1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cái tôi trong thơ nguyễn bính

50 932 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 5,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cái tôi trong thơ nguyễn bính

Trang 2

1 Giới thiệu về Nguyễn Bính

2 Khái quát một số tác phẩm nổi tiếng

3 Vị trí thơ Nguyễn Bính trong phong trào Thơ Mới

4 Phân tích cái tôi trong thơ Nguyễn Bính

4.1 Hoàn cảnh lịch sử thời đại ảnh hưởng đến thơ Nguyễn Bính4.2 Sự tiếp xúc các nền văn hóa trong thơ Nguyễn Bính

4.3 Đặc điểm cái tôi trong thơ Nguyễn Bính

5 Kết luận

6 Tài liệu tham khảo

Trang 3

Nguyễn Bính tên thật là Nguyễn Trọng Bính

Ông sinh vào cuối xuân đầu hạ năm 1918 tại xóm Trạm,

thôn Thiện Vịnh, Xã Đồng Đội ( nay là xã Cộng Hòa )

huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, trong một gia đình nhà nho

nghèo

Trang 4

 Nguyễn Bính bắt đầu làm thơ từ năm 13 tuổi

 Năm 1932, Nguyễn Bính rời quê ra Hà Nội và bắt đầu nổi tiếng với bài thơ “Cô gái

hái mơ”(1937), được giải khuyến khích của hội Tự Lực văn đoàn với tập thơ “Tâm hồn tôi” (1940)

 Năm 1943, Nguyễn Bính vào Nam Bộ, đến năm 1944 được giải nhất văn học Nam

Xuyên ở Sài Gòn với truyện thơ “Cây đàn tì bà”

Trang 5

 Trong cách mạng tháng Tám và suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Nguyễn

Bính hoạt động ở Nam Bộ

 Nhà thơ tham gia giữ những trách nhiệm trọng yếu như: Phụ trách Hội Văn nghệ cứu quốc

tỉnh Rạch Gía, phó chủ nhiệm Tỉnh bộ Việt Minh tỉnh Rạch Gía, sau làm ở ban Văn nghệ Phòng Tuyên huấn Quân Khu Tám

 Tháng 11 năm 1954, Nguyễn Bính tập kết ra Bắc, công tác ở Hội Nhà văn Việt Nam, năm

1956 làm chủ bút tuần báo Trăm hoa

Trang 6

 Đầu năm 1964, Nguyễn Bính về công tác ở Ty văn hóa Nam Hà (cũ)

 Nguyễn Bính đột ngột mất vào sáng 30 tết năm Ất Tỵ ( tức ngày 20-1-1966)

khi đến thăm một người bạn tại xã Hòa Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Nam Định

 Năm 2000, Nguyễn Bính được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học

– Nghệ thuật đợt II

Trang 7

Trong suốt sự nghiệp sáng tác của mình Nguyễn Bính đã để lại một số lượng tác phẩm đồ sộ Độc giả biết đến thơ Nguyễn Bính với những tác phẩm tiêu biểu như:

Lỡ bước sang ngang ( thơ)

Tâm hồn tôi ( thơ)

Hương cố nhân ( thơ )

Mười hai bến nước ( thơ)

Người con gái ở lầu hóa ( thơ)

Trang 8

Các tập thơ:

Một nghìn cửa sổ ( 1941), Mây Tần ( 1942), Tập Thơ yêu nước, Sóng biển cỏ, Ông lão mài gươm (1947), Trăng kia đã đứng ngang đầu, Những dòng tâm huyết, Mừng Đảng ra đời ( 1953), Nước giếng thơi ( 1957), Tình nghĩa đôi ta ( 1960).

Trang 9

Truyện Thơ: Cô gái Ba Tư (1943), Cây đàn Tỳ Bà (1944), Trông bóng cờ bay (1957), Tiếng

Trang 10

Trong phong trào thơ mới giai đoạn (1930

-1945) khi nhiều nhà thơ có ý " hiện đại hóa"

thơ mình về mọi mặt thì có một nhà thơ lặng

lẽ, âm thầm sáng tác và đi theo một con

đường riêng Ðó là Nguyễn Bính.

Trang 11

 Ðương thời, đánh giá về thơ Nguyễn Bính có nhiều ý kiến rất khác nhau Thậm chí có người

còn cho rằng, thơ Nguyễn Bính chỉ để những người mộc mạc "chân quê" đọc và thưởng thức

mà thôi

 Nhưng thật kỳ lạ càng trải qua thời gian hơi thơ mộc mạc, quê mùa, hương đồng gió nội ấy

càng ăn sâu, bám rễ trong lòng người đọc

 Nhiều thế hệ người Việt Nam đã đọc, đã thuộc và say mê thơ Nguyễn Bính Chính hơi thở quê

mùa, dung dị ấy là yếu tố khẳng định vị trí Nguyễn Bính trong nền văn học Việt Nam.

