Mục tiêu cụ thể - Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo hiểm nông nghiệp và thị trường bảo hiểm nông nghiệp; - Đánh giá thực trạng thị trường bảo hiểm nông nghiệp tron
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nghiên cứu nào khác
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Bá Huân
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tác giả đã
nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các cấp lãnh đạo và các cá nhân
Nhân dịp này tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học Trường Đại học Lâm Nghiệp, Cục
Thống kê, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thành phố Hà Nội, Uỷ ban nhân
dân huyện Chương Mỹ, phòng Nông nghiệp, phòng Thống kê, phòng Tài nguyên
Môi trường, Trạm thú y, phòng Kinh tế huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
Thầy giáo hướng dẫn TS Nguyễn Quang Hà và các thầy cô giáo đã trực tiếp
giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ và các hộ nông
dân ở 6 xã: Đại Yên, Trung Hòa, Tốt Động, Lam Điền, Hòa Chính và Thanh Bình
Tác giả xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này
Tác giả xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa được sử dụng bảo vệ một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các
thông tin trích dẫn trong đề tài đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Bá Huân
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP VÀ THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM NÔNG NGHỆP 5
1.1 Cơ sở lý luận về BHNN và thị trường BHNN 5
1.1.1 Rủi ro trong sản xuất nông nghiệp 5
1.1.2 Sự cần thiết của BHNN và phát triển thị trường bảo BHNN 9
1.1.3 Những vấn đề lý luận chung về bảo hiểm nông nghiệp 10
1.1.4 Những vấn đề lý luận về thị trường bảo hiểm nông nghiệp 13
1.2 Cơ sở thực tiễn về BHNN và thị trường BHNN 18
1.2.1 Thực tiễn bảo hiểm nông nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới 18
1.2.2 Thực trạng phát triển thị trường bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam 23
1.2.3 Một số công trình nghiên cứu có liên quan 30
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội 33
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên của huyện Chương Mỹ 33
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Chương Mỹ 34
2.1.3 Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Chương Mỹ 36
2.2 Phương pháp nghiên cứu 38
2.2.1 Khung logic nghiên cứu 38
2.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát và mẫu điều tra 39
2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin 42
Trang 42.2.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 43
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51
3.1 Thực trạng chăn nuôi lợn ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội 51
3.1.1 Tình hình chăn nuôi lợn ở huyện Chương Mỹ 51
3.1.2 Tình hình áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi lợn 54
3.1.3 Rủi ro trong chăn nuôi lợn ở huyện Chương Mỹ 59
3.1.4 Đánh giá chung về thực trạng chăn nuôi lợn ở huyện Chương Mỹ 62
3.2 Thực trạng thị trường bảo hiểm nông nghiệp trong chăn nuôi lợn ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội 64
3.2.1.Giai đoạn trước khi thực hiện thí điểm BHNN theo Quyết định 315/QĐ-TTg 64 3.2.2 Giai đoạn thực hiện thí điểm BHNN theo Quyết định 315/QĐ-TTg 64
3.3 Phân tích cầu bảo hiểm nông nghiệp trong chăn nuôi lợn của hộ chăn nuôi trên địa bàn huyện Chương Mỹ từ các xã khảo sát 72
3.3.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của các xã khảo sát và các hộ điều tra 72
3.3.2 Thái độ và nhận thức của hộ được hỏi về vấn đề rủi ro trong chăn nuôi lợn 72
3.3.3 Quyết định tham gia và không tham gia BHNN của các hộ điều tra 74
3.3.4 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới cầu BHNN trong chăn nuôi lợn của hộ chăn nuôi trên địa bàn huyện Chương Mỹ từ các xã khảo sát 78
3.3.5 Phân tích mức sẵn lòng chi trả phí bảo hiểm của người chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Chương Mỹ 90
3.4 Một số giải pháp nhằm mở rộng và phát triển thị trường BHNN đối với chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội 97
3.4.1 Đánh giá chung về thực trạng thị trường BHNN trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội 97
3.4.2 Một số giải pháp nhằm mở rộng và phát triển thị trường BHNN trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội 99
KẾT LUẬN 112 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHNN Bảo hiểm nông nghiệp
CVM Định giá ngẫu nhiên
DNBH Doanh nghiệp bảo hiểm
SXNN Sản xuất nông nghiệp
TĂCN Thức ăn chăn nuôi
WTP Mức sẵn lòng chi trả
Trang 62.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHNN của
2.6 Những nhân tố ảnh hưởng đến WTP phí bảo hiểm của người chăn nuôi 49 3.1 Tình hình chăn nuôi lợn của huyện Chương Mỹ giai đoạn 2011-2013 53 3.2 Số lượng và cơ cấu đàn lợn theo giống của Chương Mỹ từ 2011-2013 55
3.3 Thực trạng công tác thú y và cơ sở kinh doanh TĂCN của huyện
3.4 Số lợn thiệt hại do dịch bệnh ở huyện Chương Mỹ giai đoạn 2011-2013 60 3.5 Tổng giá trị bảo hiểm lợn từ tháng 8/2012 - 12/2013 67 3.6 Tổng số phí BH thu được từ tháng 8/2012 - 12/2013 68 3.7 Số lợn thiệt hại do dịch bệnh từ tháng 8/2012 - 12/2013 69 3.8 Bồi thường tổn thất theo đối tượng từng loại hộ 69 3.9 Số lượng hộ chăn nuôi và hộ tham gia BHNN từ tháng 8/2012 - 12/2013 70 3.10 Số lượng lợn thực tế và số lợn tham gia BHNN từ tháng 8/2012 - 12/2013 71 3.11 Các biện pháp hạn chế rủi ro trong chăn nuôi lợn của các hộ điều tra 74 3.12 Lý do không tham gia BHNN trong chăn nuôi lợn của các hộ điều tra 77
Trang 73.13 Ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định tham gia BHNN của các
3.14 Kiểm định Omnibus đối với mức độ phù hợp của mô hình 84
3.17 Kết quả các hệ số hồi quy của các biến trong mô hình Binary logistic 85
3.18 Mô phỏng xác suất thay đổi quyết định tham gia BHNN trong chăn
nuôi lợn của các hộ chăn nuôi trên địa bàn huyện Chương Mỹ 86
3.20 Mức sẵn lòng chi trả phí bảo hiểm của người chăn nuôi lợn trên địa
3.21 Mức sẵn lòng chi trả phí bảo hiểm trung bình của người chăn nuôi
3.22 Kết quả phân tích hồi quy của các nhân tố ảnh hưởng đến WTP đối
3.23 Kết quả các hệ số hồi quy các biến trong mô hình WTP cho lợn sinh sản 94
3.24 Kết quả phân tích hồi quy của các nhân tố ảnh hưởng đến WTP đối
3.25 Kết quả các hệ số hồi quy của các biến trong mô hình WTP cho lợn thịt 95
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
1.2 Mối quan hệ các tác nhân trong thị trường BHNN 17 2.1 Trình tự các bước tiến hành phương pháp định giá ngẫu nhiên 48 3.1 Quyết định tham gia và không tham gia BHNN của các hộ điều tra 75 3.2 Lý do tham gia BHNN trong chăn nuôi lợn của các hộ điều tra 76 3.3 Lý do không tham gia BHNN trong chăn nuôi lợn của các hộ điều tra 77
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp, nông thôn và nông dân chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị, kinh tế - xã hội Việt Nam Nông nghiệp không những đảm bảo chiến lược an ninh lương thực, cung cấp nguyên liệu cho các ngành kinh tế, tham gia xuất khẩu mà còn là thị trường lao động cho hàng chục triệu người, là sinh kế quan trọng của một bộ phận rất lớn dân cư nước ta Tuy nhiên, hàng năm sản xuất nông nghiệp (SXNN) lại phải thường xuyên đối mặt với những rủi ro lớn, đặc biệt
là những rủi ro như thiên tai, dịch bệnh có xu hướng tăng cao về tần suất, nghiêm trọng hơn về hậu quả Ngân sách Nhà nước và các nguồn tài chính khác đã phải chi hàng nghìn tỷ đồng để hỗ trợ người dân sau rủi ro Tuy nhiên, đây mới chỉ mang tính chất khôi phục cuộc sống tối thiểu chứ chưa phải giúp nông dân khôi phục và
bù đắp chi phí SXNN Do vậy, chính sách hỗ trợ mới như cái chăn mỏng, kéo đầu này hở đầu kia
Trong tình hình như vậy, có thể thấy bảo hiểm nông nghiệp (BHNN) chính là một cái phao cứu hộ hiệu quả nhất, thiết thực nhất Hoạt động BHNN ở nước ta được triển khai từ năm 1982 nhưng dịch vụ này phát triển rất chậm, thậm chí có lúc
có nguy cơ chết yểu Đối với một bộ phận khá lớn nông dân, BHNN vẫn còn là vấn
đề rất mới mẻ, còn nhiều người dân chưa hề biết đến khái niệm về BHNN Nhằm phát triển thị trường BHNN, Chính phủ ban hành Quyết định số 315/QĐ-TTg về việc thực hiện thí điểm BHNN giai đoạn 2011-2013 tại 20 tỉnh thành Những tiêu chí hỗ trợ từ Chính phủ khá mạnh mẽ, chưa từng có trước đây: Hỗ trợ 100% phí bảo hiểm cho hộ nông dân, cá nhân nghèo, 80% cho hộ cận nghèo, 60% cho hộ thường
và 20% cho các tổ tổ chức SXNN tham gia thí điểm BHNN
Huyện Chương Mỹ nằm ở phía Tây Nam của trung tâm Thủ đô Hà Nội, huyện đã có truyền thống chăn nuôi gia súc, đặc biệt là chăn nuôi lợn trong nhiều năm nay Tuy nhiên trên thực tế, chăn nuôi lợn của huyện gặp rất nhiều rủi ro, ngoài những yếu tố bên trong thì chăn nuôi lợn còn chịu nhiều tác động của các yếu tố ngoại cảnh khác như thiên tai, dịch bệnh, thị trường Hạn chế được những rủi ro trong chăn nuôi sẽ giúp các hộ tăng kết quả và hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập cho người chăn nuôi Với bối cảnh đó, Chương Mỹ được thành phố Hà Nội chọn thực
Trang 10hiện thí điểm BHNN theo Quyết định 315/QĐ-TTg Huyện thực hiện triển khai thí điểm tại 3 xã Tốt Động, Trung Hòa, Đại Yên Kết quả triển khai đến ngày 31/12/2103 tại 3 xã, có tới 2.114 số lượt hộ tham gia (chiếm 74,23% tổng số hộ chăn nuôi), trong
đó hộ chăn nuôi trong diện là hộ nghèo chiếm 25,02%, hộ cận nghèo chiếm 10,88%,
hộ thường chiếm 64,10%, đã có tới 20.185 con lợn đang nuôi được bảo hiểm (BH) với tổng giá trị BH trên 93,71 tỷ đồng Số tiền bồi thường là 1,545 tỷ đồng [33]
Tuy nhiên, mặc dù đã được tuyên truyền về chế độ BHNN qua nhiều hình thức nhưng do thói quen về sản xuất và chưa nhận thức đầy đủ về BHNN nên vẫn còn có hiện tượng nghe ngóng, xem xét, chờ đợi Hầu hết người dân chưa tham gia thị trường BHNN trước đây nên nhận thức của họ về quyền lợi, trách nhiệm khi tham gia BHNN chưa thực sự đầy đủ, họ chỉ đơn thuần tham gia mua BH khi được trợ cấp đáng kể từ Chính phủ Số lợn tham gia chưa phản ánh đúng tiềm năng hiện
có của địa phương Thủ tục hành chính, chính sách pháp luật còn một số hạn chế 29
xã thị trấn còn lại trong huyện không được chọn làm thí điểm thì đến nay BHNN vẫn còn là vấn đề rất mới mẻ, hầu hết người dân chưa hề biết BHNN Những điều này ảnh hưởng lớn đến việc mở rộng và phát triển thị trường BHNN
Vậy, vấn đề đặt ra đối với phát triển thị trường BHNN là: (1) Những nhân tố chính nào ảnh hưởng đến thực trạng phát triển thị trường BHNN ở Việt Nam nói chung và huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội nói riêng? (2) Để triển khai BHNN rộng trên toàn quốc thì Chính phủ nên thực hiện những chính sách nào? (3) Nếu Chính phủ tiếp tục hỗ trợ phí BH như khi thực hiện thí điểm thì tỷ lệ người dân quyết định tham gia là bao nhiêu? (4) Nếu không hỗ trợ phí BH thì mức sẵn lòng chi trả phí BH của người chăn nuôi lợn ở Chương Mỹ là bao nhiêu? Những nhân tố chính nào ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả này?
