Giá Nguyễn Bính sinh ra thời trớc, tôi chắcngời đã làm những câu ca dao mà dân quê vẫn hát quanh năm và những tácphẩm của ngời, bây giờ đã có vô số những nhà thông thái nghiên cứu" [78,
Trang 1Bộ Giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
Trang 2Bộ Giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
Trang 3là một cơ hội tốt để ta đợc đắm mình trong thế giới thi ca đích thực vốn là sự kếttinh đẹp đẽ của rất nhiều mối quan hệ văn hoá, văn học
1.2 Là một "khoanh tre giữa vờn thơ tân kỳ", thơ Nguyễn Bính đã có
những đóng góp lớn cho tiến trình phát triển của thi ca Việt Nam hiện đại.Trong dòng chảy của thơ mới, thơ Nguyễn Bính đã bộc lộ đợc tiếng nói riêngthể hiện đợc dấu ấn thời đại của cái tôi rất rõ nét Chính việc trải lòng, trải tâm
t cảm xúc qua các lời thơ một cách trực diện, đợc thể hiện bằng một thứ giọng
đậm chất thị thành của con ngời thời Âu hóa, đặc biệt là sự nhạy cảm đối với
"những tuế toái" của cuộc đời đợc thể hiện trong thơ đã tạo đợc sự đồng vọng,cảm thông, chia sẻ sâu sắc Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu giới thiệuNguyễn Bính song việc tìm hiểu các vấn đề của thời đại cái tôi trong thơ ôngvới t cách là một đối tợng chuyên biệt vẫn còn đang thiếu Đây là lý do chínhthúc đẩy chúng tôi đến với đề tài Dấu ấn của thời đại cái tôi trong thơ Nguyễn Bính
1.3 Tác phẩm của Nguyễn Bính đã đợc đa vào giảng dạy ở nhà trờng, từphổ thông đến đại học, bởi vậy, việc nghiên cứu đề tài này sẽ soi sáng thêmnhiều vấn đề về thơ Nguyễn Bính, góp phần nhất định vào việc nâng cao hiệuquả giảng dạy, học tập thơ Nguyễn Bính nói riêng và Thơ mới nói chung
Trang 4Trớc cách mạng tháng Tám, Hoài Thanh - Hoài Chân trong cuốn Thi nhân Việt Nam đã chú ý bình và chọn thơ Nguyễn Bính Hớng chú ý của tác giả
cuốn sách là nhấn mạnh phơng diện"chân quê" của thơ ông: "Nguyễn Bính đã
đánh thức ngời nhà quê ẩn náu trong lòng chúng ta Ta bỗng thấy vờn cau, bụichuối là hoàn toàn cảnh tự nhiên của ta và những tính tình đơn giản của dân quê
là những tính tình căn bản của ta Giá Nguyễn Bính sinh ra thời trớc, tôi chắcngời đã làm những câu ca dao mà dân quê vẫn hát quanh năm và những tácphẩm của ngời, bây giờ đã có vô số những nhà thông thái nghiên cứu" [78, tr.343]
Hòa bình lập lại, ở miền Bắc, thơ Nguyễn Bính cùng chịu chung số phậnvới thơ của các nhà thơ mới, nhất là sau sự kiện báo Trăm hoa (một tờ báo mà
Nguyễn Bính đóng vai trò chủ bút) bị phê phán và đình bản Việc giới thiệu vànghiên cứu về thơ Nguyễn Bính bị gián đoạn, ít đợc chú trọng
Sau 1975, thơ Nguyễn Bính đợc chú ý và đợc nhìn nhận lại với một thái
độ khách quan hơn Bộ sách Nhà văn Hà Nam Ninh (do Viện văn học và Hội
Văn học Nghệ thuật Hà Nam Ninh cùng kết hợp biên soạn) đã có những trangviết công phu khẳng định giá trị thơ Nguyễn Bính
Tô Hoài - ngời gắn bó với Nguyễn Bính trên suốt hành trình thơ - đãkhẳng định: "chỉ có quê hơng mới tạo nên từng chữ từng câu Nguyễn Bính Thơ và cuộc đời ràng buộc nhà thơ Trớc sau và mãi mãi, Nguyễn Bính vốn làmột nhà thơ của tình quê, chân quê, hồn quê" [63, tr.72-76]
Trang 5Để khẳng định và nhấn mạnh vị trí, tài năng của Nguyễn Bính, nhà phêbình Vơng Trí Nhàn viết: "Chỉ trong phạm vi thế kỷ này, giữa không biết baonhiêu thi sĩ mà nông thôn nớc ta đã cung cấp cho văn học, trớc sau, NguyễnBính vẫn là một tài năng bậc nhất, hơn nữa một tài năng tự nhiên, nghĩa là vừadồi dào, vừa độc đáo" [63, tr.213].
Ngoài ra còn có thể kể đến các chuyên luận về thơ ca nh : Phong trào thơ mới của tác giả Phan Cự Đệ (Nxb Khoa học Xã hội, 1996), Giáo trình văn học Việt Nam 1930-1945 của Phan Cự Đệ - Hà Minh Đức - Nguyễn Hoành
Khung (Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, 1988), Thơ lãng mạn Việt
Nam - các tác giả tiêu biểu của Lê Bảo (Nxb Hội Nhà văn, 1992), Nhìn lại
một cuộc cách mạng trong thi ca do Hà Minh Đức chủ biên (Nxb Giáo dục,
1993), Thơ mới - bình minh thơ Việt Nam hiện đại của Nguyễn Quốc Túy, Nxb
Văn học, 1995), T duy và t duy thơ hiện đại Việt Nam của Nguyễn Bá Thành
(NXB Văn học, 1995)
Trong lời giới thiệu những tác phẩm chính ở chặng đờng sáng tác trớccách mạng của Nguyễn Bính, Mã Giang Lân đã nhận xét: "Thời kỳ thơ mới(1932-1945) các nhà thơ khác tìm tòi khai thác cái hồn cái dáng tân kỳ của thơhiện đại Pháp, thì Nguyễn Bính vẫn mơ mộng say mê với hồn quê, cảnh quêmộc mạc chất phác, với cách ví von so sánh ý nhị, duyên dáng, với thể thơ nămchữ, bảy chữ và lục bát quen thuộc"[63, tr.172]
Đoàn Thị Đặng Hơng đã nhấn mạnh về đóng góp nổi bật của NguyễnBính trên phơng diện thi pháp: "Về mặt thi pháp trên thi đàn Thơ mới, NguyễnBính có thể coi là Một cách tân Sáng tạo trong cấu trúc có sẵn, một mô hình
truyền thống cố định là một điều khó khăn không kém sự sáng tạo ra những cấutrúc mới cho thơ Ông là nhà thơ đầu tiên trong thi đàn hiện đại của thế kỷ này
đã dùng hình thức của thơ ca dân gian (đặc biệt của ca dao, dân ca) để chuyểntải nội dung thẩm mỹ của Thơ mới"[63, tr.194]
Trang 6Giáo s Hà Minh Đức đã đi sâu hơn về vấn đề "chân quê - chân tài" Ôngviết: "Thơ Nguyễn Bính ẩn chứa đằng sau những câu chữ giản dị mộc mạc theomột câu hát, một làn điệu ca dao, ẩn chứa đằng sau những hình ảnh thân quen,những tình ý mộc mạc chân quê, cái hồn quê nh có tự muôn đời"[63, tr.16].
Năm 1998, Đỗ Lai Thúy trình làng cuốn Mắt thơ với những khám phá khá
sắc sảo về thơ Nguyễn Bính."Thơ Nguyễn Bính không phải là bản khải hoàn cacủa cái mới, hay khúc bi ca của cái cũ Trong thơ ông, cũ, mới cùng hiện diện,cùng tồn tại trong một sự tơng tranh không ngừng Sự dùng dằng cũ mới đó, vềkhía cạnh xã hội học, có thể là non yếu nhng trong lĩnh vực nghệ thuật thì cha hẳn
đã thế, có khi còn ngợc lại Thơ Nguyễn Bính thuộc trờng hợp hiếm hoi này, bởi vìtrong sự cọ xát cũ mới ấy, đã bộc lộ những sâu sắc trong tâm hồn không chỉ củamột cá nhân, mà của cả một dân tộc"[84, tr117,118]
Tiếp theo, rất đáng chú ý là cuốn Nguyễn Bính - Về tác gia và tác phẩm
(NXB Giáo dục, 2003) Trong sách này, Hà Minh Đức và Đoàn Đức Phơng đãtuyển chọn rất nhiều công trình nghiên cứu và các bài viết về Nguyễn Bính củacác tác giả có tên tuổi nh Tô Hoài, Lê Đình Kỵ, Lại Nguyên Ân, Vơng TríNhàn, Đỗ Lai Thúy, Mã Giang Lân, Trần Mạnh Hảo, Đoàn Đức Phơng, HồngDiệu,
Đặc biệt, năm 2006, trong cuốn Ba đỉnh cao thơ mới, Chu Văn Sơn đã
góp một tiếng nói rất đáng trân trọng Bằng sự tiếp cận thế giới nghệ thuật củaNguyễn Bính, Chu Văn Sơn đã có những nhận định khá sắc sảo về tác giả này:
"Nguyễn Bính là thi sĩ của cái lỡ dở ( ), ở Nguyễn Bính, ở thời Nguyễn Bính,
bi kịch ấy sắc sói hơn, đắng đót hơn Ông sinh ra dờng nh để dành cho sự lỡ dở.Trời đày ông để ông phải làm tròn cái sứ mệnh oái ăm đó Từ thân thế mình,Nguyễn Bính đã cất lên tiếng nói về một bi kịch trùm cả thời thế, mà mở ra tớicùng, cũng là bi kịch nhân thế" [73, tr.133,134]
Nói về lịch sử nghiên cứu thơ Nguyễn Bính, không thể không kể đến cáccông trình nghiên cứu ở hải ngoại của tác giả Thụy Khê nh Nguyễn Bính, đời
Trang 7thơ bạc mệnh, Thi pháp Nguyễn Bính Nhà nghiên cứu này đã tiếp cận đợc các
phơng pháp phê bình hiện đại của phơng Tây để có những phát hiện độc đáo,mới mẻ về Nguyễn Bính Trong công trình nghiên cứu "Nguyễn Bính, đời thơ bạc mệnh", tác giả Thụy Khê viết: "Thơ Nguyễn Bính đọc, dễ hiểu, nhng không
thể trở thành bài học thuộc lòng cho trẻ nhỏ, bởi nó còn có tình, nó đi ra ngoàiquỹ đạo hồn nhiên của những bức tranh quê cùng thời Dù với giọng vui, thơNguyễn Bính luôn chở cái bi đát của số phận Tính chất bi đát trong thơ NguyễnBính, gắn bó với hai chữ bạc mệnh, tiềm ẩn trong những câu thơ tởng chừng nhvô t nhất" [35, tr.1] Còn trong Thi pháp Nguyễn Bính, Thụy Khuê nhận xét:
"Thơ Nguyễn Bính bình dân nhng không quê mùa Nguyễn Bính đã nhập hồnngời dân quê, hồn ngời phụ nữ, để viết lại đời sống quê hơng và dân tộc mình,bằng một giọng thơ bình dân ai cũng hiểu Bình dân đợc nh Nguyễn Bính khôngphải dễ Nguyễn Bính nói hộ cả một thế hệ đàn bà, một thế hệ lỡ bớc trong cuộchôn nhân xếp, bằng ngôn ngữ của họ, bằng những thổn thức của họ NguyễnBính nói thơ chứ không làm thơ Ngôn ngữ thơ của ông là ngôn ngữ đối thoại
giữa hai ngời, hoặc một ngời độc thoại với chính mình Chính cái cấu trúc thi thoại, gồm đối thoại và độc thoại trong thơ ấy, đã tạo nên thơ ca Nguyễn Bính"
[36, tr.1]
Nh vậy, thơ Nguyễn Bính đã có một lịch sử nghiên cứu khá dày dặn, đã
có một số công trình nghiên cứu, và một số bài viết khá sắc sảo về Nguyễn Bínhgóp phần nhận diện đặc trng thơ cũng nh khẳng định vị trí và những đóng gópcủa ông trên văn đàn Tuy nhiên việc tuyển chọn, giới thiệu những bài viết vềNguyễn Bính với t cách là một nhà thơ hiện đại, đặc biệt là nghiên cứu về dấu
ấn thời đại cái tôi trong thơ ông thờng đợc đặt riêng rẽ trong từng bài viết củacác tác giả, cha có một cái nhìn xuyên suốt trên nền chung của toàn bộ thơNguyễn Bính, và cũng cha bao giờ đề tài này đợc khảo sát nh là một đề tài khoahọc độc lập
3 Đối tợng nghiên cứu và phạm vi t liệu khảo sát
Trang 8Đối tợng nghiên cứu của luận văn là dấu ấn của thời đại cái tôi trong thơ Nguyễn Bính.
