Câu 1 Tuần 11 Các rủi ro trong sản xuất nông nghiệp ?Khái niệm Bảo hiểm nông nghiệp là một nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ có đối tượng bảo hiểm là các rủi ro phát sinh trong lĩnh vực sả
Trang 1BÀI THẢO LUẬN MÔN BẢO HIỂM
PHI NHÂN THỌ II
NHÓM 6
DANH SÁCH NHÓM
1 Lưu Thị Ngọc Đ9BH3
2 Đỗ Thị Thanh Nhàn Đ9BH10
3 Nguyễn Thị Phượng
4 Nguyễn Thị Oanh
5 Nguyễn Thị An Ngân
6 Hoàng Thị Mơ
7 Nguyễn Thị Nhung
Trang 2Câu 1 (Tuần 11) Các rủi ro trong sản xuất nông nghiệp ?
Khái niệm
Bảo hiểm nông nghiệp là một nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ có đối tượng bảo hiểm là các rủi ro phát sinh trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và đời sống nông thôn ,bao gồm những rủi ro gắn liền với : cây trồng , vật nuôi, vật tư, hàng hóa ,nguyên liệu nhà xưởng
Các loại rủi ro thường gặp trong nông nghiệp:
- Nhóm rủi ro liên quan đến thời tiết : là những rủi ro liên quan tới các hiện tượng
thời tiết như: gió bão, ngập úng, hạn hán
- Rủi ro liên quan đến sản xuất nông nghiệp: là những rủi ro liên quan đến các
nhân tố như: sâu bệnh, bệnh dịch ở cây trồng và vật nuôi
+ Đối với cây trồng thường bị các loại sâu : sâu đục thân, sâu cuốn lá, rầy nâu, châu chấu
+ Đối với vật nuôi thường bị các bệnh: bệnh kí sinh trùng, bệnh truyền nhiễm, bệnh suy dinh dưỡng
- Rủi ro mang tính kinh tế: những rủi ro liên quan đến biến động của giá nông
phẩm và các nguyên liệu đầu vào (như phân bón ,thuốc trừ sâu, cây giống , các thiết bị nông nghiệp ) do sự biến động khó đoán của thị trường
- Những rủi ro tài chính và hoạt động thương mại: những rủi ro này do sự tác động
của các lĩnh vực sản xuất khác tới nông nghiệp
- Những rủi ro liên quan đến thể chế : là những rủi ro xuất phát từ các chính sách
nông nghiệp của nhà nước
- Rủi ro về môi trường: những rủi ro do tác động tiêu cực của các hoạt động ngoại
ứng ảnh hưởng đến môi trường sản xuất nông nghiệp như ô nhiễm khí hậu, ô nhiễm nguồn nước
Trang 3Câu 2 (Tuần 11) Đánh giá tình hình triển khai BHNN ở Việt Nam?
1.Sự cần thiết khách quan sự ra đời BHNN ở Việt Nam
*Bảo hiểm nông ngiệp ra đời có tác dụng:
+ Đảm bảo an toàn cho các loại tài sản và quá trình sản xuất nông nghiệp; + Góp phần ổn định đời sống cho hàng triệu người dân trong cùng lúc;
+ Ổn định giá cả hàng hóa nông nghiệp trên thị trường; đặc biệt là các mặt hàng lương thực thực phẩm;
+ Góp phần giảm nhẹ ,ổn định ngân sách nhà nước, ổn định đời sống, ổn định an ninh lương thực quốc gia
2.Tình hình triển khai BHNN
a.Trước khi Quyết định 315 (QĐ 315/ QĐ-TTG)ra đời