Trong nước đã có những nghiên cứu liên quan đến hoạt động BHNN nhưng chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu cụ thể về phát triển thị trường BHNN, đặc biệt
là BHNN trong chăn nuôi lợn tại huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội Xuất phát từ
những vấn đề trên nghiên cứu lựa chọn đề tài: “Giải pháp phát triển thị trường bảo
hiểm nông nghiệp trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội” là vấn đề mang tính cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn nhằm
mở rộng và phát triển thị trường BHNN trong chăn nuôi trên địa bàn huyện
Trang 112 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thị trường BHNN trong chăn nuôi lợn, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm mở rộng và phát triển thị trường BHNN trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố
Hà Nội
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo hiểm nông nghiệp
và thị trường bảo hiểm nông nghiệp;
- Đánh giá thực trạng thị trường bảo hiểm nông nghiệp trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội;
- Xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến cầu bảo hiểm nông nghiệp trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm mở rộng và phát triển thị trường bảo hiểm nông nghiệp trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Do thị trường BHNN là loại thị trường đặc biệt, thông tin không đối xứng, người sản xuất (bên cầu) biết nhiều thông tin hơn doanh nghiệp bảo hiểm (bên cung) về: Rủi ro, phương pháp hạn chế và phòng ngừa rủi ro, mức độ thiệt hại do rủi ro Hiện nay, cầu đang là nút thắt lớn trong thị trường BHNN Do vậy, đối tượng tập trung nghiên cứu của đề tài là cầu về thị trường BHNN trong chăn nuôi lợn của các hộ chăn nuôi trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
- Các đối tượng khảo sát: Các cán bộ quản lý cấp huyện, cấp xã ở địa bàn chọn điểm khảo sát; Các hộ chăn nuôi lợn ở địa bàn chọn điểm khảo sát; Các doanh nghiệp trong hệ thống cung ứng dịch vụ BHNN trên địa bàn khảo sát
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Về không gian:
Nghiên cứu thực trạng chăn nuôi lợn và thị trường BHNN trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
Trang 124 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo hiểm nông nghiệp và thị trường bảo hiểm nông nghiệp;
- Thực trạng thị trường bảo hiểm nông nghiệp trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội;
- Những nhân tố ảnh hưởng đến cầu bảo hiểm nông nghiệp trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội;
- Một số giải pháp nhằm mở rộng và phát triển thị trường bảo hiểm nông nghiệp trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh sách bảng biểu, phụ lục, nội dung chính của luận văn được thể hiện trong 03 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo hiểm nông nghiệp và thị trường
bảo hiểm nông nghiệp
Chương II: Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương III: Kết quả nghiên cứu
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP
VÀ THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM NÔNG NGHỆP 1.1 Cơ sở lý luận về BHNN và thị trường BHNN
1.1.1 Rủi ro trong sản xuất nông nghiệp
Theo trường phái truyền thống: Rủi ro là điều không may mắn, không lường
trước được về khả năng xảy ra, về thời gian và không gian xảy ra, cũng như mức độ nghiêm trọng và hậu quả của nó [21] Như vậy theo trường phái này “rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người”
Theo trường phái hiện đại: Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa
mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực Rủi ro co thể mang đến những tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai [21]
1.1.1.2 Các loại hình rủi ro trong sản xuất nông nghiệp
Trong SXNN, các hộ nông dân thường phải đối mặt với nhiều loại rủi ro khác nhau Rủi ro trong SXNN ở nước ta có thể chia thành 4 nhóm lớn: (1) Rủi ro thiên tai, (2) rủi ro dịch bệnh, (3) rủi ro thị trường và (4) rủi ro khác Cụ thể:
a Rủi ro thiên tai
Trong thực tế, thiên tai xuất hiện ngày càng nhiều với tần số lớn hơn và mức
độ gây hại ngày càng nghiêm trọng hơn đối với đời sống của con người và môi trường xung quanh Trong các lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh, SXNN (theo nghĩa rộng bao gồm nông, lâm, thủy sản) được tiến hành trên diện rộng, hầu hết ở ngoài trời nên chịu sự tác động rất lớn của thiên tai Mặt khác, đối tượng SXNN là
Trang 14những cơ thể sống có chu kỳ sinh trưởng, phát triển khá dài và có mối liên hệ chặt chẽ với thiên nhiên Do đó, sự biến động của thiên nhiên tác động trực tiếp đến thành quả SXNN Thiên tai luôn rình rập và gây ra rất nhiều rủi ro cho SXNN như: rủi ro do lũ lụt, gió bão, hạn hán, nắng gắt, mưa đá, sương mù, sạt lở đất, nước biển xâm thực, rét đậm, rét hại, cháy rừng, sóng thần…gây ra rất hậu quả lớn đối với SXNN và sinh kế của người dân
Việt Nam là một trong 10 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu toàn cầu nên thiên tai diễn biến rất phức tạp, khó lường, hậu quả ngày càng có xu hướng nặng nề hơn, thậm chí mang tính thảm họa Theo số liệu thống kê, trung bình mỗi năm nước ta phải hứng chịu 6-7 trận bão, gây thiệt cho SXNN từ 15% đến 20% giá trị SXNN Trong hơn 50 năm qua (1960-2014) đã có tới trên 400 trận bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Việt Nam Có tới 80-90% dân số Việt Nam chịu ảnh hưởng của bão, gây tổn thất rất lớn đến tính mạng, tài sản, nhà cửa
và phá huỷ môi trường [19]
b Rủi ro dịch bệnh
Mỗi loại cây trồng, mỗi loại gia súc, gia cầm có đặc điểm sinh lý khác nhau nên có các loại dịch bệnh khác nhau Dịch bệnh trong SXNN hết sức đa dạng và đang là yếu tố rủi ro thường trực đối với ngành nông nghiệp, làm cho cây trồng, vật nuôi chết hàng loạt, năng suất thu hoạch giảm sút Trong những năm qua, ở nước ta ngành trồng trọt có các loại sâu, bệnh lan truyền rất nhanh như: Cây lúa có các loại sâu, bệnh như bệnh vàng lùn, bệnh đạo ôn, bệnh khô vằn, dịch rầy nâu, rầy xanh, sâu đục thân…; Cây cao su có bệnh nấm hồng, thối đen miệng cạo; Cây cà phê, điều cam, quýt có bệnh sâu đục thân, vàng lá vv Trong ngành chăn nuôi có các loại dịch bệnh lan truyền rất nhanh như bệnh dịch cúm gia cầm H5N1, dịch lở mồm long
móng ở trâu, bò, lợn, dịch lợn tai xanh thiệt hại rất lớn
Dịch bệnh là yếu tố rủi ro thường trực trong SXNN Có những loại bệnh
thông thường nhưng có những bệnh nguy hiểm, lan truyền rất nhanh và rất khó kiểm soát Cũng như thiên tai, không năm nào ở nước ta không xảy ra các đợt dịch bệnh đối với cây trồng, vật nuôi Khi dịch bệnh xảy ra, mặc dù Nhà nước đã có
nhiều biện pháp hỗ trợ người dân khắc phục rủi ro nhưng những giải pháp hỗ trợ
của Nhà nước cũng mới giúp người dân khắc phục được một phần thiệt hại [20]
Trang 15c Rủi ro thị trường
* Rủi ro giá cả: Thị trường nông sản là thị trường cạnh tranh hoàn hảo,
người sản xuất là người chấp nhận giá Rủi ro về giá cả đối với SXNN rất khó kiểm soát như rủi ro giá cả nguyên liệu đầu vào, rủi ro giá cả đầu ra Các nguyên nhân dẫn tới rủi ro giá cả là: Cung vượt cầu trên thị trường, biến động của tỷ giá hối đoái, chất lượng sản phẩm, các rào cản thương mại và sự yếu kém về quản lý thị trường vật tư, thị trường nông sản, hạn chế về cơ chế quản lý chính sách Nhà nước (yếu
kém trong việc quản lý hàng giả, hàng nhái, hàng chất lượng thấp, hàng nhập lậu)
Một thực tế ở Việt Nam đó là chất lượng nông sản không cao nên thường không có nhiều lợi thế cạnh tranh giá trên thị trường quốc tế Cùng với nó là việc chi phí sản xuất hàng nông sản của Việt Nam thường cao, chu kỳ sản xuất kéo dài, làm cho người nông dân lâm vào khó khăn Trong thị trường nội địa thì người dân SXNN là bên cung hàng hóa nhưng hầu hết không định giá bán được mà lại do trung gian, thương lái ép giá Vì vậy, lợi nhuận SXNN của người nông dân rất thấp,
bị rơi nhiều vào tay các trung gian, thương lái [20]
* Rủi ro do lạm phát: Rủi ro do lạm phát là rủi ro rất khó dự báo và rất khó
kiểm soát bởi lạm phát do nhiều nguyên nhân gây ra như giá cả đầu vào trên thị
trường thế giới, tăng tiêu dùng và biến động tỷ giá Đối với SXNN ở nước ta, rủi ro
do lạm phát gây ra những thiệt hại lớn vì nhiều loại vật tư sản xuất hiện nay còn đang dựa vào nguồn nhập khẩu (nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật ) [20]
d Rủi ro khác
SXNN ở nước ta còn đối mặt với những rủi ro khác như: Rủi về đất đai sản xuất và quản lý nguồn nước, rủi ro về tổ chức quản lý sản xuất và sử dụng vật tư sản xuất, rủi ro do hạn mức tín dụng và trì hoãn thanh toán [19]
* Rủi về đất đai sản xuất và quản lý nguồn nước: Một bộ phận nông dân bị
rủi ro về đất đai sản xuất do Nhà nước thu hồi đất để quy hoạch các khu công
nghiệp, các đô thị và xây dựng hạ tầng giao thông, thủy lợi làm cho đất nông nghiệp giảm Ngoài ra, ô nhiễm môi trường đất cũng làm cho người nông dân
bị thiệt hại trong SXNN, chẳng hạn đất bị dầu loang, đất bị nhiễm mặn xâm nhập
Trang 16Các rủi ro về đất đai sản xuất đã làm cho một bộ phận nông dân mất đi sinh kế và rơi vào tình cảnh khó khăn