Phạm vi t liệu khảo sát: chúng tôi lựa chọn 60 thi phẩm của Nguyễn Bínhtrớc cách mạng tháng Tám làm “mẫu” khảo sát
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn của chúng tôi hớng tới giải quyết các nhiệm vụ sau:
1 Khái quát về vị trí của Nguyễn Bính trong phong trào Thơ mới
2 Chứng minh thơ Nguyễn Bính đã nói lên đợc nhiều vấn đề bức thiết,
đặc thù của thời đại cái tôi
2 Khẳng định tinh thần thời đại Thơ mới luôn thấm nhuần trong nhữnghình thức thi ca mang tính cách tân của Nguyễn Bính
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính
của luận văn đợc triển khai trong 3 chơng:
Chơng 1: Nguyễn Bính trong phong trào Thơ mới
Chơng 2: Các vấn đề của thời đại cái tôi trong thơ Nguyễn Bính.
Chơng 3: Những cách tân nghệ thuật theo tinh thần thời đại trong thơ Nguyễn Bính.
Chơng 1 Nguyễn Bính trong phong trào thơ mới
Trang 91.1 Tiếng nói của thời đại cái tôi trong thơ mới
1.1.1 Đặc điểm của thời đại cái tôi
Thơ mới ra đời là một bớc phát triển quan trọng, xét về mặt nào đó làcuộc cách mạng trong tiến trình của thi ca Việt Nam, đa thơ cổ điển Việt Nam
đạt đến hiện đại cả về mặt cảm hứng thơ ca cũng nh biểu hiện
Thực sự các nhà thơ mới đã có những đóng góp vô cùng to lớn cho vănhọc dân tộc trong việc phát hiện ra cái tôi và làm cho nó bộc lộ hết sự phongphú, hấp dẫn
Cái tôi đã có mầm mống trong thơ ca Việt Nam từ sớm nhng do cả hai
điều kiện chủ quan và khách quan mà nó cha thể phát triển thành một quanniệm, một chủ nghĩa trong văn học Suốt hàng chục thế kỷ tồn tại nhng nền vănhọc dân tộc cũng cha thể làm xuất hiện một nhà thơ, một nghệ sĩ chuyênnghiệp Cho đến đầu thế kỷ XX quá trình phát triển của xã hội đã dần dần làmnảy sinh một bộ phận văn học mới ở thành thị, có một lớp công chúng mới vớinhững quan niệm, tiêu chuẩn thẩm mỹ mới, có các phơng tiện in ấn và phổ biếnmới song tất cả những yếu tố đó mới chỉ tạo ra những chuyển động dù quantrọng cũng cha đủ mạnh để tạo ra một loại nghệ sĩ kiểu mới Chính lớp nghệ sĩnày đã mạnh dạn nói lên tất cả những cảm giác và tính tình của tâm hồn con ng-
ời thời đại mới Hoài Thanh, Hoài Chân đã gọi thời đại Thơ mới là "thời đại chữtôi, với cái nghĩa tuyệt đối của nó" Cái tôi bây giờ mang dấu ấn của những tìmkiếm mới, những sáng tạo mới, những phong cách mới
Một trong những đặc điểm quan trọng của thơ mới là quan niệm về conngời đã thay đổi "Cảm hứng sáng tạo liền với cá nhân tự ý thức, tự khẳng định
đa đến một bớc ngoặt quyết định trong lịch sử thơ ca Việt Nam phát triển theohớng hiện đại Thơ mới là thơ của cái tôi Ngời ta đã nói nhiều về một thời đạichữ tôi trong văn chơng Trớc hết cái tôi ấy bắt nguồn từ những chủ thể sáng tạomới và những cơ sở xã hội đã sinh ra nó"
Trang 10Thơ mới đã đề cao cái tôi nh là một đối tợng khám phá của nghệ thuật,
nh là điểm hội tụ sáng láng nhất của cuộc sống con ngời Con ngời cá nhân, conngời cá tính, bản năng, siêu thực (chứ không phải chỉ có con ngời ý thức, conngời nghĩa vụ làm mờ đi cái phần bản thể của nó) đã đợc thơ mới lãng mạn chú
ý ngay từ khi nó mới ra đời
Không cần nói đến thơ tình mà ngay trong cả những bài thơ về thiênnhiên, cái tôi của thơ mới đã in đậm dấu ấn vào trong từng cảm xúc, hình tợng
và ngời đọc cũng đã cảm nhận rõ đợc hơi thở của thời đại và sự cách biệt củahai thế giới, hai quan niệm văn học
Có thể thấy rằng Thơ mới đã thể hiện cái tôi cá nhân một cách rõ rệt, cáitôi trong thơ mới xuất hiện gắn liền với nền văn minh công nghiệp, đó vừa làsản phẩm, vừa là chủ thể của một nền văn hóa mới Các nhà thơ mới đều có ýthức khẳng định mình nh một thực thể duy nhất lặp lại
Thơ mới đã đa cái tôi thành nền thi ca Cái tôi làm cho những câu thơ cóhồn, có tâm trạng đợc hiển thị trong một bối cảnh không gian, thời gian cụ thểnào đó Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã từng nói rằng: "Tất cả tinh
thần thời xa - hay thơ cũ và thời nay - hay thơ mới - có thể gom lại trong haichữ "Tôi" và "Ta" Ngày trớc là thời chữ ta bây giờ là thời chữ tôi"[78, tr 45].Nhận định của Hoài Thanh đã khái quát đợc tinh thần thời đại cũng nh đặc trngcủa thơ mới và sự khác biệt về chất của thơ mới so với thơ trung đại Có thể gọi
đây là một cuộc "lột xác", một cuộc "cải lão hoàn đồng" Yếu tố trẻ đã vùnglên để phủ định yếu tố già cỗi Nhìn bề ngoài cũng có thể thấy ở thơ mới vềmặt chủ thể sáng tạo, văn hóa hiện đại đợc làm nên bởi những ngời trẻ Chínhnguồn sống trẻ, luồng gió trẻ đã tạo "tinh thần phục hng chân chính của thời đại
đó"
1.1.2 Sự thể hiện tiếng nói cái tôi trong thơ mới
Trang 11Đến với thơ mới ta bắt gặp cái tôi đứng ở trung tâm cảm hứng giãi bàythổ lộ: "Tôi chỉ là một khách tình si", "Tôi chỉ là một kiếp đi hoang", "Tôi làmột kẻ lạc loài" Đó là thơ chiêm nghiệm trạng thái, địa vị cái tôi trong thếgiới "Tôi" trở thành nguyên tắc cắt nghĩa thế giới một cách riêng t Trong điềukiện lịch sử lúc ấy thờng là sự cắt nghĩa tiêu cực, cá nhân chủ nghĩa, bế tắc Thếgiới cái tôi mang lại những giá trị thẩm mỹ mới nhng thờng là cô đơn, u sầu,lắm khi đau đớn, xa lạ.
