trường hợp do đầu tư phát triển nhanh, đòi hỏi phải tăng nhanh nhập khẩu để đápứng nhu cầu “đầu vào” của sản xuất nhưng năng lực sản xuất trong nước đang trongquá trình hấp thụ đầu tư ch
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2DANH MỤC VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
Chữ viết tắt Giải nghĩa tiếng Anh Giải nghĩa tiếng Việt
ADB Asian Development Bank Ngân hàng phát triển Châu Á Thái
Bình DươngAFTA Asean Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
Hàn QuốcASEAN Association of Southeast
Asian Nations Hiệp hội các quốc gia Đông Nam ÁAPEC Asia - Pacific Economic
Cooperation
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương
FDI Foreign Direct of
Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoàiGSP Generalised System of
Preference Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cậpGDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc dân
IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ Quốc tế
ODA Official Development
USD The United Stages Dollar Đô la Mỹ
Organizatiion Tổ chức thương mại Thế giới
DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế Việt Nam trong vài năm trở lại đây đang có những bước chuyển biếntích cực như tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân luôn ở mức cao so với khu vực vàthế giới, giai đoạn 1991 - 2009 là 7.56% , chỉ đứng sau Trung Quốc và Ấn Độ; GDPbình quân đầu người tăng cao, bình quân 13,6% trong cùng kỳ từ năm 1991 - 2009
và được đánh dấu bởi cột mốc năm 2008 khi nền kinh tế Việt Nam chuyển từ nhómnước có thu nhập thấp sang nhóm nước có thu nhập trung bình
Song song với những chuyển biến tích cực đó thì một thực trạng đáng báođộng trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam từ những thập niên 90 tới nay là tìnhtrạng thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai xuất phát chủ yếu từ thâm hụt cán cânthương mại ngày càng gia tăng Nếu như xuất khẩu tăng trưởng đều đặn mỗi năm(đặc biệt, xuất siêu vào năm 1992) nhờ xuất những mặt hàng chủ lực như: nguyênvật liệu thô (dầu mỏ, than đá…), nông sản (gạo, hạt điều, hạt tiêu…), thủy hải sản,hàng gia công mỹ nghệ… thì khi đề cập vấn đề nhập khẩu ta sẽ thấy điều hoàn toàntrái ngược Xét khía cạnh kim ngạch và quy mô nhập khẩu thì tốc độ tăng trưởngnhập khẩu bình quân giai đoạn 1991 - 2000 là 17,5%, giai đoạn 2001 - 2006 là 19%,giai đoạn 2007 - 2009 là 11% Nhìn chung tăng trưởng nhập khẩu của nước takhông ổn định qua các thời kỳ, thậm chí còn vượt xuất khẩu rất nhiều mặc dù đã có
sự can thiệp của Chính Phủ trong việc điều tiết thị trường, gia tăng tỷ trọng các mặthàng công nghiệp, đề ra các chính sách kích thích tăng trưởng xuất khẩu, hạn chếnhập khẩu những mặt hàng không thiết yếu Tuy vậy, các biện pháp đó vẫn chưathực sự hiệu quả trong việc kiềm chế hiện tượng nhập siêu quá nóng hiện nay Chỉ xét riêng thị trường trong nước, nhập siêu đã gây tác động không nhỏ đếncác doanh nghiệp trong nước khi chiếm lĩnh thị phần đầu vào và đầu ra khiến nhữngsản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra khó cạnh tranh trên thị trường do giá báncao, gây thiệt hại nặng; bên cạnh đó, nhập siêu còn tạo ra sự phụ thuộc vào nướcngoài, làm mất cân đối cán cân thanh toán, ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái …
Trước tình hình đó, đòi hỏi chúng ta cần phải sớm tìm ra những chính sách hợp lýhơn để kiềm chế nhập siêu, tiến tới cân bằng cán cân thanh toán và thặng dư thương mại
Trang 53. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích đã đề ra, đề tài nghiên cứu cần hoàn thành đượcnhững nhiệm vụ sau:
– Khát quát hóa cơ sở lý luận về nhập siêu
– Đưa ra thực trạng nhập siêu trong nước và những kinh nghiệm hạn chếnhập siêu của các quốc gia khác làm bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
– Dự báo tình hình nhập siêu của Việt Nam trong những năm tiếp theo.– Đưa ra các giải pháp, công cụ để hạn chế nhập siêu
4. Phạm vi nghiên cứu
Đó là lĩnh vực nhập khẩu hàng hóa (không bao gồm lĩnh vực nhập khẩu dịchvụ) Trong nhập khẩu hàng hóa, cũng chỉ đi sâu nghiên cứu, phân tích một số khíacạnh chủ yếu ở giai đoạn 2001 - 2009, như: tốc độ tăng trưởng và qui mô nhậpkhẩu, cơ cấu mặt hàng nhập khẩu, cơ cấu thị trường nhập khẩu, các thành phần kinh
tế tham gia vào lĩnh vực nhập khẩu, các điều kiện ảnh hưởng đến nhập khẩu và kinhnghiệm của các quốc gia đã kiềm chế được tình trạng nhập siêu Từ đó đề suất cácgiải pháp kiềm chế nhập siêu cho Chính phủ trong giai đoạn sau 2010
5. Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: phương pháp hệ thốnghóa, thống kê, tổng hợp, so sánh dẫn giải, phân tích…
6. Kết cấu của đề tài
Kết cấu đề tài gồm ba chương chính, bao gồm:
Chương I: Khái lược về nhập siêu, dự báo nhập siêu của Việt Nam trong thời
gian tới và kinh nghiệm của một số nước về giải quyết vấn đềnhập siêu
Chương II: Thực trạng vấn đề nhập siêu của Việt Nam trong thời gian qua Chương III: Các biện pháp kiềm chế nhập siêu của Việt Nam trong thời gian tới.
Trang 6CHƯƠNG I KHÁI LƯỢC VỀ NHẬP SIÊU, THỰC TRẠNG
VÀ NGUYÊN NHÂN NHẬP SIÊU CỦA VIỆT NAM
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY
I KHÁI NIỆM VỀ NHẬP SIÊU, NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NHẬP SIÊU VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NHẬP SIÊU ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ
1 Khái niệm, đặc điểm và các quan niệm về nhập siêu.
1.1 Khái niệm nhập siêu.
Nhập siêu là khoản thiếu hụt của giá trị xuất khẩu hàng hoá so với giá trị nhập
khẩu hàng hoá của một nước trong một khoảng thời gian nhất định (thường tínhtheo năm) Nói cách khác, nhập siêu là khoản thiếu hụt cán cân thanh toán thươngmại hàng hoá của một nền kinh tế trong quan hệ trao đổi hàng hoá với phần còn lạicủa thế giới trong một khoảng thời gian xác định (thường là một năm) Tỷ lệ nhậpsiêu là quan hệ so sánh giữa khoản giá trị nhập siêu với tổng giá trị xuất khẩu hànghoá của nước đó trong cùng thời gian, được tính bằng số phần trăm (%)
Cán cân thương mại (hay còn gọi là cán cân xuất nhập khẩu hàng hoá) là mối
tương quan giữa giá trị các khoản nhập khẩu hàng hoá được tính theo giá CIF, tức làgiá tri cả hàng hoá (cost), chi phí bảo hiểm (insurance) và chi phí vận chuyển(freight) với giá trị các khoản xuất khẩu hàng hoá được tính theo giá FOB (free onboard), tức là chỉ tính theo giá mua được khách hàng nước ngoài chấp nhận, khôngtính chi phí bảo hiểm và vận chuyển
Nói cách khác, cán cân thương mại Việt Nam là mức chênh lệch giữa giá trịxuất khẩu hàng hoá và giá trị nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam với các nướctrong một thời kì nhất định Trong cán cân thương mại hàng hoá, trị giá XK đượctính theo giá FOB, trị giá NK được tính theo giá CIF Khi trị giá XK lớn hơn trịgiá NK thì cán cân thương mại mang dấu dương (+) hay còn gọi là xuất siêu; khitrị giá NK lớn hơn trị giá XK thì cán cân thương mại mang dấu âm (-) hay còn gọi
là nhập siêu
Cán cân thanh toán quốc tế theo định nghĩa của IMF - là một bản thống kê
cho một thời kì nhất định (thường là một năm) trình bày: a) các luồng trao đổi hàng
Trang 7hoá, dịch vụ và thu nhập giữa nền kinh tế trong nước và thế giới bên ngoài; b)những thay đổi về quyền sở hữu và những thay đổi khác về vàng, quyền vay vốnđặc biệt trong nền kinh tế, những khoản có và khoản nợ của nước đó với các nướckhác trên thế giới; c) những khoản chuyển tiền không phải bồi hoàn và nhữngkhoản thu nhập tương đương cần phải được cân bằng Nói cách khác, cán cân thanhtoán quốc tế là bảng thống kê tất cả những giao dịch giữa những người cư trú cảmột nước (như Việt Nam) với những người cư trú của nước khác (những ngườikhông cư trú ở Việt Nam) trong một thời kì nhất định, thường là một năm Trong
đó, các giao dịch kinh tế được hiểu là sự trao đổi tự nguyện quyền sở hữu hàng hoá,dịch vụ hoặc tài sản chính giữa những người cư trú và những người không cư trú(đối với các giao dịch không đòi hỏi thanh toán như quà tặng và các di chuyển đơnphương khác về tiền giữa những người cư trú và những người không cư trú cũngđược đưa vào CCTTQT) Người cư trú được hiểu là những thể nhân hoặc pháp nhân
cư trú đang ở quốc gia được xét lâu hơn một năm, không phụ thuộc vào quốc tịchcủa họ (các nhà ngoại giao, các chuyên gia quân sự ở bên ngoài lãnh thổ của họcũng như các tổ chức quốc tế không phải là người cư trú của nơi họ làm việc) TheoIMF, CCTTQT gồm hai tài khoản chính là cán cân thanh toán vãng lai (gọi tắt là tàikhoản vãng lai) và cán cân tài khoản vốn
I.2 Đặc điểm của nhập siêu
- Đặc điểm về qui mô, mức độ nhập siêu
Qui mô nhập siêu của nền kinh tế được xác định bằng giá trị đo bằng ngoại tệchuyển đổi sau khi thực hiện phép trừ đại số của tổng giá trị XK hàng hoá với tổnggiá trị NK hàng hoá trong một giai đoạn nhất định (thường là một năm) Ví dụ, đốivới trường hợp Việt Nam, qui mô nhập siêu được tính bằng Đô la Mỹ Mức độ nhậpsiêu của nền kinh tế được xác định bằng quan hệ tỷ lệ phần trăm (%) giữa giá trị nhậpsiêu tính bằng ngoại tệ (đôla Mỹ) với tổng giá trị (hay kim ngạch) XK hàng hoá tínhbằng ngoại tệ chuyển đổi (đôla Mỹ) trong cùng một giai đoạn (thường là một năm)
- Đặc điểm về các dạng thái của nhập siêu
Nếu theo mục đích, nhập siêu của các nền kinh tế thường ở 4 dạng thái chủyếu sau:
Nhập siêu để tăng trưởng (là dạng thái tích cực của nhập siêu): Đây là
Trang 8trường hợp do đầu tư phát triển nhanh, đòi hỏi phải tăng nhanh nhập khẩu để đápứng nhu cầu “đầu vào” của sản xuất nhưng năng lực sản xuất trong nước đang trongquá trình hấp thụ đầu tư chưa kịp chuyển hoá thành năng lực XK của nền kinh tếtrong ngắn hạn, nên XK chưa tăng trưởng kịp tốc độ của NK, dẫn đến nhập siêu.Tuy nhiên, nếu sản xuất trong nước hấp thụ tốt vốn đầu tư, đầu tư có chọn lợc vàhiệu quả, từ đó tăng năng lực sản xuất hàng XK thì nhập siêu cao có thể là tiền đềcủa tăng trưởng XK trong dài hạn, tạo hiệu ứng tích cực đối với tăng trưởng kinh tế
ở giai đoạn tiếp theo
Nhập siêu để tiêu dùng: Đây là trường hợp do sản xuất trong nước bị trì trệ,
lượng sản phẩm hàng hoá sản xuất trong nước không đủ cho tiêu dung trong nước(Tổng cung < Tổng cầu) phải tăng NK để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thị trườngtrong nước, trong khi hàng XK có sức cạnh tranh yếu, tăng trưởng XK chậm hơntăng trưởng NK dẫn đến nhập siêu (có xu hướng ngày càng cao) Nguyên nhân củatình trạng này có thể do mức bảo hộ quá cao và cơ cấu bảo hộ bất hợp lý; duy trì tỷgiá và lãi suất thấp trong một thời gian dài; qui mô của khu vực kinh tế Nhà nướcvượt quá khả năng chi tiêu của Nhà nước; hoặc/và chính sách tiền tệ lỏng lẻo, chínhsách quản lý nhập khẩu không dựa trên các dự báo khoa học về cung - cầu, tạokhuynh hướng nhập khẩu hàng tiêu dùng, đầu cơ Dạng thái nhập siêu này có thểđược gọi là tiêu cực, nó để lại hậu quả lâu dài cho nền kinh tế
Nhập siêu chu kỳ: Đây là dạng thái nhập siêu bị tác động bởi tính chu kỳ của
nền kinh tế Khi nền kinh tế ở giai đoạn suy thoái, nhu cầu NK giảm mạnh trong khi
đó các nước muốn xuất khẩu nhiều hơn và do đó có thể có xuất siêu Ngược lại, khinền kinh tế bước vào thời kỳ tăng trưởng thì đầu tư tăng, nhu cầu nhập khẩu tăngtheo nhưng năng lực xuất khẩu chưa tăng ngay theo kịp tốc độ tăng trưởng nhậpkhẩu, nên thường phải nhập siêu
Một số công trình nghiên cứu cho thấy, trong thời kỳ phát triển bùng nổ củanền kinh tế thường xảy ra nhập siêu Trong khi đó, trong thời kỳ khủng hoảng lại cóthể có xuất siêu, điều này cũng phần nào giúp phục hồi trở lại cho chu kỳ kinh tế.Tuy nhiên, điều này chỉ có tính tương đối, bởi có những trường hợp, khi nền kinh tế
ở thời kỳ suy thoái, nhưng vẫn xảy ra nhập siêu trầm trọng Nhưng nhìn chung, khi
Trang 9nền kinh tế tăng trưởng trở lại, đầu tư tăng nhu cầu nhập khẩu cũng tăng theo, hiệntượng nhập siêu xuất hiện là tín hiệu tích cực vì nó lại có tác dụng thúc đẩy tăngtrưởng, tăng năng lực sản xuất hàng XK, khi đó nhập siêu cao lại là tiền đề tăngtrưởng kinh tế trong giai đoạn phát triển tiếp theo của nền kinh tế.