Bên cạnh đó, rủi ro về quản lý nguồn nước như việc xây dựng các công trình thủy điện đã làm cho nhiều địa phương khan hiếm nguồn nước cho SXNN, nhiều hộ nông dân đã mất đi sinh kế Ô nhiễm nguồn nước do nước bị xâm nhập mặn, nước
bị ô nhiễm do chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt làm cho SXNN bị thiệt hại Chẳng hạn sự ô nhiễm nguồn nước do Công ty Vedan gây ra trên sông Thị Vải đã làm cho hàng nghìn hộ nông dân thiệt hại trong sản xuất trồng trọt và chăn nuôi
* Rủi ro về tổ chức quản lý sản xuất và sử dụng vật tư sản xuất: Do trình
độ chuyên môn kỹ thuật và kiến thức kinh tế thị trường yếu kém, nhiều hộ nông dân chạy theo tín hiệu thị trường đã đưa vào sản xuất các loại sản phẩm mà họ chưa thông hiểu kỹ thuật Mặt khác, do quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún nên việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật không hiệu quả Việc lạm dụng phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật đã làm cho giá thành sản xuất tăng cao, sản
phẩm không tiêu thụ được, người sản xuất trở nên lỗ vốn, phá sản
Không những vậy, do sự yếu kém của các cơ quan chức năng về quản lý thị
trường nên các loại vật tư sản xuất kém chất lượng hoặc hàng giả vẫn được bày bán
tại các đại lý, các cửa hàng bán lẻ mà người dân thì không đủ điều kiện để xác định
đâu là hàng tốt, đâu là hàng xấu, đâu là hàng giả
* Rủi ro do hạn mức tín dụng và trì hoãn thanh toán: Phần lớn nông dân
hiện nay đều thiếu vốn để đầu tư thâm canh hoặc mở rộng quy mô sản xuất Tuy
nhiên, họ không vay được đủ vốn do hạn mức tín dụng đối với từng loại hộ và thế là
họ không đủ điều kiện về vốn để đầu tư theo đúng quy trình Bên cạnh đó, sự trì hoãn thanh toán của các doanh nghiệp thu mua sản phẩm của nông dân, làm cho
người nông dân bị động trong việc đầu tư tái sản xuất Điển hình ở Đồng bằng sông Cửu Long, trong hợp đồng bán cá Tra nguyên liệu giữa nông dân với doanh nghiệp
chế biến ghi rất rõ doanh nghiệp sẽ thanh toán cho người nuôi cá trong vòng
10-15 ngày kể từ khi bàn giao sản phẩm nhưng thực tế phải vài tháng sau mới thanh toán làm cho gánh nặng lãi suất ngân hàng của người nuôi cá nặng thêm [19]
Trang 171.1.2 Sự cần thiết của BHNN và phát triển thị trường bảo BHNN
Hàng năm SXNN ở nước ta phải hứng chịu hàng loạt các loại rủi ro, đặc biệt là thiên tai, dịch bệnh tác động nhiều mặt đến đời sống và kế hoạch sản xuất của người dân, nhanh chóng hủy hoại nguồn thu nhập hiện tại và phá hủy tài sản của các hộ gia đình Trước tình cảnh như vậy, nhiều hộ gia đình bị đẩy vào vòng xoáy của nghèo đói Những hộ trước đây sống trên mức nghèo đói thì chỉ sau một thiên tai, dịch bệnh lớn có thể bị dìm xuống dưới mức nghèo đói
Rủi ro
Hình 1.1: Tài sản của hộ nông dân sau rủi ro
(Nguồn: Global AgsRick, (2009))
Ngân sách Nhà nước và các nguồn tài chính khác đã phải chi hàng nghìn tỷ đồng để hỗ trợ Tuy nhiên đây mới chỉ mang tính chất khôi phục cuộc sống tối thiểu chứ chưa phải giúp nông dân khôi phục và bù đắp chi phí SXNN
Trong tình hình như vậy, BHNN có thể giải quyết ngay vấn đề tài chính của người nông dân khi họ phải chịu tổn thất Ổn định đời sống cho hàng triệu người nông dân mỗi khi rủi ro xảy ra Vì vậy, phát triển BHNN và thị trường BHNN là hết sức quan trọng và cần thiết, bởi vì:
Thứ nhất, BHNN có tác dụng rất lớn trong việc chia sẻ lợi ích và chia sẻ rủi
ro giữa người SXNN và DNBH Bảo vệ sinh kế người nông dân, giữ vững năng suất lao động, do vậy giúp giảm đói nghèo
Trang 18Thứ hai, thị trường BHNN giúp khôi phục và duy trì năng lực tài chính ổn
định, bảo vệ các tổ chức tài chính trước tình trạng không thể thanh toán nợ do thiên tai xảy ra, do đó giảm bớt các nỗi lo âu về tinh thần của các tổ chức, cá nhân tham gia BH, thông qua hoạt động chi trả bồi thường
Thứ ba, BHNN có vai trò bổ sung cho các chương trình bảo đảm xã hội do
Nhà nước thực hiện, quỹ Chính phủ được huy động vào những mục tiêu khác thay
vì phải tiến hành trợ cấp trong điều kiện SXNN gặp rủi ro, nhờ đó làm giảm gánh nặng ngân sách Nhà nước và nâng cao hiệu quả phân bổ các nguồn lực xã hội
Thứ tư, thị trường BHNN có tác dụng thúc đẩy các hoạt động thương mại, sản
xuất kinh doanh, khuyến khích người SXNN đầu tư vào các hoạt động mang lại lợi nhuận cao hơn vì có thể yên tâm rằng đứng sau họ đã có sự bảo vệ về tài chính của các Công ty BH thông qua việc họ tham gia BHNN
Thứ năm, thị trường BHNN tạo ra kênh huy động vốn tiết kiệm quan
trọng cho đầu tư phát triển, thúc đẩy thị trường vốn phát triển Mở rộng tài chính nông thôn thông qua các hình thức bảo đảm cho người SXNN được tiếp cận tốt hơn với dịch vụ tài chính và được hưởng điều khoản tín dụng thuận lợi hơn
Thư sáu, triển khai BHNN góp phần nâng cao dân trí, trình độ nhận thức
và trách nhiệm của người dân trong các hoạt động sản xuất của chính mình và trách nhiệm với xã hội
1.1.3 Những vấn đề lý luận chung về bảo hiểm nông nghiệp
1.1.3.1 Lý luận chung về bảo hiểm
a Một số khái niệm cơ bản
* Khái niệm bảo hiểm: Bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người
hay của số một ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại, bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng không
may bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra [26]
* Khái niệm kinh doanh bảo hiểm: Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của
DNBH nhằm mục đích sinh lợi, theo đó DNBH chấp nhận rủi ro của người được BH, trên cơ sở bên mua BH đóng phí bảo hiểm để DNBH trả tiền BH cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện BH [26]
Trang 19* Kinh doanh tái bảo hiểm: Kinh doanh tái bảo hiểm là hoạt động của DNBH
nhằm mục đích sinh lợi, theo đó DNBH nhận một khoản phí BH của DNBH khác để cam kết bồi thường cho các trách nhiệm đã nhận bảo hiểm [26]
b Các hình thức bảo hiểm
- Bảo hiểm tương hỗ: Là biện pháp chia sẻ rủi ro bằng việc liên kết giữa các thành viên trong cộng đồng đóng góp một khoản tài chính nhất định để xây dựng quỹ khắc phục rủi ro và chi trả cho các thành viên khi xảy ra rủi ro theo một tỷ
lệ đã được ước định giữa các thành viên trong nhóm
- Bảo hiểm thương mại: Là hoạt động mà ở đó các DNBH chấp nhận rủi ro
trên cơ sở người được bảo hiểm đóng một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để DNBH bồi thường khi xảy ra các rủi ro đã thỏa thuận trước trên hợp đồng Nguyên tắc hoạt động cơ bản là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít trên cơ sở quy
tụ nhiều người có cùng rủi ro thành cộng đồng nhằm phân tán hậu quả tài chính của những vụ tổn thất [21]
1.1.3.2 Những vấn đề lý luận về bảo hiểm nông nghiệp
a Khái niệm về bảo hiểm nông nghiệp
Theo Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 và Luật số 61/2010/QH12 thì BHNN thuộc hình thức bảo hiểm thương mại và được quy định là một nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ
Theo đó, bảo hiểm sản xuất nông nghiệp (gọi tắt là bảo hiểm nông nghiệp
- BHNN) là hoạt động với mục đích bồi thường bằng cách đảm nhiệm rủi ro và đền
bù cho những rủi ro trong sản xuất và kinh doanh nông nghiệp [19, 21]
b Các loại hình bảo hiểm nông nghiệp
Hiện nay, trên thế giới đang tồn tại 2 loại hình BHNN:
* Bảo hiểm truyền thống: BH truyền thống là loại hình BH mà doanh nghiệp
đền bù thiệt hại cho người mua BH theo mức độ thiệt hại thực tế khi xảy ra rủi ro được cam kết trong hợp đồng BH Đặc trưng cơ bản nhất của BH bồi thường là lấy thiệt hại, tổn thất của từng cá nhân hoặc từng tổ chức làm căn cứ để xét bồi thường
Ưu điểm của phương thức này là mức bồi thường bám sát mức độ thiệt hại của cá nhân, phạm vi BH rộng Tuy nhiên, kinh nghiệm ở một số quốc gia cho thấy hình thức BH truyền thống đang gặp phải một số vấn đề: (1) SXNN là loại hình đa
Trang 20rủi ro và được bố trí trên địa bàn rộng, khi xảy ra rủi ro thì mức độ thiệt hại thường rất lớn; (2) Phải xác định mức độ thiệt hại của từng cá nhân do rủi ro được BH và không được BH; (3) Khó giám định mức độ thiệt hại, đánh giá nguyên nhân gây rủi ro; (4) Khó kiểm soát tình trạng trục lợi BH
* Bảo hiểm phi truyền thống (bảo hiểm chỉ số): Là phương thức bảo hiểm
mà trong đó viê ̣c bồi thường được thực hiê ̣n dựa trên mô ̣t chỉ số như: Chỉ số về lượng nước mưa, chỉ số nhiệt độ, chỉ số năng suất… để xác định trách nhiệm của người bán BH, việc thanh toán căn cứ vào đo lường một sự kiện tương quan với thiệt hại, việc trả tiền BH hoàn toàn dựa trên biến động thực tế của chỉ số so với chỉ
số chuẩn mà không phụ thuộc vào thiệt hại thực tế
Ưu điểm của BH chỉ số là dễ dàng tính phí và bồi thường thiệt hại, giảm thiểu rủi ro đạo đức và sự lựa chọn đối nghịch, giảm chi phí đánh giá thiệt hại Tuy nhiên BH chỉ số cũng có một số hạn chế: (1) Phạm vi BH bị hạn chế (2) Có những đối tượng không bị thiệt hại vẫn được nhận đền bù; (3) Khó khăn trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu về các yếu tố gây rủi ro; (4); Khó khăn về cơ sở dữ liệu để xây dựng phí BH và mức phí bồi thường [19, 21]
c Đối tượng và nội dung bảo hiểm nông nghiệp