Cái tôi Thơ mới là cái tôi khép kín và cô đơn về mặt xã hội, cái tôi Thơmới trốn vào cá nhân Khuynh hớng chung của Thơ mới là khuynh hớng lãngmạn, thẩm mỹ hóa cuộc sống xã hội thực dân nửa phong kiến và thể hiện tâmtrạng buồn sầu, u uất, lạc lõng giữa thời cuộc Buồn, cô đơn có thể là tâm trạngcủa từng cá thể thi nhân nhng đồng thời là nét chung của mọi nhà thơ trong tr-ờng phái này Hiện tợng này có những nguyên nhân khách quan chung Nhà thơkhông biết phải làm gì, phải đi theo hớng nào giữa cái xã hội ấy Họ khôngchấp nhận đợc cuộc sống tầm thờng, tẻ nhạt nh mọi ngời xung quanh do đó, họcảm thấy bơ vơ, lac lõng giữa thời cuộc
Thơ mới khẳng định cái tôi nh một bản lĩnh tích cực trong cuộc sống, nhmột chủ thể sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật Lần đầu tiên có một cái tôi cáthể hóa trong cách cảm thụ và thế giới thiên nhiên
Cái tôi trong thơ mới là một trong những sản phẩm của nền văn minhcông nghiệp gắn liền với các đô thị công thơng nghiệp Cuộc khai thác thuộc
địa ồ ạt của thực dân Pháp ở Việt Nam vào những năm đầu thế kỷ đã tạo nênnhững đô thị kiểu mới, các trung tâm công nghiệp đã mọc lên; cái tôi cá nhânvới t cách vừa là chủ thể của nền văn hóa, vừa là sản phẩm của sự giao thoa giữahai nền văn minh Âu- á Bởi thế cái tôi thị dân Việt Nam giai đoạn 1932- 1945mang một dấu ấn riêng
Trang 12Thơ mới đã thể hiện đợc số phận cá nhân, sự cô đơn và những con đờnggiải thoát khỏi gánh nặng cô đơn, tình yêu và tuyệt vọng, những xung đột giữavăn hóa phơng Đông và Phơng Tây, nông thôn và thành thị
Sáng tác thơ ca trớc hết là nhu cầu tự biểu hiện của cá nhân và nhà thơvới t cách là một cái tôi trữ tình, là sự bộc bạch trực tiếp của chủ thể sáng tạo,của cái tôi Phong trào Thơ mới là sự hội tụ nở hoa của hàng loạt cái tôi trữ tìnhrất đa dạng và phong phú và giàu màu sắc thẩm mỹ: "một hồn thơ rộng mở nhThế Lữ, mơ màng nh Lu Trọng L, hùng tráng nh Huy Thông, trong sáng nhNguyễn Nhợc Pháp, ão não nh Huy Cận, quê mùa nh Nguyễn Bính, kì dị nhChế Lan Viên và thiết tha rạo rực băn khoăn nh Xuân Diệu" [78, tr.29]
Trong dàn hợp xớng của thơ mới, mỗi nhà thơ đều có một âm chủ riêng,
độc đáo của mình Trên lộ trình xác định một hình ảnh cho chủ thể, cái tôi trữtình của thơ mới đã nhiều lần nhận ra mình trong t cách một thi nhân - một kiếpngời, một nghề nghiệp, một nỗi niềm tâm sự riêng không giống với ai cả
Trong sáng tác của các nhà thơ mới, việc xng danh thi sĩ và việc khẳng
định cái tôi cá nhân, cá thể dờng nh không có sự tách bạch Việc xng danh kiachính là sự ý thức của cái cái tôi cá nhân trong nghệ thuật
Là ngời mở đầu "một thời đại trong thi ca", vị chủ tớng của phong tràoThơ mới - Thế Lữ đã bộc lộ cái tôi của mình một cách trọn vẹn bằng việc đa ramột quan niệm nghệ thuật mới về con ngời:
Tôi là ngời bộ hành phiêu lãng
Đờng trần gian xuôi ngợc để vui chơi
Tôi chỉ là ngời mơ ớc thôi
Là ngời mơ ớc hão than ơi!
(Bên sông đa khách) Tôi chỉ là một khách tình si Ham vẻ đẹp có muôn hình muôn thể
Trang 13Mợn lấy bút nàng Li Tao tôi vẽ
Và mợn cây đàn ngàn phiếm tôi ca
(Cây đàn muôn điệu)
Sau bớc dọn đờng của Thế Lữ, các nhà thơ mới nh Huy Cận, Xuân Diệu,Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên tiếp tục bộc bạch nỗi niềm cánhân của mình một cách tự nhiên, bạo dạn:
Tôi là kẻ đa răng bấu mặt trời
Kẻ uống tình yêu dập cả môi
(Xuân Diệu, H vô) Tôi là thi sĩ của thơng yêu
(Nguyễn Bính, Một trời quan tái)
Hỡi trăng gió đã nghe chàng kể lễ Hồn của ngời là hồn của ngời thơ
(Huy Cận, Mai sau)
Những dẫn chứng trên đã cho ta thấy việc các nhà thơ mới đã cảm thấydanh chính ngôn thuận khi giải phóng thơ ra khỏi chức năng tải đạo để bộc lộnhững cảm xúc riêng t, những nhu cầu đợc sống, đợc yêu, đợc tự do của mình,
đồng thời cũng thể hiện rõ quá trình nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về danhhiệu của thi sĩ và cũng là quá trình các nhà thơ bộc lộ rõ hơn tiếng nói cảm xúcbên trong của con ngời cá nhân Hơn nữa nó cũng là quá trình giải phóng thơkhỏi những quan niệm cũ và xây dựng một hệ giá trị mới cho nó
1.1.3 Sự thống nhất của những phong cách thơ mới trên vấn đề khẳng
định cái tôi
Thơ mới ra đời đã thực sự thắng thế và thơ ca bớc vào một thời kỳ mới.chỉ trong khoảng 15 năm, thơ mới đã đi qua một chặng đờng dài mở ra nhiều h-ớng, có lãng mạn có thoát li, có hớng chân thực, gần gũi, có hớng kỳ ảo xa lạ Tuy có nhiều hớng khác nhau nhng các nhà thơ mới gặp gỡ nhau ở một điểm là
Trang 14thơ mới thờng thể hiện nỗi buồn chất chứa trong những tháng năm, từ nỗi buồnlớn về non nớc, cuộc đời đến những nỗi buồn riêng thấm thía cô đơn và đau khổ.Trào lu thơ ca này trĩu nặng suy t và xao động trong tình cảm buồn vui, xót xa.Những tình cảm này gắn với cuộc đời thơ, nhng vẫn mang theo hơi thở chung củathời đại Đó chính là tiếng nói tâm tình của các tầng lớp tiểu t sản thành thị trớcmột thực tại không nh mình mong muốn.
Trong văn học thời kỳ này, cá nhân tự khẳng định tự khẳng định, tự biểuhiện ra niềm vui, mơ ớc khát vọng Cảm hứng sáng tác gắn liền với ý thức cánhân, thơ mới là thơ của cái tôi, một cái tôi cha hề biết đến trong thơ ca cổ điển.Cái "tôi" bây giờ không làm việc tải đạo nữa mà vợt lên những công thức ớc lệ,khuôn khổ định sẵn, cái tôi ấy đợc tự do bộc bạch, phơi bày nh trớc đây cha hề
có
Đoạn cuối "Một thời đại trong thi ca" trong Thi nhân Việt Nam, Hoài
Thanh - Hoài Chân đã viết: "Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi Mất bề rộng
ta đi tìm bề sâu Nhng càng đi sâu càng lạnh Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, taphiêu lu trong trờng tình cùng Lu Trọng L, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, ChếLan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu Nhng động tiên đã khép, tình yêu khôngbền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ Ta ngơ ngẩn buồn, trở về hồn tacùng Huy Cận" [78, tr.46,47]
Khi vai trò của cái Tôi, vị trí của cái Riêng, sự thành thật của tâm hồn
đ-ợc chú ý, đđ-ợc tôn trọng sẽ là cơ hội làm nảy nở và phát triển cái mới cho thơ vàcho cả một nền thơ "Tình chúng ta đã đổi mới, thơ chúng ta cũng phải đổi mớivậy Cái khát vọng cởi trói cho thi ca chỉ là cái khát vọng nói rõ những điều tínnhiệm, u uất, cái khát vọng đợc thành thực Một khát vọng khẩn thiết đến đau
đớn" (78, tr.17)
Khát vọng đợc thành thật, cùng với sự coi trọng vai trò của cái riêng, củacái Tôi quả là khởi điểm quan trọng cho một công cuộc đổi mới thơ văn Mà nóithơ trớc hết là nói thế giới bên trong, thế giới của tâm linh, tình cảm của con ng-
Trang 15ời Sự thành thật do vậy trớc hết là thành thật với bản thân mình, với chính mình
và từ đó thiêt lập mối quan hệ tin cậy với thế giới bên ngoài, thế giới của bạn
đọc
Thành thật trong tình yêu một lĩnh vực rất riêng t, rất cá nhân trong tìnhcảm con ngời là thứ hoàn toàn bị cấm kỵ trong suốt 10 thế kỷ của nền thơ ViệtNam Thế mà cha đầy dăm năm sau, tình yêu đã đa đi suốt một hành trình vớitất cả các trạng thái cung bậc của nó, không chút rụt rè, e dè, càng không chútngợng ngùng xấu hổ
Đó là cái e ấp mà bạo dạn của cô gái mời lăm tuổi theo mẹ đi chùa Hơng:
Em cầu xin trời Phật Sao cho em lấy chàng
(Chùa Hơng- Nguyễn Nhợc Pháp)
Là lời giãi bày táo bạo và trần trụi của chàng trai đang yêu không nén nổicảm xúc lòng mình:
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông Một ngời chín nhớ mời mong một ngời
Gió ma là bệnh của trời Tơng t là bệnh của tôi yêu nàng
(Tơng t - Nguyễn Bính)
Rồi cái băn khoăn, rạo rực đến gấp gáp giục giã:
Em vui đi, răng nở ánh trăng rằm Anh hút nhụy của mỗi giờ tình tự Mau với chứ, vội vàng lên với chứ
Em, em ơi! Tình non sắp già rồi.
(Giục giã - Xuân Diệu)
Thành thực trong nỗi buồn, trong cái cô đơn và nỗi đau cũng chính lànhững trạng thái tinh thần thờng đồng hành với con ngời trong cuộc đời Có thểnói cô đơn là trạng thái tình cảm chung của nhiều nhà thơ trong phong trào thơmới Nói cách khác, phong trào Thơ mới nh là nơi quy tụ không hẹn mà nên của
Trang 16những tâm trạng buồn Đó là nỗi buồn thế hệ của lớp trí thức trẻ cảm nhận thấy
ở cuộc đời những phi lý, những bất công, tù túng trong cuộc sống chung và mỗicuộc đời riêng Thế Lữ muốn tìm đến sự giải thoát ở thế giới thanh cao nên nỗibuồn của Thế Lữ nhẹ và thanh thoát Huy Cận tự nhận mình là: "Chàng HuyCận khi xa hay sầu lắm", là tận cùng của nỗi cô đơn:
Một chiếc linh hồn nhỏ Mang mang thiên cổ sầu
ý thức rõ về cái tôi càng mạnh mẽ bao nhiêu thì chỉ khiến cho con ngời
ta đau buồn và có khi lại quá bé nhỏ giữa một thực thể quá rộng lớn của vũ trụ.Xuân Diệu đã từng ví mình nh một "cây kim bé nhỏ":
Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ
Mà vạn vạt là muôn đá nam châm
Có khi ông ví mình :
Tôi là con nai bị chiều đánh lới Chẳng biết đi đâu, đứng sầu bóng tối
(Khi chiều giăng lới)
Có lúc buồn chất chứa:
Tiếng gà gáy buồn nh máu lửa Chết không gian khô héo cả hồn cao
Và Phạm Hầu:
Tôi theo tơng t cùng vô tận Chỉ gặp vô cùng nỗi quạnh hiu
(Lí tởng)
Chế Lan Viên mang nỗi buồn đến đau thơng tuyệt vọng:
Trời ơi! Chán nản đơng vây phủ
ý tởng hồn tôi giữa cõi tang
(Thu)
Trang 17Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh Một vì sao trơ trọi cuối trời xa
Để nơi ấy tháng ngày tôi lẫn trốn Những u phiền đau khổ với buồn lo
(Những sợi tơ lòng)
Những tâm trạng buồn trên là sự thể hiện trực tiếp tâm trạng buồn của tácgiả và bản thân mỗi nhà thơ là một thế giới riêng khép kín với bao tâm trạng tr-
ớc cuộc đời
Riêng với Nguyễn Bính, ông không cô đơn trong tình cảm với làng quê
và chỉ thực sự cô đơn trên hành trình tự "đi đày" của mình Làm sao tìm thấyniềm vui trên đất khách trong môi trờng mà mọi sự giao tiếp đều có điều kiện
và không phải là quan hệ cộng đồng Trạng thái cô đơn của Nguyễn Bính khôngphải là quan hệ tình cảm làng xóm cộng đồng, cũng không ở trong tình cảnhthoát li Nhà thơ vẫn gắn bó với cuộc đời, mải miết trên hành trình vô vọng củamình, nhng thực sự không tìm thấy sự giao cảm ở môi trờng thành thị và có mộtchỗ đứng trong cuộc đời Trạng thái cô đơn nảy sinh từ đó, cái tôi trữ tình củaNguyễn Bính trớc sau vẫn là cái tôi trữ tình yêu cầu sự sẻ chia, thông cảm.:
Tâm giao mấy kẻ thì phơng Bắc
Ly tán vì cơn gió bụi này Ngời ơi buồn lắm mà không khóc
Mà vẫn cời qua chén rợu đầy.