Trang 12

Thế Lữ đã điểm thơ Nguyễn Bính:

“Thơ xuân của ông Nguyễn Bính là những bức tranh nhỏ nhắn vẽ những nét hoạt bát vui vẻ không có chút gì gọi là kỳ khu Bốn câu đầu trong bài Xuân về của ông:

Đã thấy xuân về với gió đông, Với trên màu má gái chưa chồng Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm, Liếc mắt nhìn trời, đôi mắt trong.

Vẻ đùa cợt thực là tài tình ở những tiếng nhắc lại ỡm ờ nhưng không ngang chướng.

Ông Bính có một giọng thơ bao lơn rất dung dị và rất đáng yêu”

Trang 13

 Thi sĩ Nguyễn Bính cũng có tâm hồn thi sĩ, biết cảm những cái nên thơ, biết du dương

lòng mình trong những phút đau thương bằng những vần điệu êm đềm nhè nhẹ

 Ông đã tỏ ra rằng ở chiếc đàn lòng của ông, cái dây thương nhớ là cái dây rung động hơn

hết

 Đọc toàn tập, ta thấy thi sĩ Nguyễn Bính có một tâm hồn rất ủy mị Thi sĩ đã thất vọng vì tình

Thi sĩ làm thơ khêu gợi những kỷ niệm xa xăm của những ngày ân ái cũ, cái đó không đáng trách.

Trang 14

 Nhưng điều đáng công kích hơn hết là vì tình duyên lỗi hẹn mà thi sĩ khóc rền rĩ ngày

đêm như một đứa trẻ lên ba nổi cơn sài!

Thường thì em khóc về đêm, Bảo rằng đừng nữa khốn quen nết rồi.

Nín làm sao được, chị ơi!

Tính ra mười mấy tháng giời em xa.

 Không phải thi sĩ đã khóc một, hay vài buổi, nhưng đã khóc hàng tháng như lời thú tội

của thi sĩ:

Khi nào chị có qua thăm, Cho em lần nữa chiếc khăn lụa hồng.

Cầm cho hai tháng là cùng, Khóc như em, mấy khăn hồng chả phai.

(Thư cho chị)

Trang 15

 Trông thấy một người đàn bà hay một con trẻ khóc, chúng ta có khi còn động lòng trắc ẩn

mà lựa lời thăm hỏi Nhưng thấy một người đàn ông ngồi khóc chúng ta không những không thèm hỏi, mà lại khinh là đằng khác; vì đã nên trang niên thiếu thì rên rỉ là hèn nhát, khóc than là yếu ớt, là ủy mị và van lơn cầu khẩn là ti tiện, đê hèn.

Trang 16

Từ đấy buồng tôi không có hoa, Khóc lên nhật ký, khóc cho nhòa.

Giời còn bắt sống còn mang hận, Chả chết cho thành một đám ma.

(Những trang nhật ký)

 Thi sĩ còn thèm khóc nữa và đã chán nản cuộc đời vì trời ơi, “cao thượng”

thay, chỉ vì không lấy được người yêu:

Cho tôi được khóc vì tôi thấy, Tôi đã tan hoang cả kiếp người.

(Cho tôi được khóc)

 Và thi sĩ đã chán nản một cách dại dột:

Tóc tôi để bạc cho già, Đời tôi để rụng cho là đời tôi!

(Tôi còn nhớ lắm)”…

Trang 17

 Nhà phê bình Lương Đức Thiệp trong công trình khảo sát

chuyên sâu Việt Nam thi ca luận (Khuê Văn xuất bản cục,

Hà Nội, 1942) đã xác định tính hai mặt đỏng đảnh của thể

thơ lục bát và so sánh, nhấn mạnh bước tiến từ Thế Lữ,

Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương đến Nguyễn Bính:

“Thể lục bát phát sinh do cái tính cách đặc biệt về âm hưởng trong

Việt ngữ Hình thức này do quảng đại dân chúng tạo thành nên rất

phổ thông Nó phổ thông nhưng lại khó đạt tới được nghệ thuật

cho những người chưa thấu lĩnh được hết cái tinh vi của Việt ngữ

Dùng thể này, một thi sĩ có thể dễ trở thành người làm vè Chỉ một

hay hai chữ dùng không đắc vị cũng đủ làm cho cả câu đáng nhẽ

hay thành ra rất dở được”.