Trên thực tế, BHNN ở nước ta được bắt đầu phát triển khai từ năm 1982 tại hai huyện Nam Ninh và Vụ Bản,tỉnh Hà Ninh Nam ( cũ ) bởi Bảo Việt với việc tiến hành bảo hiểm mọi rủi ro do thiên tai gây ra với cây lúa.Sau 2 năm do chuyển đổi cơ chế từ hợp tác xã sản xuất nông nghiệp sang kinh tế hộ gia đình nên việc thí điểm tạm thời dừng lại
Đến năm 1993 Bảo Việt tiếp tục triển khai BH cây lúa tại 12 tỉnh trên cả nước và đến năm 1997 con số này tăng lên 16 tỉnh, thành phố với diện tích bảo hiểm lúc đó là 208.900ha, số hộ được BH là 315.200 hộ, tuy nhiên đến năm 1999 Bảo Việt đã phải loại bỏ nghiệp vụ này do không mang lợi nhuận cho doanh nghiệp Ngoài BH cây lúa Bảo Việt còn triển khai các nghiệp vụ BH nông nghiệp khác; BH chăn nuôi(BH bò sữa, cá tra, cá basa….), bH cây công nghiệp, bH cháy rừng…Song sau vài năm hoạt động Bảo Việt vẫn không thể mở rộng được loại hình BH này và cuối cùng phải dừng lại
Cùng với Bảo Việt, công ty TNHH bảo hiểm tổng hợp Groupama Việt Nam cũng triển khai BHNN Tháng 7/2001 Groupama chính thức cumg cấp dịch vụ BH cho vật nuôi và cây trồng, BH tài sản, thiệt hại dùng trong sản xuất nông nghiệp,
BH tai nạn lao động nông nghiệp,BH trách nhiệm dân sự trong sản xuất nông nghiệp và nhiều sản phẩm khác trong lĩnh vực nông nghiệp Mặc dù đã có nhiều cố
Trang 4gắng nhưng doanh thu từ loại hình BHNN của Groupama cũng không đáng kể, tỷ
lệ bồi thường lại rất lớn Năm 2006 Groupama đã tạm thời ngừng hoạt động BHNN để đánh giá lại thị trường, nhìn nhận những tổn thất và có chiến lược phát triển mới do liên tục thua lỗ
Năm 2010 tham gia vào BHNN có thêm các công ty :
- Bảo Minh bảo hiểm cây cà phê
- BIC(Tổng công ty BH Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam) bảo hiểm cây cao su
- ABIC(Công ty cổ phần BH Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam) bảo hiểm
bò sữa tại Nghệ An
Bên cạnh đó các tổ chức khác như Quỹ BH GlobalAgRick Inc cũng đã tiến hành nghiên cứu BHNN theo chỉ số đối với lũ tại Đồng Tháp và hạn hán tại Đắc Lắc, Ngân hàng thế giới tài trợ để xây dựng đồ án và phát triển BHNN…nhưng tất
cả các hoạt động chỉ dừng lại ở giai đoạn nghiên cứu hoặc triển khai thí điểm
Vì vậy sau 18 năm thực hiện tính đến cuối năm 2010, kết quả triển khai BHNN ở nước ta là khá khiêm tốn Doanh thu phí BHNN năm 2010 chỉ đạt gần 2.5 tỷ đồng chiếm 0.05% tổng doanh thu phí của ngành bảo hiểm phi nhân thọ Bên cạnh đó tỷ trọng tham gia BHNN ở nước ta trong giai đoạn này rất thấp: chỉ khoảng 1% tổng diện tích cây trồng, số vật nuôi được BH
Bảng : Kết quả thực hiện Bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2006-2010
Doanh thu phí
BHNN
Tỷ đồng 0,737 0,833 1,377 1,696 2,450
Bồi thường
BHNN
Tỷ đồng 0,535 0,647 0,344 0,345 0,791
Tỷ lệ bồi
thường
Tỷ trọng phí
BHNN trong
tổng phí
BHPNT
Trang 5(Hiệp hội Bảo Hiểm Việt Nam)
b.Từ khi Quyết định 315 (QDD315/QĐ-TTg) ra đời.