Dẫu có nhiều cách biểu hiện khác nhau nhng các nhà thơ mới đã gặp gỡ
và thống nhất nhất với nhau trên vấn đề khẳng định cái tôi, chú trọng vai trò củachủ thể sáng tạo, hớng về sự thật và biểu hiện sự thật trong mọi dáng vẻ, mọitiềm ẩn của nó Điều này đã tạo nên nét riêng, diện mạo riêng cũng nh nhữnggiá trị đặc sắc của thơ mới
1.2 Vị trí của Nguyễn Bính trong phong trào Thơ mới
Trang 181.2.1 Một ''khoanh tre'' giữa vờn thơ tân kỳ
Thơ mới mở ra một thời đại mới trong thi ca Thơ mới là cuộc cách tânrộng lớn với sự bùng nổ và sáng tạo có hiệu quả của một thế hệ các nhà thơ cótài năng nh: Thế Lữ, Lu Trọng L, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế LanViên, Anh Thơ, Tế Hanh.v.v Những tác giả trên là những tên tuổi đã đi vào lịch
sử thơ ca dân tộc Những thành tựu của thơ mới đã góp phần xây dựng và nuôidỡng nền thi ca hiện đại Trào lu thơ mới biểu thị một thời kỳ hng thịnh của thơ
ca dân tộc Đó là một bó hoa đẹp mà vẻ đẹp của mỗi bông hoa đợc thắp sánglên bằng chính ánh sáng của tài năng nghệ thuật
Trong bó hoa đẹp đó, Nguyễn Bính là một bông hoa tiêu biểu, một tâmhồn thơ đặc sắc Nguyễn Bính đã nhập cuộc vào thời đại mới của những năm
1930 - 1945, là một nhà thơ lãng mạn của phong trào thơ mới, mang tầm vócchung của các thi sĩ lớn đơng thời Không có cái hào hoa lãng tử của Thế Lữ,cái bay bổng háo hức của Xuân Diệu, cái vẻ kỳ bí của Chế Lan Viên, cái đớn
đau vật vã của Hàn Mặc Tử, thơ Nguyễn Bính chỉ mang nặng một mối tình đốivới xứ quê và chất chứa muôn vàn tâm sự của một đời thi sĩ lang bạt kì hồ đầykhổ đau, đắng cay, thất vọng Điều đáng nói là ở chỗ, dẫu cho cái chất Tây họcphát lộ trong Nguyễn Bính không nhiều bằng Xuân Diệu, Huy Cận hay HànMặc Tử thì Nguyễn Bính vẫn cứ là một cánh chim đầu đàn của thi đàn thơ mới
và thơ Việt
Không phải là giọng thơ "quê mùa" nh ai đó đã nói, mà thực sự thơNguyễn Bính rất mới, rất tân kỳ Mặc dù vẫn lấy thể thơ lục bát - một thể truyềnthống của thơ ca dân tộc để sáng tác nhng những tâm t, cảm xúc, những đề tài
đợc phản ánh trong thơ là những tâm sự của con ngời trong thời đại mới, hơnthế nữa hàng loạt những câu thơ bảy chữ dới một hình thức mới, cách diễn mới
đã chứng tỏ đợc sự hiện đại của thơ ông Điều này đã có lần đợc Lại Nguyên Ân
đề cập tới: "Đâu phải ở thơ Nguyễn Bính thời đầu chỉ có tiếng hát tình quê hoài
cổ mà không âm vang những tình cảm chung của đơng thời! Trái lại, thơ ấy
Trang 19ngân lên rất rõ cái giọng chung của thơ cùng thời: ý thức về sự sống của cánhân con ngời, về quyền đợc vui, đợc sống của nó, nếu ta không cố tình đối lậpcái giả tạo mà cố gắng tìm ra những liên hệ bề sâu giữa quá trình nảy sinh ýthức cá nhân và quá trình phát triển ý thức giải phóng dân tộc trong tiến trìnhvăn hóa t tởng cận đại thì ta sẽ thấy rõ hơn những thành tựu của thơ ca văn họcthời ấy Thơ mới của Nguyễn Bính ở trong trờng hợp này" [63, tr.260].
Giữa cả một giàn hợp xớng thơ mới, thơ Nguyễn Bính là một giai âmquyến rũ đậm chất tân kỳ Trớc đây, ngời ta đã từng xuýt xa trớc những câu thơcủa Xuân Diệu mang đầy vẻ hiện đại, đê mê, quyến rũ nh: Tháng giêng ngon
nh một cặp môi gần / Tôi sung sớng nhng vội vàng một nửa/ Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân; Hỡi xuân hồng ta muốn cắn ngơi; Tôi kẻ đa răng bấu mặt trời, Kẻ uống tình yêu dập cả môi Xuân Diệu thực sự là một thi nhân
cuồng nhiệt trong tình yêu và phần lớn các nhà phê bình đều nhận xét là tìnhyêu của Nguyễn Bính không lãng mạn, nồng cháy nh Xuân Diệu, nhng thực raNguyễn Bính cũng đắm say lắm chứ
Thi sĩ yêu đến mức khổ sở, đau đớn:
Lạ quá, làm sao tôi cứ buồn Làm sao tôi cứ khổ luôn luôn Làm sao tôi cứ tơng t mãi
(Vâng)
Cũng có khi Nguyễn Bính yêu với một tình yêu mãnh liệt, da diết, si mê
đến van xin quỵ lụy:
Ai yêu tôi nh yêu nàng Họp nhau lại, họp thành làng cho xinh Chung nhau dựng một trờng đình Thờ riêng một vị thần linh là nàng
(Lòng yêu đơng)
Trang 20Trớc đây trong ca dao, trong thơ trung đại để bộc bạch tình cảm, cảm xúccủa con ngời đang yêu, ngời ta phải rào trớc đón sau, phải mợn giọng bông đùa
để đẩy tới điều nghiêm túc muốn nói nh kiểu:
Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng Tre non đủ lá đan sàng đợc chăng?
Nhng, đọc thơ Nguyễn Bính ta sẽ bắt gặp cách giãi bày tình cảm mộtcách trần trụi, nói cách khác Nguyễn Bính đã bộc lộ tình cảm cảm xúc củamình một cách trực diện trong thơ không hề dấu diếm Chẳng hạn những câuthơ sau:
Gió ma là bệnh của trời Tơng t là bệnh của tôi yêu nàng
Trang 21Quả hiếm trong ca dao ta bắt gặp những lời giãi bày táo bạo và trần trụi
đến dờng ấy dù cuộc đời thực, ngời bình dân xa không phải không yêu mãnhliệt Nh vây, bên cạnh những vần thơ á đông, quê mùa, Nguyễn Bính còn cónhững vần thơ mang phong cách phơng Tây vơng đầy bụi bặm của nơi thành thị Nhà phê bình Trần Mạnh Hảo đã từng viết:
"Trong dòng thơ tiền chiến, chúng tôi bao giờ cũng biết cách tôn kínhThế Lữ, ngả mũ trớc Xuân Diệu, thán phục trớc Huy Cận, kinh ngạc trớc HànMặc Tử, Chế Lan Viên, mơ mộng và sầu thơng với Lu Trọng L và Hồ Dzếnh Nhng chúng tôi bao giờ cũng dành cho Nguyễn Bính trọn niềm yêu mến, khôngchỉ là tấm lòng của hậu sinh với bậc tiền bối, mà còn là tình cảm của một độcgiả mấy năm trờng với thơ ông thi ca của ông đã trở thành vị thuốc nam chữalành nỗi buồn đau và niềm cô đơn của kiếp ngời bằng chính nỗi buồn thơng, nỗicô đơn ngơ ngác một đời ông sống Ông không tìm ra lối xuyên tờng để đa thơViệt Nam vào thế giới hiện đại nh ai đó Nhng ông biết cách thẩm thấu qua bầutrời sơng khói, them thấu qua sắc nâu sang dân tộc để đa thơ về phía trớc vớithời đại [63, tr.248,249, ]
1.2.2 Một đại diện cho tinh hoa thơ lục bát
Trong phong trào Thơ mới Nguyễn Bính đứng riêng một cõi Nổi bật ởNguyễn Bính là ở chỗ ông dùng thể thơ lục bát - một thể thơ truyền thống củadân tộc để chuyển tải nội dung thẩm mỹ của thơ mới
Có thể thấy Nguyễn Bính rất thành thục với thể thơ này Theo số liệuchúng tôi thống kê đợc, thể thơ lục bát chiếm 45% trong sáng tác của NguyễnBính trớc cách mạng tháng Tám Lục bát của Nguyễn Bính đạt đến sự bình dị,dân giã nh những câu hát dân ca của làng quê
Tác giả của Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã từng nhận xét: "Mỗi nhà
thơ Việt hình nh mang nặng trên đầu năm bảy nhà thơ Pháp", nhận định này chỉdành riêng cho cho các tên tuổi nh: Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử,
Trang 22Chế Lan Viên Còn với Nguyễn Bính, ông đã tìm về với cội nguồn của dân tộc,tìm về với những câu thơ lục bát êm dịu ngọt ngào.
