Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở nước ta
Trang 1TRƯỜNG ĐH CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
KHOA MÁC-LÊNINBỘ MÔN: CHỦ NGHĨA XÃ HÔI KHOA HỌC
GV hướng dẫn: Nguyễn Nam Thanh Hoàng
TP Hồ Chí Minh, Tháng 10/2010
MỤC LỤC
Trang 2MỤC LỤC 2
LỜI MỞ ĐẦU 3
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 4
2 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU 5
2.1 Mục đích 5
2.2 Yêu cầu 5
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 6
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 6
6 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 6
PHẦN NỘI DUNG 6
1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
1.1 Khái niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa 6
1.2 Tính tất yếu, khách quan của công nghiệp hóa, hiện đại hóa 7
1.3 Tác dụng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa 9
1.4 Chiến lược và chính sách phát triển công nghiệp 10
1.5 Mục tiêu, quan điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam 12
1.5.1 Mục tiêu 12
1.5.2 Quan điểm 13
2 NỘI DUNG CHỦ YẾU 13
2.1 Thực trạng nền kinh tế Việt Nam 13
2.1.1 Một nền cơ cấu kinh tế năng động 13
2.1.2 Tiến hành phân công lại lao động xã hội 16
2.1.3 Phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội – trên cơ sở thực hiện cơ khí hóa nền sản xuất xã hội chủ nghĩa 17
2.2 Tình hình phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam 18
2.2.1 Thành tích, thắng lợi và những tồn tại 18
2.2.2 Trình độ công cụ, công nghệ của công nghiệp hóa 20
2.2.3 Coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn 22
2.3 Định hướng 27
2.3.1 Định hướng chính sách khoa học công nghệ 27
2.3.2 Kỹ năng công nghiệp 27
2.3.3 Thu hút đầu tư nước ngoài 28
2.3.4 Định hướng phát triển công nghiệp nông thôn đến năm 2010 28
2.4 Giải pháp 29
PHẦN KẾT LUẬN 31
LỜI MỞ ĐẦU
Nhóm 6, lớp DHOT2 xin chân thành cảm ơn:
Trang 3Ban giám hiệu Trường ĐH Công Nghiệp TPHCM và các phòng ban đã tạo mọi điều kiện cho chúng em hoàn thành bài tiểu luận này.
Khoa Mác-Lênin và thầy Nguyễn Nam Thanh Hoàng-bộ môn chủ nghĩa xã hội khoa học- đã tận tình hướng dẫn chúng em trong suốt quá trình thực hiện bài tiểu luận
Các thầy cô cùng các anh chị trong thư viện đã giúp chúng em trong việc tìm hiểu và tham khảo các tài liệu liên quan
Tuy nhiên, với khả năng và tầm nhìn hạn chế, trong suốt quá trình thực hiện bài tiểu luận, chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Chúng em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của giáo viên
TP Hồ Chí Minh, tháng 10/10
PHẦN MỞ ĐẦU
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay trên thế giới đang diễn ra cuộc chạy đua phát triển kinh tế rất sôi động,các nước nhanh chóng thực hiện các chính sách kinh tế nhằm đưa kinh tế phát triển
Trang 4khác là phải thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa Do vậy vấn đề công nghiệp hóalà vấn đề chung mang tính toàn cầu khiến mọi người đều phải quan tâm nghiên cứu nó.Từ đại hội Đảng lần thứ III, Đảng ta luôn coi công nghiệp hóa, hiện đại hóa lànhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ, Đảng ta đã xác định thực chất của công nghiệphóa xã hội chủ nghĩa là “Quyết tâm thực hiện cách mạng kỹ thuật, thực hiện mới vềphân công xã hội, là quá trình tích lũy xã hội chủ nghĩa để không ngừng thực hiện táisản xuất mở rộng” Thực tiễn lịch sử đã chỉ rõ, để thoát khỏi tình trạng lạc hậu về kinhtế xã hội, khai