Trước thực trạng “dậm chân tại chỗ” của BHNN Việt Nam cũng như nhận thức được tầm quan trọng của BHNN trong việc góp phần ổn định và thúc đấy ngành sản xuất nông nghiệp nước nhà phát triển, ngày 01/03/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 315/2011/QĐ-TTg về thực hiện thí điểm BHNN giai đoạn 2011-2013 tại 21 tỉnh, thành phố trong phạm vi cả nước
Theo Quyết định 315, nội dung quan trọng được đề cập là Nhà nước sẽ hỗ trợ phí BH cho người nông dân khi tham gia BHNN, hỗ trợ chi phí quản lý và tái
BH cho DNBH Sự hỗ trợ tài chính của Nhà nước đối với BHNN được thực hiện
cả ở cấp Trung ương và địa phương , cụ thể: Nhà nước hỗ trợ 100% phí bảo hiểm đối với hộ nghèo 80% đối với hộ cận nghèo, 60% đối với hộ không thuộc diện nghèo hay cận ngheò, và 60% đối với các tổ chức sản xuất nông nghiệp
Ngân sách Trung ương sẽ hỗ trợ 100% đối với các tỉnh nhận bổ sung cân đối
từ ngân sách trung ương, hỗ trợ 50% cho các tỉnh, thành phố có tỷ lệ điều tiết ngân sách trung ương dưới 50%, ngân sách địa phương tự đảm bảo 50% còn lại; đối với các tỉnh, thành phố còn lại ngân sách địa phương tự đảm bảo toàn bộ Việc hỗ trợ phí BH được thực hiện thông qua DNBH khi DN cấp đơn và thu phí theo HĐBH
Như vậy với việc hỗ trợ kinh phí cho người nông dân khi tham gia BH, hỗ trợ chi phí quản lý, và tái Bh cho doanh nghiệp BH, Chính phủ mong muốn đấy mạnh phát triển BHNN, thu hút người nông dân tham gia BH, góp phần ổn định và phát triển ngành sản xuất nông nghiệp nước nhà
Bảng kết quả tham gia bảo hiểm nông nghiệp trong 3 năm 2011-2013:
Đối
tượng
tham gia
Đơn vị tính
Hộ nghèo Hộ cận
nghèo
Hộ thường
Tổ chức sản xuất nông nghiệp
Tổng
Số
lượng
Trang 6Xét về đối tượng bảo hiểm có 236.397 hộ nông dân/tổ chức tham gia bảo hiểm cây lúa; 60.133 hộ nông dân tham gia bảo hiểm vật nuôi; 7.487 hộ nông dân tham gia bảo hiểm thủy sản Tổng giá trị được bảo hiểm là 7.747,9 tỷ đồng, trong
đó cây lúa là 2.151 tỷ đồng, vật nuôi là 2.713,2 tỷ đồng, thủy sản là 2.883,7 tỷ đồng
Tổng doanh thu phí bảo hiểm là 394.000 triệu đồng, trong đó thủy sản là 218.175 triệu đồng (chiếm 55,37%); cây lúa là 91 919 triệu đồng (chiếm 23,33%); vật nuôi
là 83.906 triệu đồng (chiếm 21,3%)
Tính đến thời điểm 20/6/2014, tổng số tiền đã giải quyết bồi thường bảo hiểm là 701,8 tỷ đồng, tỷ lệ bồi thường bảo hiểm là 178,1% Trong đó, thủy sản là 669,5 tỷ đồng (chiếm 95,4%); cây lúa là 19 tỷ đồng (chiếm 2,7%%); vật nuôi là 13,3 tỷ đồng (chiếm 1,9%)
Mặc dù có những bước tiến đột phá sau khi triển khai thí điểm BHNN tuy nhiên so với các nghiệp vụ khác nghiệp vụ này vẫn còn chiếm tỷ trọng khá khiêm tốn Cụ thể:
+Năm 2011 doanh thu phí BHNN tăng 75.6% so với năm 2010 nhưng chỉ chiếm 0.08% tổng doanh thu phí BH
+Đến năm 2012 doanh thu phí BHNN tiếp tục tăng 26.6 lần so với năm 2011 nhưng vẫn chiếm tỷ trọng rất nhỏ khoảng 1% trong tổng doanh thu phí của các nghiệp vụ
+Năm 2013 doanh thu phí BHNN tăng mạnh, tăng 30% so với năm 2012 và chiếm
tỷ trọng 0.9% trong tổng doanh thu phí các nghiệp vụ
+Năm 2014 doanh thu phí BHNN giảm mạnh với con số kỷ lục 84.4% khiến tỷ trọng phí thu được của nghiệp vụ này trong tổng doanh thu phí chỉ đạt 0.11%
3.Đánh giá
a.Kết quả đạt được
Trang 7+BHNN đã góp phần nâng cao nhận thức của người nông dân về BHNN nói riêng và BH nói chung, là một tiền đề quan trọng giúp người nông dân tiếp cận với
1 biện pháp đối phó rủi ro hiệu quả đó chính là tham gia BH
+BHNN còn góp phần tạo ra kênh hỗ trợ về tài chính đối với người sản xuất nông nghiệp đồng thời khắc phục khó khăn, ổn định sản xuất và góp phần to lớn trong việc xóa đói giảm nghèo từ đó phát triển kinh tế địa phương cũng như kinh tế
xã hội đất nước
+Cuối cùng không thể không nhìn nhận sự cố gắng, nỗ lực từ Chính phủ , các cấp ban ngành và các DNBH trong quá trình thực hiện như điều chỉnh chính sách, sản phẩm BH sao cho phù hợp với thực tế…
b.Hạn chế
Tuy vậy quá trình triển khai BHNN vẫn còn tồn tại một số hạn chế cần khắc phục như:
+Thứ nhất có thể thấy số lượng hộ nông dân biết đến và tham gia BHNN vẫn còn ít so với tiềm năng Theo ước tính của Bộ Tài chính mới chỉ có khoảng 3%
số hộ thuộc đối tượng tham gia BHNN Ngay cả đối tượng là hộ nghèo được Nhà nước hỗ trợ 100% phí nhưng cũng mới chỉ 90% số hộ tham gia
+Diện tích cây trồng, diện tích nuôi trồng thủy hải sản, số đầu gia súc gia cầm tham gia bảo hiểm còn ít: 31.792 ha lúa, 1.824.970 ha nuôi trồng thủy sản, 225.098 đầu gia súc, gia cầm.Kết quả này quá hạn chế so với tiềm năng của ngành sản xuất nông nghiệp nước ta
+Các DNBH chưa mặn mà với việc triển khai BHNN ngoài các doanh nghiệp được chỉ định triển khai BHNN
Câu 3( Tuần 11) Các loại hình bảo hiểm nông nghiệp?