Nhìn vào sự phát triển của thể thơ lục bát có thể thống kể đến các mốclớn nh: lục bát ca dao, lục bát Truyện Kiều Thơ lục bát cuả Nguyễn Bính đã kếthừa vẻ hồn nhiên, tơi thắm của chất trữ tình đồng quê, trong sáng thiết tha, gợicảm của lục bát ca dao, vừa kế thừa đợc sự uyển chuyển đa thanh, điêu luyệncủa thơ lục bát của Nguyễn Du trong Truyện Kiều Những bài thơ lục bát của
Nguyễn Bính nh: "Chân quê", "Tơng t", "Ngời hàng xóm", "Lỡ bớc sang ngang" vừa thanh thoát gợi cảm, vừa điêu luyện Lục bát của Nguyễn Bính đọc
lên nh những bài hát ru con, ru cháu ở làng quê Việt Nam Có lẽ vì thế mà trảiqua bao nhiêu năm tháng, thơ Nguyễn Bính đã quen thuộc với những ngời mẹ,ngời chị đêm đêm hát ru con, ru cháu của mình:
Em ơi em ở lại nhà Vờn dâu em đốn mẹ già em thơng
Mẹ già một nắng hai sơng Chị đi một bớc trăm đờng xót xa
Cái tài của Nguyễn Bính là ở chỗ nhà thơ đã tạo dựng đợc một mã thẩm
mỹ riêng của mình dựa trên sự phát triển thi pháp thơ ca dân gian, nhng khôngphải là ca dao trớc đó Cái giọng thơ riêng của ông không thể trộn lẫn vào cácnhà thơ khác Có thể nói Nguyễn Bính là một trong những bậc thầy về thơ lụcbát Thử đọc những câu thơ sau của ông: "Hai tay ôm lá vào lòng / Than ôi!
Trang 23chiếc lá cuối cùng là đây", "Cách mấy mơi con sông sâu / Và trăm ngàn vạn nhịp cầu lênh đênh / Cũng là thôi cũng là đành / Sang ngang lỡ biết riêng mình chị đâu"," Dừng chân qua cửa nhà nàng / Thấy hoa vàng với bớm vàng hôn nhau", "Cành dâu cao, lá dâu cao / Lênh đênh bóng bớm trôi vào mắt em", "Ai làm cả gió đắt cau/ Mấy hôm sơng muối cho giầu đổ non"
Đọc những câu thơ trên ta có cảm giác Nguyễn Bính làm thơ nh nói, hễcất lời là mây trôi nớc chảy, tự nhiên nh lời nói thờng Nguyễn Bính đã tận dụng
đợc thế mạnh của thơ lục bát, với giai điệu du dơng, trữ tình sâu lắng, thơNguyễn Bính đã ru hồn biết bao thế hệ
Trong khi rất nhiều các nhà thơ mới nh Thế Lữ, Huy Cận, Hàn Mặc Tử,Chế Lan Viên v.v họ ảnh hởng trực tiếp thơ lãng mạn Pháp Nguyễn Bính đãtìm một hớng đi riêng, một con đờng riêng và đóng một dấu ấn riêng vào tâmkhảm ngời Việt Những câu thơ lục bát mà Nguyễn Bính sáng tác thật mộc mạc,giản dị:
Hai ngời sống giữa cô đơn Nàng nh cũng có nỗi buồn giống tôi Giá đừng có giậu mồng tơi Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng
Có ngời đã cho rằng: "Nguyễn Bính là tác giả của những lời bình dân
Ông ca ngợi vẻ đẹp xa vời hay những bóng dáng mỹ lệ, nhng chỉ ghi lại và nóinhững chuyện hàng ngày rất gần gũi với đại chúng"
Quả thực những bài thơ Nguyễn Bính mang vần điệu ca dao và rất dễnhớ, bởi thế ngay cả đối với những ngời cha một lần đến trờng, cha biết đến conchữ vẫn thờng ru con, ru cháu và thuộc rất nhiều thơ lục bát của thi sĩ này.Nguyễn Bính không dùng chữ trừu tợng và cầu kỳ để viết nên những vần thơ để
đời, mà ngợc lại ông dùng những lời nói dân giã của đời sống một cách rất tựnhiên:
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Trang 24Một ngời chín nhớ mời mong một ngời
Nắng ma là bệnh của giời Tơng t là bệnh của tôi yêu nàng.
Chọn thể thơ lục bát để bộc lộ cảm xúc nỗi niềm, Nguyễn Bính đã thểhiện đợc chất duyên dáng, kín đáo, không ồn ào của lối nghĩ phơng Đông, đãgiữ cho lục bát cái vẻ nền nã, tự đổi mới bắng cách tiên tiến, phù hợp với thểtạng sẵn có của thể thơ này
Khó có một thể thơ nào có đợc những đặc điểm riêng độc đáo nh lục bát
Âm hởng của câu thơ 6/8 mợt mà, êm ái nh lời ru, sự phối thanh hài hòa nhịpnhàng tạo nên sức thu hút kỳ diệu đối với ngời đọc Nguyễn Bính đã biết tậndụng thế mạnh này và đã ghi đợc một dấu ấn riêng trên thi đàn thơ mới, và nhắc
đến thể thơ lục bát, ta không thể không thể nhắc đến "Tơng t" - một trong
những thi phẩm nổi bật không chỉ riêng của Nguyễn Bính mà còn là tác phẩmnổi bật của phong trào Thơ mới
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông Một ngời chín nhớ mời mong một ngời
Nắng ma là bệnh của trời Tơng t là bệnh của tôi yêu nàng
Lựa chọn thể thơ lục bát, Nguyễn Bính đã vận dụng nhuần nhuyễn cácchất liệu của thơ ca dân gian để đa đến cho tác phẩm một phong vị truyền thống
đậm đà Tuy nhiên những tình điệu lãng mạn - đặc thù của thời đại thơ mới đãlấn át chất dân gian trong tác phẩm
Nhân vật trữ tình trong bài thơ là một chàng trai thôn Đoài đang yêu và
t-ơng t cô gái thôn Đông, chàng trai đã giãi bày tất cả những cung bậc tình cảmcủa mình từ nhớ mong, hờn dỗi, ghen tuông, trách móc, đợi chờ, hy vọng Bàithơ đã minh chứng cho tài làm thơ lục bát của ngời thi sĩ tỉnh Nam, đã thể hiện
đợc sự giao duyên đẹp đẽ giữa hồn thơ dân gian với hồn thơ mới, đó là chất quêmùa đậm đà với giọng kể lễ, những chất liệu dân gian đợc vận dụng một cách
Trang 25nhuần nhuyễn trong thơ, đặc biệt với hình thức là thơ lục bát truyền thống nhngnhà thơ đã dám chờng "cái tôi "của mình ra ở ngay bình diện thứ nhất" Tơng t
là bệnh của tôi yêu nàng" Quả thật ít khi ta bắt gặp trong ca dao một lời giãibày táo bạo và trần trụi đến nh vậy
Chúng ta đã biết, lục bát là niềm kiêu hãnh của thơ Việt Nếu tâm hồnmột dân tộc thờng gửi trọn vào thơ ca của dân tộc mình thì lục bát là thể thơ màphần hồn của dân tộc Việt đã nơng náu ở đó nhiều nhất, sâu nhất Gắn với tiếngViệt, gắn với điệu tâm hồn Việt, thơ lục bát đã thuộc về bản sắc dân tộc này.Dân ta nói vè chủ yếu bằng lục bát, dân ta đối đáp giao duyên, than thân trắchphận, tranh đấu tuyên truyền chủ yếu bằng lục bát Và dân ta hát ru các thế hệ,truyền nguồn sữa tinh thần của giống nòi cho lớp lớp con cháu cũng chủ yếubằng lục bát Lục bát là phơng tiện phổ dụng để ngời Việt giãi bày tâm sự, kýthác tâm trạng, thăng hoa tâm hồn
Có lẽ bởi những đặc trng trên mà Nguyễn Bính đã chọn thể thơ lục bát đểthổ lộ tâm trạng và nỗi lòng của mình Lục bát của Nguyễn Bính rất dễ thuộc dễnhớ vì lời thơ giản dị, mộc mạc, có sự kết hợp giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ
đời thờng Câu thơ đọc cứ ngỡ là một bản nhạc, vừa vần, vừa có điệu nghe thanhthoát nh một lời ru:
Chén sầu nghiêng giữa tràng giang Canh gà bên nớ giằng sang bên này Khoan đàn em hãy gắng say Một đêm, chỉ một đêm nay thôi mà Chúng tôi ngời bến sông xa Giang hồ một chuyến về qua xứ này
(Một con sông lạnh)
ở đây từng cặp câu 6/ 8 đã tạo nên sự hài hòa cân đối, uyển chuyển vàmềm mại cùng với cách gieo vần :"ngang''- "sang; "say''- "nay"; "mà" - "xa''
Trang 26mang lại cho ngời ta cảm giác êm dịu nhẹ nhàng Chính điều này đã tạo ra sựkhác biệt giữa thể thơ lục bát và thể thơ tự do, thơ ngũ ngôn, thơ thất ngôn.
Trớc Truyện Kiều, lục bát bắt nguồn từ trong ca dao việt Nam, thể hiện
thành công cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật, góp phần tạo nên sự phongphú đa dạng trong văn học dân gian với những câu thơ mang đậm tâm t, tìnhcảm của ngời bình dân vốn chịu thơng chịu khó Giai đoạn 1932 - 1945,Nguyễn Bính với một hồn thơ lai láng nét đẹp chân quê, lục bát của NguyễnBính cũng chứa đựng tình cảm thiết tha, sâu lắng
Nhắc đến thơ lục bát của Nguyễn Bính ngời đọc không thể không nhớ tớimột trong những thi phẩm rất độc đáo của ông đó là bài thơ Rừng chiều Bài thơ
đã thể hiện đợc sự tài tình của tác giả trong cách sử dụng vần điệu lục bát Sángtác vào năm 1938, khi nhà thơ ở Thái Nguyên, thi phẩm đã chứng tỏ đợc sựtoàn bích trong cấu trúc và cách diễn đạt Đặc biệt vần, điệu trong thơ vừa tựnhiên vừa điêu luyện, âm hởng thật du dơng sâu lắng, ngọt ngào:
Đèo cao cho suối ngập ngừng Nắng thoai thoải nắng, chiều lng lửng chiều
Trăng non nh một cánh diều Trẻ con phất dối thả diều lên mây
Bài thơ hay một cách giản dị, xuất thần Hay đến nỗi không thể gọt giũa,thêm bớt Hãy thử tợng tợng xem, nếu câu trên mà viết khác hoặc dịch ra tiếngnớc ngoài, cái hay cái đẹp sẽ giảm đi đến mức nào Trải qua thời gian lục bát cóthể biến ảo trong phạm vi nhất định Ngời làm thơ có thể gieo liền những âmbằng trong cả câu sáu hoặc câu tám nhng đã viết lục bát thì dù phóng túng,ngang tàng đến mấy câu thơ cũng phải có vần Đọc một vài bài thơ lục bát, cứnhìn vào cung cách gieo vần cũng đủ biết đợc tay nghề cao hay thấp của tác giả.Thể loại thơ lục bát rất cũ càng, giống nh một lối đi có sẵn, dễ mà hóa khó, khó
mà hóa dễ - nó là nơi thử sức và thách thức cả những cây bút mới vào nghề và
Trang 27cả những cây bút cao niên già dặn Trong lĩnh vực này Nguyễn Bính đã thực sựtạo đợc chỗ đứng và vị trí của mình trên văn đàn.