BHNN là loại hình BH thương mại nhằm bù đắp những thiệt hại xảy ra với đối tượng BH là những vật nuôi, cây trồng và sản phẩm nông nghiệp do rủi ro được BH
gây ra Căn cứ vào đối tượng BH, BHNN được chia thành:
* BHNN trong trồng trọt (bao gồm cây trồng hoặc sản phẩm thu hoạch từ
trồng trọt): Đối tượng BH có thể là bản thân cây trồng trong suốt quá trình sinh
trưởng và phát triển hoặc cũng có thể là sản phẩm cuối cùng do cây trồng đem lại
tùy theo mục đích trồng trọt Vì thế có thể chia ra: Đối với cây hàng năm, đối tượng
BH là sản lượng thu hoạch Đối với cây lâu năm, đối tượng BH là giá trị của các loại cây trồng đó hoặc sản lượng từng năm của mỗi loại cây Đối với vườn ươm, đối
tượng BH là giá trị cây giống trong suốt thời gian ươm giống đến khi nhổ đi trồng nơi khác [21]
* BHNN trong chăn nuôi (bao gồm vật nuôi hoặc sản phẩm thu hoạch từ
chăn nuôi): Đối tượng các sản phẩm chăn nuôi là các loại vật nuôi Đối với vật nuôi
là tài sản cố định thường được BH đến từng con, còn đối với vật nuôi là tài sản lưu
Trang 21động có thể BH cả đàn Vật nuôi là tài sản lưu động là những vật nuôi được nuôi dưỡng trong thời gian ngắn, quá trình thu sản phẩm gắn liền với quá trình giết mổ hoặc chuyển chúng sang làm chức năng tài sản cố định Thời hạn BH của loại này là
từ khi con giống tách mẹ nuôi độc lập đến khi vật nuôi xuất chuồng Vật nuôi là tài
sản cố định thường có thời gian nuôi dưỡng lâu, giá trị lớn và được chuyển dịch dần vào sản phẩm thu được qua các năm Thời hạn BH loại này thường là một năm hoặc
toàn bộ chu kỳ sản xuất [21]
* BHNN trong nuôi thủy sản: Theo Quyết định số 315/QĐ-TTg thì đối
tượng BHNN trong nuôi thủy sản là: Cá Tra, tôm Sú, tôm Thẻ Chân Trắng Vùng nuôi cá Tra thâm canh có diện tích từ 05 ha trở lên; Vùng nuôi tôm Sú, tôm Thẻ Chân Trắng thâm canh có diện tích từ 05 ha trở lên; bán thâm canh có diện tích 10
ha, quảng canh cải tiến có diện tích 15 ha trở lên; Vùng nuôi cá Tra, tôm Sú, tôm Thẻ Chân Trắng phải đảm bảo có đường giao thông; hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất [14]
1.1.4 Những vấn đề lý luận về thị trường bảo hiểm nông nghiệp
1.1.4.1 Khái niệm về thị trường bảo hiểm nông nghiệp
Thị trường BHNN là nơi diễn ra hoạt động mua bán (thương mại) sản phẩm BHNN Hay thị trường BHNN là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu về BHNN
Khác với các loại sản phẩm khác trên thị trường, sản phẩm BHNN không tồn tại hữu hình, không có hình dáng, kích thước, trọng lượng…Nó là loại sản phẩm dịch
vụ đặc biệt, vô hình và là loại sản phẩm mà người mua không bao giờ muốn nó xảy ra
để được thực hiện quyền đòi bồi thường hay trả tiền BH Người mua BHNN chỉ với mục đích đề phòng khi sự kiện BH xảy ra vẫn đảm bảo được an toàn về mặt tài chính,
ổn định được quá trình sản xuất kinh doanh và đời sống
Tham gia thị trường BHNN cũng gồm người mua (hay còn được gọi là người được BH), người bán (các DNBH hay còn gọi là người BH) và Nhà nước (ban hành
cơ chế chính sách, pháp luật nhằm điều tiết thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển thị trường BHNN) Ngoài ra còn có các tổ chức là môi giới BH [19, 20]
1.1.4.2 Đặc điểm của thị trường bảo hiểm nông nghiệp
Cũng giống như thị trường các loại hàng hóa khác, hoạt động của thị trường BHNN cũng tuân theo các quy luật chung của thị trường như quy luật cung cầu,
Trang 22quy luật cạnh tranh Song, thị trường BHNN có những đặc điểm rất khác biệt với các thị trường BH phi nhân thọ khác:
- Đối tượng của BHNN là vật nuôi và cây trồng, là những cơ thể sống được bố trí trên địa bàn rộng lớn Nó không chỉ chịu tác động của điều kiện tự nhiên mà còn chịu tác động của các quy luật sinh học trong quá trình sinh trưởng và phát triển nên rất khó quản lý rủi ro Để tham gia thị trường BHNN, DNBH phải có đội ngũ nhân lực đông đảo và am hiểu nhiều loại rủi ro trong nông nghiệp
- SXNN là ngành đa rủi ro, đôi khi có những rủi ro thảm họa như thiên tai nghiêm trọng, dịch bệnh xảy ra trên diện rộng và có khả năng lan truyền Khi đó, thiệt hại đối với SXNN là rất lớn Chính vì vậy, các doanh nghiệp không thiết tha tham gia thị trường BHNN
- Chủ thể SXNN tuy khá đa dạng nhưng phổ biến vẫn là các hộ nông dân với qui mô sản xuất nhỏ, sản xuất đa canh, tiềm lực đầu tư có hạn nên khó có thể tham gia vào thị trường đối với tất cả các loại sản phẩm
- Việc xác định thiệt hại trong BHNN là phức tạp do sự hao phí lao động sống và lao động quá khứ cho vật nuôi, cây trồng không đồng nhất với thời gian và
kế quả thu được
- Khó kiểm soát được tình trạng rủi ro đạo đức (trục lợi BH) do SXNN được
bố trí trên địa bàn rộng lớn Việc kiểm soát, giám định thiệt hại khi xảy ra rủi ro gặp rất nhiều khó khăn [19, 20]
1.1.4.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường bảo hiểm nông nghiệp
a Các nhân tố bên ngoài
* Khung pháp lý và chính sách của Nhà nước đối với BHNN và thị trường BHNN: Đây là nhân tố thể hiện sự điều chỉnh vĩ mô của Nhà nước đối với BHNN
Một khung pháp lý chặt chẽ, hoàn thiện nhưng thông thoáng sẽ tạo điều kiện thuận lợi để cả DNBH và người SXNN tham gia các hoạt động trên thị trường BHNN Các chính sách của Nhà nước trong từng giai đoạn, từng thời kỳ sẽ tạo động lực, khuyến khích hay kìm hãm thị trường BHNN phát triển Khi cần khuyến khích phát triển thị trường BHNN, Nhà nước ban hành các chính sách hỗ trợ, tạo động lực cho thị trường này phát triển (như hỗ trợ phí BH cho người sản xuất, hỗ trợ phí quản lý
Trang 23BHNN cho các DNBH, trợ cấp phí tái BH…) Khi cần điều tiết thị trường BHNN phát triển theo đúng mục tiêu của Nhà nước thì Nhà nước sẽ ban hành các chính sách điều tiết (các quy định về thủ tục thanh toán bảo hiểm quá rườm rà hoặc quy định mức phí bảo hiểm gốc, mức đền bù thiệt hại không thỏa đáng sẽ làm cho các
chủ thể sản xuất không muốn tham gia thị trường BHNN) [19]
* Thị trường bảo hiểm và hoạt động tái bảo hiểm: Hoạt động BHNN là một
phần của thị trường BH Vì vậy, sự phát triển của BHNN không tách rời với sự phát triển của thị trường BH Ngoài ra, do đặc điểm của BHNN là rủi ro lớn, một “tấm lá chắn” cho các DNBH thông qua hoạt động tái BH là vô cùng cần thiết Tái BH là thị trường đầu ra rất quan trọng đối với DNBH gốc Thông qua hoạt động của các doanh nghiệp tái BH, DNBH gốc có thể chia sẻ một phần rủi ro của mình đối với doanh nghiệp tái BH bằng việc trích một phần doanh thu BH gốc để mua BH, khi
xảy ra rủi ro các doanh nghiệp tái BH sẽ chi trả bồi thường cho DNBH gốc
Như vậy, có thể thấy sự phát triển của thị trường BH và tái BH là yếu tố ảnh hưởng rất quan trọng đến sự quyết định của DNBH tham gia hay không tham gia thị trường BHNN Tuy nhiên, cũng do rủi ro trong SXNN lớn, việc các công ty tư nhân nhận tái BH là không nhiều Kinh nghiệm của các nước cho thấy, nếu không có sự tham gia của Nhà nước trong việc nhận tái BH cho ngành SXNN thì BHNN sẽ rất khó tồn tại [20]
b Các nhân tố thuộc về nội tại doanh nghiệp bảo hiểm (bên cung)
DNBH có quyết định tham gia thị trường BHNN hay không phụ thuộc vào nhiều nhân tố Trong đó, các nhân tố chính cụ thể sau:
* Tiềm lực tài chính và chiến lược kinh doanh, quản lý rủi ro của DNBH:
Do rủi ro trong SXNN lớn và bất thường, vì là người cung cấp hàng hóa cho thị trường BHNN, DNBH khó có thể tồn tại được nếu không đủ năng lực kể cả về mặt tài chính, nhân lực hay kỹ thuật nghiệp vụ Một chiến lược quản lý rủi ro phù hợp sẽ giúp cho các DNBH giảm thiểu được chi phí bồi thường khi xảy ra sự kiện rủi ro, đảm bảo được lợi ích kinh doanh của doanh nghiệp Từ đó, các doanh nghiệp sẽ tự tin hơn khi tham gia cung ứng dịch vụ BH cho các sản phẩm nông nghiệp [19]
Trang 24* Lợi nhuận kỳ vọng: Cũng như các doanh nghiệp khác, mục tiêu của DNBH
là tìm kiếm lợi nhuận Lợi nhuận kỳ vọng từ nghiệp vụ BH này không cao nên khó thu hút họ tham gia thị trường, trừ khi Nhà nước có những chính sách ưu tiên hoặc chiến lược của họ là tham gia thị trường BHNN để tạo thương hiệu [19, 31]
c Các yếu tố thuộc về người sản xuất (bên cầu)
Cầu là lượng hàng hoá dịch vụ mà người tiêu dùng có khả năng và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau (mức giá chấp nhận) trong một phạm vi không gian
và thời gian nhất định khi các yếu tố khác không thay đổi
Cũng giống như các loại hàng hóa khác, cầu về BHNN của người SXNN cũng tuân thủ theo quy luật cầu Cầu thị trường BHNN phụ thuộc rất nhiều yếu tố, cho nên
sự thay đổi của những yếu tố này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cầu BHNN Để nghiên cứu mối quan hệ giữa cầu BHNN và các yếu tố ảnh hưởng đến nó, người ta sử dụng hàm cầu, có dạng tổng quát: AD(x,t) =f(Px; I, Py; T, N, E…)
Trong đó: AD(x,t) là cầu về BHNN xác định trong khoảng thời gian t (ngày, tháng, năm, quý…) và đóng vai trò hàm số cầu Px, I, Py, T, N, E…là các yếu tố ảnh hưởng đến BHNN và đóng vai trò như những biến của hàm cầu (Px là giá cả hay còn gọi là phí BHNN; I là thu nhập của người tiêu dùng; Py là giá cả của hàng hóa, dịch vụ liên quan; T là chuẩn mực và thị hiếu của người tiêu dùng; N là quy