thác tối ưu các nguồn lực và lợi thế, bảo đảm tăng trưởng nhanh và ổnđịnh, nước ta phải xác định rõ cơ cấu kinh tế tế hợp lý, trang thiết bị ngày càng hiện đạicho ngành kinh tế Mặt khác, nước ta là nước đang phát triển, vì vậy quá trình ấy gắnliền với quá trình công nghiệp hóa của nước ta mà trước đây do nhiều nguyên nhân,trong đó có nguyên nhân nóng vội, chúng ta đã mắc phải một số sai lầm khuyết điểmmà đại hội Đảng lần thứ VI và VII đã vạch ra Vì vậy việc xây dựng đúng đắn nhữngquan điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay có vị trí rất quan trọngđối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Xây dựng đầy đủ các quan điểm côngnghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ là cơ sở đúng đắn cho việc định hướng, định lượng chỉ đạovà tổ chức thực hiện các nội dung và các bước đi của công nghiệp hóa, hiện đại hóaphù hợp với bối cảnh xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Tập thể nhóm 6, lớp DHOT2 chọn đề tài: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh
tế quốc dân trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở nước ta.” Thông qua đề tài này, chúng
em sẽ khái quát lại quá trình đổi mới mà nước ta đã và đang thực hiện, chứng minh quacác số liệu cụ thể, nêu lên những mặt tích cực, hạn chế, đồng thời đề xuất phươnghướng, giải pháp cũng như ý kiến riêng của nhóm Đây là một đề tài khá hay, nó manglại một cái nhìn tổng quát, giúp cho những sinh viên trẻ chúng em nắm bắt được tìnhhình phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế tế quốc dân trong thời kỳ quáđộ đi lên CNXH của đất nước
2 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
2.1 Mục đích
-Tạo điều kiện, giúp sinh viên hệ thống lại hệ thống kiến thức đã được học, ứngdụng vào cuộc sống thực tiễn Tập làm việc theo nhóm, nghiên cứu tình hình phát triển
Trang 5công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ quá độ đi lên CNXHở nước ta.
-Phương hướng gợi mở tư duy sáng tạo qua việc đề xuất ý kiến của mỗi sinh viên
2.2 Yêu cầu
-Nắm vững lý thuyết, lý luận Tập hợp sức mạnh của cả nhóm
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
-Nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ đổi mới.
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
-Phương pháp tổng hợp, so sánh, đánh giá, thống kê, lô gích, lịch sử Đây làphương pháp phù hợp với trình độ, điều kiện nghiên cứu thực tại
5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Những năm đầu thế kỷ XXI, ở Việt Nam
6 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Hiểu rõ hơn về quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đây là bước điquan trọng đất nước trên con đường quá độ tiến tới CNXH
PHẦN NỘI DUNG
Trang 61 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Cho đến nay, có nhiều cách diễn đạt khác nhau về công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Năm 1963, tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNID) đã đưa ra địnhnghĩa sau đây: “Công nghiệp hóa là quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình nàymột bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển
cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuật hiện đại Đặc điểm của cơ cấukinh tế này là một bộ phận chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra những tư liệu sản xuấtvà hàng tiêu dùng, có khả năng đảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế và xã hội.”