Câu 4( Tuần 11) Đối tượng của bảo hiểm cây trồng?
Đối tượng bảo hiểm: Là bản thân cây trồng trong suốt quá trình tăng trưởng
và phát triển hoặc cũng có thể là sản phẩm cuối cùng do cây trồng đem lại tùy theo mục đích trồng trọt Có thể chia ra:
Trang 8Đối với cây hàng năm:là những cây trồng có chu kỳ sinh trưởng và cho sản
phẩm trong vòng dưới 1 năm như Lúa, ngô , khoai sắn
=> đối tượng bảo hiểm là sản lượng thu hoạch
Đối với cây lâu năm: là những cây có chu kỳ sinh trưởng và cho sản phẩm từ
1 năm trở như Cà phê ,cao su, hồ tiêu
=>đối tượng bảo hiểm là giá trị của các loại cây đó hoặc sản lượng từng năm của mỗi loại cây
Đối với vườn ươm:là những cây có chu kỳ sinh trưởng rất ngắn, sản phẩm
của chúng được coi là chi phí sản xuất cho những quá trình sản xuất tiếp theo
=> đối tượng bảo hiểm là giá trị cây giống trong suốt thời gian ươm giống đến khi nhổ đi trồng nơi khác
Câu 1( Tuần 12) Các rủi ro được bảo hiểm và các rủi ro không được bảo hiểm trong bảo hiểm cây trồng ?
Các rủi ro được bảo hiểm: trong quá trình sinh trưởng và phát triển, cây
trồng thường gặp nhiều rủi ro khác nhau:
+Các hiện tượng gió bão: thường làm cây trồng bị đổ, gãy, khả năng thụ phấn của hoa kém, làm mất toàn bộ giá trị hoặc sản lượng, năng suất giảm
+Hiện tượng lũ lụt: làm cho cây bị chết, chậm phát triển, đât đai bị rửa trôi,
độ màu mỡ giảm,
+Hạn hán, gió lào: làm cho cây khô héo, chậm phát triển, chết; Rủi ro sâu bệnh: dẫn đến chất lượng SP kém, năng suất thấp,…
Về nguyên tắc những rủi ro được bảo hiểm phải đảm bảo các điều kiện sau:
+Là hiện tượng bất ngờ mà con người chưa lường trước được hoặc hoàn toàn chưa khống chế và loại trừ được;
+Dù đã áp dụng các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất nhưng không có kết quả hoặc không thể né tránh;
Trang 9+Là hiện tượng bất ngờ đối với nơi xảy ra, có cường độ phá hoại, hủy hoại lớn hơn hoặc xảy ra sớm hay muộn hơn bình thường hàng năm
Các rủi ro không được bảo hiểm:
+ Người được bảo hiểm cố ý gây thiệt hại
+Bất cứ sự sụt giảm năng suất nào do hành động không chuyên cần, dù cố ý hay không cố ý, không tuân thủ các tiêu chuẩn, quy trình và các khuyến cáo canh tác lúa và đề phòng, hạn chế tổn thất theo quy định của cơ quan chức năng có thẩm quyền
+Rủi ro liên quan tới bảo quản sau thu hoạch (lúa bị nảy mầm, cháy, ngập nước, mất cắp, bẩn,…)
+ Các rủi ro về chất lượng lúa như rủi ro liên quan tới hàm lượng dinh dưỡng, mốc, mất hương vị
Câu 2 ( Tuần 12) Cách xác định giá trị bảo hiểm , số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm trong bảo hiểm cây trồng?
