với mục tiêu nội địa hóa những thiết bị cho công nghiệp dệt may;màu nhuộm và hóa chất khác dệt may phải sử dụng thường xuyên với khốilượng lớn, nhưng chưa được đầu tư đúng mức để nghiên cứu sản xuất Do đónguyên liệu, phụ kiện, hóa chất và hầu hết máy thiết bị cho dệt may của ViệtNam đều gần như phải trông chờ vào nguồn nhập ngoại Một vài số liệu cụ thể chothấy: bông xơ sản xuất trong nước mới đảm bảo 5% nhu cầu, sơ sợi tổng hợp -30%; vải cho công nghiệp may phải nhập 52%, nguyên phụ liệu nhập 34% hơnthế nữa ngay cả nhiều mẫu mã thiết kế cũng phải nhập ngoại! Vì vậy mà Việt Namđang trở thành một thị trường hấp dẫn đối với các nước cung cấp nguyên liệu, thiết

bị và dịch vụ dệt may trong khu vực và thế giới Đồng thời, các doanh nghiệp dệtmay Việt Nam đang là những đơn vị gia công lớn cho các công ty nước ngoài Một thực tế hiện nay, phần lớn các

sản phẩm dệt may xuất khẩu làm theo

đơn đặt hàng, hoặc mua lại mẫu mã

thiết kế của nước ngoài, gia công cho

các đối tác Chưa chủ động trong

nghiên cứu thị trường và thiết kế các

mẫu mã thời trang theo thị hiếu của

người tiêu dùng, hàng bán nội địa phần

lớn vẫn sản xuất theo mẫu “truyền

thống” Do đó, hàng dệt may Việt Nam

không những không hướng dẫn được

tiêu dùng, mà thị phần nội địa bị co hẹp

dần bởi hàng dệt may nhập khẩu Thực

trạng này không phải hoàn toàn là lỗi

Trang 12

của ngành Mỹ thuật công nghiệp, mà chủ yếu ở định hướng chiến lược đầutư.Hiệp hội dệt may Việt Nam, đúng hơn là ngành dệt may Việt Nam và Bộ côngnghiệp đang thiếu (hay chưa coi trọng) chiến lược này.

Bên cạnh đó, các chính sách và biện pháp trợ giúp quy hoạch vùng nguyênliệu, tạo giống mới về bông, đay,gai…tạo khả năng kháng bệnh tốt, cho năng suấtcao, phù hợp với điều kiện vùng miền Việt Nam, chưa đặt ra cụ thể.Cơ sở hạ tầngcho các vùng nguyên liệu cũng trong điều kiện tương tự Việc hỗ trợ kỹ thuật vềchuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực cho dệt may, đáng lẽ phải đượcthực hiện mạnh hơn nhưng cho đến nay Bộ Khoa học và Công nghệ mới đangtriển khai xây dựng Chương trình hỗ trợ cụ thể cho từng lĩnh vực Động thái nàyảnh hưởng không nhỏ đối với ngành dệt may

Trong điều kiện cạnh tranh quyết liệt giữa các quốc gia trong WTO, ngành dệtmay Việt Nam phải chịu sức ép của những điều kiện cạnh tranh này Tuy nhiên,

do hàng dệt may của Việt Nam vào các thị trường Hoa Kỳ và EU với khối lượnglớn, nên cơ chế giám sát của họ đối với dệt may Việt Nam, sẽ chặt chẽ hơn

Để giảm thiểu sự bất lợi này, Ngành dệt may nên đề xuất những chính sách vàbiện pháp trợ giúp cho các doanh nghiệp của mình để trình Chính phủ Có như vậythì ngành dệt may Việt Nam nói chung và Tập đoàn dệt may mới có đủ nhữngđiều kiện để phát triển vững chắc Theo nhận định của nhiều chuyên gia, nếukhông có sự cải cách triệt để, Tập đoàn dệt may Việt Nam trong tương lai gần vẫnchỉ là “số cộng” của các doanh nghiệp Hiện nay, toàn ngành dệt may có khoảng2.000 doanh nghiệp, trong đó có 27 doanh nghiệp Nhà nước, 1400 công ty cổ phần

và tư nhân, khoảng 450 doanh nghiệp FDI Theo Quyết định 314/2005/QĐ-TTg,ngày 02/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án thí điểm thànhlập Tập đoàn dệt may, trên cơ sở sắp xếp tổ chức lại Tổng công ty dệt may và cácđơn vị thành viên, nhằm tạo ra một tập đoàn kinh tế mạnh Về nguyên tắc dệt mayViệt Nam đã xây dựng tập đoàn (mặc dù đang thí điểm) thì tất cả các doanhnghiệp dệt may và các tổ chức sản xuất - kinh doanh liên quan đến dệt may, nhưsản xuất nguyên liệu, chế tạo, sản xuất phụ kiện đều phụ thuộc và bị chi phối bởiTập đoàn Dệt may về sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu và cơ chế chính sáchtài chính

Tuy nhiên, kể từ khiQuyết định được ban hànhđến nay, Tập đoàn Dệt mayViệt Nam và rộng hơn làNgành dệt may Việt Namchuyển động quá chậm, độliên kết trong ngành và đặcbiệt giữa các đơn vị trongTập đoàn còn thiếu chặt chẽ.Chỉ còn 3 năm nữa (đến

Ngày đăng: 05/07/2014, 02:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w