Ở nước ta, theo văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng lao độngViệt Nam thì công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quáđộ Đảng ta đã xác định thực chất của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là “quá trìnhthực tiễn cách mạng khoa học kỹ thuật, thực sự phân công mới về lao động xã hội vàquá trình tích lũy xã hội chủ nghĩa để không ngừng thực hiện tái sản xuất mở rộng”Tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 7 khóa VI và Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VII, Đảng Cộng sản Việt Nam một lần nữa đã xác định: “Công nghiệphóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất,kinh doanh, dịch vụ quản lý kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế – xã hội từ sử dụngsức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng vớicông nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển củacông nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao.”Đây cũng là quá trình xây dựng một xã hội dựa trên nền văn minh xã hội Cải biến kỹthuật, tạo dựng nền công nghiệp theo hướng hiện đại (khía cạnh vật chất và kỹ thuật)và phát triển kinh tế thị trường (khía cạnh cơ chế và thể chế) là hai mặt của quá trìnhcông nghiệp hóa duy nhất
Ngoài ra, công nghiệp hóa cũng là quá trình cải biến hệ thống thể chế và cơ chếkinh tế, từ nền kinh tế hiện vật - khép kín, tự túc sang nền kinh tế thị trường dựa trên sựphân công lao động xã hội phát triển mạnh mẽ
Trang 71.2 Tính tất yếu, khách quan của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là tất yếu đối với hầu hết các nước chưa phát triển.Với mỗi nước, mục tiêu vá tính chất quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa có thể
khác nhau Việt Nam là một nước có nền kinh tế tế nhỏ, đi lên xã hội chủ nghĩa từ mộtnước nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu, lực lượng sản xuất còn nonnớt, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa mới được thiết lập, chưa hoàn thiện, chưa phùhợp với quan hệ sản xuất của xã hội chủ nghĩa Để có cơ sở kỹ thuật của nền sản xuấtlớn, không còn con đường nào khác là công nghiệp hóa, cơ khí hóa cân đối và hiện đạihóa trên trình độ khoa học kỹ thuật phát triển cao Muốn vậy, công nghiệp hóa, hiệnđại hóa cần phát triển tuần tự và phát triển nhảy vọt, cùng một lúc thực hiện hai cuộccách mạng, đó là chuyển lao động thô sơ sang lao động bằng máy móc, và chuyển laođộng máy móc sang lao động tự động dưới sự chỉ đạo của Nhà nước theo đinh hướngxã hội xã hội chủ nghĩa
Nền kinh tế của nước ta trong quá trình phát triển gặp rất nhiều khó khăn, chịu sựtàn phá nặng nề của chiến tranh, sự chủ quan ỷ lại của lãnh đạo trong khôi phục kinh tếsau chiến tranh bằng máy móc dập khuôn mô hình kinh tế Liên Xô (cũ) Bởi vậy, trongmột thời gian nền kinh tế nước ta lâm vào tình trạng trì trệ và lạc hậu Sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa lại được tiến hành sau một loạt các nước trong khu vực vàtrên thế giới Đó là một khó khăn và một thiệt thòi lớn, nhưng đồng thời nó cũng tạo racho chúng ta những thuận lợi nhât định Khó khăn là trang thiết bị của chúng ta đã lạchậu đến 40, 50 năm so với các nước tiên tiến trên thế giới Còn những thuận lợi đượcthể hiện trước hết ở chỗ thông qua những kinh nghiệm thành công và không thànhcông của các nước trong khu vực và trên thế giới, chúng ta có thể rút ra những bài họcbổ ích cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Thực tiễn lịch sử đã chỉ rõ, để khắc phục tình trạng lạc hậu về kinh tế xã hội, khaithác tối ưu các nguồn lực và lợi thế, bảo đảm nhịp độ tăng trưởng ổn định, nước ta phảixác định cơ cấu kinh tế hợp lý, trang thiết bị ngày càng hiện đại cho các ngành kinh tế,quá trình ấy gắn liền với quá trình công nghiệp hóa Để rút ngắn khoảng cách tụt hậu,Việt Nam phải tìm cho mình một con đường đặc thù, vừa phù hợp với đặc điểm tình
Trang 8cáo chính trị của đại hội VII trình lên đại hội VIII của Đảng, dự kiến từ nay đến năm