mô dân số; E là kỳ vọng…)
Như vậy, cầu BHNN có những đặc điểm chung cũng giống như các loại hàng hóa, dịch vụ khác Tuy nhiên, BHNN là một loại hàng hóa đặc biệt nên cầu BHNN cũng có những yếu tố riêng ảnh hưởng đến thị trường này, cụ thể:
* Nhận thức và tâm lý của người sản xuất: Vì là người mua trên thị trường
BHNN nên chỉ khi nào người sản xuất, đặc biệt là người nông dân có đầy đủ nhận thức về BH, việc tham gia BH của họ mới bền vững và tránh tình trạng trục lợi Nhận thức không đầy đủ về lợi ích, vai trò của thị trường BHNN cộng với tâm lý tiếc tiền là nguyên nhân khiến cho người SXNN không muốn tham gia thị trường BHNN và nếu có dễ xảy ra tình trạng trục lợi BH [19, 20]
* Khả năng về tài chính (thu nhập): Là yếu tố ảnh hưởng rất quan trọng
đến sự tham gia thị trường BHNN của các chủ thể SXNN, đặc biệt là người nông
Trang 25dân Người nông dân nhìn chung là có điều kiện kinh tế eo hẹp nên thường không muốn bỏ tiền mua BHNN Kinh nghiệm của các nước cho thấy, chỉ khi Nhà nước
có sự hỗ trợ phí BH cho người nông dân thì loại hình BH này mới có cơ hội tồn tại
* Quy mô sản xuất: Là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sự tham gia thị trường
BHNN của các chủ sản xuất Đối với các loại sản phẩm sản xuất với quy mô nhỏ thường không có vị thế không quan trọng trong cơ cấu thu nhập của người sản xuất, khi xảy ra rủi ro thì mức độ thiệt hại không ảnh hưởng lớn đến đời sống thì mức độ sẵn sàng của người sản xuất trong việc tham gia thị trường BHNN thấp Ngược lại, các sản phẩm sản xuất với quy mô lớn thường chiếm vị thế trọng yếu trong cơ cấu thu nhập của người sản xuất (chủ yếu là sản phẩm hàng hóa) thì mức độ sẵn sàng tham gia thị trường BHNN của người sản xuất cao hơn [19, 20]
* Lợi ích kỳ vọng: Đây là yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến sự quyết định
của các chủ thể SXNN tham gia thị trường BHNN Các quy định, các thỏa thuận
về mức bồi thường thiệt hại khi xảy ra sự kiện rủi ro đảm bảo được lợi ích mong muốn, đảm bảo sự bình đẳng giữa DNBH với người mua BH có tác dụng khuyến
khích người sản xuất tham gia thị trường BHNN [19]
Điều tiết, hỗ trợ Phản hồi CS Điều tiết, hỗ trợ
Mua bảo hiểm
Bồi thường tổn thất
Hình 1.2: Mối quan hệ các tác nhân trong thị trường BHNN
(Nguồn: Phạm Bảo Dương, (2011))
NHÀ NƯỚC
- Khung pháp lý -Ban hành chính sách, chủ chương, đường lối
- - Tái bảo hiểm
Trang 261.2 Cơ sở thực tiễn về BHNN và thị trường BHNN
1.2.1 Thực tiễn bảo hiểm nông nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới
1.2.1.1 Bảo hiểm nông nghiệp ở một số nước phát triển
a Bảo hiểm nông nghiệp ở Mỹ
BHNN ở Mỹ là BH đa hiểm họa thông qua chương trình BH cây trồng liên bang - một chương trình liên kết giữa Chính phủ liên bang và các công ty BH Tổng chi phí cho BH cây trồng ở Mỹ lên tới 4 tỷ đô la mỗi năm cho hơn 100 loại cây trồng, trong đó có 4 loại chính (ngô, đậu tương, lúa mì, bông) chiếm tới 79%
BHNN ở Mỹ nhận được sự hậu thuẫn mạnh mẽ từ phía Chính phủ Chính phủ Mỹ cung cấp miễn phí hợp đồng BH năng suất thiên tai cơ bản cho toàn bộ diện tích cây trồng Theo đó, phần tổn thất vượt quá năng suất bình quân của 4 năm trước sẽ được bồi thường bằng 60% giá trị thị trường của tổn thất Nông dân ở Mỹ
có thể mua thêm trách nhiệm cao với mức 38% từ Chính phủ Tổng mức hỗ trợ phí bồi thường của Chính phủ cho cây trồng toàn Liên bang lên tới 59%, còn phần phí cho quản lý khoảng 22%, đồng thời Chính phủ nhận tái BH cho các công ty BH Bên cạnh phương thức BH truyền thống, Mỹ là nước đầu tiên trên thế giới thực hiện BHNN theo chỉ số Đây được coi là một phương thức bổ sung BH cho những rủi ro lớn và có tính tương quan trong SXNN
Mặc dù vậy, chương trình BHNN ở Mỹ chỉ nhận được khoảng 15% số hộ nông dân tham gia Đó là những nông dân có quy mô sản xuất lớn, có học thức và đầu tư mạnh, còn hầu hết hộ nông dân nhỏ lẻ cũng chưa tham gia [19]
b Bảo hiểm nông nghiệp ở Canada
BHNN được thực hiện ở Canada từ những năm 1917 với rủi ro được BH là mưa đá gây thiệt hại cho mùa màng và áp dụng cho tất cả các cây trồng Tuy nhiên khi triển khai đó gặp một số khó khăn nhất định Thời gian dài sau đó, BHNN mới phát triển trở lại Hiện nay, Canada có 3 chương trình BH cơ bản đối với sản lượng
và thu nhập của người nông dân, đó là: Chương trình BH mùa màng; Tài khoản bình ổn thu nhập thuần; và trợ cấp thiên tai trong nông nghịêp Chương trình BH ở Canada được áp dụng cho hơn 100 loại cây trồng và cho cả vật nuôi Ngoài việc BH năng suất còn có BH tổn thất về chất lượng, tổn thất do hạt không nảy mầm, tổn thất
do phải gieo trồng lại
Trang 27Trong các hoạt động về BHNN luôn có sự hỗ trợ từ phía Chính phủ Canada
ở các khía cạnh khác nhau Hàng năm, Chính phủ đã bỏ ra các khoản chi tương đối lớn kể cả về phí BH cũng như chi phí quản lý Sự hỗ trợ của Chính phủ Canada đối với phí BH tăng đều đặn hàng năm và cao hơn các chi phí khác và đây là phần phí quan trọng nhất trong hoạt động BHNN; về hỗ trợ về các chi phí khác cũng có xu hướng tăng lên Trung bình, mức hỗ trợ của chính quyền khoảng 66% tổng chi phí cho chương trình này
Chính sách BHNN ở Canada có 2 điều khác biệt với chính sách BHNN
ở Mỹ: (1) Toàn bộ chương trình này được thực hiện trực tiếp bởi các đơn vị thuộc chính quyền tỉnh chứ không phải các Công ty BH tư nhân, dưới sự trợ giúp một phần
về tài chính của chính quyền Liên bang; (2) Người mua BH phải mua chung cho tất cả diện tích một loại cây trồng hoặc toàn bộ một loại vật nuôi nào đó [20, 31]
c Bảo hiểm nông nghiệp ở Nhật Bản
Ở Nhật Bản không có công ty BH tư nhân thực hiện BHNN vì không có công ty tư nhân nào đủ tiềm lực tài chính để đối phó với những rủi ro thiên tai tàn khốc của các thảm họa tự nhiên tại Nhật BHNN được thực hiện bởi một chương trình của Chính phủ và Nhật bản đã rất thành công với hình thức BHNN này Hệ
thống BHNN của Nhật gồm 3 cấp:
- Cấp địa phương: Tất cả các địa phương đều có một Hội BHNN (AMRA),
mà thực chất có thể coi là các Hội BH tương hỗ của những người nông dân Đây là
mô hình BH bắt buộc Bất cứ nông dân nào gieo trồng hoặc chăn nuôi vượt quá quy
mô quy định đều bắt buộc tham gia AMRA và AMRA có nghĩa vụ phải công nhận
tư cách thành viên của họ AMRA có thể giữ lại phần trách nhiệm tối thiểu là 10%, phần còn lại có thể tái BH với các Liên hiệp Hội BHNN khu vực
- Cấp vùng: Bao gồm liên hiệp các hội BHNN khu vực có thành viên là tất cả các Hội BHNN trong khu vực Ngoài việc thực hiện tái BH cho các Hội, Liên hiệp còn hướng dẫn các hội về kiểm soát dịch bệnh
- Cấp trung ương: Cơ quan tái BH nông nghiệp trung ương thực hiện nhận tái
BH cho các Liên hiệp Nếu khoản đền bù của Liên hiệp vượt quá mức nào đó theo quy định, phần vượt trội sẽ được bù đắp từ tài khoản đặc biệt quốc gia Nếu tài khoản đặc biệt quốc gia không đủ, ngân sách nhà nước sẽ trợ cấp Tuy nhiên, chính
Trang 28phủ Nhật bản đã phải hỗ trợ rất nhiều cho hệ thống BHNN này, lên tới 50% phí BH Tổng chi phí hỗ trợ BHNN của Nhật bản gấp đôi của Mỹ [19, 20]
1.2.1.2 Bảo hiểm nông nghiệp ở một số nước đang phát triển
a Bảo hiểm nông nghiệp ở Philippines
Chương trình BHNN của Philippines được sự giúp đỡ của Ngân hàng ruộng đất Philippines bằng những biện pháp bảo vệ SXNN theo những tính toán rủi ro thời tiết bất lợi và rủi ro thiên tai khác Năm 1976 Ngân hàng ruộng đất Philippines
đã đề nghị thành lập uỷ ban phát triển chương trình BHNN của Philippines Tổng công ty BHNN Philippines là một công ty Nhà nước và được thành lập không nhằm mục tiêu lợi nhuận mà nhằm giúp đỡ nông dân được thành lập sau đó (năm 1989) Phí BH được chia sẻ giữa Chính Phủ, nông dân và các tổ chức tín dụng Đối với những người vay vốn ngân hàng, tổ chức tín dụng có trách nhiệm trợ giúp 2% phí
BH đối với cây lúa và 3% đối với cây ngô Phần phí BH cũng lại sẽ được chia sẻ theo tỷ lệ 40/60 đối với nông dân và Chính phủ Với những hộ nông dân không vay vốn ngân hàng thì được Nhà nước hỗ trợ 50% phí BH Hiện nay, Philipines thực hiện 3 chương trình BHNN chính: (1) Chương trình BH cây trồng cho cây lúa, ngô,
và các cây trồng mang tính thương mại có giá trị cao; (2) Tài sản đầu tư vào nông nghiệp như máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, cơ sở hạ tầng; (3) BH vật nuôi
Về chính sách, Chính phủ Philipines quy định: (1) Các hộ nông dân trồng lúa, ngô, cây thương mại có giá trị cao, các hộ chăn nuôi gia súc, hay các tổ chức cá nhân đầu tư tài sản vào nông nghiệp mà có vốn vay từ bất kỳ tổ chức tín dụng nào đó, dù của Nhà nước hay tư nhân đều có thể tham gia chương trình BH; (2) Đối với BH cây trồng, chỉ các trang trại có hệ thống tưới tiêu mới được tham gia; các trang trại hoàn toàn phụ thuộc vào mưa tự nhiên thì chỉ được tham gia BH trong mùa mưa; (3) Người dân có thể mua BH trực tiếp từ văn phòng khu vực của tổng công ty BHNN Nhà nước hoặc từ các đại lý của họ [19]
b Bảo hiểm nông nghiệp ở Trung Quốc
Thị trường BHNN xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc cách đây hơn 70 năm Tuy nhiên nó đã gặp phải rất nhiều khó khăn để có thể tồn tại và phát triển Các