1.3 Vấn đề nhận diện đặc sắc và đóng góp của thơ Nguyễn Bính.
1.3.1 Thơ Nguyễn Bính đồng nghĩa với thơ chân quê?
Nguyễn Bính là một nhà thơ hiện đại, là một trong những đại biểu xuấtsắc của phong trào Thơ mới Cùng với những cây bút có tên tuổi khác nh XuânDiệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, ông đã góp phần đa thi ca Việt Nam bớc vào quỹ
đạo của thi ca hiện đại Tuy là một nhà thơ mới xuất sắc nhng vấn đề nhận diệnnhững đặc sắc và những đóng góp của Nguyễn Bính cho thi đàn Việt Nam đếnhôm nay vẫn là một vấn đề cần phải bàn cãi
Ngay từ khi bắt đầu xuất hiện trên thi đàn, thơ Nguyễn Bính đã đợc côngchúng đón nhận và thu hút sự chú ý của khá nhiều các nhà phê bình và nghiêncứu Trớc cách mạng tháng Tám trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh nhận
xét: "Nguyễn Bính vẫn còn giữ đợc bản chất nhà quê nhiều lắm Và thơ NguyễnBính đã đánh thức ngời nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta Ta bỗng thấy vờn caubụi chuối là hoàn cảnh tự nhiên của ta và những tính tình đơn giản của dân quê
là những tính căn bản của ta Giá Nguyễn Bính sinh ra thời trớc, tôi chắc ngời
đã làm những câu ca dao mà dân quê vẫn hát quanh năm và những tác phẩm củangời, bây giờ đã có vô số những nhà thông thái nghiên cứu" [78, tr.343,344]
Nhận định trên đã cho thấy rằng, Hoài Thanh cha thực sự nhìn đúng bảnchất thơ Nguyễn Bính với t cách là một nhà thơ hiện đại, cha xét thơ ông trêntổng thể Kỳ thực Nguyễn Bính có làm thơ về thôn quê, về cuộc sống thanh
đạm, bình dị của con ngời quê mùa chất phác, nhng bên cạnh đó, Nguyễn Bính
đã dành một khối lợng không nhỏ sáng tác về đề tài thành thị, về những xúccảm của con ngời trong bối cảnh mới, thời đại mới
Trang 28Thực ra cũng phải thừa nhận Hoài Thanh đã rất tinh và sắc sảo khi ôngphát hiện ra những dấu hiệu hiện đại trong hồn thơ Nguyễn Bính: "Ai bảo ngờikhông nhà quê hẳn? Ngời đã biết trách ngời gái quê:
Hoa chanh nở giữa vờn chanh Thầy u mình với chúng mình chân quê
Hôm qua em đi tỉnh về Hơng đồng gió nội bay đi ít nhiều
Thế mà chính ngời cũng đã "đi tỉnh" nhiều lần lắm Dấu thị thành chẳngnhững ngời mang trên quần áo, nó còn in vào tận trong hồn Khi ngời than:
Đời còn có gì tơi đẹp nữa Buồn thì đến khóc, chết thì chôn
Khi ngời tả xuân:
Đã thấy xuân về với gió đông Với trên màu má gái cha chồng Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm Ngớc mắt nhìn trời, đôi mắt trong
Ta thấy ngời không còn gì quê mùa nữa" [78, tr344,345]
Thực ra, Hoài Thanh có thừa nhận Nguyễn Bính là một nhà thơ mới,
nh-ng khônh-ng khônh-ng phải là một đại biểu xuất sắc, đọc qua nhận định của ônh-ng, tathấy rõ ràng Hoài Thanh khen nhng mà để chê, đồng thời ông tỏ ra rất khóchịu, không mấy thích những câu thơ "quá mới" của Nguyễn Bính Cụ thể ôngviết: "đáng trách chăng là giữa những bài giống hệt ca dao, ngời bỗng chen vàomột ngôi chùa có những ngọn đèn điện trên bàn thờ Phật Cái lối gặp gỡ của haithời đại rất dễ trở nên lố lăng"
Thực ra Hoài Thanh có quyền không thích, cũng nh "có quyền sai lầm vềNguyễn Bính", điều này không có gì đáng trách, bởi mỗi ngời đều có một cáchcảm nhận khác nhau khi đánh giá thơ ngời, điều đáng trách là ở chỗ, sau này,
Trang 29ngời ta cứ bị ảnh hởng cái sai lầm của Hoài Thanh trong hầu hết những bài nhận
định và phê bình văn học
Rõ ràng, nhận định của Hoài Thanh đã ám ảnh rất lớn đến các nhà phêbình, nghiên cứu, và dẫn đến chỗ ngời ta đã xem những nhận định của HoàiThanh nh là môt chân lí bất di bất dịch Hàng loạt các bài viết về sau đều cốcông để làm rõ, làm nổi bật cái gọi là thi sĩ chân quê ở Nguyễn Bính Điều này
đợc thể hiện rõ ở ngay cách đặt tiêu đề các bài viết của một số nhà phê bìnhnghiên cứu nh : Nguyễn Bính - nhà thơ chân quê; Nguyễn Bính- thi sĩ của
đồng quê; Nguyễn Bính nhà thơ chân quê- chân tài ; Đờng về chân quê , Thi
sỹ của hồn quê ; Nguyễn Bính- nhà thơ chân quê.v.v Ta có thể đơn cử một số
nhận định sau:
"Quê hơng hai tiếng thân yêu gần gũi ấy ở Nguyễn Bính không khuôn lại
và khép kín mà mở ra với nhiều miền quê hơng trong liên tởng để có thể nghĩ
đến một cái gì cao xa, rộng lớn hơn về quê hơng đất nớc Đó chính là chiều sâutạo nên tầm vóc của câu thơ Thơ Nguyễn Bính ẩn chứa đằng sau những câu chữgiản dị mộc mạc theo một câu hát, một làn điệu dân ca, ẩn chứa đằng sau nhữnghình ảnh thân quen, những tình ý mộc mạc chân quê, cái hồn quê nh có tựmuôn đời" [63, tr.16]
"Khi Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên và phần lớn các nhà thơ đơngthời chịu ảnh hởng của thơ phơng Tây và phần lớn các nhà thơ đơng thời chịu
ảnh hởng của thơ phơng Tây chính nét đó đã đem lại cho Phong trào thơ mớimột phong cách mộc mạc, chân quê, một lối ví von đậm đà màu sắc ca dao Có
lẽ vì thế mà ông dễ đi vào lòng ngời trong câu hát ru, dễ trở nên gần gũi vớitình cảm của những ngời quanh năm sống trong lũy tre làng, gắn bó cuộc đờicùng đồng ruộng" [63, tr.209]
"Đọc những trang thơ của Nguyễn Bính, chúng ta nhìn rõ cái tâm hồnnhà quê của nàng thơ của ông từ trong bản chất của t duy thơ ông Nàng thơ của
Trang 30Nguyễn Bính không chỉ nhà quê ở dáng vẻ bên ngoài mà nàng làm chúng ta say
mê bởi cái tình quê chân thật, bẽn lẽn và trinh nguyên ở nàng".[63, tr.192]
Thực ra những nhận định đều không sai, nhng chỉ có điều các nhà nghiêncứu chỉ nhìn Nguyễn Bính trên một phơng diện chân quê, mà quên mất rằng
còn có một nhà thơ Nguyễn Bính rất hiện đại nữa, Nguyễn Bính đã viết nhữngtác phẩm theo tinh thần mới, một giọng điệu mới, đặc biệt là chuyển tải nhữngnội dung mới của thời đại, nếu ta chỉ nhìn Nguyễn Bính dới góc độ chân quê
nghĩa là ta cha thấy hết những đóng góp của ông cho thơ mới nói riêng Và nếutheo những nhận định trên thì hóa ra thơ Nguyễn Bính chẳng có gì là đặc sắc cả.Nếu là chân quê nh các vị kia nhận xét thì thơ Nguyễn Bính khác gì ca dao?