2020, phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp Đây là lối thoátduy nhất cho nền kinh tế Việt Nam song cũng là thách thức mới Tuy nhiên, điểm xuấtphát công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay là tiền công nghiệp với nhữngđặc điểm chủ yếu là nền kinh tế dựa vào các hoạt động thương mại khai thác tàinguyên lao động, quản lý còn nặng về kinh nghiệm Mặt khác, nước ta là một nướcnông nghiệp, sản xuất nông nghiệp là bộ phận của kinh tế nông thôn Kinh tế nôngthôn nước ta chủ yếu là kinh tế thuần nông Nhìn một cách tổng quát, nếu xét về chỉtiêu kinh tế như tỷ trọng giữa công nghiệp và nông nghiệp, trình độ phát triển của lựclượng sản xuất , đặc biệt là khoa học kỹ thuật và công nghệ, mức sống của nhân dân,thì Việt Nam vẫn là một nước nghèo nàn, khó khăn và lạc hậu, đang ở trình độ vănminh nông nghiệp
1.3 Tác dụng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Công nghiệp hóa là một giai đoạn phát triển tất yếu của mỗi quốc gia Nước ta từmột nền kinh tế nông nghiệp kém phát triển, muốn vươn tới trình độ phát triển cao,nhất thiết phải trải qua công nghiệp hóa Thực hiện tốt công nghiệp hóa, hiện đại hóacó ý nghĩa đặc biệt to lớn và có tác dụng lên nhiều mặt:
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa làm phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suấtlao động, tăng sức chế ngự của con người đối với tự nhiên, tăng trưởng kinh tế, do đógóp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân Sở dĩ nó có tác dụng như vậy vì côngnghiệp hóa, hiện đại hóa là một cách chung nhất, là một cuộc cách mạng về lực lượngsản xuất, làm thay đổi căn bản kỹ thuật, công nghệ sản xuất, làm tăng năng suất laođộng
- Tiền đề về vật chất để không ngừng cũng cố và tăng cường vai trò kinh tế nhànước, nâng cao năng lực tích lũy, tăng công ăn việc làm, nhờ đó làm tăng sự phát triểntự do và toàn diện trong mọi hoạt động kinh tế của con người - nhân tố trung tâm củanền sản xuất xã hội Từ đó, con người có thể phát huy vai trò của mình đối với nền sảnxuất xã hội “Để tạo ra những người phát triển toàn diện, cần phải có một nền kinh tếphát triển cao, một nền khoa học kỹ thuật phát triển hiện đại, một nền văn hóa tiên tiến,một nền giáo dục phát triển” Bằng sự phát triển toàn diện, con người sẽ thúc đẩy lực
Trang 9lượng sản xuất phát triển Muốn đạt được điều đó phải thực hiện tốt công nghiệp hóa,hiện đại hóa mới có khả năng thực tế để quan tâm đầy đủ đến sự phát triển tự do vàtoàn diện nhân tố con người.
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa góp phần phát triển kinh tế xã hội Kinh tế có pháttriển thì mới có đủ điều kiện vật chất cho tăng cường cũng cố an ninh quốc phòng, đủsức chống thù trong giặc ngoài Công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn tác động đến đảmbảo kỹ thuật, giữ gìn, bảo quản và từng bước cải tiến vũ khí, trang thiết bị hiện có cholực lượng vũ trang
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa góp phần tăng nhanh quy mô thị trường Bên cạnhthị trường hàng hóa còn xuất hiện các thị trường vốn , thị trường lao động, thị trườngcông nghệ Vì vậy, việc sử dụng tín dụng, ngân hàng và các dịch vụ tài chính kháctăng mạnh Công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng tạo điều kiện vật chất cho việc xâydựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đủ sức tham gia một cách có hiệu quả vào sự phâncông và hợp tác quốc tế
Thành tựu công nghiệp hóa tạo ra tiền đề kinh tế cho sự phát triển đồng bộ kinh tế chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh Thành công của sự nghiệp côngnghiệp hóa nền kinh tế quốc dân là nhân tố quyết định sự thắng lợi của con đường xãhội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đã chọn Chính vì vậy mà công nghiệp hóa nềnkinh tế được coi là nhiệm vụ trọng tâm suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
-1.4 Chiến lược và chính sách phát triển công nghiệp
Đảng ta xác định chiến lược 10 năm của đầu thế kỷ XXI là đẩy mạnh quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo nền tảng hình thành một nền công nghiệp hiện đại.Bên cạnh đó, Đảng cũng xác định những nội dung cơ bản nhằm đổi mới công tác kếhoạch hóa nâng cao chất lượng công tác xây dựng, chiến lược và phát triển kinh tế, xãhội tại các vùng lãnh thổ, đặc biệt là các vùng kinh tế trọng điểm
Nội dung cơ bản của chiến lược phát triển công nghiệp:
- Xác định các căn cứ hoạch định chiến lược và dự báo phát triển, xu hướng pháttriển của kinh tế quốc tế và quốc dân
- Đánh giá thực trạng và những khó khăn , thách thức của ngành công nghiệp
Trang 10- Các quan điểm của chiến lược phát triển công nghiệp gắn liền với phát triển kinhtế - xã hội của đất nước Các quan điểm này là tư tưởng chủ đạo xuyên suốt các nộidung của chiến lược, được thể hiện trong quá trình xây dựng chiến lược.