Nhập siêu lợi thế so sánh: Đây là dạng thái nhập siêu xảy ra trong trường hợp
một nước nào đó có lợi thế so sánh phát triển XK một số ngành sản phẩm (hàng hoá
và dịch vụ) nên chỉ tập trung phát triển sản xuất và xuất khẩu các ngành đó; do đóphải tăng nhập khẩu các ngành sản phẩm kém lợi thế hơn để đáp ứng nhu cầu trongnước nên cán cân thương mại hàng hoá bị thâm hụt, nhưng nước này lại có thể đạtthặng dư cán cân dịch vụ để bù đắp mà vẫn đạt mục tiêu hiệu quả chung của nềnkinh tế
- Đặc điểm về cơ cấu nhập siêu:
+ Cơ cấu nhóm hàng, ngành hàng, mặt hàng được phân nhóm như sau:
Từ góc độ can thiệp của Nhà nước nhằm quản lý, điều tiết hoạt động nhậpkhẩu, cơ cấu mặt hàng nhập khẩu gồm 3 nhóm lớn: 1) nhóm mặt hàng cần thiếtnhập khẩu; 2) nhóm mặt hàng cần kiểm soát nhập khẩu; 3) nhóm mặt hàng cần hạnchế nhập khẩu
Theo dây chuyền (chu trình) phát triển giữa nhập khẩu và xuất khẩu và cân đốinhập - xuất theo từng ngành sản phẩm xuất khẩu chủ lực của nền kinh tế; ví dụ:ngành hàng sản phẩm hoá dầu, ngành sản phẩm thông tin, ngành sản phẩm cà phê
… và/hoặc theo các ngành công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn được xácđịnh tại quyết định số 55/2007/QĐ-TTG ngày 23/4/2007 của Thủ tướng Chính phủ.Theo mục đích sử dụng hàng nhập khẩu, gồm: các mặt hàng đáp ứng nhu cầu tiêudùng của sản xuất (vật tư, máy móc thiết bị,…); và các mặt hàng tiêu dùng của dân cư.Theo thông kê hàng hoá nhập khẩu: theo danh mục thống kê
Theo tính chất của sản phẩm, gồm: sản phẩm hoàn chỉnh, bán thành phẩm.Theo trình độ kỹ thuật và công nghệ của sản phẩm như: sản phẩm có hàmlượng lao động cao, sản phẩm có hàm lượng vốn cao, sản phẩm có hàm lượng chấtxám cao
+ Cơ cấu chủ thể nhập khẩu, gồm:
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Các doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư trong nước
+ Cơ cấu thị trường nhập siêu, gồm:
Cơ cấu nhập siêu theo khu vực thị trường nhập khẩu (châu Á - Thái Bình
Trang 10Dương): châu Phi, Tây Á, Nam Á, châu Âu, châu Mỹ.
Cơ cấu nhập siêu theo các thị trường nhập siêu chính là các thị trường có qui
mô nhập siêu lớn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị nhập siêu
I.3 Một số quan niệm về nhập siêu trong lịch sử các học thuyết kinh tế
- Trước thế kỷ XX, các nhà kinh tế và Chính phủ các nước chủ yếu chú trọng tới
sự cân bằng các khoản nhập khẩu và các khoản xuất khẩu hàng hoá của một nước
- Từ nửa cuối thế kỷ XX đến nay, vấn đề xác lập cán cân thương mại, giảiquyết vấn đề nhập siêu của các nước gắn với việc xác lập CCTTQT, thực hiện cácchiến lược kinh tế như chiến lược thay thế NK, chiến lược hướng về XK, chiến lượccông nghiệp hoá và hiện đại hoá, chiến lược nâng cao chất lượng tăng trưởng vàphát triển kinh tế bền vững … Mặt khác, cách tiếp cận giải quyết vấn đề cán cânthương mại, vấn đề nhập siêu của các nước thường gắn liền với việc điều chỉnhquan hệ thương mại với các đối tác chiến lược cạnh tranh quốc tế và chiến lược thịtrường quốc tế, điều chỉnh quan hệ thương mại với các đối tác chiến lược, điềuchỉnh cơ cấu hàng hoá xuất và nhập khẩu, điều chỉnh cơ cấu đầu tư, cơ cấu côngnghệ, điều chỉnh tỷ giá và lãi nhập khẩu, điều chỉnh cơ cấu đầu tư, cơ cấu côngnghệ, điều chỉnh tỷ giá và lãi suất … Trong thời kỳ này, có hai trường phái kinh tếảnh hưởng mạnh đến các nước trong việc hình thành quan niệm về nhập siêu và giảiquyết vấn đề nhập siêu
Trường phái kinh tế tân cổ điển cho rằng, đường lối công nghiệp hoá thay
thế nhập khẩu được hầu hết các nước đang phát triển thực hiện cho đến đầu nhữngnăm 70 đã tạo ra những bất hợp lý và ảnh hưởng xấu đến cơ cấu thương mại nóiriêng, cán cân thanh toán vãng lại nói chung Họ cho rằng, có 4 nguyên nhân chínhdẫn đến nhập siêu và thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai của các nước là: (1) Mứcbảo hộ quá cao kết hợp với cơ cấu bảo hộ bất hợp lý (chủ yếu bảo hộ hàng côngnghiệp tiêu dùng) đã làm cho giá cả trong nước cao hơn giá trên thị trường quốc tếnên không khuyến khích các nhà sản xuất đẩy mạnh XK mà ngược lại, các nhà sảnxuất được khuyến khích việc nhập khẩu các nguyên liệu và máy móc để sản xuấtcác mặt hàng công nghiệp tiêu dùng, do đó nhu cầu về chi tiêu ngoại tệ có thể vượtquá khả năng cung ứng (2) Việc duy trì tỷ giá và lãi suất thấp trong một thời giandài đã không phản ánh đúng giá của tiền tế và tiền vốn nên một mặt làm thui chột
Trang 11khả năng cạnh tranh và xuất khẩu; mặt khác, khuyến khích nhập khẩu và các nhàdoanh nghiệp xây nhà máy với qui mô lớn, sử dụng nhiều vốn trái với lợi thế sosánh của các Nhà nước đang phát triển, cùng với hiện tượng sử dụng năng lực sảnxuất không hết công suất cũng trở nên phổ biến (3) Qui mô của khu vực kinh tếNhà nước nhanh chóng mở rộng vượt ngoài khả năng chi tiêu của Nhà nước, mộtphần không nhỏ chi tiêu của Nhà nước đã phải dựa vào phần vốn vay của nướcngoài với lãi suất cao, các doanh nghiệp Nhà nước phải gánh chịu phần chủ yếu nợnước ngoài nhưng lại hoạt động kém hiệu quả làm cho khả năng trả nợ xấu thêm,gây ảnh hưởng xấu tới thâm hụt cán cân thanh toán (4) Chính sách tiền tệ lỏng lẻotrở thành nguồn gốc tạo nên nguồn vốn bù đắp bội chi ngân sách của Chính phủ đãgóp phần mở rộng thêm sự thâm hụt cán cân thanh toán Do đó, để cải thiện cán cânthanh toán vãng lai, khắc phục tình trang nhập siêu và thiết lập lại cân bằng cán cânthương mại của nền kinh tế, cần thực hiện 5 cách thức chủ yếu sau:
• Thắt chặt cung ứng tiền tệ, giảm chi tiêu của ngân sách Nhà nước
• Phá giá đồng tiền nội để khuyến khích tận dụng năng lực sản xuất cho nhậpkhẩu và thay thế nhập khẩu
• Tự do hoá giá cả, đặc biệt là giá sản phẩm nông nghiệp; và nâng lãi suất đểkhuyến khích tăng tiết kiệm, tăng đầu tư (theo quan niệm trường phái kinh tế nàythì tiết kiệm và đầu tư luôn cân bằng)
• Tự do hoá thương mại, thực sự khuyến khích XK, tư nhân hoá các doanhnghiệp nhà nước
Trường phái kinh tế cơ cấu cho rằng, hiện tượng nhập siêu và thâm hụt cán
cân thanh toán vãng lai của các nước đang phát triển là khó tránh khỏi do nhữngnguyên nhân khách quan từ nội tại của nền kinh tế các nước này và những yếu tốbất lợi trên thị trường quốc tế Có 4 lí do chủ yếu sau: (1) Nền kinh tế các nướcđang phát triển phụ thuộc nặng nề vào bên ngoài về máy móc, thiết bị, công nghệsản xuất và một phần quan trọng là các nguyên liệu cơ bản (kể cả dầu mỏ), cho nênnhập khẩu ở qui mô lớn không chỉ là điều kiện tiên quyết để phát triển, mà còn đểduy trì sự sản xuất bình thường của các nước đang phát triển (2) Trong điều kiệnkhả năng XK còn ở mức hạn chế do tính giới hạn của xuất khẩu nông sản và cácnguyên liệu thô là những mặt hàng XK chủ yếu của nền kinh tế, độ nhạy cảm về
Trang 12cung của những mặt hàng này là rất nhỏ bé… thì những biện pháp nhằm tăng cườngcho XK như phá giá đồng tiền, tăng đầu tư… sẽ không mang lại kết quả mongmuốn, hoặc cần một thời gian khá dài (3) Điều kiện thương mại quốc tế và cạnhtranh thương mại toàn cầu ảnh hưởng bất lợi đối với các nước đang phát triển (cánhkéo giá cả nông sản và sản phẩm thô với hàng công nghiệp có hàm lượng kỹ thuậtcao có xu hướng xoạc rộng; giá cả xuất khẩu hàng nông sản và nguyên lieu thôgiảm tương đối…) đã làm cho cầu về những mặt hàng XK của các nước đang pháttriển giảm xuống Điều đó không chỉ làm giảm giá mà còn làm giảm tương đối khốilượng sản phẩm XK từ các nước đang phát triển Do thuế nhập khẩu chiếm một vịtrí quan trọng trong tổng thu về thuế của ngân sách Nhà nước các nước đang pháttriển nên giảm nhập khẩu để thu hẹp thâm hụt cán cân thương mại có thể sẽ làmgiảm thu ngân sách và cũng có thể làm giảm sản xuất trong nước, từ đó ảnh hưởngxấu đến nguồn thu ngân sách Nhà nước (4) Trong cơ cấu kinh tế của các nước đangphát triển, hàm lượng nhập khẩu của các mặt hàng xuất khẩu thường khá lớn Do
đó, giảm nhập khẩu cũng có thể làm giảm cả kim ngạch xuất khẩu của nước đó.Như vậy, theo các nhà kinh tế cơ cấu thì khả năng tăng xuất khẩu ở các nướcđang phát triển không thể tăng lên một cách nhanh chóng, và phụ thuộc vào cả khảnăng nhập khẩu Mặt khác, nếu giảm nhập khẩu để cải thiện cán cân thương mại lạilàm tăng thâm hụt ngân sách và giảm kim ngạch xuất khẩu; hậu quả của nó khôngchỉ làm trầm trọng thêm thâm hụt cán cân thanh toán mà còn giảm cả nhịp độ tăngtrưởng kinh tế, tăng thêm thất nghiệp Do đó, phương thức cơ bản để cải thiện cáncân thanh toán, giảm nhập siêu là tăng đầu tư có hiệu quả, cơ bản cải thiện cán cânthanh toán, giảm nhập siêu là tăng đầu tư có hiệu quả, là điều kiện cho sự phát triểnlâu dài của các nước đang phát triển Đầu tư có hiệu quả để thay đổi căn bản lợi thế
so sánh là một trong những điều kiện tiên quyết để giải quyết vấn đề nhập siêu,thâm hụt cán cân thanh toán trong dài hạn của các nước đang phát triển Hiện nay,trường phái kinh tế cơ cáu vẫn đang có ảnh hưởng rất lớn đối với các tổ chức tàichính tiền tệ quốc tế như IMF, W.B, ADB nên các nhà hoạch định chính sách kinh
tế của Việt Nam chú trọng đến quan điểm này
2 Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến nhập siêu và ảnh hưởng của nhập
Trang 13siêu đối với nền kinh tế
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng và là nguyên nhân dẫn đến nhập siêu
2.1.1.Nhóm nhân tố nội tại về qui mô và trình độ phát triển của nền kinh tế ảnh hưởng đến nhập siêu