DNBH của nước này đều bị thua lỗ khi cung cấp BHNN Năm 2004, Chính phủ Trung Quốc thực hiện thí điểm BHNN triển khai tại 7 tỉnh Sau đó Chính phủ nước này đã ban hành chính sách nhằm tiếp tục mở rộng hỗ trợ BHNN và coi đây là một
Trang 29trong những vấn đề ưu tiên trong quá trình thực hiện chính sách tam nông của mình Nhờ có những chính sách hỗ trợ của Chính phủ, đặc biệt là khoản trợ cấp phí BH lớn cho các hộ nông dân, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ BH, tự nguyện tham gia với mức phí thấp, mức bồi thường thấp và được xác định dựa vào chi phí vật chất đầu tư cho sản xuất nên BHNN ở Trung Quốc đã được phát trển nhanh chóng với doanh thu phí BH trong năm 2009 đạt tới gần 2 tỷ USD với khoảng 127 triệu hộ mua BH Trung Quốc đã trở thành nước có doanh thu phí BH đứng thứ 2 trên thế
giới sau Mỹ
Tuy nhiên, hiện nay BHNN của Trung Quốc vẫn gặp nhiều khó khăn về huy động nguồn tài chính, hệ thống văn bản pháp luật về BHNN chưa hoàn chỉnh, nhận thức của người dân về BHNN chưa đầy đủ [18]
c Bảo hiểm nông nghiệp ở Thái Lan
Chương trình BHNN của Thái Lan được Chính phủ cung cấp cho nông dân vào năm 1978 nhưng đã thất bại vào năm 1981 vì không có sự tham gia của người dân Nguyên nhân của sự thất bại này là chưa có nhận thức đúng đắn của người dân
về BHNN, phí BHNN quá cao và cũng chưa có một khung pháp lý rõ ràng cho việc thực thi BHNN Sau thất bại đó, Thái Lan đã đầu tư một cách thỏa đáng và có những chiến lược đúng đắn, quỹ hỗ trợ nông nghiệp ra đời năm 1998 cùng với nhiều các biện pháp hiệu quả được đưa ra để chống lại các rủi ro cho nông dân Nếu chính sách này ổn định lâu dài, các nông dân Thái Lan sẽ có một tương lai đầy hứa hẹn Hiện tại Thái Lan đã gặt hái được nhiều thành công trong chương trình BHNN [19, 31]
1.2.1.3 Nhận xét chung về BHNN ở một số quốc gia trên thế giới, bài học kinh nghiệm cho Việt Nam và huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
Qua kinh nghiệm thực tế đối với hoạt động BHNN ở các nước trên, có thể rút
ra một số nhận xét và những bài học cho Việt Nam nói chung và huyện Chương
Mỹ, thành phố Hà nội nói riêng khi phát triển thị trường BHNN là:
Thứ nhất, rủi ro trong SXNN rất lớn, thu nhập và nhận thức của người nông
dân là hạn chế, điều này dẫn đến khó có nhà BH tư nhân nào có đủ tiềm lực tài chính để nhận BH (mà không có sự hỗ trợ của Nhà nước) do việc đảm bảo hiệu quả
kinh doanh cho những nhà BH là khó khăn Vì vậy, việc triển khai BHNN để thành
công được không dễ dàng
Trang 30Thứ hai, trên thế giới chưa có mô hình chuẩn về tổ chức BHNN, tùy theo đặc
điểm của mỗi nước mà có mô hình tổ chức khác nhau Tuy nhiên, có một số mô hình về BHNN cần được nghiên cứu và có thể vận dụng vào Việt Nam như: (1)
Mô hình BHNN được thực hiện bởi các công ty BH dưới sự bảo trợ của Nhà nước như Mỹ, Canada, Trung Quốc; (2) Mô hình xây dựng hệ thống BH tương hỗ từ Trung ương đến địa phương gồm 3 cấp: Trung ương - Vùng - Địa phương như ở Nhật Bản; (3) Mô hình Tổng Công ty BHNN Nhà nước thực hiện dưới sự trợ giúp của Chính phủ như mô hình Tổng công ty BHNN ở Philipines; (4) Mô hình các DNBH tự triển khai dưới hình thức cung cấp các sản phẩm BH thương mại như ở Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc [19]
Thứ ba, BHNN chủ yếu BH cho các rủi ro thiên tai, thậm chí chỉ BH cho một
hoặc vài loại rủi ro cơ bản tùy thuộc vào đặc điểm tự nhiên của từng nước Thời kỳ đầu triển khai, BHNN chủ yếu BH cho cây trồng, vật nuôi có vị thế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của nước đó Sau đó khi có điều kiện mới mở rộng dần
ra cho các vật nuôi cây trồng khác (ví dụ như Philipines)
Thứ tư, chi phí bồi thường tổn thất và chi phí quản lý BHNN rất lớn nên
không hấp dẫn các nhà đầu tư vào lĩnh vực BHNN Tất cả các hoạt động BHNN đều
có sự trợ cấp rất lớn từ Nhà nước bao gồm trợ cấp phí BH, trợ cấp phí quản lý và trợ cấp phí tái BH (Mỹ trợ cấp tới 70%; Canada 66%) Nếu thiếu sự hỗ trợ đủ mạnh từ phía Nhà nước thì hoạt động BHNN rất khó thành công
Thứ năm, mỗi quốc gia lại có những qui định của luật pháp về BHNN
khác nhau: Hình thức BHNN tự nguyện đang được áp dụng ở hầu hết các nước Tuy nhiên, một số quốc gia như Nhật Bản, Philipines qui định BHNN bắt buộc đối với một số sản phẩm nông nghiệp Tại Mỹ coi BHNN là quyền lợi đương nhiên miễn phí của nông dân Do vậy, tại Việt Nam BHNN có thể bắt buộc hoặc tự nguyện hoặc kết hợp cả hai, và Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai thành công BHNN từ việc có chính sách hỗ trợ về mặt tài chính đến tổ chức thực hiện Để thị trường BHNN phát triển Nhà nước cần đảm nhiệm các khâu: (1) Xây dựng môi trường pháp lý cho hoạt động BHNN; (2) Xây dựng hệ thống thông tin và
số liệu; (3) Tăng cường các hoạt động nghiên cứu và phát triển; (4) Phát triển thị trường tái BH
Trang 31Thứ sáu, cả BH truyền thống và BH chỉ số đều có những ưu điểm và hạn chế
riêng Ở Mỹ và Canada đã thể triển khai cả phương thức BH theo chỉ số như một sự bổ sung lựa chọn cho người nông dân, phù hợp với những rủi ro có tính tương quan làm
Do vậy, BHNN ở Việt Nam có thể triển khai cả hai hình thức này
1.2.2 Thực trạng phát triển thị trường bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam
BHNN ở nước ta được triển khai từ năm 1982 nhưng dịch vụ này phát triển rất chậm Trước thực trạng như vậy, nhận thức được tầm quan trọng của BHNN trong việc góp phần ổn định và thúc đẩy SXNN, ngày 01/03/2011 Chính phủ ban hành Quyết định số 315/QĐ-TTg về việc thực hiện thí điểm BHNN giai đoạn 2011-2013 tại 20 tỉnh thành với các chính sách khuyến khích chưa từng có trước đây Như vậy,
sự hình thành và phát triển của thị trường BHNN ở Việt Nam có thể chia thành 2 giai đoạn: (1) Trước khi thực hiện thí điểm BHNN theo Quyết định 315/QĐ-TTg và (2) Sau khi thực hiện thí điểm BHNN theo Quyết định 315/QĐ-TTg
1.2.2.1 Giai đoạn trước khi thực hiện thí điểm BHNN theo Quyết định 315/QĐ-TTg
Đây là giai đoạn thị trường BHNN ở Việt Nam bắt đầu được hình thành kể
từ năm 1982 khi Bảo Việt triển khai thí điểm BH cây lúa tại 2 huyện Nam Ninh và
Vụ Bản của tỉnh Nam Định với toàn bộ diện tích trồng lúa của 2 huyện trên Phí BH Bảo Việt thu được năm 1982 là 556 nghìn đồng, chi bồi thường là 464 nghìn đồng,
tỷ lệ tổn thất lên tới 83,45% Năm 1983 phí BH thu được là 790 nghìn đồng, bồi thường tổn thất năm 1983 là 300 nghìn đồng, tỷ lệ tổn thất giảm còn 37,97% Năm
1983 do người dân được mùa, tổn thất SXNN thấp nên phần lớn người nông dân tham gia BH không được bồi thường, khiến họ nghĩ rằng mua BHNN không có lợi,
vì vậy năm 1984 việc triển khai BHNN của Bảo Việt phải dừng lại do người dân không tham gia BH nữa [19]
Từ năm 1993-1998, Bảo Việt tiếp tục triển khai lại BH cây lúa tại 12 tỉnh trên phạm vi cả nước, song kết quả thu được không thành công Tổng diện tích lúa tham gia BH chỉ chiếm 0,73% diện tích lúa cả nước Tổng phí BH Bảo Việt thu được không đủ để đền bù thiệt hại, đã làm cho Bảo Việt bị thua lỗ nặng, bồi thường thiệt hại so với doanh thu lên tới 110%, với tổng giá trị hơn 5 tỷ đồng [20] Nguyên nhân là do trong 2 năm 1996 và 1997, những thảm hoạ thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tục với cường độ cao làm 2.069 người thiệt mạng và ước tính thiệt hại hơn
Trang 3215.728,88 tỷ đồng, riêng nông nghiệp thiệt hại hơn 4.193,14 tỷ đồng [34] Vì vậy, năm 1998 Bảo Việt đã dừng hoạt động BHNN
Từ năm 2005 đến nay, Bảo Việt lại triển khai BH cho 2 đối tượng là cây cao
su ở Bình Phước và bò sữa ở Lâm Đồng Đây là loại cây trồng và vật nuôi rủi ro thấp, tỷ lệ bồi thường thấp trong khi phí bảo hiểm cao nên người dân lại không mặn
mà tham gia BH Vì vậy, doanh thu phí BH rất thấp, chỉ chiếm từ 0,02% đến 0,05% doanh thu phí toàn tổng công ty
Trong giai đoạn này, không chỉ có Bảo Việt bị thua lỗ trong hoạt động BHNN mà các doanh nghiệp BH nước ngoài cũng gặp phải tình trạng này Công ty trách nhiệm hữu hạn BH tổng hợp Groupama Việt Nam, 100% vốn nước ngoài được thành lập bởi Groupama- một trong những công ty BH lớn nhất Châu Âu, bắt đầu hoạt động tại Việt Nam từ tháng 12/2001 Groupama đã có hơn 100 năm kinh nghiệm cung cấp BHNN tại Pháp, và đã rất chủ động trong việc khởi động BHNN tại các quốc gia khác như Mê-hi-cô, nhưng cũng không thành công với BHNN ở Việt Nam Cụ thể, năm 2003 công ty bắt đầu triển khai hoạt động BHNN ở Việt Nam với dự án BH trọn gói 6 loại vật nuôi cho nông dân Tuy nhiên, do đối tượng tham gia BH ít, phí BH cao, kỹ thuật canh tác nuôi trồng của người dân còn lạc hậu nên doanh thu thấp, bồi thường cao, công ty liên tục lỗ lớn Tỷ lệ bồi thường trên doanh thu năm 2005 lên tới 4.426,67% Tỷ lệ tổn thất cả giai đoạn 2004-2008 trên 220% Những năm sau đó (2009, 2010), Groupama không còn chú trọng vào BHNN mà đa dạng hóa sang các nghiệp vụ BH khác [19, 20]
Bảng 1.1: Doanh thu và bồi thường hoạt động BHNN Việt Nam (2006-2010)
3 Bồi thường/Doanh thu (%) 162,15 19,75 24,46 20,71 24,12 27,76
Tr đó: - Công ty Bảo Việt 20,00 13,43 24,42 20,61 22,84 22,78
- Công ty Groupama VN 4.426,67 85,94 27,27 30,22 50,00 87,10