- Mục tiêu phát triển chiến lược phát triển bao gồm chuyển dịch cơ cấu côngnghiệp, tốc độ tăng trưởng, mối quan hệ giữa các ngành công nghiệp trong cơ cấu côngnghiệp
- Định hướng và giải pháp về cơ cấu các ngành công nghiệp, phân công và bố trívùng lãnh thổ công nghiệp, giải pháp về cơ chế hoạt động của các ngành công nghiệp
- Các chính sách phát triển công nghiệp
- Các định chế tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá chiến lược công nghiệp.Trong thực tế, mục tiêu chung của nền kinh tế là đến năm 2020, nước ta cơ bản sẽtrở thành một nước công nghiệp Do đó, tốc độ phát triển công nghiệp phải đạt cao trên13% trong nhiều năm và năm 2020 công nghiệp phải chiếm 45% GDP
Chính sách công nghiệp là công cụ của Chính phủ nhằm đạt được mục tiêu pháttriển cụ thể của ngành công nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế Chính sách công nghiệpđặt trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế là tập hợp hàng loạt công cụ chính sách nhằmthúc đẩy năng suất lao động, hiệu quả hoạt động của ngành công nghiệp, của nền kinh
tế và tạo ra nhiều việc làm Chính sách công nghiệp bao gồm mọi hoạt động nhằm thúc
đẩy ngành công nghiệp phát triển, với hai hình thái cơ bản: sự can thiệp chức năng và can thiệp có trọng điểm Sự can thiệp chức năng nhằm khắc phục những nhược điểm
của cơ chế thị trường nhưng không tạo ra những ưu thế cho chủ thể kinh tế khác Sựcan thiệp có trọng điểm được thiết kế để tạo điều kiện thuận lợi cho những hoạt độngcụ thể, nhằm khắc phục những khuyết điểm trong phân bố nguồn lực của nền kinh tế.Trong thực tiễn, chính sách công nghiệp sẽ tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấuvà hiệu quả của nền kinh tế quốc dân
Chính sách phát triển công nghiệp có thể bao gồm, nhưng không nhất thiết phải giớihạn theo những nội dung cơ bản sau:
- Đánh giá và điều chỉnh mục tiêu phát triển ngành và cơ cấu công nghiệp
- Phân tích tình hình của ngành công nghiệp và tác động của nó đối với nền kinh tế.Đặc điểm môi trường cạnh tranh, nguồn nhân lực và hoạt động kinh doanh
Trang 11- Xác định xu hướng thay đổi của nền kinh tế.
- Định vị nguồn nhân lực, kinh doanh và cộng đồng trong môi trường quốc tế
- Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của ngành và các ngành công nghiệp cơ bản.Thiết kế các chương trình và công cụ để nâng cao năng lực cạnh tranh của toànngành (phát triển nguồn nhân lực qua đào tạo, hoàn thiện cơ sở hạ tầng, chính sách vềvốn và công nghệ)
Sơ đồ chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình phát triển kinh tế thị trường và đẩy
mạnh công nghiệp hóa
1.5 Mục tiêu, quan điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
1.5.1 Mục tiêu
Mục tiêu tổng quát của sự nghiệp công nghiệp hóa của nước ta được Đảng cộng sảnViệt Nam xác định tại Đại hội lần thứ VIII và tiếp tục được khẳng định tại Đại hội lầnthứ IX là: “Xây dựng nước ta trở thành một nước công nông nghiệp có cơ sở vật chấtkỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với quá trìnhphát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất tinh thần cao, quốc phòng - an ninhvững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng , dân chủ, văn minh”
Theo tinh thần văn kiện của đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng Cộngsản Việt Nam, chúng ta phải ra sức phấn đấu để đến năm 2020, về cơ bản, nước ta trởthành nước công nghiệp với phương hướng hiện nay là công nghiệp hóa rút ngắn Mô
Kinh tế thị trường
đơn giản
Kinh tế thị trường tự
do Kinh tế thị trường hiện đại
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp; kỹ
công-thuật cơ khí
Cơ cấu kinh tế
công-nông nghiệp; kỹ
thuật
Cơ cấu kinh tế dịch vụ-công nghiệp-nông nghiệp; kỹ thuật điện tử; công nghệ thông tin; sinh học và vật liệu mới, từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường
Trang 12hình này thừa kế tất cả ưu việt của mô hình công nghiệp hóa ở các nước trên thế giới,đồng thời tính đến đặc điểm cụ thể thiên nhiên, con người Việt Nam.