Trang 18

Sau nhiều trang phân tích, Lương Đức Thiệp tiếp tục chỉ ra các dòng mạch thi ca, trong đó có cả phái Tự nhiên - Hồn nhiên chiếm số đông

mà đại diện lại chính là Nguyễn Văn Phúc và Nguyễn Bính:

“Một phái nữa lấy “tự nhiên” làm cốt cách cho thi ca Theo chủ

trương này, thơ phải hồn nhiên Gột rửa câu văn, cân nhắc vần điệu làm mất cả đà tự nhiên của dòng thi cảm.

Hứng đến, thi sĩ chỉ cần bắt ngay lấy rồi dùng thanh âm thích ứng mà gọi nó lên Thế là thơ rồi! Cho nên thơ phải “nhất khí”, cho nên giọng thơ phải hồn nhiên”

Nguyễn Bính – nhà thơ đa tình

Trang 19

4.1 Hoàn cảnh lịch sử xã hội.

Xét về hoàn cảnh lịch sử, từ giữa thế kỷ XIX, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam đều là các nước tiền công nghiệp trước khi tiếp xúc với phương Tây công nghiệp hiện đại

Trang 20

Việc chủ nghĩa tư bản thâm nhập vào Việt Nam và sau Thế chiến thứ nhất, cùng với việc người Pháp đẩy mạnh phong trào khai phá thuộc địa đã vô tình đẩy nhanh làn gió của văn hóa phương Tây vào Việt Nam.

Trang 21

ra vần luật, niệm luật của Nho gia đã quá gò bó trong việc thể hiện tiếng thơ của con người Năm 1917 trên báo Nam Phong (số 5), Phạm Quỳnh nổi tiếng là người bảo thủ, cũng phải thú nhận sự gò bó của các luật thơ cũ:

 "Người ta nói tiếng thơ là tiếng kêu của con tim Người Tàu

định luật nghiêm cho người làm thơ thực là muốn chữa lại, sửa lại tiếng kêu ấy cho nó hay hơn nhưng cũng nhân đó mà làm mất đi cái giọng tự nhiên vậy."

Trang 22

hỏi nhất định của lịch sử xã hội Bởi nó là tiếng nói, là nhu

cầu thẩm mỹ của một giai cấp, tầng lớp người trong xã hội

 Thơ mới là tiếng nói của tiểu tư sản Sự xuất hiện của hai

giai cấp tư sản và tiểu tư sản này đối với những tư tưởng tình

cảm mới, những thị hiếu thẩm mỹ mới cùng với sự giao lưu

văn học Đông Tây là nguyên nhân chính dẫn đến sự ra đời

của Phong trào thơ mới 1932-1945.

Tản Đà – người đặt nền móng cho Thơ Mới

Trang 23

Xác định tính dân chủ và tinh thần tiếp xúc đồng đại với

đời sống nghệ thuật phương Tây đã tiếp thêm sinh lực

cho phong trào Thơ mới và định hình một hệ hình diễn

ngôn kiểu mới, một hệ thống tư tưởng nghệ thuật và

hình thức câu thơ kiểu mới.

Trang 24

 Sự phát triển và tiến hóa của Thơ mới Việt

Nam gắn bó chặt chẽ với cội nguồn trào lưu nhân văn thế kỷ XVIII-XIX và xu thế hội nhập, tiếp nhận ảnh hưởng thơ ca Pháp và phương Tây

 Bản thân các nhà Thơ mới cũng như các

nhà phê bình đương thời đều ý thức rõ điều này

Trang 25

 Qua thời gian, Thơ mới ngày càng phát

triển, đạt nhiều thành tựu và làm nên “một

thời đại trong thi ca” (Hoài Thanh)…

 Trong bước đi ban đầu, nhiều nhà Thơ mới

được tiếp xúc với văn hóa Pháp và phương

Tây đã đủ khả năng viết nên một lối thơ

mới mẻ bằng tiếng Việt và cả bằng tiếng

Pháp

Trang 26

 Tinh thần dân tộc sâu sắc

 Thơ mới luôn ấp ủ một tinh thần dân tộc, một lòng khao khát tự do Ở thời kỳ đầu, tinh

thần dân tộc ấy là tiếng vọng lại xa xôi của phong trào cách mạng

 Tâm sự yêu nước thiết tha

 Có thể nói, tinh thần dân tộc là một động lực tinh thần để giúp các nhà thơ mới ấp ủ

lòng yêu nước Quê hương đất nước thân thương đã trở thành cảm hứng trong nhiều bài thơ, Hình ảnh thôn Đoài, thôn Đông, mái đình, gốc đa, bến nước, giậu mồng tơi, cổng làng nắng mai, mái nhà tranh đã gợi lên sắc màu quê hương bình dị, đáng yêu trong tâm hồn mỗi người Việt Nam yêu nước