(1) Qui mô sản xuất trong nước còn nhỏ, phân tán; trình độ phát triển sản xuấtcòn thấp, công nghệ lạc hậu, năng suất thấp, sản phẩm hàng hoá sản xuất trong nướckhông đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường nội địa (Tổng cung nhỏ hơn Tổng cầu).(2) Nền kinh tế phụ thuộc nặng nề vào bên ngoài về máy móc thiết bị, công nghệsản xuất và một phần quan trọng là các nguyên liệu cơ bản (như dầu mở, than, hoá chất
cơ bản, phân bón…) nên phải NK ở qui mô lớn để duy trì sản xuất bình thường
(3) Sức cạnh tranh quốc tế của sản phẩm hàng hoá sản xuất trong nước cònyếu nên không cạnh tranh được với hàng nhập khẩu có sức cạnh tranh cao hơn trênthị trường trong nước và hàng hoá XK cũng có sức cạnh tranh chủ yêu trên thịtrường trong nước và hàng hoá XK cũng có sức cạnh tranh yếu trên thị trường thếgiới nên qui mô XK nhỏ, tốc độ tăng trưởng kim ngạch XK chậm hơn so với tăngtrưởng kim ngạch NK dẫn đến nhập siêu
(4) Cơ cấu sản xuất trong nước và cơ cấu hàng hoá xuất khẩu còn lạc hậu, giá trịgia tăng thấp nên khả năng XK còn ở mức hạn chế do tính giới hạn (cả về khối lượng
và giá trị) của XK nông sản và các nguyên liệu thô là những mặt hàng XK chủ yếucủa nền kinh tế, độ nhạy cảm về cung của những mặt hàng này rất nhỏ bé, khôngthích ứng kịp thời với những biến đổi mau lẹ của thị trường thế giới Do tính giới hạn
đó của nền kinh tế nên qui mô XK nhỏ, không có khả năng tăng trưởng nhanh, khôngthể cân đối được cán cân thương mại và xảy ra nhập siêu có tính dài hạn
(5) Đầu tư là một trong những nhân tố hàng đầu ảnh hưởng đến cán cân
thương mại, ảnh hưởng đến nhập siêu Khi đầu tư phát triển sản xuất tăng cao (cảđầu tư trong nước và đầu tư của nước ngoài vào trong nước) làm tăng nhu cầu sửdụng các yếu tố đầu vào của sản xuất nên nhập khẩu tăng nhanh trong khi năng lực
XK chưa tăng kịp so với NK, dẫn đến nhập siêu
(6) Thu nhập quốc dân trong và ngoài nước: Thu nhập quốc dân tỷ lệ thuận
với thu nhập trong nước, do đó cán cân thương mại tỷ lệ nghịch với thu nhập trongnước Trong khi đó, thu nhập nước ngoài và cán cân thương mại tỷ lệ thuận vớinhau do thu nhập nước ngoài tăng sẽ khuyến khích XK Thu nhập trong nước và giá
Trang 14hàng hoá nhập khẩu là những nhân tố quyết định đối với cầu nhập khẩu của một nềnkinh tế.
(7) Lạm phát: Ảnh hưởng của lạm phát đối với cân cân thương mại thể hiện
qua cơ chế giá Lạm phát tăng làm hàng hoá sản xuất trong nước đắt hơn so vớihàng nhập khẩu, từ đó khuyến khích nhập khẩu Lạm phát tăng cũng quan hệ đếngiá cả đầu vào của hàng hoá sản xuất tạo nguồn hàng XK, làm giá thành hàng hoá
XK cao hơn trước, làm giảm lợi thế cạnh tranh về giá Như thế, với sự ảnh hưởngcủa lạm phát, nhập khẩu tăng, xuất khẩu giảm sẽ khiến cho cán cân thương mại xấu
đi, nhập siêu có thể tăng cao trong điều kiện lạm phát
(8) Cán cân ngân sách của Chính phủ: Động thái cán cân ngân sách của
Chính phủ có ảnh hưởng nhất định đến cán cân thương mại Theo quan niệm truyềnthống, thâm hụt ngân sách là một nguyên nhân chính gây nên thâm hụt cán cânthương mại Và do đó, trong trường hợp nền kinh tế đang nhập siêu thì sự thâm hụtngân sách sẽ tác động đồng biến, làm cho nhập siêu có thể trầm trọng hơn Vì thế,
để giảm nhập siêu, cải thiện cán cân thương mại thì cần phải giảm thâm hụt ngânsách với việc tăng thuế Khi thực hiện chính sách như vậy sẽ làm giảm chi tiêu từ
XK ròng, từ đó giúp giảm nhập siêu, cải thiện cán cân thương mại Tuy nhiên, cóquan điểm ngược lại cho rằng chỉ tăng thuế sẽ không giải quyết được vấn đề nhậpsiêu, mà để cải thiện cán cân thương mại thì việc tăng thuế phải đi đôi với việc cắtgiảm chi tiêu của Chính phủ
(9) Tiết kiệm và đầu tư: Khi bị thâm hụt cán cân thương mại hàng hoá và dịch
vụ, điều đó có nghĩa là quốc gia chi nhiều hơn so với thu nhập của mình Ngược lại,cán cân thương mại thặng dự quốc gia chị tiêu ít hơn so với thu nhập của mình.Cán cân thương mại còn biểu thị cho tổng tiết kiệm ròng của quốc giá, chính làchênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư của quốc gia đó Mối quan hệ giữa cán cânthương mại, đầu tư và tiết kiệm được biểu thị bằng biểu thức:
e - m = (S - I) + (T - G)Trong đó, S là mức tiết kiệm, I là mức đầu tư, T là thu nhập từ thuế và G là chitiêu của Chính phủ Cán cân thương mại thâm hụt có nghĩa là tiết kiệm quốc gia íthơn đầu tư và ngược lại, nếu cán cân thương mại thặng dư, quốc gia tiết kiệm nhiềuhơn so với đầu tư
(10) Tiết kiệm và tiêu thụ: Sự gia tăng tiết kiệm sẽ làm giảm bớt thâm hụt hoặc
Trang 15sẽ thặng dư cán cân thương mại Do đó muốn đạt được sự gia tăng vốn tiết kiệmchúng ta cần có những thay đổi trong hệ thống thuế và những cải cách nhằm cảithiện sự hoạt động hữu hiệu của hệ thống tài chính quốc gia Sự thâm hụt cán cânthương mại lâu dài sẽ ảnh hưởng xấu đến khả năng tiêu dùng của thế hệ tương lai.Mặt khác, sự gia tăng tiêu dùng của dân cư hiện tại cũng ảnh hưởng đến nhập siêutheo chiều hướng xấu.
(11) Năng suất lao động: Năng suất lao động cũng góp phần ảnh hưởng lên
cán cân thương mại vì sự gia tăng năng suất lao động sẽ làm cho giá thành sảnphẩm rẻ hơn có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế, từ đó gia tăng hàng hoá XKđem lại thằng dư cho cán cân thương mại hoặc giảm bớt sự thâm hụt; trong khinăng suất lao động thấp làm giá thành sản xuất cao khó cạnh tran với hàng hoánước ngoài, trong khi nhu cầu nhập khẩu gia tăng sẽ làm cán cân thương mại bịthâm hụt thêm hoặc giảm bớt thặng du nếu có Do đó việc xây dựng cơ sở hạ tầngvất chất cũng như phát triển nguồn tài nguyên nhân lực vừa đề cập ở trên cũng làyếu tố thiết yếu có tác động tốt đến cán cân thương mại
2.1.2 Nhóm nhân tố có tính khác quan (bên ngoài) ảnh hưởng đến nhập siêu:
(1) Giá thế giới của hàng hoá xuất nhập khẩu
Giá cả luôn là một nhân tố quan trọng trong việc xác định mức cầu của thịtrường đối với một loại hàng hoá
Khi giá hàng hoá sản xuất trong nước của một quốc gia thấp hơn giá thế giớithì quốc giá đó có tính cạnh tranh tương đối về giá với các quốc gia khác, và do đó
sẽ khuyến khích hoạt động xuất khẩu Ngược lại, khi giá hàng hoá trong nước caohơn giá thế giới thì có thể làm cho hàng hoá nước ngoài tràn vào thị trường trongnước, dẫn đến nhập siêu
Như vậy có thể thấy, giá hàng hoá NK tăng làm xấu đi cán cân thương mạithông qua hiệu ứng giá làm tăng NK và làm giảm tiết kiệm quốc dân
(2) Hiệp ước thương mại song phương và đa phương:
Những hiệp ước thương mại ký kết giữa hai quốc gia có ảnh hưởng trực tiếplên cán cân thương mại; tuy nhiên vấn đề cán cân thương mại của mỗi quốc gia sẽthặng dư hay thâm hụt hoàn toàn tuỳ thuộc vào cơ cấu kinh tế và khả năng sản xuấtcủa quốc gia đó dựa trên nguồn tài nguyên thìên nhiên và con người cũng như trình
độ phát triển khoa học kỹ thuật
Trang 16(3) Hợp đồng thương mại quốc tế:
Các doanh nghiệp trong nước có thể ký những hợp đồng thương mại quốc tếvới các doanh nghiệp nước ngoài trong việc mua bán hàng tiêu dùng cũng nhưnhững phương tiện cần thiết trong sản xuất kinh doanh Các hợp đồng này cũng cóảnh hưởng trực tiếp lên cán cân thương mại tuỳ vào tính chất mua hoặc bán sảnphẩm với đối tác nước ngoài Tuy nhiên, các hợp đồng này bị giới hạn bởi nhữngràng buộc của chính sách thương mại luật lệ quốc gia
2.1.3 Nhóm nhân tố có tính chủ quan trong quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế nhằm điều tiết cán cân thanh toán quốc tế, cán cân thương mại ảnh hưởng đến nhập siêu
(1) Chính sách tỷ giá hối đoái:
Theo lý thuyết co giãn, phá giá tiền tệ có thể cải thiện cán cân thương mại nếuđiều kiện Marshll- Lerner được thoả mãn (tổng hệ số co dãn XK và hệ số co giãn
NK với tỷ giá phải lớn hơn 1) Tuy nhiên, trong ngắn hạn có thể xảy ra hiệu ứng giá
cả và hiệu ứng khối lượng lên XK hàng hoá
Theo cách tiếp cận của trường phái tiền tệ, ảnh hưởng của phá giá tiền tệ đốivới cán cân thương mại chỉ là tạm thời
Sự can thiệp của ngân hàng trung ương để làm giảm giá trị tiền đồng so vớitiền tệ các nước khác nhằm giảm bớt áp lực cho những doanh nghiệp xuất khẩucũng không làm giảm được sự thâm hụt cán cân thương mại vì nó có thể làm giatăng giá cả sinh hoạt Ngay cả khi chính sách tiền tệ được áp dụng để ngăn ngừa sựtăng giá này thì ảnh hưởng của nó cũng chỉ có được trong ngắn hạn
(2) Chính sách đầu tư:
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là bộ phận quan trọng của tàikhoản vốn Việc gia tăng thu hút vốn đầu tư nước ngoài có tác dụng bù đắp thâmhụt cán cân tài khoản vãng lai Nếu chính sách bảo hộ thiên lệch đối với XK sẽ làmcán cân thương mại thâm hụt Lúc này khi luồng FDI vào tăng lên sẽ làm thay đổitương quan giữa cung và cầu ngoại tệ; nếu Chính phủ không can thiệp sẽ dẫn đếnkhuynh hướng đồng nội tệ tăng giá, gây hậu quả là hạn chế XK và khuyến khích
NK, và việc thâm hụt cán cân thương mại là khó tránh
Chính sách đầu tư trong nước theo hướng XK hay thay thế NK đều ảnh hưởngđến cán cân thương mại Thêm vào đó hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và cơ cấu vốn
Trang 17đầu tư cũng ảnh hưởng đáng kể đến cán cân thương mại Chẳng hạn, việc xem nhẹđầu tư vào ngành công nghiệp phụ trợ làm tăng NK, nguyên nhiên, phụ liệu đã làmgiảm khả năng cạnh tranh hàng XK, hạn chế thu hút vốn đầu tư nước ngoài Hiệuquả kinh tế thấp của các dự án đầu tư sẽ làm suy yếu khả năng cạnh tranh XK vàthay thế NK do có mức chi phí cao hơn mức quốc tế Điều này gây cản trở cho việccải thiện cán cân thương mại và trong trường hợp cụ thể có thể những dự án đầu tưkhông hiệu quả sẽ trở thành gánh nặng cho nền kinh tế, đặc biệt là trong dài hạn.