Mục tiêu này cho thấy sự nghiệp đó là một cuộc cách mạng toàn diện sâu sắc trongtất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Đó trước hết là vì con người, do con người
1.5.2 Quan điểm
Quan điểm của Đảng: “Phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên
ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh” Quan điểm này hoàn
toàn tương thích với đặc trưng với mô hình công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu Đặctrưng rõ rệt nhất của mô hình này là phát huy lợi thế so sánh của tiềm năng quốc giatrong phân công lao động và hợp tác quốc tế Điều này hoàn toàn phù hợp với xu thếthay đổi của thời đại toàn cầu hóa đời sống kinh tế quốc tế Để áp dụng thành công môhình này đòi hỏi có sự lãnh đạo của Chính phủ và có tầm nhìn dài hạn về xu hướngphát triển của kinh tế thế giới để xác định lợi thế so sánh cần tập trung Do vậy, vai tròcủa Đảng về đường lối công nghiệp hóa cần được khẳng định và hoàn thiện thông quavai trò quản lý kinh tế của Chính phủ
Một quan điểm nữa là quan điểm: “vừa phát triển tuần tự, vừa lựa chọn đi tắt đónđầu” Đây là quan điểm phù hợp với những điểm nhấn của mô hình hướng vào xuấtkhẩu qua việc lựa chọn các ngành công nghiệp cần phát triển Trong điều kiện nước tahiện nay, cần tận dụng các lợi thế so sánh tĩnh, trước mắt là khai thác hết tiềm nănghiện có của đất nước để đảm bảo và duy trì tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Đánhgiá các lợi thế so sánh động nhằm xác định các ngành mũi nhọn cần phát triển và nângcao khả năng cạnh tranh của công nghiệp Việt Nam trên thị trường thế giới Có thểthấy rằng, với quan điểm này, cơ cấu công nghiệp Việt Nam hiện nay là hợp lý nhưngcác biện pháp chuẩn bị hình thành các ngành công nghiệp mũi nhọn vẫn rất chậm chạp
Trang 132 NỘI DUNG CHỦ YẾU
2.1 Thực trạng nền kinh tế Việt Nam
2.1.1 Một nền cơ cấu kinh tế năng động
Báo cáo về kết quả kinh tế xã hội 10 tháng đầu năm 2007, Thủ tướng Nguyễn TấnDũng nêu rõ: “Kinh tế đất nước đạt nhiều tiến độ, đời sống nhân dân cải thiện Nềnkinh tế đạt mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 10 năm qua (8,5%), tạo khả nănghoàn thành nhiều chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm 2006 - 2010 ngay trong năm2008” Lần đầu tiên trong nhiều năm, tốc độ tăng trưởng khu dịch vụ cao hơn tốc độtăng trưởng chung của GDP kim ngạch xuất khẩu cũng tăng khá cao (20,5%), các chỉsố khác như giá trị ngành dịch vụ, tổng thu ngân sách cũng vượt kế hoạch đề ra Dựtrữ ngoại tệ tăng từ gần 12 tuần nhập khẩu cuối năm 2006 lên gần 20 tuần nhập khẩuvào cuối năm 2007, đáp ứng các nhu cầu về ngoại tệ và bình ổn thị trường ngoại hối.Tổng dư nợ nước ngoài của Quốc gia vẫn ở mức an toàn, bằng 30,3% GDP, trong khigiới hạn cho phép là 50%) Các cân đối kinh tế vĩ mô cơ bản được bảo đảm, đầu tưphát triển của nền kinh tế tăng mạnh, nhiều công trình hạ tầng và cơ sở sản xuất đượcđưa vào sử dụng, tạo tiền đề quan trọng để phát triển đất nước trong các năm tiếp theo.Các lĩnh vực văn hóa-xã hội có những chuyển biến tiến bộ