(Nguồn: Hiệp hội BHVN, Tổng công ty BH Bảo Việt, Công ty TNHH BH tổng hợp Groupama VN)
Trang 33Theo số liệu của Cục Quản lý và Giám sát BH (Bộ Tài chính), hiện nay tại Việt Nam có 29 DNBH hoạt động trong lĩnh vực phi nhân thọ và 2 doanh nghiệp tái
BH nhưng chỉ có 2/29 doanh nghiệp trên triển khai hoạt động BHNN là Tổng công
ty BH Bảo Việt và Công ty trách nhiệm hữu hạn BH tổng hợp Groupama Việt Nam Năm 2010 có thêm Công ty cổ phần BH Bảo Minh, Tổng công ty Cổ phần BH Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Công ty cổ phần BH Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam nhưng doanh thu BHNN của các công ty này không đáng kể
Về phía Nhà nước, trong giai đoạn này cũng đã có nhiều chủ trương phát triển hoạt động BHNN, cụ thể như: Điều 4, Luật kinh doanh BH số 24/2000/QH10
quy định: “Nhà nước có chính sách ưu đãi đối với các nghiệp vụ BH phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội, đặc biệt là chương trình phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp” Trong Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 có nêu: “Thí điểm BHNN, bảo đảm mức sống tối thiểu cho cư dân nông thôn” Nghị quyết số
24/2008/NQ-CP của Chính phủ đề cập tới việc xây dựng các đề án đến năm 2020,
trong đó bao gồm “Đề án thí điểm BHNN” Tuy nhiên, tất cả các chủ trương của
Nhà nước giai đoạn này mới chỉ dừng lại ở mức chỉ đạo, chưa có chương trình hành động cụ thể, các chính sách liên quan đến BHNN mới chỉ là khuyến khích BHNN
tự phát triển mà chưa khẳng định được vai trò hỗ trợ của Nhà nước đối với DNBH
và người SXNN, đặc biệt là nông dân nghèo [19, 22]
1.2.2.2 Giai đoạn thực hiện thí điểm BHNN theo Quyết định 315/QĐ-TTg
Nhằm phát triển thị trường BHNN, ngày 01/03/2011 Chính phủ ban hành Quyết định số 315/QĐ-TTg về việc thực hiện thí điểm BHNN giai đoạn 2011- 2013 tại 20 tỉnh thành Theo tinh thần Quyết định này, các chính sách khuyến khích từ Chính phủ khá mạnh mẽ, chưa từng có trước đây, cụ thể:
Đối tượng được BH gồm 9 loại sản phẩm: Lúa, trâu, bò, lợn, gà, vịt, cá Tra, tôm Sú, tôm Thẻ Chân trắng; với rủi ro được BH và bồi thường BH gồm 7 loại thiên tai và 18 loại dịch bệnh của các đối tượng trên Nhà nước hỗ trợ 100% phí BH cho hộ nông dân, cá nhân nghèo SXNN; 80% phí BH cho hộ nông dân, cá nhân cận nghèo; 60% phí BH cho hộ nông dân, cá nhân không thuộc diện nghèo, cận nghèo và 20% phí BH cho tổ chức SXNN Tổng công ty BH Bảo Việt, Tổng công ty cổ phần BH Bảo Minh, Tổng công ty cổ phần tái BH quốc gia Việt Nam
Trang 34được lựa chọn là các doanh nghiệp triển khai thí điểm BHNN với mục tiêu không
vì lợi nhuận [14]
Tuy nhiên phải đến ngày 01/7/2011 thì chương trình thí điểm mới thực sự bắt đầu sau khi Thông tư 47/TT-BNNPTNT do Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành ngày 29/6/2011 có hướng dẫn cụ thể về: Các loại rủi ro được BH, mức độ thiệt hại được BH, quy trình sản xuất đối với các sản phẩm triển khai thí điểm BHNN, quy mô sản xuất được tham gia thí điểm BHNN, thẩm quyền công bố thiên tai, dịch bệnh và trách nhiệm của người tham gia thí điểm BH Đến ngày 17/8/2011, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 121/TT-BTC hướng dẫn đối với DNBH, trách nhiệm của các cơ quan hữu quan, chế độ hạch toán doanh thu, chi phí của DNBH Trong đó, đáng chú ý là việc DNBH tham gia triển khai theo nguyên tắc không vì mục tiêu lợi nhuận và phải hạch toán tách biệt doanh thu, chi phí với các hoạt động BHNN (nếu có) mà doanh nghiệp đang triển khai Ngày 27/02/2013, Chính phủ ra Quyết định 358/QĐ-TTg nâng mức hỗ trợ cho hộ nông dân, cá nhân cận nghèo SXNN tham gia thí điểm BHNN từ 80% lên 90% phí BH [15]
Theo báo cáo tổng kết ngày 27/6/2014 của Bộ Tài chính, kết quả thí điểm BHNN giai đoạn 2011-2013 cho thấy, trong 3 năm triển khai có 304.017 hộ nông dân/tổ chức SXNN tham gia BHNN, trong đó hộ nghèo chiếm 76,76% tổng số hộ tham gia, hộ thường và tổ chức SXNN chiếm 8,13%, còn lại là hộ cận nghèo Doanh thu phí BH là 394.000 triệu đồng, bồi thường là 701,8 tỷ đồng, tỷ lệ bồi thường trên doanh thu BH là 178,12% Cụ thể trong bảng số liệu dưới đây:
Bảng 1.2: Kết quả thí điểm BHNN giai đoạn 2011-2013
(Theo Quyết định 315/QĐ-TTg ngày 01/03/2011 của Thủ tướng Chính phủ)
TT Chỉ tiêu ĐVT BH cây lúa BH vật nuôi BH thủy sản Tổng
1 Số lượng hộ tham gia Hộ 236.397 60.133 7.487 304.017
4 Bồi thường/Doanh thu % 20,67 15,85 306,86 178,12
(Nguồn: Báo cáo của Bộ tài chính về kết quả thí điểm BHNN giai đoạn 2011-2013)
Trang 351.2.2.3 So sánh thực trạng thị trường BHNN trước và sau khi thực hiện Quyết định 315/QĐ-TTg
Giai đoạn trước khi thực hiện Quyết định 315/QĐ-TTg, số lượng các DNBH
và số hộ nông dân tham gia thị trường BHNN rất thấp, doanh thu BH chỉ bằng 2,23% giai đoạn sau, tất cả các DNBH triển khai đều thua lỗ Từ năm 2005-2010, các doanh nghiệp thu hẹp quy mô và đối tượng BH, chỉ BH những loại cây trồng vật nuôi có tỷ lệ rủi ro thấp, thu phí BH cao nên tỷ lệ bồi thường cả giai đoạn này là 32,34% Tuy nhiên người dân lại không mặn mà tham gia BHNN
Bảng 1.3: Một số chỉ tiêu so sánh thực trạng thị trường BHNN
trước và sau khi thực hiện Quyết định 315/QĐ-TTg
Doanh thu BHNN bình
quân (tỷ đ)
Bồi thường BHNN bình
quân (tỷ đ)
Bồi thường/ Doanh thu
(%)
1 Trước khi thực hiện Q.định 315/QĐ-TTg 1,308 0,423 32,34
2 Sau khi thực hiện Q.định 315/QĐ-TTg 131,333 233,933 178,12
(Nguồn: Số liệu tác giả tổng hợp,2014)
Giai đoạn sau, do Quyết định 315/QĐ-TTg ra đời quy định sự hỗ trợ rất lớn
từ Nhà nước bao gồm trợ cấp phí BH, trợ cấp phí quản lý và trợ cấp phí tái BH nên thị trường BHNN phát triển hơn Số hộ nông dân tham gia lớn nên doanh thu phí
BH tăng hơn so với trước là 128,401 tỷ đồng Tuy nhiên, vì Chính phủ quy định những rủi ro được BH cho đối tượng vật nuôi, cây trồng và tôm, cá với một số thiên tai, dịch bệnh có tần số xuất hiện và mức độ thiệt hại cao nên tỷ lệ bồi thường/doanh thu giai đoạn này lên tới 178,12% Như vậy, có thể khẳng định, nếu không có sự hỗ trợ của Nhà nước thì thị trường BHNN của Việt Nam rất khó có thể tồn tại được
1.2.2.4 Đánh giá chung về thực trạng phát triển thị trường BHNN ở Việt Nam
Những số liệu về thực trạng thị trường BHNN ở Việt Nam trong thời gian qua cho thấy, thị trường BHNN ở Việt Nam phát triển rất chậm Chương trình thí điểm đã kết thúc và đạt được những kết quả đáng kể Tuy nhiên, hiện nay đối với một bộ phận khá lớn nông dân, BHNN vẫn còn là vấn đề rất mới mẻ, còn nhiều người dân chưa hề biết đến khái niệm về BHNN Nguyên nhân do cả phía cung (DNBH) và phía cầu về BHNN (các chủ thể SXNN) đang còn e dè, thận trọng,
Trang 36chờ đợi và thăm dò lẫn nhau, thêm vào đó là vai trò điều tiết của Nhà nước còn
chưa rõ ràng Nguyên nhân cụ thể:
a Về phía Nhà nước
(1) Hệ thống văn bản pháp luật về BHNN chưa hoàn chỉnh Cho đến nay, Việt Nam chưa có luật BHNN, và luật bảo hiểm của Việt Nam cũng chưa có những điều khoản quy định cụ thể về BHNN Do vậy, nếu không xây dựng hệ thống văn bản pháp lý cụ thể, riêng biệt cho BHNN thì thị trường này khó có thể tồn tại và phát triển
ổn định [19, 20]
(2) Trước khi thực hiện Quyết định 315/QĐ-TTg các chủ trương của Nhà nước giai đoạn này mới chỉ dừng lại ở mức chỉ đạo, chưa có cơ chế hỗ trợ cụ thể cho nông dân và DNBH như: cơ chế, chính sách bù đắp tài chính cho DNBH khi xảy ra rủi ro vượt quá mức độ chi trả của DNBH, chưa có chính sách hỗ trợ toàn bộ hay một phần phí BH gốc cho nông dân
(3) Những bất hợp lý trong các văn bản luật về BHNN cần tiếp tục được nghiên cứu và hoàn thiện để triển khai BHNN trên phạm vi cả nước Các bất hợp lý quy định trong Thông tư 47/2011/TT-BNNPTNT về quy mô chăn nuôi, ngưỡng tỷ
lệ thiệt hại được thanh toán BH, quá trình ra quyết định công bố dịch của chủ tịch UBND tỉnh và thủ tục chi trả BH…là những nội dung cần phải sửa đổi cho phù hợp
để tạo thuận lợi cho người dân khi tham gia BH Ngoài ra, việc quy định các DNBH triển khai thí điểm bảo BHNN không được ghi nhận lãi đối với nghiệp vụ BHNN đã không khuyến khích các DNBH tham gia thị trường BHNN
(4) Việc Nhà nước trích những khoản trợ cấp rất lớn để cứu trợ người dân khi gặp thiên tai và khoanh nợ, xoá nợ đã tạo nên tính ỷ lại của người nông dân vào Nhà nước, không tạo thành thói quen mua BH Thay bằng việc trợ cấp sau thiên tai, Nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ tài chính, cụ thể là phí BH cho người nông dân
(5) Công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến pháp luật và chính sách BHNN còn hạn chế, đến nay vẫn còn một bộ phận rất lớn nông dân hiểu biết một cách mơ hồ về chủ trương, chính sách BHNN của Nhà nước
(6) Hiện nay, Nhà nước chưa chú trọng đầu tư vào công tác điều tra, nghiên cứu, dự báo để xây dựng chính sách BHNN thống nhất, đồng bộ và phù hợp với từng vùng miền [19]
Trang 37b Về phía doanh nghiệp bảo hiểm
(1) Hiện nay, sản phẩm BHNN mà các DNBH cung cấp chưa phù hợp với thực tế ngành SXNN nước ta Các DNBH hiện nay chưa có sản phẩm chuẩn, cụ thể cho một loại đối tượng BH, cho một hoặc một nhóm rủi ro nhất định và được triển khai trên quy mô rộng