(3) Chính sách thương mại:
Chính sách thương mại thường ít ảnh hưởng lên sự thâm hụt cán cân thươngmại vì nó không tác dụng trực tiếp đến nguồn tiết kiệm và đầu tư trong nước Tuyvậy, cho dù rào cản thương mại được áp dụng một cách triệt để giới hạn mọi hànghoá NK để không còn sự thâm hụt cán cân thương mại, nhưng sự ngừng giảm NKhay xuất khẩu sẽ làm tê liệt mọi hoạt động kinh tế và gây nên sự sụp đổ hoàn toàn
hệ thống kinh tế của một quốc gia
Điều tiết cán cân thương mại có liên quan chặt chẽ tới khuyến khích xuất khẩu
và quản lý NK Trong điều kiện thâm hụt cán cân thương mại, chính sách của cácnước thường là khuyến khích xuất khẩu và hạn chế NK Tuy nhiên, thực tế chothấy, hạn chế NK không phải là giải pháp hiệu quả điều chỉnh cán cân thương mại.Nhập khẩu cạnh tranh là biện pháp hiệu quả nhất để điều tiết cán cân thương mạitrong dài hạn
Về cơ bản, chính sách thương mại của các nước được chia làm hai loại chính:chính sách bảo hoọ thương mại và chính sách tự do thương mại Chính sách bảo hộthương mại là chính sách bảo hộ sản xuất trong nước khỏi sự cạnh tranh của hànghoá nước ngoài bằng cách đánh thuế hàng nhập khẩu hoặc hạn chế số lượng hànghoá và dịch vụ được phép NK Mục đích của thuế nhập khẩu và hạn ngạch nhậpkhẩu là chuyển dịch chi tiêu trong nước từ hàng nhập khẩu vào
Nhập siêu cao thường dẫn tới thâm hụt cán cân vãng lai, đe doạ tới cán cântổng thể hoặc tăng gánh nặng nợ nước ngoài, dễ bùng phát khủng hoảng cán cânvãng lai Khi nhập siêu của một nước trở nên trầm trọng, Chính phủ nước đó sẽ rơivào một thách thức khi phải tăng lượng dự trữ ngoại tệ hay tín dụng để giải quyếtvấn đề cân bằng cán cân thanh toán, đồng thời vẫn phải thực hiện chính sách thắt
Trang 18chặt tiền tệ nhằm khôi phục lòng tin của nhà đầu tư Việc thắt chặt tiền tệ để hạnchế nhập siêu là biện pháp đúng đắn mà nhiều các quốc gia lựa chọn Tuy nhiên, nólại có thể tạo ra áp lực với các ngành ngân hàng và doanh nghiệp vay vốn trongcuộc cạnh tranh lãi suất căng thẳng Về lâu dài, một số nước thường kiềm chế nhậpsiêu bằng đẩy mạnh xuất khẩu và thực hiện chiến lược công nghiệp hoá mở rộngsản xuất thay thế hàng nhập khẩu, đồng thời, cân bằng cán cân thanh toán qua việchuy động các nguồn tiết kiệm dài hạn, phát triển mạnh thị trường chứng khoán vàtrái phiếu.
Tuy nhiên, việc cán cân thương mại bị thâm hụt có thực sự là một điều xấuhay không liên quan tới chu kỳ kinh tế của nền kinh tế Trong thời kỳ khủng hoảng,các nước muốn XK nhiều hơn, tạo thêm nhiều việc làm và tăng thêm nhu cầu.Trong thời kỳ tăng trưởng, các nước muốn nhập khẩu nhiều hơn, tạo nên sự cạnhtranh về giá cả, từ đó kiềm chế lạm phát và vẫn có thể cung cấp hàng hoá vượt trên
cả khả năng của nền kinh tế mà không cần phải tăng giá nhiều Như vậy, trong suốtthời kỳ khủng hoảng, nhập siêu không phải là điều tốt, nhưng lại có tác dụng tíchcực trong thời kỳ tăng trưởng
Đối với một số nước cụ thể, đặc biệt là các quốc gia phát triển, nhập siêu tăngcao và theo đó là thâm hụt cán cân vãng lai trong ngắn hạn là điều không đáng longại Kinh nghiệm các nước cho thấy, nếu đầu tư trong nước hấp thụ vốn đầu tư tốt,đầu tư một cách chọn lọc và có hiệu quả, từ đó tăng năng lực sản xuất hàng xuấtkhẩu thì nhập siêu tăng cao có thể là tiền đề của tăng trưởng kinh tế trong giai đoạntiếp theo Nhìn từ góc độ này, nhập siêu là một dấu hiệu tích cực của nền kinh tế
II DỰ BÁO NHẬP SIÊU CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI VÀ KINH NGHIỆM CỦA 1 SỐ NƯỚC VỀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ NHẬP SIÊU
1 Dự báo nhập của Việt Nam với một số đối tác thương mại song phương 1.1.Việt Nam - Trung Quốc
Xét theo cơ cấu nhập khẩu hiện tại, ba nhóm mặt hàng mà Việt Nam đangnhập khẩu nhiều nhất từ Trung Quốc là máy móc thiết bị, sắt thép; vải sợi vànguyên phụ liệu dệt may da Trong tương lai nhu cầu trong nước đối với ba nhómmặt hàng này vẫn sẽ tiếp tục tăng lên trong khi sản xuất trong nước chưa thể đápứng được toàn bộ nhu cầu Do đó, nhập khẩu từ những nhóm mặt hàng này từ
Trang 19Trung Quốc sẽ còn tiếp tục tăng.
Việc các dự án lớn trong lĩnh vực lọc hoá dầu, sản xuất hoá chất, chất dẻonguyên liệu và sắt thép đang được triển khai thực hiện cho thấy có khả năng trongtương lại tốc độ tăng nhập khẩu những mặt hàng này từ Trung Quốc sẽ chậm lại,thậm chí đối với một số mặt hàng có thể sẽ giảm bớt do sản xuất trong nước đápứng được một phần nhu cầu trong nước
Động lực chính tăng xuất khẩu đối với thị trường Trung Quốc trong tương lainhiều khả năng sẽ là nhóm hàng sản phẩm điện tử và linh kiện khi các nhà máy sảnxuất linh kiện điện tử của các tập đoàn đa quốc gia đầu tư tại Việt Nam đi vào hoạtđộng Các mặt hàng nông sản cũng sẽ tiếp tục đóng góp một phần cho tăng trưởng xuấtkhẩu sang Trung Quốc, mặc dù tăng trưởng xuất khẩu của những mặt hàng này có khảnăng sẽ không thể tạo được sự đột phá trong xuất khẩu của ta sang Trung Quốc
1.2 Việt Nam - Hàn Quốc:
Tính đến hết năm 2010, Hàn Quốc có tổng số 2.605 dự án còn hiệu lực, vớitổng vốn đầu tư đăng ký 23 tỷ USD, đứng đầu cả về số dự án và vốn đăng ký trongtổng số 88 các quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư trực tiếp nước ngoài tại ViệtNam Các dự án đầu tư của Hàn Quốc tiếp tục được triển khai, nhập khẩu máy mócthiết bị và nguyên vật liệu phục vụ từ Hàn Quốc cho các dự án đàu tư này có khảnăng sẽ còn tiếp tục tăng lên Việt Nam cũng sẽ tiếp tục thực hiện lộ trình giảm thuếnhập khẩu theo cam kết của mình trong Hiệp định thương mại tự do ASEAN - HànQuốc (AKFFTA) Do tác động của lộ trình giảm thuế, hàng hoá nhập khẩu từ HànQuốc sẽ cạnh tranh hơn so với hàng nhập khẩu từ các nước khác Vì thế, nhu cầunhập khẩu nhiều mặt hàng trong diện giảm thuế từ Hàn Quốc có thể sẽ tăng lên.Trong khi đó, nhập khẩu xăng dầu từ Hàn Quốc có khả năng sẽ giảm bớt khi các dự
án lọc hoá dầu của Việt Nam tại Nhơn Hội, Phú Yên, Nghi Sơn lần lượt đi vào hoạtđộng, đáp ứng một phần nhu cầu xăng dầu trong nước
Do làm tốt công tác kiểm dịch, xuất khẩu thuỷ sản sang Hàn Quốc sẽ vẫn tiếptục có tốc độ tăng trưởng tốt, thuỷ sản vẫn tiếp tục là một mặt hàng xuất khẩu chủlực của Việt Nam sang Hàn Quốc Tuy nhiên, do giới hạn về sản lượng khai thác,xuất khẩu thuỷ sản sang Hàn Quốc khó có khả năng tăng trưởng đột biến
Trang 20Nếu làm tốt công tác kiểm dịch giống như hàng thuỷ sản, xuất khẩu các mặthàng nông sản của Việt Nam sang Hàn Quốc sẽ có tốc độ tăng trưởng cao trongngắn hạn Tuy nhiên, do giới hạn về diện tích canh tác và năng suất cùng với việcHàn Quốc chắc chắn sẽ duy trì nhiều biện pháp bảo hộ để bảo vệ người nông dântrong nước, trong dài hạn xuất khẩu nông sản khó có thể trở thành một mặt hàngxuất khẩu chủ lực của ta sang thị trường này.
Do chi phí nhân công tăng cao, Hàn Quốc đang có xu hướng đầu tư chuyểndịch ngành công nghiệp dệt may ra nước ngoài, chỉ giữ lại trong nước sản xuất cácsản phẩm dệt may cao cấp Vì thế, trong tương lai xuất khẩu hàng dệt may sang HànQuốc có khả năng sẽ tăng nhanh do thị trường Hàn Quốc có vẫn có nhu cầu đối vớicác sản phẩm dệt may có chất lượng trung bình, giá cả vừa phải Nhiều nhà máy dệtHàn Quốc đã chuyển sang Trung Quốc, Việt Nam và một số nước Châu Á khác sảnxuất xuất khẩu sang nước thứ ba hoặc xuất trở lại Hàn Quốc Tiềm năng xuất khẩusang Hàn Quốc của nhiều mặt hàng thuộc nhóm hàng công nghiệp chế tạo như dâyđiện, dây cáp điện, sản phẩm nhựa, sản phẩm điện tử và linh kiện còn lớn Mức độtăng kim ngạch xuất khẩu của những mặt hàng trong nhóm này sẽ phụ thuộc nhiềuvào đầu tư của các công ty nước ngoài, đặc biệt là của các công ty Hàn Quốc, trongcác lĩnh vực này tại Việt Nam
1.3 Việt Nam - Đài Loan
Việt Nam đang nhập khẩu một khối lượng lớn xăng dầu từ Đài Loan Nhậpkhẩu xăng dầu đến cuối năm 2010 đạt 109,5 triệu USD, chiếm 1,6% trong tổng kimngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Đài Loan Do đó, khi các nhà máy lọc dầu củaViệt Nam lần lượt đi vào hoạt động, nhiều khả năng nhập khẩu xăng dầu từ ĐàiLoan sẽ giảm, dẫn đến tốc độ tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từĐài Loan sẽ chậm lại
Mặc dù vậy, do Đài Loan vẫn là một trong những nhà đầu tư nước ngoài lớntại Việt Nam nên nhập khẩu các mặt hàng tư liệu sản xuất từ Đài Loan như máymóc thiết bị phụ tùng, nguyên phụ liệu dệt may da, chất dẻo nguyên liệu, phôi thép,sản phẩm điện tử… sẽ vẫn tiếp tục tăng
1.4 Việt Nam - Hồng Kong
Với vai trò là một thị trường chuyển tải, xuất khẩu sang Hồng Kông trong giai
Trang 21đoạn tới sẽ khó có khả năng tăng mạnh vì nhiều mặt hàng của Việt Nam đã xuấtkhẩu trực tiếp đi các thị trường khác Trong khi đó, nhập khẩu sản phẩm điện tử,máy móc thiết bị phụ tùng và nguyên phụ liệu dệt may da từ Hồng Kông sẽ tiếp tụctăng mạnh để phục vụ nhu cầu sản xuất trong nước, đặc biệt là của các doanhnghiệp đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu Do đó, nhậpsiêu từ Hồng Kông sẽ còn tiếp tục tăng lên Tuy nhiên, tốc độ tăng của nhập siêu cóthể không cao do dần dần các ngành công nghiệp của Việt Nam sẽ đáp ứng đượcmột phần cầu nguyên vật liệu phục vụ sản xuất trong nước.