Theo Cục Đầu tư nước ngoài, 10 tháng đầu năm 2007, cả nước ta đã thu hút được11,26 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài, tăng 36,4% so với cùng kì năm ngoái Trong đó,số vốn thu hút được từ những dự án mới là 9,75 tỷ USD (trên 1100 dự án mới), số vốntăng thêm từ các sự án cũ là 1,5 tỷ USD Công nghiệp và dịch vụ tiếp tục là 2 lĩnh vựcthu hút mạnh vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Có đến 5,33 tỷ USD đầu tư vào côngnghiệp (chiếm 54,6% tổng vốn đăng ký), và 4,25 tỷ USD vào dịch vụ (chiếm 43,6%).Tổng vốn được triển khai thực hiện trong 10 tháng qua đạt 3,7 tỷ USD, tăng trên 18%
so với cùng kỳ năm trước
Trang 1452 360
4,179,303,509 163,793,636
3,947,750,175
1,928,018,023
93,851,382 1,334,733,188
Biểu đồ các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài của cả nước đã
được cấp giấy phép trong 9 tháng đầu năm 2007
Dịch vụ
Nông-lâm-ngư nghiệp Công nghiệp
Theo Bộ Công thương, trong tháng 10-2007, kim ngạch xuất khẩu cả nước ước đạt4,2 tỷ USD, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu 10 tháng lên 39,059 tỷ USD Tính đến hếttháng 10-2007, cả chín nhóm hàng của câu lạc bộ một tỷ USD đều đã về đích, gồmthủy sản hơn 3 tỷ USD, cà-phê 1,55 tỷ USD, gạo 1,36 tỷ USD, dầu thô 6,5 tỷ USD, dệtmay 6,41 tỷ USD, giày dép 3,19 tỷ USD, đồ gỗ 1,9 tỷ USD, điện tử và linh kiện máytính 1,73 tỷ USD, cao-su 1,088 tỷ USD Mặt hàng cà-phê vẫn tiếp tục dẫn đầu về tăngtrưởng tính trên giá trị, tiếp đến là sản phẩm nhựa, dệt-may, hạt tiêu, nhân điều, dây vàcáp điện
Một số yếu kém của nền kinh tế cũng như những hạn chế trong công tác điều hành:năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm và của cả nền kinh tế tuy đã cóbước tiến bộ nhưng vẫn còn thấp; hiệu quả đầu tư còn kém, chi phí sản xuất còn cao.Một số cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc Bội chi ngân sách nhà nước tuy vẫn tronggiới hạn cho phép, nhưng tỷ lệ này còn khá cao Khả năng hấp thụ vốn đầu tư của nềnkinh tế tuy đã được cải thiện nhưng vẫn chưa tận dụng được cơ hội mới để huy động vàsử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư
Trang 15Nhiều vấn đề xã hội bức xúc khắc phục còn chậm như công tác bảo đảm an toàn laođộng, tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông, làm hạn chế sự phát triển của toàn xãhội Đời sống của một bộ phận nông dân, đặc biệt là đồng bào ở vùng núi cao, vùngsâu, vùng biên giới, hải đảo còn nhiều khó khăn; tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộcthiểu số cao gấp 4 lần tỷ lệ hộ nghèo chung của cả nước
Công tác bảo vệ môi trường còn nhiều yếu kém; công tác phòng chống tham nhũngvà thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã có những kết quả bước đầu nhưng hiện trạngvấn đề này vẫn còn nghiêm trọng
Về các chỉ tiêu phát triển trong năm 2008, báo cáo đặt mục tiêu tổng sản phẩmtrong nước (GDP) tăng 8,5-9% so với năm 2007; GDP bình quân theo đầu ngườikhoảng 960 USD Duy trì mức giảm tỷ lệ sinh năm 2008 là 0,3‰ và dân số 86,3 triệungười Cung cấp nước sạch cho 75% dân số nông thôn và cho 85% dân số đô thị, nângtỷ lệ che phủ rừng đến cuối năm 2008 đạt 40%
2.1.2 Tiến hành phân công lại lao động xã hội
Đối với nước ta, đi từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa không qua giaiđoạn tư bản chủ nghĩa thì tất yếu phải có phân công lao động xã hội hội Phân công laođộng xã hội là sự chuyên môn hóa sản xuất giữa các ngành trong nội bộ từng ngành vàgiữa các vùng trong nền kinh tế quốc dân