(2) Công tác khai thác nghiệp vụ BH gặp nhiều khó khăn do hoạt động SXNN của nông dân manh mún, phân tán trên địa bàn rộng, lực lượng cán bộ của các DNBH mỏng, trình độ chuyên môn hạn chế, mức độ hiểu biết về nông nghiệp còn thấp, chi phí khai thác nghiệp vụ lớn Việc xác định giá trị thiệt hại khi
có rủi ro xảy ra không dễ dàng, dễ bị trục lợi BH
(3) Lợi nhuận thu được từ hoạt động BHNN thấp (thậm chí lỗ) đã không khuyến khích các các DNBH tham gia thị trường này Ngoài ra, năng lực tài chính của các các DNBH Việt Nam còn hạn hẹp, trong khi thị trường BH Việt Nam còn nhiều khoảng trống, có nhiều lĩnh vực BH hấp dẫn hơn để các DNBH mở rộng kinh doanh Điều đó giải thích tại sao chỉ có vài các DNBH đã triển khai BHNN Và hiện nay, họ cũng chỉ triển khai trong phạm vi hẹp, những cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, ít rủi ro, đem lại lợi nhuận cho các DNBH
(4) Chưa có phương án và cơ chế hợp tác, liên kết giữa các DNBH với chính quyền địa phương và các ngành hữu quan trong việc triển khai BHNN, thiếu sự hỗ trợ từ hoạt động tái BH cho BHNN
c Về phía người sản xuất
(1) Người nông dân chưa có thói quen và nhận thức đầy đủ về BHNN: Thói quen sản xuất phó thác cho tự nhiên đã thấm sâu vào suy nghĩ của người nông dân
cả nghìn năm nay khiến người nông dân không chủ động tham gia BH Trong khi
đó, DNBH lại chưa làm tốt công tác tuyên truyền về lợi ích của việc tham gia BH, thậm chí khi triển khai thí điểm công tác tuyên truyền vẫn còn nhiều hạn chế Khi
có Quyết định 315/QĐ-TTg ra đời, tuy số lượng các hộ nông dân tham gia nhiều hơn nhưng chủ yếu mới là người nghèo và cận nghèo, hộ bình thường và tổ chức SXNN chỉ chiếm trên 8% Như vậy, họ chỉ đơn thuần tham gia mua BH khi được trợ cấp đáng kể từ Chính phủ
Trang 38(2) Thu nhập của nông dân còn thấp nên khả năng tài chính để tham gia BHNN của người nông dân bị hạn chế Do đó, người nông dân không tham gia hoặc tham gia ít nên số tiền thu được từ bán BH cho người dân của các DNBH rất thấp, làm cho doanh nghiệp không mặn mà với thị trường này
(3) Vẫn còn hiện tượng rủi ro đạo đức xảy ra khi những cá nhân tham gia BH thay đổi hành vi của mình theo hướng tăng khả năng xảy ra các thiệt hại hơn hoặc làm thiệt hại trở nên trầm trọng hơn
(4) Người nông dân thường chỉ mua BH cho các vật nuôi, cây trồng của họ
có nguy cơ rủi ro xảy ra cao, còn trong trường hợp nguy cơ rủi ro xảy ra thấp, họ không tham gia BH Điều này dẫn tới sự bất lợi cho DNBH, không đảm bảo theo nguyên tắc số đông người tham gia BH bù đắp cho số ít người tham gia gặp rủi ro
(5) Sản xuất manh mún, kỹ thuật chăm sóc, sản xuất của người dân là tự phát, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, chưa có quy trình chuẩn nên việc kiểm soát, đánh giá nguyên nhân gây ra rủi ro rất khó khăn [19]
1.2.3 Một số công trình nghiên cứu có liên quan
Hiện nay, ở nước ta có một số công trình nghiên cứu về BHNN như:
- Dự án “Phát triển BHNN theo chỉ số nhằm nâng cao năng lực của thị trường tài chính nông thôn vì mục tiêu xóa đói giảm nghèo của Việt Nam” với gói
tài trợ số 1080-1076 của tổ chức Ford Foundation Tại dự án này, Công ty GlobalAgRisk nghiên cứu công trình phát triển BHNN ở Việt Nam và xuất bản bộ
cẩm nang gồm 4 tập về BHNN vào năm 2009 Tập 1: “Những thách thức trong phát triển thị trường BHNN” tiến hành khảo sát và phân tích các thể chế hiện hữu
có ảnh hưởng như thế nào tới thực trạng cung và cầu BHNN, đồng thời tổng kết các phương thức tiếp cận truyền thống trong các chương trình BHNN Những lợi ích kinh tế của BHNN và các vấn đề đặc thù xuất phát từ thực trạng các hộ nhỏ lẻ chiếm đa số đem đến kết luận rằng những cách tiếp cận truyền thống không phù hợp
với Việt Nam [35] Tập 2: “Vai trò đánh giá rủi ro trong thiết lập định hướng ưu tiên và chính sách BH” trình bày quy trình đánh giá rủi ro Cũng trong tập này, BH
chỉ số được giới thiệu như là một lựa chọn có tính khả thi cao đối với các rủi ro
thiên tai ở Việt Nam [36] Tập 3: “Ứng dụng trong đánh giá rủi ro và phát triển sản phẩm BHNN ở Việt Nam” trình bày chi tiết những kinh nghiệm rút ra từ dự án thử
Trang 39nghiệm sử dụng BH theo chỉ số để tập hợp và chuyển giao rủi ro do lũ lụt ở Việt Nam, đồng thời cũng nêu bật những nỗ lực hiện tại nhằm phát triển BHNN theo chỉ
số ở cấp nông hộ với rủi ro hạn hán [37] Tập 4: “Tầm nhìn chính sách trong phát triển BHNN ở Việt Nam” trình bày khung chính sách về BHNN kèm theo chương
trình hành động cụ thể dành cho các cá nhân và các tổ chức có liên quan ở Việt Nam [38]
Tuy nhiên, GlobalAgRisk mới chỉ tập trung nghiên cứu rủi ro và quy trình đánh giá rủi ro thiên tai (thời tiết, lũ lụt) trong sản xuất lúa và từ đó định hướng khung chính sách về BHNN cho rủi ro thiên tai, chưa nghiên cứu rủi ro, đánh giá rủi
ro và định hướng khung chính sách về BHNN trong chăn nuôi ở Việt Nam
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “BHNN ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp phát triển” của tiến sĩ Phạm Thị Định và các tác giả, trường Đại học Kinh tế
quốc dân (tháng 8/2011) Trong báo cáo tổng hợp, nhóm nghiên cứu đưa ra được các kết luận: (1) BHNN có ý nghĩa vô cùng quan trọng ở nước ta do Việt Nam là nước SXNN và đang phải đối mặt với rất nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro thiên tai; (2)
Để thành công, BHNN phải có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước; (3) Mặc dù thị trường BHNN Việt Nam là rất tiềm năng và đã manh nha hình thành cách đây 3 thập kỷ, nhưng BHNN đến nay còn phát triển chậm; (4) Cần hoàn thiện chính sách và khuôn khổ pháp lý đối với hoạt động BHNN, khuyến khích các DNBH và nâng cao hiểu biết của người nông dân về BHNN để họ tham gia thị trường này [20]
Tuy nhiên, nghiên cứu mới tập trung ở thực trạng chung hoạt động BHNN ở Việt Nam, không thực hiện được điều tra về nhu cầu tham gia BHNN ở một số vùng, miền cho một số loại vật nuôi, cây trồng chủ lực, chưa đưa ra được những đề xuất cụ thể về BHNN cho những loại vật nuôi, cây trồng đó (BH theo phương thức
BH nào, rủi ro nào cần được BH, mức hỗ trợ của Nhà nước ) Đề tài cũng chưa nghiên cứu chuyên sâu về kỹ thuật phương thức BH mới theo chỉ số (đặc biệt là cách tính phí BH theo các nấc chỉ số), mà mới chỉ dừng lại ở một số nội dung cơ bản ban đầu
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu chính sách bảo hiểm sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam” của tiến sĩ Phạm Bảo Dương và các tác giả, Viện
chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (năm 2011) Đề tài chỉ đi
Trang 40sâu nghiên cứu các vấn đề về chính sách liên quan đến BHNN đến năm 2011 Cụ thể: thực trạng triển khai và chính sách liên quan đến BH sản xuất lúa gạo ở Thái Bình và An Giang, BH bò sữa ở Hà Nội, Long An và Lâm Đồng, BH cao su ở Bình Phước và Giai Lai
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã kết luận: (1) Hoạt động BHNN ở Việt Nam chưa hoàn thiện nên các chính sách chưa thực sự tạo ra động lực đủ mạnh để thúc đẩy phát triển thị trường BHNN và vì thế nó cần được hoàn thiện (2) Rủi ro thiên tai, rủi ro dịch bệnh trong nông nghiệp là hết sức phức tạp, trong bối cảnh đó, để phát triển thị trường BHNN cần phải có mô hình và bước đi phù hợp (3) Cải thiện hệ thống chính sách là giải pháp quan trọng nhất để khuyến khích phát triển BH SXNN ở nước ta trong giai đoạn tới
Đồng thời, nhóm nghiên cứu đề xuất 3 vấn đề cần nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu cơ sở khoa học và đề xuất giải pháp, chính sách xây dựng hệ thống triển khai BHNN ở Việt Nam; Nghiên cứu hoàn thiện xây dựng cơ chế xác định rủi ro, giám định thiệt hại và chi trả bồi thường trong BHNN và nghiên cứu đề xuất giải pháp và chính sách khuyến khích phát triển BHNN tương hỗ ở Việt Nam Tuy nhiên, đề tài này cũng chưa đi sâu nghiên cứu BHNN trong chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn ở Việt Nam Mặt khác, nghiên cứu này thực hiện từ năm 2009-2011 khi thị trường BHNN ở Việt Nam chưa phát triển, Chính phủ chưa thực hiện Chương trình thí điểm BHNN nên những phân tích chưa mang tính cập nhật [19]
- Luận văn thạc sỹ kinh tế nông nghiệp “Nghiên cứu khả năng sẵn lòng chi trả của nông dân cho bảo hiểm cây điều trên địa bàn huyện Thống Nhất, Đồng Nai”
(năm 2013) của tác giả Bùi Phương Nam (trường Đại học Lâm Nghiệp) Nội dung của luận văn tác giả mới chỉ dừng lại ở việc phân tích thực trạng trồng điều và khảo sát 200 hộ dân trồng điều trên địa bàn huyện Thống Nhất Theo đó, mức sẵn lòng chi trả của 200 hộ điều tra là 427.500 đồng/ha/năm, và mức sẵn lòng chi trả trung bình của các hộ sẵn lòng chi trả là 929.348 đồng/ha/năm Tác giả đã đưa ra được 3 nhóm giải pháp nhằm thực hiện BH cây điều thu hút được hộ nông dân tham gia Tuy nhiên, luận văn này tác giả cũng mới chỉ đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả bảo hiểm cây điều, chưa phân tích được các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHNN của người dân trên địa bàn tỉnh Đồng Nai [24]