1.5 Việt Nam - Singapore
Singapore đang là nguồn cung cấp xăng dầu lớn nhất của Việt Nam với hơnmột nửa lượng xăng dầu nhập khẩu của Việt Nam là từ Singapore Sauk hi các nhàmáy lọc dầu của Việt Nam lần lượt đi vào hoạt động, chắc chắn kim ngạch nhậpkhẩu từ Singapore sẽ giảm xuống do kim ngạch nhập khẩu xăng dầu giảm Tuynhiên, do xuất khẩu dầu thô chiếm đến trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu sangSingapore nên xuất khẩu sang Singapore cũng sẽ giảm mạnh vì dầu thô trước đâyxuất khẩu nay được cung cấp cho các nhà máy lọc dầu trong nước Mặc dù vậy, dokim ngạch xuất khẩu dầu thô sang Singapore nhỏ hơn nhiều so với kim ngạch nhậpkhẩu xăng dầu từ Singapore nên nhiều khả năng mức độ nhập siêu vẫn sẽ được thuhẹp lại
Do đầu tư của Singapore vào Việt Nam tương đối lớn, nhu cầu nhập khẩu tưliệu sản xuất từ Singapore phục vụ cho các dự án đầu tư này còn tiếp tục ở mức cao.Mặt khác, Singapore vẫn là một trong những cửa ngõ cung cấp các loại nguyên vậtliệu mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu Do đó, kinh tế ViệtNam tiếp tục phát triển thì nhu cầu nhập khẩu hàng hoá từ Singapore sẽ vẫn tiếp tụctăng vững
1.6 Việt Nam - Thái Lan
Cùng với xu hướng các tập đoàn đa quốc gia tiếp tục chuyển dịch sản xuất,xây dựng các nhà máy tại Việt Nam, nhập khẩu nguyên vật liệu, linh kiện từ TháiLan để thực hiện các công đoạn chế tạo, gia công, lắp ráp tiếp theo tại Việt Namvẫn sẽ có xu hướng tăng lên Đây sẽ là một thách thức đối với Việt Nam Nếu takhông phát triển thành công các ngành công nghiệp phụ trợ thì nhập khẩu từ Thái
Trang 22Lan sẽ còn tiếp tục tăng hơn nữa.
Việc đưa vào vận hành những nhà máy lọc dầu sẽ làm giảm đáng kể kimngạch nhập khẩu xăng dầu của Việt Nam từ thế giới nói chung và từ Thái Lan nóiriêng Mặt khác, xuất khẩu dầu thô của ta sang Thái Lan cũng sẽ giảm do nguồn dầuthô xuất khẩu được chuyển sang cung cấp cho các nhà máy lọc dầu trong nước.Hiện tại, nhiều dự án đầu tư lớn trong lĩnh vực sản xuất hoá chất, chất dẻonguyên liệu, sắt thép đang được triển khai thực hiện Khi những dự án này hoànthành và đi vào hoạt động sẽ giải quyết được một phần nhu cầu nhập khẩu phục vụsản xuất trong nước Do đó, tốc độ tăng nhập khẩu những mặt hàng này từ Thái Lan
sẽ không còn cao như trong giai đoạn vừa qua
1.7 Việt Nam - Indonesia
Trong số hai mặt hàng xuất khẩu lớn nhất từ Indonesia là gạo và dầu thô, xuấtkhẩu gạo có khả năng duy trì về khối lượng và tăng về giá trị do giai đoạn tới sảnlượng lương thực của Indonesia vẫn chưa thể đáp ứng đủ nhu cầu của người dân,đồng thời tình trạng thiếu lương thực trên thế giới sẽ giữ giá gạo ở mức cao Xuấtkhẩu dầu thô có khả năng giảm vì dầu thô xuất khẩu được chuyển sang cung cấpcho các nhà máy lọc dầu trong nước
Cơ cấu hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Indonesia trong giai đoạn trước mắt
có thể sẽ không thay đổi nhiều Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn từIndonesi sẽ là sản phẩm điện tử và linh kiện, linh kiện ôtô, máy móc thiết bị phụtùng, sắt thép, chất dẻo nguyên liệu, cao su định chuẩn kỹ thuật và hạt điều nguyênliệu Là một nước xuất khẩu dầu mỏ lớn, lại có vị trí địa lý gần với Việt Nam, có thểtrong tương lai xa Việt Nam sẽ nhập khẩu dầu mỏ từ Indonesia
1.8 Việt Nam - Ấn Độ:
Dự đoán kim ngạch xuất khẩu Việt Nam - Ấn Độ chủ yếu là các mặt hàng hạttiêu, quế, sắt thép, sản phẩm điện tử và linh kiện, hàng thủ công mỹ nghệ, giày dép
… Kim ngạch XK hàng hóa của Việt Nam sang Ấn Độ có thể đạt khoảng 0,9 - 1,0
tỷ USD vào năm 2015
Trong giai đoạn 2011-2-15, mức tăng nhập khẩu từ Ấn Độ dự kiến sẽ đạt nhịp
độ bình quân trên 20%/năm do sản xuất trong nước đạt những tiến bộ nhất định nhờvào hàng loạt các biện pháp cải tiến kỹ thuật, nâng câo năng suất và các dự án đầu
tư nước ngoài đi vào hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp phụ trợ, thép, hóa chất
Trang 23… Riêng các mặt hàng tân dược, đây là mặt hàng thế mạnh của Ấn Độ mà khôngchỉ Việt Nam chịu nhập siêu mà nhiều nước trên thế giới cũng phải nhập siêu từ Ấn
Độ do Ấn Độ có lợi thế cạnh tranh đối với lĩnh vực này Dự báo nhập khẩu tân dược
từ Ấn Độ sẽ tiếp tục tăng với mức 10% giai đoạn 2011-2015 Một số mặt hàng cónhiều khả năng Việt Nam sẽ phải nhập khẩu với khối lượng lớn nhưng khá ổn định
từ Ấn Độ như: nguyên liệu dệt may và da giày; hóa chất, nguyên liệu và các sảnphẩm hóa chất, sản phẩm từ sắt thép
2 Dự báo nhập siêu của Việt Nam theo một số ngành nghề.
- Cán cân thương mại nhóm hàng nông lâm thủy sản XK và NK nguyên liệu
đầu vào
Do tính giới hạn về sản xuất nên xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Namgiai đoạn tới tuy vẫn tăng chậm về số tuyệt đối nhưng sẽ giảm về số tương đối.Trong khi đó nhu cầu NK vật tư cơ bản cho xản suất hàng nông lâm thủy sản thời
kỳ tới vẫn tăng cả số tuyệt đối và số tương đối Vì thế, tỷ lệ NK các nguyên liệu đầuvào sẽ vẫn chiếm khoảng 32-34% kim ngạch XK của nhóm hàng này
Giải pháp cơ bản để giải quyết vấn đề nhập siêu của các nhóm hàng này làphát triển sản xuất phân bón, thức ăn gia súc và nguyên liệu, thuốc bảo vệ thực vật(có nguồn gốc hữu cơ) trong nước để thay thế hàng nhập khẩu
- Nhóm ngành sản phẩm XK dệt may, giày da và NK nguyên phụ liệu đầu vào
Mặc dù đây là nhóm ngành hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kimngạch xuất khẩu của VN trong giai đoạn tới (dự báo giai đoạn 2011-2015 chiếm gần19%) nhưng khả năng sản xuất trong nước về các nguyên vật liệu đầu vào chonhóm ngành hàng xuất khẩu này của Việt Nam còn hạn chế nên nhu cầu nhập khẩunguyên phụ liệu đáp ứng sản xuất hàng xuất khẩu vẫn rất cao, chiếm khoảng 63%kim ngạch XK nhóm hàng này
- Nhóm sản phẩm gỗ
Mặc dù đây là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, nhưng do 80% gỗnguyên liệu nước ta phải nhập khẩu và đồ gỗ cao cấp nhập khẩu có xu hướng tăngtrong những năm qua (do thu nhập của dân cư tăng lên) nên dự kiến trong 2 năm tớithặng dư thương mại của mặt hàng đồ gỗ chỉ bằng khoảng 55% KNXK Để nângcao tỷ lệ xuất khẩu nhóm sản phẩm đồ gỗ thì trước hết phải nâng cao được tỷ trọng
và chất lượng gỗ nguyên liệu trong nước, nâng cao cấp độ chế biến để tăng tỷ trọng
Trang 24của nhóm sản phẩm đồ gỗ cao cấp để xuất khẩu sang EU, Nhật, Bắc Mỹ …
- Nhóm sản phẩm điện tử, máy tính và linh kiện
Cũng sẽ tiếp tục nhập siêu trong những năm tới nhưng tỷ lệ nhập siêu so vớixuất khẩu sẽ có xu hướng giảm đáng kể
- Nhóm sản phẩm cơ khí
Sẽ có xu hướng nhập siêu giảm nhẹ hoặc khá ổn định để đáp ứng nhu cầu pháttriển sản xuất trong nước trong khi năng lực cạnh tranh nhóm sản phẩm này củaViệt Nam còn yếu, dự báo tỷ lệ nhập siêu so với nhóm hàng này sẽ tăng
- Dự báo cán cân thương mại ngành hàng nhựa
Sự phát triển của ngành dầu khí sẽ tăng khả năng đáp ứng nhu cầu nguyên liệunhựa Giai đoạn 2011-2020, ngoài nhà máy lọc dầu Dung Quất - Quảng Ngãi, sẽ cóthêm một số nhà máy lọc dầu khác đi vào hoạt đông như công ty TNHH lọc dầuNghi Sơn - Thanh Hóa (khởi công tháng 5/2008, dự kiến đi vào hoạt động năm2013), dự án tổ hợp hóa dầu Long Sơn Bà Rịa - Vũng Tàu (giai đoạn 1: năm 2011vận hành; giai đoạn 2: 2013) dự án tổ hợp hóa dầu Naphtha Cracking Phú Yên (giaiđoạn 1: năm 2014 vận hành; giai đoạn 2: 2024 vận hành) Các khu tổ hợp hóa dầu,lọc dầu này hoạt động, các dự án qui hoạch nguyên liệu nhựa đến năm 2010 chưathực hiện sẽ được thực hiện trong giai đoạn 2011-2015
Phấn đấu thực hiện các dự án trên, đến giai đoạn này sản lượng nguyên liệunhựa trong nước đạt khoảng 2 triệu tấn/năm Nếu sản lượng nhựa ngành này có thểtăng 10%/năm thì tới năm 2015 sẽ đạt 5 triệu tấn/năm, đáp ứng 40% nhu cầunguyên liệu nhựa cả nước Vì vậy, ngành nhựa vẫn cần phải nhập khẩu phần lớnnguyên liệu Tỷ trọng nhập siêu/xuất khẩu sẽ vẫn cao 60,5% Nhưng giảm nhập siêubằng biện pháp giảm nhập nguyên liệu trong khi sản xuất nguyên liệu trong nướcchưa đáp ứng được thì sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng sản xuất và xuất khẩu Vì vậy
Trang 25không thể giảm nhập siêu bằng cách này mà phải bằng cách tăng cường xuất khẩu.