Việc phân công lại lao động xã hội có tác dụng to lớn Nó là đòn bẩy của sự pháttriển công nghệ và năng suất lao động, cùng với cách mạng khoa học kỹ thuật, nó gópphần hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế hợp lý Sự phân công lại lao động xã hộitrong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay tuân theo các quatrình có tính quy luật:
- Tỷ trọng và số tuyệt đối lao động nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng và số tuyệt đốilao động công nghiệp ngày một tăng lên
- Tỷ trọng lao động trí tuệ ngày một tăng và chiếm ưu thế so với lao động giảnđơn trong tổng lao động xã hội
- Tốc độ tăng lao động trong các ngành phi sản xuất vật chất tăng nhanh hơn tốcđộ tăng lao động trong các ngành sản xuất vật chất
Trang 16Ở nước ta, phương hướng phân công lao động xã hội hiện nay triển khai trên cả haiđịa bàn: tại chỗ và nơi khác để phát triển chiều rộng kết hợp phát triển theo chiều sâu.
Đi đôi với quá trình phân công lao động xã hội, một cơ cấu kinh tế mới cũng dần đượchình thành
2.1.3 Phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội – trên cơ sở thực hiện cơ khí hóa nền sản xuất xã hội chủ nghĩa
Để triển khai những ý tưởng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trước mắt cũng nhưlâu dài, phải tính đến yếu tố lâu dài của nguồn nhân lực Ở đây vấn đề là giáo dục là cáinền của chất lượng nhân lực, không phải nhân lực chung mà là nhân lực của một nềnsản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Đây là một trong những hạt nhân của lực lượng sảnxuất Thực tế ở các nước đã tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa cho thấy việc xáclập một cơ cấu nguồn nhân lực thích hợp, đầu tư tài chính đủ cho giáo dục và y tế, thựchiện cơ chế thị trường trong việc sử dụng nhân lực kết hợp với chính sách ưu đãi lànguồn gốc cơ bản của thành công Đối với Việt Nam không còn con đường nào khác làhợp tác trung tâm kỹ thuật, có nguồn nhân lực chất lượng cao đồng thời đẩy mạnh giáodục đào tạo
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, người lao động là lực lượng sảnxuất thứ nhất, không những phải được nâng cao trình độ văn hóa còn phải được trangbị cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến Sau đây là bản sơ lược về trình độ cơ khí hóa củamột số ngành sản xuất vật chất:
- Trong nông nghiệp: nội dung sản xuất nông nghiệp chủ yếu là lao động thủcông, sử dụng sức lao động dư thừa ở nông thôn, tỷ lệ cơ khí hóa thấp, sản xuấtnông nghiệp vẫn là thủ công trong hầu hết các khâu: làm đất, gieo giống, chăm bónvà thu hoạch Mấy năm gần đây, do cơ chế mở nhiều vùng nông thôn đã phát triểnmạnh nhiều ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp nhỏ bán cơ khí, song sốlao động trong lĩnh vực công nghiệp bình quân toàn quốc không quá 5% tổng số laođộng nông thôn
- Trong công nghiệp: công nghiệp cơ khí được áp dụng rộng rãi trong các đơn vịsản xuất công nghiệp quốc doanh Tuy nhiên, lao động thủ công vẫn cần nhiềutrong khâu vận chuyển nội bộ, bao gói, cung ứng dịch vụ công cộng và sản xuất