Trang 27

Trong chúng ta, có lẽ không ai là không thuộc thơ

Nguyễn Bính, ít ra là một vài câu Trên thực tế, thơ

Nguyễn Bính đã đi vào tâm hồn dân tộc, thấm vào

lời ăn tiếng nói người dân quê, trong câu hát ru của

mẹ, của bà, trong lời giao duyên tình tứ của những

đôi lứa yêu nhau Có lẽ ở góc độ này, Nguyễn

Bính chỉ đứng sau đại thi hào Nguyễn Du mà thôi

Trang 28

 Để hiểu cái điều bình dị và kỳ diệu ấy, ta hãy trở về cái

không khí xã hội, không khí văn học Việt Nam, thời Nguyễn Bính mới xuất hiện giữa làng thơ

 Thời kỳ ấy, trước làn gió mới mẻ của phương Tây thổi

vào, khi mà người ta háo hức hiện đại hoá, đua nhau cách tân, lao vào tìm hiểu những cái mới lạ của phương Tây, thì Nguyễn Bính cứ hồn nhiên giữa làng thơ với chất quê mộc mạc của mình

Trang 29

Hai ngưười sống giữa cô đơn Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi

Giá đừng có dậu mùng tơi Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng.

(Người hàng xóm )

Trang 30

 Với Nguyễn Bính, chân quê chính là

cái gốc, là bản sắc văn hoá dân tộc,

là nét đẹp nhân bản của con người Việt Nam, phải biết bảo vệ và gìn giữ nó

Trang 31

 Đặc biệt, trong những bài thơ của mình, Nguyễn Bính đã

gợi được cái thần thái của văn hóa làng quê

 Đọc thơ Nguyễn Bính, người ta như sống lại những ngày

hội xuân, những ngày hội làng, những đêm hát chèo, một

buổi lễ chùa, những nét tín ngưỡng tôn giáo và phong tục

tập quán, lớp học thầy đồ, những trò vui dân dã, cách ăn

mặc và nếp sống xa xưa, giấc mơ quan trạng…

Trang 32

Một nét đẹp văn hóa ở làng quê Việt Nam xa xưa là ước mơ về sự vinh hiển, là giấc mơ quan trạng Giấc mơ ấy trở đi trở lại nhiều lần trong thơ Nguyễn Bính:

Thế rồi vua mở khoa thi Thế rồi quan trạng vinh quy qua làng

(Quan trạng)

Trang 33

 Nguyễn Bính không chỉ tài hoa khi dựng cảnh những ngày hội quê mà ông còn rất

am hiểu và khéo léo khi đặc tả những nét văn hóa làng quê qua cách ăn mặc, qua những nét dáng bề ngoài của người quê Đây là hình ảnh một chú bé mà người ta có thể bắt gặp đâu đó trên đường thôn:

Tuổi thơ tóc để gáo dừa Tuổi thơ mẹ bắt đeo bùa cần ong

(Tiền và lá)

 Đây là trang phục ngày thường rất mộc mạc mà duyên dáng, đáng yêu của cô gái quê

- tất cả cùng in sâu trong tâm khảm của anh trai làng đang ghen bóng ghen gió:

Nào đâu cái yếm lụa sồi?

Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?

Nào đâu cái áo tứ thân?

Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?

(Chân quê)

Trang 34

Nếu ở Kinh Bắc xưa, mùa xuân là hội quan họ thì ở các làng quê Bắc

Bộ, mùa xuân là ngày hội của những đêm hát chèo, cũng là mùa của

các trò vui thật giản dị mà thanh thản, sảng khoái ở chốn đồng quê:

Hiu hiu gió quạt trăng đèn Với dăm trẻ nhỏ thả thuyền ta chơi

Ăn gỏi cá, đánh cờ người Thần tiên riêng một góc trời thôn Vân.