- Nhóm sản phẩm từ dầu mỏ
Do các nhà máy lọc dầu đã dần dần đi vào hoạt động, nên kim ngạch nhậpkhẩu xăng dầu sẽ giảm dần mức thâm hụt cán cân thương mại của ngành sản phẩmdầu khí sẽ dần được cải thiện Dự đoán 2011-2015 nhập siêu chỉ còn 6,0%
3 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về giải quyết vấn đề nhập siêu, điều chỉnh cán cân thanh toán và bài học đối với Việt Nam
3.1 Một số khuynh hướng giải quyết vấn đề nhập siêu, tạo lập cán cân thương mại hợp lý của một số nhóm nước
3.1.1 Một số NIEs - Châu Á
Từ thập kỷ 60-70, các nước NIEs Châu Á đã chuyển nhanh từ chiến lược thaythế nhập khẩu sang thực hiện chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu trên cơ sở xâydựng và thực hiện tốt chiến lược thu hút kỹ thuật tuần hoàn, phát triển nhập khẩutheo hướng chủ đạo là hình thành dây chuyền phát triển giữa nhập khẩu với xuấtkhẩu, không ngừng nâng cấp trình độ kỹ thuật của nền kinh tế, nâng cấp sức cạnhtranh của hàng xuất khẩu, tăng nhanh kim ngạch và hiệu quả xuất khẩu tạo lập thếmới cho cán cân thương mại để dần chuyển nhập siêu sang xuất siêu một cách vữngchắc từ sau thập kỷ 80 đến nay Chiêu thức cơ bản của chiến lược thu hút kỹ thuậttuần hoàn là nhập khẩu kỹ thuật và công nghệ tiên tiến của nước ngoài, sử dụng lựclượng lao động khoa học kỹ thuật ở trong nước để tiếp thu tiến lên đổi mới, sáng tạo
mở mang kỹ thuật, hình thành dây chuyền phát triển: Nhập vào - tiếp thu - sáng tạo
- phát triển - xuất khẩu kỹ thuật (luân chuyển xuất ra sản phẩm) Đồng thời, dùng kỹthuật nhập khẩu đã tiếp thu và sáng tạo phát triển để cải tiến hệ thống kỹ thuật sảnxuất công - nông nghiệp, nâng cao hiệu ích kinh tế và hàm lượng kỹ thuật của sảnphẩm xuất khẩu Từ đó, làm cho sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế,tăng kim ngạch và hiệu quả xuất khẩu, phần vốn do kỹ thuật xuất khẩu (đã luânchuyển ra sản phẩm) thu được hàng năm lại có thể bắt đầu vòng tuần hoàn mới:Nhập vào - tiếp thu - sáng tạo - phát triển - xuất khẩu kỹ thuật (luân chuyển xuất rasản phẩm) ở thời điểm kỹ thuật cao hơn (phát triển nhập khẩu - xuất khẩu theođường xoáy trôn ốc) Đây là chiêu thức chủ động giải quyết vấn đề nhập siêu tạo lậpthế cân bằng cán cân thương mại, chuyển sang xuất siêu một cách vững chắc và dài
Trang 26hạn, nâng cao chất lượng tăng trưởng xuất nhập khẩu, tạo lập nền xuất khẩu qui môlớn trên cơ sở kỹ thuật ngày càng cao, kết cấu sản nghiệp ngày càng vững chắc, vốnkhông ngừng tích tụ, trình độ kỹ thuật trong nền kinh tế ngày càng cao … của cácNIEs Châu Á Vì thế, nếu như trước năm 1987, Hàn Quốc luôn nhập siêu thì từ năm
1987 đã chuyển sang xuất siêu ngày càng lớn, năm 1987 xuất siêu 6,2 tỷ USD, đếnnăm 2004, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Hàn Quốc đạt 254 tỷ USD, xuất siêu
30 tỷ USD Tương tự, Singapore từ năm 1983 đến nay đã chuyển sang xuất siêungày càng lớn (năm 2004 kim ngạch xuất khẩu của Singapore đạt 179,6 tỷ USD,xuất siêu đạt 15,6 tỷ USD)
3.1.2 Một số nước đang phát triển Châu Á (Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ)
Khuynh hướng chủ yếu trong giải quyết vấn đề nhập siêu, tạo lập thế cân bằngcán cân thương mại và chuyển nhanh sang xuất siêu của các nước này là mở cửa thuhút FDI, kết hợp với chính sách tự do hóa thương mại, sử dụng hiệu quả nguồn vốnthu hút được từ bên ngoài để đẩy mạnh xuất khẩu, sử dụng công cụ tỷ giá linh hoạt
để tác động hỗ trợ xuất khẩu
- Đối với trường hợp của Trung Quốc:
Trong suốt thời kỳ mở của của nền kinh tế (sau năm 1978), FDI luôn là yếu tốchính làm tăng xuất khẩu, giảm nhập siêu và chuyển sang thặng dư cán cân thươngmại của Trung Quốc Theo kết quả thống kê của WB về Trung Quốc từ năm 1982-
2006, thì FDI và xuất khẩu có mối quan hệ đồng biến giữa tăng FDI và tăng kimngạch xuất khẩu của Trung Quốc, tương ứng với 1 USD vào Trung Quốc đã tácđộng đến thặng dư cán cân thương mại ở mức tăng hơn 1 USD Vì thế, trong thời
kỳ 1986-1990, Trung Quốc vẫn nhập siêu bình quân đến 9,18%/năm so với kimngạch xuất khẩu nhưng từ sau năm 1990, với hiệu ứng của FDI đã thu hút đượctrong thời kỳ trước đó (cộng dồn vốn FDI đã thực hiện đến năm 1990 đạt 24.762triệu USD), kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc đã tăng rất nhanh và nước này đãchuyển nhanh sang xuất siêu Trong thời kỳ 1990-2001, nhịp độ tăng trưởng vốnFDI Trung Quốc thu hút được đạt bình quan 22.95%/năm (năm 2001 cộng dồn vốnFDI đã thực hiện tại Trung Quốc đạt 395.192 triệu USD) thì nhịp độ tăng trưởngxuất khẩu hàng hoá của Trung Quốc cũng đạt mức bình quân 12,95%/năm và mức
Trang 27thặng dư thương mại tăng trưởng với nhịp độ bình quân 11,55%/năm Trong giaiđoạn 2002-2006, nhịp độ tăng vốn FDI thu hút được của Trung Quốc đạt bình quan13,1%/năm (năm 2006 đạt 95,92 tỷ USD gấp 2 lần FDI thu hút được của năm 2002
là 51,82 tỷ USD) thì nhịp độ tăng trưởng mức thặng dư bình quân 37,65%/năm.Nếu tính cộng dồn thì đến năm 2006, tổng FDI Trung Quốc thu hút và sử dụngđược đạt trên 737 tỷ USD và tổng mức thặng dư thương mại của Trung Quốc đạtđược (1990-2006) là 765 tỷ USD (hệ số FDI/thặng dư cán cân thương mại đạtmức1/1,03 lần) Điểm đáng chú ý là hiệu ứng của FDI đối với thặng dư cán cânthương mại của Trung Quốc ngày càng lớn: nếu năm 2001, tỷ lệ giá trị thặng dưthương mại (xuất siêu) mới bằng 8,6% tổng giá trị vốn FDI thu hút được (34,017 tỷUSD thặng dư thương mại so với 395,192 tỷ USD tổng vốn FDI thu hút đến năm2001) thì năm 2006 tỷ lệ này tăng lên 289,54% (năm 2006 mức thặng dư cán cânthương mại của Trung Quốc dạt 217,746 tỷ USD so với 765 tỷ USD vốn FDI thuhút được đến năm 2006)
Để tạo lập được cán cân thương mại tích cực, tăng hiệu ứng của FDI đối vớinền kinh tế nói chung, phát triển xuất khẩu nói riêng trong giai đoạn quá độ từ nhậpsiêu sang xuất siêu, chính phủ Trung Quốc đã sử dụng khá đồng bộ các công cụ,biện pháp quản lý kinh tế, quản lý hoạt động xuất nhập khẩu Với mục tiêu TrungQuốc trở thành một trung tâm chế xuất hàng xuất khẩu lớn của thế giới, chính phủ
đã qui hoạch và khuyến khích phát triển công nghiệp phụ trợ, khuyến khích đầu tưphát triển và mở rộng sản xuất hàng xuất khẩu với dây chuyền sản xuất liên tụcđược đổi mới thông qua kỹ thuật mới để đi sâu vào mức độ gia công, chế biến làmcho các ngành công nghiệp chuyển hướng từ chỗ lấy các ngành công nghiệp dùngnhiều nguyên liệu làm chính (thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90) sang lấy các ngành côngnghiệp chế biến làm chính (nửa sau thập kỷ 90), không ngừng nâng cao tỷ lệ giá trịchế biến, nhất là từ sau 2000 Đến năm 2000, trong cơ cấu hàng xuất khẩu củaTrung Quốc, nhóm sản phẩm chế biến và chế tạo đã chiếm 88,23%, nhóm sản phẩmthô gồm nông lâm thuỷ sản và khoáng sản chỉ còn chiếm 11,56% Cũng trong giaiđoạn quá độ chuyển từ nhập siêu sang xuất siêu (1985-2004), chính phủ đã thựchiện “liệu pháp mạnh”, bắt đầu phá giá đồng Nhân dân tệ (CNY) để đẩy mạnh xuất
Trang 28khẩu, sử dụng công cụ tỷ giá hối đoái làm “đòn bẩy” để hỗ trợ mạnh cho xuất khẩu,hạn chế nhập khẩu Với danh nghĩa là định giá lại đồng CNY (mà thực chất là làmcho CNY trượt giá tới 50%) Từ năm 1994 đến năm 2004, chính phủ đã ổn định tỷgiá ở mức 8,2-8,3 CNY/1 USD và coi đấy là cơ chế tỷ giá thả nổi có kiểm soát(thực chất đây là một chế độ tỷ giá cố định mới) Chỉ từ sau năm 2005 đến nay, do
áp lực của các đối tác thương mại lớn (Mỹ, EU, Nhật,…) và đã đạt được mục tiêuthặng dư thương mịa ở mức cao, vững chắc (năm 2007 thặng dư thương mại củaTrung Quốc đạt 262,2 tỷ USD, bằng 27,4% kim ngạch xuất khẩu) Chính phủ TrungQuốc mới điều chỉnh tỷ giá CNY/USD theo hướng tăng dần giá CNY (năm 2004:8,19CNY/1USD, năm 2005: 7,79CNY/1USD, năm 2006: 7,79CNY/1USD, và năm2008: 7,50CNY/1USD) Hiệu ứng đối ngẫu của quá trình đó là dự trữ ngoại tệ củaTrung Quốc đã tăng rất nhanh, năm 2006 đạt 403,2 tỷ USD (đứng thứ 2 thế giới,sau Nhật Bản) và đến tháng 6 năm 2008 đã đạt 470,6 tỷ USD Đồng thời, nguồnvốn FDI đổ vào Trung Quốc cũng ngày càng tăng (năm 2001: 6,5 tỷ USD, năm2002: 52 tỷ USD, và năm 2007: 53,5 tỷ USD)
- Trường hợp Thái Lan:
Trước khủng hoảng tài chính- tiền tệ (1997), nền kinh tế Thái Lan đã duy trìđược nhịp độ tăng trưởng cao 9,4%/năm (1995-1996), một phần quan trọng do cóngành chế biến, chế tạo phát triển, mà chủ yếu do khu vự FDI tạo ra Khi nền kinh
tế “bong bóng” của Thái Lan bị vỡ, xảy ra khủng hoảng năm 1997, mặc dù thịtrường bất động sản bị đóng băng (do các nhà đầu tư nước ngoài rút vốn hoặckhông đầu tư tiếp), nhưng một phần do có ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đãphát triển và quán tính của một thời gian khá dài thực hiện chiến lược hướng mạnh
về xuất khẩu cùng với chính sách ngoại giao mềm dẻo đã giúp Thái Lan duy trìđược quan hệ thương mại với các bạn hàng lớn (Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản,Singapore, Đài Loan …) nên xuất khẩu của Thái Lan tăng trưởng mạnh ngay nhữngnăm sau khủng hoảng (năm 2000: tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 131,8 tỷ USD, xuấtsiêu 7,4 tỷ USD) Để khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng (1987-1988), chínhphủ Thái Lan đã một mặt cải thiện môi trường đầu tư (lượng vốn FDI tăng từ 11,5
tỷ USD năm 2003 lên 20,4 tỷ USD năm 2006), cải thiện cơ cấu chính sách thương
Trang 29mại, mở rộng quan hệ thương mại với các nước Châu Á thông qua các Hiệp địnhAFTA khu vực và song phương, hình thành mạng lưới kinh doanh voíư những thoảthuận ưu đãi song phương (với Oxtraylia, Braxin, Ấn Độ, Nhật Bản, Peru,Newzeland…) mặt khác, phá giá mạnh đồng Baht để tác động mạnh đến cán cânthanh toán quốc tế (đã ảnh hưởng nặng nề bởi khủng hoảng năm 1987-1988).