Gía trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm cây trồng là giá trị của bản thân cây trồng hoặc giá trị sản lượng cây trồng trên một đơn vị bảo hiểm Cụ thể:
+GTBH vườn ươm cây được xác định bằng cách lấy giá cả của 1 cây x Số
cây trên 1 đơn vị bảo hiểm Hoặc giá trị của 1 m2 cây giống x số m2 trên 1 đơn vị bảo hiểm Giá cả cây giống hoặc 1 m2 cây giống được xác định căn cứ vào giá bán bình quân 1 số năm trước đó
+GTBH thực tế đối với cây hàng năm được xác định căn cứ vào sản lượng
thu hoạch thực tế của từng loại cây trồng 1 số năm trước đó và giá cả 1 đơn vị SP trong những năm trước đó
+GTBH cây lâu năm là giá trị của từng cây, từng lô cây thuộc từng đơn vị
bảo hiểm Những cây lâu năm là tài sản cố định, giá trị ban đầu của loại tài sản này
Trang 10được xác định tại thời điểm vườn cây đưa vào kinh doanh Phí bảo hiểm cây trồng bao gồm: phí bồi thường tổn thất (phí thuần) và phần phụ phí
Các chế độ bảo hiểm cây trồng
Chế đố bảo hiểm bồi thường theo tỷ lệ: khi tổn thất xảy ra, người bảo hiểm
chỉ bồi thường cho người trồng trọt theo 1 tỷ lệ nhất định so với toàn bộ giá trị tổn thất Tỷ lệ bồi thường do các bên tự thỏa thuận, nhưng tỷ lệ này cao hay thấp phụ thuộc vào:
+Trình độ phát triển của SX NN
+Trình độ thâm canh tăng năng suất cây trồng;
+Khả năng tổ chức, quản lý của công ty bảo hiểm;
+Khả năng tài chính của người tham gia bảo hiểm;
+Trình độ dân trí và sự tiến bộ của xã hội
Chế đố bảo hiểm trên mức miễn thường : các bên tham gia thỏa thuận với
nhau về mức miễn thường (mức không được bồi thường)
- Nếu tổn thất xảy ra bằng mức miễn thường trở xuống, người bảo hiểm không không chịu trách nhiệm bồi thường, mà người trồng trọt sẽ phải tự gánh chịu phần tổn thất đó
-Nếu tổn thất lơn hơn mức miễn thường, người bảo hiểm sẽ bồi thường phần vượt quá hoặc bồi thường toàn bộ tổn thất
Chế độ này thường áp dụng cho cây hàng năm và mức miễn thường có thể bằng 10% dến 15% STBH Áp dụng chế độ này nhằm:
- Nâng cao tinh thần trách nhiệm của người trồng trọt;
- Làm chi phí bảo hiểm giảm đi để phù hợp với khả năng tài chính của người trồng trọt;
-Đáp ứng được yêu cầu tổ chức và quản lý của công ty bảo hiểm,
Phương pháp xác định phí
Trang 11Công thức tính: P = f + d
Trong đó: P – là phí bảo hiểm cây trồng
f – Phí thuần
d – Phụ phí (d: được quy định bằng 1 tỷ lệ
% nhất định so với tổng mức phí P) -Đối với vườn ươm và cây lâu năm: muốn xác định được f, trước hết phải căn cứ vào giá trị thực tế thu được hoặc giá trị ban đầu còn lại của vườn cây và giá trị tổn thất thực tế bình quân một số năm để tính tỷ lệ phí bồi thường bình quân Sau đó, lấy giá trị bảo hiểm năm nghiệp vụ nhân với tỷ lệ phí bồi thường bình quân
đã tính được
-Đối với cây hàng năm:việc xác định tỉ lệ phí bồi thường bình quân khá phức tạp, do tính chất mùa vụ và do tính bất ổn của loại cây này cao hơn Vì vậy,
để xác định được tỷ lệ phí bồi thường bình quân phải tính toán qua các bước:
Bước 1:xác định sản lượng thu hoạch thực tế bình quân trên một đơn vị diện
tích bảo hiểm
:Sản lượng thu hoạch thực tế bình quân tính trên 1 đơn vị bảo hiểm
: Năng suất thu được thực tế năm thứ i
: Diện tích gieo trồng năm i
i : Thứ tự các năm lấy số liệu tính toán
Bước 2: Xác định sản lượng tổn thất bình quân trên 1 đơn vị bảo hiểm
(Với điều kiện )
t - Năm có tổn thất