(Anh về quê cũ)

Trang 35

 Có thể nói, tình quê của Nguyễn Bính không nhạt dần theo những năm tháng tha

hương, trái lại, càng đậm đà hơn

 Chính là trong sự cọ sát với môi trường hiện đại, Nguyễn Bính đã đưa được vào thơ

không chỉ tâm sự của mình mà còn của thời đại trong xã hội đương thời - một xã hội với bao kiếp người trôi dạt, bao buồn thương bế tắc, bao khát khao hạnh phúc, bao tình yêu tha thiết với xứ sở quê hương

Trang 37

"CÁI TÔI " LỠ DỞ

Có thể khái quát Nguyễn Bính bằng hai chữ "lỡ làng"

Phần vì nó là chữ trở đi trở lại rất nhiều trong Nguyễn Bính, phần vì thấy đây là một bi kịch lớn, bao trùm lên thế giới thơ của thi sĩ này

Trang 38

 Đọc vào Nguyễn Bính sâu hơn rồi, nhận rõ hơn tầm vóc của thi sĩ, tôi thấy chữ "lỡ

làng" đuối nghĩa, đuối sức như con đò bé không còn chở Nguyễn Bính sang ngang được nữa

 Chữ "lỡ làng" hợp với phận gái hơn, lại quá nghiêng về chuyện tình duyên

Trang 39

Trong khi, ngay cả lúc nước mắt lưng tròng - chỉ vài ngày hoen ướt đã hỏng mất một khăn hồng - thì Nguyễn Bính vẫn cứ là phận trai Với lại, nỗi sầu tủi của Nguyễn Bính phải đâu chỉ

có chuyện duyên phận lỡ làng, mà còn cả sự nghiệp dở dang:

“Em đi dang dở đời mưa gió Chị ở vuông tròn phận lãnh cung",

Hay:

"Dang dở một thân nơi đất khách Tết này ta lại ngắm hoa suông"

Trang 40

 Thơ Nguyễn Bính là sự lên tiếng của những cảnh ngộ oan nghiệt, những thân phận

ngang trái

 Mà quan trọng hơn, Nguyễn Bính là thi sĩ của cái lỡ dở, như một phạm trù trữ tình

vậy

 Bởi vì "lỡ dở" đâu chỉ là chuyện của riêng Nguyễn Bính, riêng của thời đại Nguyễn

Bính, mà sau này và mãi mãi nó vẫn là một thảm trạng phổ biến của cõi nhân sinh

Trang 41

 Song hành với sự thành đạt của nhân gian, bao giờ cũng là sự lỡ dở Mà đã lỡ dở, làm sao tránh khỏi tủi sầu bi

phẫn Bởi thế, đây quả là một nguồn lệ vẫn ngấm ngầm đây đó trong lòng thế nhân

 Có điều, ở thời Nguyễn Bính, bi kịch ấy sắc sói hơn, đắng đót hơn Ông sinh ra dường như để dành cho sự lỡ

dở Trời đày ông để ông phải làm tròn cái sứ mệnh oái oăm đó

 Từ thân thế mình, Nguyễn Bính đã cất lên tiếng nói về một bi kịch trùm cả thời thế, mà mở ra tới cùng, cũng là

một bi kịch nhân thế Nếu thân thế Nguyễn Bính hanh thông, hẳn đã không có nghiệp thơ Nguyễn Bính.

Trang 42

 Hay nói theo giọng khách quan thì nhờ bi kịch cá nhân mà Nguyễn Bính đã cảm

thông với bi kịch của thời đại Vì thế, cái Tôi Nguyễn Bính là nỗi đơn côi vì mất đi điểm tựa thiêng liêng nơi cái Ta

 Lìa khỏi cái Ta, cái Tôi ấy dày vò về Mất hơn là tự mãn về Được Đơn côi trong tình

ái Đơn côi giữa xứ người Đơn côi giữa đô thị Đơn côi cả khi đã về tới cố hương

Trang 43

 Về bình diện văn hoá, Nguyễn Bính là con đẻ của cuộc hôn nhân đầy lỡ dở giữa nền văn minh đô thị hiện đại với

văn minh thôn dã cổ truyền

 Khác xa với những cái tôi thuần đô thị, Nguyễn Bính là cái tôi - phản - đô - thị Lúc nào cũng mang nặng mối

"sầu đô thị" Cứ tưởng Nguyễn Bính chỉ là đứa con ra đời từ cuộc hôn phối giữa làn mưa xuân trong lành với giậu mồng tơi dân dã Nào ngờ lẫn trong làn mưa kia có chút bụi kinh thành

 Cái chút bụi mơ hồ đã âm thầm lớn lên thành ý hướng giang hồ Và chính nó đã xúi giục Nguyễn Bính lên

đường dấn thân vào cát bụi với những cuộc giang hồ vặt, khi sa vào bất đắc chí.

Ngày đăng: 25/02/2016, 17:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức câu thơ kiểu mới. - Cái tôi trong thơ nguyễn bính
Hình th ức câu thơ kiểu mới (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w