Còn gì là giá trị thơ của Nguyễn Bính nữa? Một nhà thơ lớn phải có sự tìm tòi,sáng tạo riêng chứ không thể là sao chép mô phỏng ca dao đợc Mà kỳ thực thơNguyễn Bính vẫn khá “Tây” chứ không phải chân quê hoàn toàn nh ngời ta từngnghĩ Hãy thử đọc những câu thơ sau của Nguyễn Bính để thấy rằng sự hiện đại,mới mẻ của hồn thơ thi sĩ thành Nam này:
Cô nhân tình bé của tôi ơi Tôi muốn môi cô chỉ mỉm cời Những lúc có tôi và mắt chỉ Nhìn tôi những lúc tôi xa xôi
Hoặc:
Nắng ma là bệnh của trời Tơng t là bệnh của tôi yêu nàng
Hay:
Đã thấy xuân về với gió đông Với trên màu má gái cha chồng Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm Ngớc mắt nhìn trời đôi mắt trong
v.v
Trang 31Chỉ bấy nhiêu thí dụ thôi cũng đã chứng tỏ đợc nét hiện đại trong thơNguyễn Bính Bên cạnh những bài thơ mang phong cách á Đông, ông còn cónhững bài thơ mang phong cách phơng Tây của nơi "thành thị chốn mơ phai".Cách nói bạo dạn, dám bộc bạch nỗi niềm tình cảm một cách trực tiếp ấy chỉ cóthể là tiếng nói của cái tôi cá nhân- một sản phẩm của thơ mới trớc đây cha hề
có Thử hỏi làm sao có thể đánh giá thơ Nguyễn Bính là chân quê đợc, cha nóitới việc Nguyễn Bính là một trong những thi nhân đã dự cảm sớm nhất đợc đợc
sự phôi pha trong các giá trị cũ, sự xáo trộn bất an về văn hóa, xã hội và các
ph-ơng diện khác của đời sống Hơn nữa, nếu thơ Nguyễn Bính là thơ chân quê thì
ít nhất vẫn phải gắn với con ngời thi sĩ, mà nh ta biết thời đó Nguyễn Bính sốngkhá nghệ sỹ, phóng túng Cuộc sống của thi nhân là những chuyến đi, nhữngcuộc rong chơi, mặc dầu đời sống nhà thơ rất chật vật nhng khi có tiền là tiêuxài xả láng Theo một số bạn bè của Nguyễn Bính kể lại ông thích uống rợu,nghiền cả á phiện, rồi cả phụ nữ nữa Dẫu văn không phải hoàn toàn là ngời nh-
ng hình nh không thể lí giải nổi những mâu thuẫn trong t tởng và con ngờiNguyễn Bính Bởi vậy, chúng tôi thiết nghĩ rằng cần phải nhận diện một cáchthấu đáo hơn, chuẩn xác hơn về những đóng góp cũng nh đặc trng thơ củaNguyễn Bính
Thực ra vấn đề đánh giá thơ của Nguyễn Bính nói trên cũng bắt nguồn từmột số cơ sở nhất định Bởi đọc thơ ông nhiều lúc ta đợc đắm mình trong nhữngcảnh quê bình dị mà thân thuộc, "những cảnh có thể gợi trong ta niềm hoài nhớ
về một cái gì thật cảm động, thật thiêng liêng đã làm nên tâm hồn, hồn cốt, cốtcách Việt Nam của mình mà có lúc mình xa rời phụ bạc Này là cảnh êm đềmthanh mát, trong trẻo của một ngày xuân:
Thong thả dân gian nghỉ việc đồng Lúa thì con gái mợt nh nhung
Đầy vờn hoa bởi hoa cam rụng Ngào ngạt hơng bay bớm vẻ vòng
Trang 32Này là cảnh trăng giãi vàng lên một tổ ấm hạnh phúc:
Sáng giăng chia nửa vờn chè Một gian nhà nhỏ đi về có nhau
Nhng mặt khác ta lại bắt gặp những câu thơ rất mới lạ nh:
Nắng ma là bệnh của trời Tơng t là bệnh của tôi yêu nàng
Hoặc:
Xuân đến tình tôi nao nức quá
Nh ngời giai tế tối tân hôn
Và say sa quá cho nên đã
Đánh đổ trời xuân xuống cuối hồn
Nhng mà, điều đáng lu ý ở chỗ, ông không chỉ viết về cảnh quê, mà cònviết rất nhiều về những cuộc tình oan trái, dở dang, những chuyến giang hồ vặt,lấy chất liệu từ chính bản thân mình Giọng thơ có khi não nề sớt mớt:
Chị giờ sống cũng nh không Coi nh chị đã sang sông dắm đò
Có khi bi phẫn:
Ta đi nhng biết về đâu chứ
Đã dấy phong yên khắp bốn trời Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ Uống say mà gọi thế nhân ơi
Đọc những câu thơ này ta mới thấy thơ Nguyễn Bính không chân quê.
Bởi những câu thơ ấy "độc giả nhận ra bi kịch của một "típ" thi sĩ hiện đại đặcthù trong xã hội Việt Nam thời thuộc địa, nhận ra những hoang mang thao thức,
ân hận, sám hối đang diễn ra trong tâm hồn họ và thêm trân trọng những vầnthơ thờng đợc gọi là chân quê của Nguyễn Bính có trích ở trên Đâu phải đơngiản nhà thơ thấy thế thì tả thế Cái chân quê của Nguyễn Bính, nói cho cùng là
cái chân quê của một nhà thơ mới với toàn bộ những phức tạp của anh ta, không
Trang 33thể giống hoàn toàn (và thực ra không nên giống) với cái chân quê của ca dao.Nếu giống, Nguyễn Bính đâu còn gì là đặc sắc, để đợc yêu, đợc nhớ nh ông đãtừng đợc nhớ, đợc yêu?" [12, tr.176].
1.3.2 Lục bát Nguyễn Bính mang phong vị ca dao?
Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về thơ lục bát của Nguyễn Bính và nhìnchung họ thống nhất với nhau rằng: thơ Nguyễn Bính giống ca dao, mang phong vị ca dao Đơn cử một số nhận định nh: "Nguyễn Bính đi tìm tính chất
Việt Nam lại trở về ca dao Thơ Nguyễn Bính có cái vỏ mộc mạc của những câuhát làng quê" “Hồn thơ của Nguyễn Bính đã tìm đến và trở về với ca dao và sâu
xa hơn là trở về cội nguồn dân tộc đã ngàn năm ấp ủ ở làng quê" [63, tr.143]
"Thơ Nguyễn Bính không chỉ giống ca dao ở cái vỏ bên ngoài, mà đã tiếpthu đợc phần hồn của nó, đợc thể hiện vào những câu ca dao hay nhất mà mộttác giả thời nay có thể viết ra đợc" [63, tr.228]
"Thơ lục bát của Nguyễn Bính gần gũi với ca dao, lấy hơng, lấy nhụy của
ca dao để làm điểm tựa tinh thần và tạo hồn cho thơ của mình" [63, tr.23]
Đây là những lời khen nhng thực chất những lời khen đó đã đánh đồngthơ Nguyễn Bính với ca dao, làm mờ đi những đóng góp của ông cho thi đàn.Nếu quả đúng nh thế còn gì là Nguyễn Bính nữa
Thực ra ca dao là tiếng hát tâm tình của ngời nông dân xa kia và trongnhững bài ca dao, các tác giả dân gian thờng lấy những hình ảnh sự vật gần gũivới đời sống lao động của con ngời nh ruộng lúa, lũy tre, bụi chuối con đò,mảnh vờn, con sông, nơng dậu v.v Có lẽ xuất phát từ chỗ đọc thơ thơ NguyễnBính ngời đọc thờng thấy những hình ảnh ruộng, vờn, ao, mồng tơi, bớm vàng,bụi tầm xuân, vờn cam, hoa xoan, hoa chanh, vờn trầu, mái đình v.v nên ngời ta
đã quy đồng thơ Nguyễn Bính với ca dao, nhng ngời ta đã quên mất rằngNguyễn Bính có một mảng thơ viết về thành thị, về cuộc sống giang hồ, sơng
sa, bụi bặm tất cả đợc chuyển tải bằng một giọng thơ lục bát rất mới khác biệt
Trang 34với ca dao xa Thực tế trong thơ ông bắt đầu xuất hiện những sự đỗ vỡ, khôngbình yên nh trớc nữa:
Chị giờ sống cũng bằng không Coi nh chị đã sang sông đắm đò
Bao năm đi giữa kinh thành Bao năm lẻ bóng, lẻ hình, lẻ đôi
Rung rung ánh nến hoen vàng Rồi đây nức nở muôn vàng nhớ thơng
Đôi đây nh thể đôi đờng
Em ơi, Hà Nội là phơng hớng nào
Những vần thơ trên của Nguyễn Bính đã thể hiện đợc những đổi thaytrong đời sống của con ngời thời hiện tại, làm gì có phong vị ca dao trong nhữngcâu thơ đắng chát nh thế này Nguyễn Bính thực sự đã thể hiện một giọng thơrất mới, ngay cả trong bài thơ Chân quê - một trong những thi phẩm thờng đợc
lấy làm dẫn chứng nhiều nhất để chứng minh cho phong cách "chân quê", "quêmùa" của ông lại chính là những vần thơ lục bát rất sáng tạo bởi "sự thực trong
đó đã có len vào thứ giọng đậm chất thị thành của con ngời thời Âu hóa với đặc
điểm là dám gọi đích danh sự vật, dám chờng của "cái tôi" của mình ra ngay ởbình diện thứ nhất Quả hiếm gặp trong ca dao một lời giãi bày táo bạo và trầntrụi đến dờng ấy, dù trong đời thực, ngời bình dân xa không phải không biết yêumãnh liệt" 12, tr.181] Ta đã từng bắt gặp trong ca dao xa những cách nói bónggió, hoặc có khi phải mợn giọng bông đùa để đẩy tới những điều nghiêm túcmuốn nói Chẳng hạn nh:
Đến đây Mận mới hỏi Đào Vờn Hồng đã có ai vào hay cha
Trang 35Mận hỏi thì Đào xin tha Vờn Hồng có lối nhng cha ai vào
Thuyền ai lơ lửng bên sông
Có lòng đợi khách hay không hỡi thuyền?
Thò tay mà bứt cọng ngò Thơng em đứt ruột giả đò ngó lơ
Cô kia cắt cỏ bên sông
Có muốn ăn nhãn thì lồng sang đây v.v.