Trước năm 1996, Thái Lan áp dụng chính sách tỷ giá cố định so với đồngUSD, khiến giá trị đồng Baht tăng cao so với đồng USD trong khi giá trị của đồngUSD lại tăng mạnh so với đồng Yên Nhật và một số đồng ngoại tệ khác khiến sứcmua của đồng Baht giảm 20% (theo lý thuyết ngang giá sức mua) Vì thế, chỉ saumột ngày khi chính phủ tuyên bố phá giá (2/7/1997) đồng Baht đã mất 20% giá trịrồi tiếp tục giảm xuống sau đó (tỷ giá Baht/USD đã tăng lên từ 25.61 Baht/1USDlên 47,25 Baht/1USD) Tỷ giá đó đã làm tăng khả năng xuất khẩu của Thái Lan, hạnchế nhập khẩu, giảm nhập siêu từ mức 9,5 tỷ USD năm 1991 xuống còn 4,5 tỷ USDnăm 1997 và tiến tới xuất siêu 12,3 tỷ USD năm 1998 (chủ yếu do giảm đầu tư nênnhập khẩu giảm mạnh) Đến năm 2006, mặc dù đồng Baht tăng giá lên 24% nhưngThái Lan vẫn xuất siêu tới 10% so với GDP
- Kinh nghiệm của Ấn Độ về giải quyết vấn đề nhập siêu và rút ra bài học cho
Việt Nam.
Do nhu cầu nhập khẩu lớn nguyên vật liệu phục vụ cho nhu cầu sản xuất ngàycàng lớn của nền kinh tế, Ấn Độ cũng phải chịu tình trạng nhập siêu trong nhiềunăm qua dù chính phủ đã quan tâm và thực hiện rất nhiều các biện pháp nhằm cảithiện tình trạng nhập siêu của nước này
Trước tình hình nhập siêu ngày càng lớn, chính phủ Ấn Độ đã đưa ra hàng loạtcác biện pháp kiềm chế nhập khẩu và tăng cường xuất khẩu, các nhóm biện pháp cơbản bao gồm:
+ Xây dựng chiến lược xuất khẩu tổng thể và cho từng ngành hàng đối vớitừng nước cụ thể trong đó tập trung vào hàng loạt các sáng kiến tiếp cận thị trường
có sự phối hợp chặt chẽ và hỗ trợ cụ thể của Chính phủ dành cho các tổ chức xúctiến xuất khẩu, cơ quan xúc tiến thương mại, các cơ quan khác thuộc chính phủ cóchức năng và nhiệm vụ phối hợp trong công tác xúc tiến xuất khẩu, các viện nghiêncứu, các trường đại học, các phòng thí nghiệm, và các nhà xuất khẩu…nhằm hiệnthực hoá hiệu quả chiến lược tăng cường xuất khẩu
Trang 30+ Các dự án quảng bá và tiếp thị hàng Ấn Độ qui mô lớn trong và ngoài nước,bao gồm việc xây dựng các phòng giới thiệu sản phẩm, tổ chức lễ hội quảng báthương hiệu hàng Ấn Độ, tham gia ở cấp quốc gia những sự kiện lớn trên toàn thếgiới, đăng ký những ấn phẩm qui mô toàn cầu quản bá hàng hoá Ấn Độ, hỗ trợ các
tổ chức và nhà xuất khẩu tiếp thị hàng Ấn Độ ở các nước ngoài
+ Xây dựng năng lực cạnh tranh, bao gồm việc hỗ trợ cho các nhà xuất khẩunói chung và các nhà xuất khẩu nói riêng vào từng thị trường cụ thể; hỗ trợ kinh phícho việc tăng cường cải tiến năng xuất, chất lượng sản phẩm và các chương trìnhnghiên cứu phát triển sản phẩm tại các phòng thí nghiệm, viện nghiên cứu, cáctrường đại học, phát triển các trung tâm chuyên ngành về thiết kế mẫu mã chungcho sản phẩm, đóng gói cho sản phẩm … chi phí cho việc thuế tư vấn tại các nướcnhập khẩu tiềm năng
+ Hỗ trợ với các yêu cầu tiêu chuẩn hoá các sản phẩm có xuất xứ từ Ấn Độphù hợp với luật pháp của nước nhập khẩu như chi phí thử nghiệm sản phẩm cơ khítại nước ngoài, phí đăng ký dược phẩm, sản phẩm công nghệ sinh học, trang thiết bịdược phẩm
+ Hỗ trợ cho công tác nghiên cứu, bao gồm các nghiên cứu liên qua đếnthương mại như nghiên cứu thị trường, sáng kiến về các nhóm nghiên cứu chung,các hiệp định thương mại tự do, hiệp định thương mại khu vực
+ Phát triển dự án, bao gồm các nghiên cứu liên quan đến thương mại nhưnghiên cứu thị trường, sáng kiến về các nhóm nghiên cứu chung, các hiệp địnhthương mại tự do, hiệp định thương mại khu vực
3.1.3 Một số nước công nghiệp phát triển Tây Âu (Hoa Kỳ, Anh, Pháp)
Khuynh hướng giải quyết vấn đề nhập siêu tạo lập cán thương mại của cácnước này là giải quyết vấn nhập siêu trong tổng thể của vấn đề cán cân thanh toánbằng cách đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ để lấy thặng dư cán cân dịch vụ bù đắp phầnthâm hụt cán cân thương mại nhằm hướng mục tiêu chung là giải quýêt vấn đề cáccân thanh toán vãng lai Chẳng hạn như trường hợp của Hoa Kỳ năm 2004, nướcnày thâm hụt cán cân thương mại tới 707 tỷ USD, nhưng lại thặng dư cán cân dịch
vụ 58,3 tỷ USD; năm 2006, nước này thâm hụt cán cân thương mại tới 881 tỷ USD,nhưng lại thặng dư cán cân dịch vụ tới 75 tỷ USD Trưòng hợp nước Anh cũng
Trang 31tương tự như Hoa Kỳ: năm 2001, Anh thâm hụt cán cân dịch vụ 16,8 tỷ USD; năm
2004 nước này thâm hụt cán cân thương mại tới 110 tỷ USD, nhưng lại thặng dưcán cân dịch vụ đạt 35,7 tỷ USD
3.2 Một số nhận định rút ra từ thực tiễn giải quyết vấn đề nhập siêu, tạo lập cán cân thương mại của một số nước trên thế giới.
Một số nhận định tổng quát
Với tư cách là một hiện tượng kinh tế, nhập siêu là một quá trình kinh tế có tính khách quan với sự phát sinh, phát triển và chuyển hoá Qua khảo cứu thực tiễn, ngoại thương của các nền kinh tế phần lớn đều trải qua một quá trình tổng quát sau:
- Nhập siêu thường xuất hiện ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá
và phát triển kinh tế, do sản xuất trong nước yếu kém không đáp ứng được nhu cầutiêu dùng trong nước và chưa cạnh tranh được trên thị trường quốc tế
- Giảm dần nhập siêu nhờ phát triển sản xuất trong nước theo hướng côngnghiệp hoá, tăng sức cạnh tranh cho hàng hoá, khuyến khích xuất khẩu, áp dụngchính sách bảo hộ và tài trợ cho các ngành sản xuất trong nước
- Tiến tới cân bằng cán cân thương mại và xuất siêu do xuất khẩu tăng nhanhhơn nhập khẩu, hàng hoá có sức cạnh tranh do công nghiệp trong nước đã vữngmạnh nhờ chính sách hỗ trợ của Chính phủ hoặc do đầu tư lớn của nước ngoài
- Xuất siêu tăng mạnh nhờ công nghiệp trong nước phát triển mạnh, sảnphẩm có sức cạnh tranh cao và giá trị gia tăng lớn hơn, tỷ giá tiền tệ được điềuchỉnh linh hoạt theo hướng giảm giá đồng tiền càng có lợi cho xuất khẩu
- Trải qua giai đoạn thặng dư thương mại tăng giảm thất thường do biếnđộng thị trường, các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, sức ép mở cửa thị trườngbuộc Chính phủ phải tìm hướng đi mới, tăng cường phát triển các ngành sản xuấtcông nghệ cao, công nghệ mới, đổi mới cơ cấu kinh tế
Khu vực kinh tế có đóng góp chính tạo nên thặng dư thương mại của các
nền kinh tế
- Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài: Trung Quốc, Malayxia
- Công nghiệp trong nước: Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản
- Cả hai khu vực kinh tế nhưng FDI thể hiện vai trò lớn: Inđonesia, Thái Lan,Singapore
Trang 32Những nền kinh tế đạt thặng dư thương mại do đóng góp của khu vực kinh tếtrong nước như Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản đều là những nền kinh tế khôngđược ưu đãi về tài nguyên thiên nhiên, đều bị tàn phá bởi chiến tranh do vậy conđường duy nhất phát triển kinh tế là công nghiệp hoá nhanh chóng, tự lực tự cường.Đối với những nền kinh tế đạt được thặng dư thương mại do đóng góp từ khuvực FDI và công nghiệp trong nước đều có ưu thế về tài nguyên thiên nhiên như đấtđại, khoáng sản, khí hậu (Trung Quốc, Malayxia, Thái Lan, Indonesia) hoặc ưu thế
mô lớn) và mức giá nguyên nhiên vật liệu chính (giá dầu, giá khoáng sản…)
- Ngành công nghiệp, công nghiệp nhẹ, gia công lắp ráp (Thái Lan,Malayxia, Indonesia, Philippin):
Trang 33Đây là 4 nền kinh tế đang phát triển trong khu vực có điều kiện tự nhiên thuậnlợi trong ngành nông nghiệp, có tài nguyên khoáng sản nhất định và nhân lực giá rẻ
hỗ trợ cho ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp gia công lắp ráp, nông lâm thủy sản
và chế biến nông lâm thuỷ sản Sản phẩm xuất khẩu của 4 nền kinh tế này do vậy vàbảo gồm chủ yếu hàng nông lâm thuỷ sản (dầu cọ, cao su thiên nhiên, bột giấy, tômđông lạnh…), nguyên nhiên liệu (dầu khí, phôi thép…), hàng gia công (dệt may,giày dép, đồ chơi…) và hàng lắp ráp (thiết bị nghe nhìn và phụ tùng ô tô xe máy, đồgia dụng, điện tử tiêu dùng…) Các sản phẩm này có đặc điểm là phụ thuộc điềukiện tự nhiên (thời tiết ảnh hưởng đến thu hoạch của nông thuỷ sản), giá trị gia tăngthấp và sử dụng nhiều lao động (công nghiệp nhẹ, hàng lắp ráp), có giới hạn đếndiện tích canh tác (nông thuỷ sản) hoặc trữ lượng (dầu khí, bột giấy) Thặng dưthương mại do xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp giá trị thấp phụthuộc nhiều yếu tố biến động hơn, khó tăng nhanh và mạnh, không tạo được chuyểnbiến lớn về cơ cấu và sức cạnh tranh của nền kinh tế, không tạo được thu nhập quốcdân trên đầu người cao
Đặc điểm chung về chính sách, cơ chế quản lý kinh tế của các nền kinh tế
đạt được thặng dư thương mại.
- Về chính sách kinh tế:
Phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá ngày càng sâu, rộng Nền kinh
tế được chuyển đổi cơ cấu một cách sâu sắc và toàn diện từ nông nghiệp sang pháttriển công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng, công nghiệp có hàm lượng giá trị gia tăngcao, công nghệ cao
Định hướng đúng cho các ngành sản xuất hướng mạnh xuất khẩu
Xây dựng và thực hiện các chiến lược và các kế hoạch kinh tế phù hợp vớitừng giai đoạn phát triển và kịp thời điều chỉnh khi có biến động kinh tế bên ngoàihoặc không đạt được các chỉ tiêu đề ra Các kế hoạch kinh tế đã góp phần quantrọng trong việc gây dựng và phát triển các ngành sản xuất công nghiệp
Đầu tư lớn và hiệu quả thiết lập các nền tảng vững chắc phục vụ phát triểnkinh tế: đào tạo nguồn nhân lực tốt (giáo dục), nâng cao trình độ công nghiệp (pháttriển khoa học kỹ thuật, nhập khẩu công nghệ nguồn và công nghệ cao), xây dựng
Trang 34cơ sở hạ tầng đồng bộ (cầu, đường, cảng, kho, bãi, trung tâm nghiên cứu, hệ thốngthông tin liên lạc …).
Nâng đỡ và phát triển khu vực kinh tế tư nhân năng động, giảm dần vai trò và
tỷ trọng của các doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế (tư nhân hoá các doanhnghiệp nhà nước hoặc duy trì một số doanh nghiệp nhà nước trong một vài ngànhtrọng yếu), giảm dần sự can thiệp của Nhà nước vào vận hành và hoạt động của nềnkinh tế
- Về chính sách tỷ giá:
Duy trì chế độ tỷ giá thời gian đầu, sau đó thả nổi có kiểm soát: đó là nền kinh
tế phụ thuộc vào nguyên nhiên vật liệu nhập khẩu như Singapore, Nhật Bản, HànQuốc, Đài Loan hoặc do ưu tiên duy trì ổn định vĩ mô như Malayxia
Giảm giá đồng tiền nội tệ để hỗ trợ xuất khẩu: đó là trường hợp Trung Quốc,Thái Lan, Indonesia
- Về chính sách thương mại:
Hoạch định, phối hợp và thực hiện hiệu quả các chính sách kinh tế, thươngmại, tiền tệ toàn diện, linh hoạt có tác dụng khuyến khích phát triển các ngành sảnxuất hướng về xuất khẩu với mức tăng trưởng cao trong khi có biện pháp kiềm chếmức tăng nhập khẩu
Có chính sách hỗ trợ tốt cho hoạt động xuất khẩu thông qua nhiều hình thứcnhư tín dụng xuất khẩu, xúc tiến thương mại, bảo hiểm xuất khẩu …
Chủ động tham gia thương mại quốc tế, tận dụng tốt các lợi ích của xu hướng
mở cửa và tự do thương mại
Tạo nên sức cạnh tranh quốc tế trong một số lĩnh vực nhất định
Trong điều kiện phát triển của Việt Nam hiện nay, một số kinh nghiệm
có thể xem xét khả năng áp dụng bao gồm:
- Về chính sách kinh tế:
Cần coi trọng việc hoạch định chính sách cơ cấu và chính sách cạnh tranh theoqui tắc lợi thế so sánh để phát triển sản xuất trong nước: thay thế hàng nhập khẩu vàlựa chọn sản phẩm xuất khẩu chủ lực của nền kinh tế
Trang 35Xây dựng chính sách phát triển kinh tế tổng thể, có tầm nhìn dài hạn, đặt trọngtâm vào hỗ trợ các ngành công nghiệp mà trong nước có ưu thế nhất định và mạnhdạn phát triển các ngành công nghiệp tiên tiến, công nghiệp mới, giá trị gia tăngcao, phát triển mạnh công nghiệp phụ trợ làm tăng khả năng cạnh tranh của hàngxuất khẩu và giảm nhập khẩu nguyên phụ liệu, khuyến khích đầu tư nước ngoài vàophát triển công nghiệp phụ trợ.
Tạo điều kiện ưu đãi và thủ tục thông thoáng, môi trường thuận lợi thu hútFDI vào các ngành công nghiệp có chọn lọc;
Kiểm soát đầu tư không hiệu quả của các doanh nghiệp Nhà nước;
Tận dụng các lợi ích của hội nhập kinh tế quốc tế để thay đổi cơ cấu kinh tế,phát triển kinh tế trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường; hạn chế việcvay vốn thương mại vào những lĩnh vực sản xuất thay thế NK kém hiệu quả
Quan trọng nhất là cải cách hệ thống giáo dục, đào tạo dạy nghề để nhanhchóng nâng cao trình độ, kỹ năng của lực lượng lao động, phát triển nhân tài cho cảkhu vực Nhà nước và tư nhân Nhân tài là yếu tố quyết định sức cạnh tranh của cảnền kinh tế
- Về chính sách tỷ giá:
Do nền kinh tế phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu và bán thànhphẩm, trong ngắn hạn cần duy trì tỷ giá ổn định trong biên độ được kiểm soát chặt chẽ Trong trung và dài hạn cần xem xét giảm dần tỷ giá VND so với các ngoại tệcủa các đối tác thương mại lớn và các đối thủ cạnh tranh chính theo lộ trình có tínhtoán nhằm tăng sức cạnh tranh cho hàng xuất khẩu, chỉ sử dụng biện pháp tỷ giá hỗtrợ và kích thích xuất khẩu ở những thời điểm thích hợp nhất định như là giải pháptình thế để điều chỉnh sự thâm hụt thương mại quá sức an toàn của nền kinh tế; và
sự điều chỉnh đó phải bắt nguồn từ yếu tố tiền tệ chứ không sử dụng trong trườnghợp có sự bất hợp lý từ cơ cấu kinh tế
- Về chính sách thương mại:
Nền kinh tế đang hội nhập nên việc mở cửa thị trường là tất yếu, tuy nhiên cần
có chính sách hỗ trợ sản xuất hàng xuất khẩu và kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu phù
Trang 36hợp với các qui định của WTO (chống gian lận thương mại, xây dựng hàng rào bảo
hộ phù hợp với đặc thù nền kinh tế…)
Áp dụng biện pháp hạn chế tối đa việc xuất khẩu các nguyên liệu thô
Tập trung khuyến khích hỗ trợ xuất khẩu hàng qua chế biến, sản phẩm côngnghiệp chế tạo, hàng có giá trị gia tăng cao
Liên kết các ngành hàng, tăng cường vai trò các Hiệp hội trọng định hướngcho doanh nghiệp và đề xuất chính sách với Chính phủ
Tăng cường vai trò đầu mối kiểm soát và khả năng định hướng của Bộ chủquản ngành thương mại (Bộ Công thương)
Lập quỹ bảo hiểm tín dụng xuất khẩu
Tận dụng các ưu đãi thương mại dành cho các nước đang phát triển (GSP), ưuđãi của các khu mậu dịch tự do (AFTA, AJCEP, AKFTA, ACFTA …) để tăng xuấtkhẩu vào các thị trường chính
Đẩy mạnh xúc tiến thương mại có hệ thống thông qua việc mở mạng lưới cácvăn phòng xúc tiến thương mại tại các nước và khu vực quan trọng, tổ chức cácchương trình xúc tiến chuyên ngành theo định kỳ
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NHẬP SIÊU CỦA VIỆT NAM
TRONG THỜI GIAN QUA
I PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NHẬP SIÊU CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ 2001 - 2009
1 Phân tích thực trạng cơ cấu nhập siêu của Việt Nam thời kỳ 2001 - 2009 theo nhóm hàng, mặt hàng nhập khẩu
1.1 Cơ cấu nhập siêu theo nhóm hàng nhập giai đoạn thời kỳ 2001 - 2009
Nếu như giai đoạn 1996 - 2000, tổng KNNK là 61,49 tỷ USD thì tổng KNNKgiai đoạn 2001 - 2005 đạt mức 130,1 tỷ USD, tăng gấp 2,1 lần so với giai đoạn
1996 - 2000 Tổng giá trị NS của cả giai đoạn là 19,2 tỷ USD, tỷ lệ NS so vớiKNXK là 17,2%
Tỷ trọng KNNK
Tỷ trọng KNNK
Tỷ trọng
Nguồn: Tổng cục Hải Quan
Trong 5 năm 2001 - 2005, cơ cấu nhóm hàng NK chưa có sự chuyển dịch tíchcực, nhóm hàng tiêu dùng vẫn chiếm tỷ trọng cao và khá ổn định ở mức 23%, nhómnguyên nhiên vật liệu và máy móc, thiết bị, công nghệ chiếm 77%; riêng máy móc
Trang 38thiết bị và công nghệ có xu hướng giảm, thay vào đó là nhóm nguyên nhiên vật liệutăng lên đáng kể (xem Bảng 1).
Bảng 2: Tăng trưởng nhập khẩu của các nhóm hàng 2001 - 2005
Đơn vị: Triệu USD
Nguồn: Tổng cục Hải quan.
Như thế, sự sụt giảm cả về tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng nhập khẩu của nhómmáy móc thiết bị và công nghệ là một khía cạnh tiêu cực của nhập siêu trong giaiđoạn này vì nó làm giảm hiệu ứng của nhập khẩu đối với năng lực cạnh tranh củahàng sản xuất trong nước, nhất là hàng xuất khẩu
1.2 Phân tích cơ cấu nhập siêu theo nhóm hàng, mặt hàng giai đoạn 2006 - 2009
Ngay sau khi các cam kết WTO có hiệu lực, tổng trị giá KNNK năm 2006,năm 2007 đã tăng rất nhanh so với giai đoạn trước Tốc độ tăng trưởng nhập khẩunăm 2006 tăng 21,4% so với năm 2005, năm 2007 tăng 39,6% so với năm 2006,năm 2008 tăng 32% so với năm 2007, năm 2009 tăng 30% so với năm 2008 Cácmặt hàng đóng góp vào tăng kim ngạch nhập khẩu chủ yếu vẫn là mặt hàng máymóc, linh kiện và phụ tùng; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; xăng dầucác loại; hóa chất và các sản phẩm hóa chất; chất dẻo nguyên liệu; thức ăn gia súc
và nguyên liệu; kim loại thường khác …
Bảng 3: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam 2006 - 2008
Nguồn: Tổng cục Hải quan.
Cán cân thương mại Tr.USD -5.065 -14.121 -17.500
Trang 39– Nhóm hàng thiết yếu phải nhập khẩu:
Nhóm hàng thiết yếu phải nhập khẩu chủ yếu là các mặt hàng máy móc, trangthiết bị, công nghệ phục vụ cho sản xuất, phát triển và các nguyên liệu cơ bản phục
vụ cho đời sống Kinh tế phát triển, đầu tư trong nước và FDI tăng dẫn đến nhậpkhẩu máy móc, thiết bị, nguyên, nhiên, vật liệu cũng tăng mạnh trong giai đoạn
2007 - 2009 Bên cạnh đó, nhập khẩu nhiên liệu, nguyên, vật liệu phục vụ sản xuấttăng rất cao (kể cả cho sản xuất công nghiệp và nông nghiệp) Đây chính là nhómhàng có kim ngạch nhập khẩu cao nhất, cụ thể kim ngạch nhập khẩu các mặt hàngnày như sau:
Bảng 4: Kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng thiết yếu phải nhập khẩu 2006 - 2008
Đơn vị: Triệu USD
Nguồn: Tổng cục Hải quan.
Theo bảng trên, kim ngạch nhập khẩu của 18 nhóm hàng máy móc thiết bị,
Trang 40nguyên nhiên vật liệu đã lên tới 126,6 tỷ USD trong cả giai đoạn 2007 - 2009,chiếm trên 67% trong tổng kim ngạch nhập khẩu cả giai đoạn, trong đó năm 2006,tổng trị giá kim ngạch nhập khẩu nhóm này chỉ ở mức 29,4 tỷ USD, năm 2007 đãlên tới 42,2 tỷ USD, và đến năm 2008, dự kiến kim ngạch nhập khẩu nhóm hàngthiết yếu cần phải nhập khẩu này đạt mức 55,9 tỷ USD Như vậy, ta có thể thấymức tăng trưởng đáng kể của nhóm hàng này với tỷ lệ tăng trưởng bình quân37%/năm.
– Nhóm hàng cần thiết phục vụ an sinh xã hội:
Đây là một số mặt hàng thiết yếu phục vụ cho chăm sóc sức khỏe con ngườinhư tân dược, nguyên phụ liệu dược phẩm, sữa và các sản phẩm từ sữa Ngoài ra,một số mặt hàng phục vụ cho nhu cầu xã hội khác như giấy các loại, dầu mỡ độngthực vật, lúa mì, bột mì cũng được đưa vào nhóm hàng này Các mặt hàng thuộcnhóm này phụ thuộc nhiều vào mặt bằng giá thế giới và sự thay đổi tỷ giá của đồngEUR và USD nên kim ngạch nhập khẩu trong giai đoạn này tăng thêm mang nhiềuyếu tố khách quan
Bảng 5: Kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng cần thiết phục vụ an sinh xã hội
Nguồn: Tổng cục Hải quan.
Kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng cần thiết phục vụ an sinh xã hội giai đoạn
2006 - 2009 đạt 8 tỷ USD, chiếm tỷ trọng thấp (4,1%) trong tổng kim ngạch nhậpkhẩu cả giai đoạn, nhưng mức tăng trưởng qua các năm cũng tương đối cao Kimngạch nhập khẩu 2007 tăng thêm 807 triệu so với năm 2006, là 2,77 tỷ USD (tươngđương tăng 41% về mặt tương đối), tuy nhiên, năm 2008, kim ngạch chỉ tăng ở mức