Có thể khẳng định rằng, Nguyễn Bính làm thơ lục bát không giống cadao để trở thành mình, mà giống cũng không phải để hòa tan Thực sự, các sángtác của Nguyễn Bính đã bộc lộ một khả năng vơn tới để chiếm lĩnh chất hiện
đại trong thơ Rất nhiều bài thơ của ông không có ý khai thác chất cộng đồngtâm lí thờng có trong thơ ca, dân ca mà đi sâu vào tâm trạng cá nhân với nhữngphơng thức biểu hiện riêng thích hợp Khi niềm vui, nỗi buồn gắn với tâm trạngcá nhân trong yêu thơng thì độ rung động cũng có nhiều cung bậc Nỗi nhớ manmác trong tình cảm, nỗi buồn đằm sâu trong tâm thức
Những điều phân tích ở trên cho thấy rằng chúng ta phải nhìn thơNguyễn Bính một cách khác đi, phải vợt qua những định kiến cố hữu mà đánhgiá về nhà thơ này một cách chính xác và khách quan hơn Muốn đánh giá đúng
về Nguyễn Bính phải đặt sáng tác của ông trong tổng thể văn hóa Việt Nam vàonhững năm 20 của thế kỷ XX Chính tâm lí hoang mang, thao thức của cả mộtthế hệ ngời đợc phản ánh trong thơ một mặt vừa muốn níu kéo cái truyềnthống, mặt khác vừa muốn tìm hiểu và tiếp cận với cái hiện đại đã làm nên tầmvóc riêng của Nguyễn Bính không thể lẫn với bất cứ nhà thơ nào
Trang 361.3.3 Sự cần thiết của việc nhìn nhận Nguyễn Bính theo một cái nhìn
ớc, không thể mãi mãi đi theo một đờng ray có sẵn Nói Nguyễn Bính chân quê
không phải không có lý Nhng đó là kết luận rút ra từ một cái nhìn cục bộ –cục bộ khi không thấy cấu trúc phức tạp của sự nghiệp thi ca Nguyễn Bính vàcục bộ cả khi nhìn Nguyễn Bính nh một hiện tợng biệt lập đối với cả một nềnthơ, một thời đại thơ
Chơng 2 Các vấn đề của thời đại cái tôi trong thơ Nguyễn Bính
2.1 Sự cọ xát giữa các nền văn hóa
2.1.1 Một tình trạng xáo trộn bất an
Sự xâm lợc của thực dân Pháp vào Việt Nam đã gây nên một sự xáo trộncha từng có trong lịch sử dân tộc Một mặt nó gây cho dân tộc ta nhiều đau khổ,mặt khác với t cách là một công cụ vô ý thức của lịch sử, nó phá vỡ cái vòngphát triển luẩn quẩn của một xã hội văn hóa cổ truyền
Trang 37Xã hội Việt Nam trớc khi Pháp sang xâm lợc là một xã hội phong kiếnphơng Đông Trong xã hội đó con ngời sống gắn bó với họ hàng, làng xóm
Cùng với việc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, nền kinh tế t bảnchủ nghĩa từng bớc hình thành và phát triển Quan hệ gia đình, làng xóm rã ra,cùng với đó là sự xuất hiện của các đô thị mới mà ở đó tầng lớp thị dân ngàycàng trở nên đông đảo Lần đầu tiên ngời ta thấy: "Những con buôn chạy việccung cấp thức ăn vật dùng cho trại lính, chạy việc mua hàng bán hàng, nhữngthông ngôn ký lục giúp việc giao thiệp, giấy tờ, những me Tây, những ông thầukhoán, những ngời học trò các trờng thông ngôn, hậu bổ" đã bắt đầu xuất hiện.Kinh tế hàng hóa kích thích sự phát triển, làm xuất hiện nhiều nghề mới, nhucầu mới Một tầng lớp trí thức Tây học - sản phẩm của nền giáo dục mới doPháp đào tạo đã sẵn sàng tiếp thu văn hóa của phơng Tây nhng vẫn nặng lòngvới văn hóa cổ truyền
Nhịp độ và tốc độ cuộc sống gấp và nhanh, những mối liên hệ giữa thànhthị và những quan hệ giao lu trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội làm chothành thị biến đổi mau lẹ Lối sống t sản hóa ngày một lan tràn hóa khắp phốphờng Trong môi trờng ấy, tầng lớp thị dân hiện đại đã bộc lộ những nét tâm lí,thị hiếu hoàn toàn mới lạ trên cơ sở tôn trọng quyền sống của con ngời đã dựbáo một nền thi ca mới phải đợc xuất hiện
Sự giao thoa giữa 2 nền văn hóa Đông - Tây đã thực sự tạo nên nhữngthay đổi lớn đến mọi phơng diện đời sống xã hội Sự tiếp xúc với văn hóa, vănhọc lãng mạn Pháp đã không chỉ làm cho ngời Việt Nam thay đổi về những thóiquen sinh hoạt, mà còn thay đổi về cảm, nếp nghĩ Một thế hệ nghệ sĩ mới đãxuất hiện cùng với cả một hệ thống thẩm mỹ mới với các phạm trù nghệ thuậtmới Từ đó đã có thể tạo ra rất nhiều chân trời, rất nhiều tâm trạng, rất nhiều đốitợng khác nhau của đời sống, rất nhiều sắc thái mới của không gian, thời giannghệ thuật làm thay dổi quan niệm xa nay vốn đã đợc định hình trong đời sốngdân tộc
Trang 38Chế độ thực dân xâm lợc mà Pháp lập nên ở nớc ta là một tai vạ cho dântộc Việt Nam, nhng đồng thời cũng làm thay đổi mọi phơng diện của đời sốngcủa dân tộc: chế độ phong kiến đang trên con đờng mục ruỗng, vua quan trởthành bù nhìn, thân hào ở xã mất uy quyền, nền kinh tế tự cấp, tự túc tan rã Thơng nghiệp, công nghiệp, giao thông, bu điện và các thành phố thị trấn thay
đổi Nền giáo dục thay đổi
Các trờng Pháp - Việt thay cho các lớp học của các thầy đồ Và học sinh,sinh viên Tây học với số lợng càng ngày càng lớn, thay thế vai trò của các ông
đồ, ông nghè, ông cống Văn hóa phơng Tây, thông qua những lực lợng mới đó,chiếm lĩnh cuộc sống của đất nớc
Một xã hội mới đang hình thành thay thế cho xã hội truyền thống, một ýthức hệ mới đang hình thành thay thế cho ý thức hệ đang cố hữu Một con ngờimới - dầu cha phải là đa số quốc dân đang muốn hớng cuộc sống theo ý nguyệncủa họ Với chủ trơng của thực dân Pháp và triều đình phong kiến, sự bãi bỏ các
kỳ thi hơng ở Bắc kỳ đã đặt dấu chấm hết cho cả một chế độ khoa cử nặng nềthối nát Và tất nhiên những con ngời mới này đã thấm nhiễm quan niệm củaphơng Tây về nhân sinh, về vũ trụ Thực ra việc thay đổi đó đã có một quá trìnhbắt đầu từ trớc và nội dung của nó là Âu hóa Âu hóa dới chế độ thực dân đã từ
địa hạt chính trị, kinh tế lan dần sang xã hội, văn hóa và khá chậm chạp Đếnkhi các thành phố đã phát triển, các tầng lớp thị dân đã bộc lộ cách sống khácbiệt và nhất là khi những học sinh, sinh viên Tây học đã đông đảo và với sự hiểubiết đáng kể về văn hóa châu Âu thì chính họ mới nói lên sự khác biệt về tâmhồn và cách biểu đạt tâm hồn
Sự kiện thực dân Pháp bãi bỏ chế độ khoa cử ở Việt Nam đã làm thay đổihàng loạt các giá trị cũ Thơ Đờng thất ngôn bát cú - một thời đã từng giữ vị trí
độc tôn bây giờ đã không còn nữa Các tạp chí Đông dơng tạp chí, Nam Phong tạp chí và Trung Bắc tân văn đã dịch và giới thiệu các tác phẩm nổi tiếng của
các tác giả Moliere, Lamartine, Victor Huygo, Balzac, Baudelaire với bạn
Trang 39đọc Hiện tợng này đã khiến cho các cụ đồ Nho lo lắng đạo thế nhân tâm suysụp bởi văn chơng "trèo tờng trổ ngõ", "tích láo, chuyện vơ".
Trong các trờng học, thanh niên, học sinh đang bắt đầu say sa với vănhọc Pháp, ngời ta đọc thơ của Lamartine, ngời ta ca ngợi Hugo, suy tônMusset
Không còn những nghiền ngẫm về thơ cũ, nếp suy cảm cũ, thanh niêntiểu t sản đã có những rung động và xúc cảm mới sau khi tiếp xúc với với vănhọc lãng mạn Pháp Hai thế hệ già - trẻ, cũ - mới đã có những quan niệm, sởthích hoàn toàn khác xa nhau thậm chí là đối lập nhau một cách rõ rệt
Năm 1934, Trong buổi diễn thuyết ở nhà học hội Quy Nhơn, Lu Trọng
L đã phát biểu: " Các cụ ta a những màu đỏ chót, ta lại a những màu xanh nhạt.Các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng lúc đêm khuya ta lại nao nao vì tiếng gà lúc
đúng ngọ Nhìn một cô gái xinh xắn ngây thơ các cụ coi nh đã làm một điều tộilỗi, ta thì cho là mát mẻ nh đứng trớc một cánh đồng xanh Cái ái tình của các
cụ chỉ là sự hôn nhân, nhng đối với ta thì muôn hình vạn trạng, cái tình say
đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gụi, cái tình xa xôi, cái tình trong giâyphút, cái tình ngàn thu"
Những nhận xét ấy đã khái quát khá chân thực sự chú ý của cả một thế hệnhà thơ trở về với cái tôi bản thể của văn học nói chung, thơ mới nói riêng.Không những thế việc trở về với cái tôi này còn là một biểu hiện của tinh thầnPhục hng của thơ ca Tinh thần Phục hng ấy đợc bộc lộ rõ ở một quan niệm trở
về với con ngời, gạt bỏ mọi ràng buộc, ớc lệ , luân lí "chở đạo", "nói chí", v.v
và nói điều đó bằng những rung cảm trực tiếp mãnh liệt nh cha từng có bao giờ
ở hầu hết những ngời cầm bút
Cho đến những năm 20 của thế kỷ một nền văn học mới đã ra đời, nóphản ánh những đòi hỏi của xã hội và của bản thân văn học ở thành thị, cuộcsống t sản hóa đã thắng lợi và ổn định, văn học phải thỏa mãn những nhu cầutinh thần của c dân thành thị
Trang 40Có thể nói thành thị đã nuôi sống văn học mới (điều này đợc nhìn từ haigóc độ: thứ nhất, văn học mới phản ánh chủ yếu hiện thực đời sống ở thành thị
đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của công chúng thành thị Thứ hai, do sự phân cônglao động kiểu t bản chủ nghĩa, nhà văn đã trở thành một nghề để kiếm sống, vàtất nhiên văn học cũng trở thành hàng hóa) Thành thị là động lực thúc đẩy nhàvăn sáng tác Do vậy, thay vì việc" trớc th lập ngôn" là để di dỡng tính tình vàgiáo dục con cháu, để thực hiện "tâm", "chí", "đạo", nhà văn sáng tạo văn học
nh một kế sinh nhai, thay vì việc độc giả trớc đây đi tìm văn phẩm, bây giờ tácphẩm đã chạy theo ngời tiêu thụ
Hiện thực trong đời sống nhà nho là từng mảng rời rạc đã lọc qua bao cửa
ải của sự kiểm soát của "tâm", "chí", "đạo" giờ đây đã đợc thay bằng hiện thực
đời sống trần trụi Văn học mới đã dồn hết tâm lực vào mô tả sao cho "châncảnh, chân tình"
Suốt mời thế kỷ các thi nhân Việt Nam đã sử dụng song song hai hệthống ngôn ngữ Hán và Việt để viết văn làm thơ, giờ đây chữ quốc ngữ đã thaythế và hiển nhiên nó là hệ ngôn ngữ - văn tự lí tởng của nền văn học mới
2.1.2 Một sự hình thành tiêu chuẩn đánh giá mới
Sau thế chiến thứ nhất việc ngời Pháp đẩy mạnh phong trào khai pháthuộc địa đã mở cánh cửa giúp cho làn gió của văn hóa phơng Tây vào ViệtNam trở nên dễ dàng hơn
Giới trí thức trẻ nhanh chóng tiếp thu văn hóa Pháp đồng thời nhận ranhững lỗi thời, cũng nh những gò bó của thơ ca cũ Trớc hiện thực đó nhu cầu
đổi mới thi ca ngày càng trở nên bức bách đồng thời hình thành những tiêuchuẩn đánh giá mới
Năm 1932, sự xuất hiện của bài thơ Tình già của Phan Khôi đã nổ phát
súng lệnh đầu tiên cho việc cải cách thơ và thúc đẩy các nhà thơ trẻ đua nhaulàm thơ mới