1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp của chính phủ tại huyện thanh chương, tỉnh nghệ an

145 114 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ phía doanh nghiệp bảo hiểm – Công ty bảo hiểm Bảo Việt cho rằng, sau một thời gian triển khai thí điểm, họ phải thừa nhận, BHNN là một lĩnh vực khó, do đối tượng bảo hiểm là những độn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Nguyễn Thị Kim Anh

Chủ tịch Hội Đồng:

PGS.TS Đỗ Thị Thanh Vinh

Khoa sau đại học:

KHÁNH HÒA - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài “Đánh giá chương trình bảo hiểm nông nghiệp của Chính phủ tại huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An” là công trình

nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

Nghệ An, tháng 7 năm 2017

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện và hoàn thành đề tài luận văn này, tôi đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ và tạo điều kiện từ nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân Luận văn này cũng được hoàn thành dựa trên sự tham khảo, học tập kinh nghiệm từ các kết quả nghiên cứu liên quan, các tạp chí chuyên ngành của nhiều tác giả ở các trường đại học, và các tổ chức nghiên cứu

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Kim Anh- Giảng viên Khoa Kinh tế - Trường Đại học Nha Trang là người hướng dẫn khoa học đã trực tiếp dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cám ơn Ban Giám hiệu, Khoa kinh tế, Khoa Sau đại học của trường Đại học Nha Trang, cùng toàn thể Quý thầy cô đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi cũng xin cảm ơn các cơ quan, tổ chức, cá nhân nhất là hội nông dân huyện Thanh Chương, hội nông dân các xã Cát Văn, Thanh Liên, Ngọc Sơn, Thanh Đức, Thanh Hương đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong công việc điều tra và thu thập số liệu

Tôi cũng xin cảm ơn tất cả mọi người đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này Cảm ơn tất cả các tác giả của các công trình mà tôi đã tham khảo

Tuy có nhiều cố gắng, nhưng trong luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Tôi kính mong quý thầy, cô, các chuyên gia, những người quan tâm đến

đề tài, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè tiếp tục có những ý kiến đóng góp, giúp đỡ để

đề tài được hoàn thiện hơn

Một lần nữa xin chân thành cảm ơn./

Nghệ An, tháng 7 năm 2017

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH x

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT xi

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xii

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.5 Ý nghĩa đề tài nghiên cứu 4

1.6 Kết cấu của luận văn 5

Tóm tắt chương 1: 5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP 6

2.1 Cơ sở lý thuyết về bảo hiểm nông nghiệp 6

2.1.1 Khái niệm chung về bảo hiểm 6

2.1.2 Bản chất của bảo hiểm 7

2.1.3 Vai trò của bảo hiểm đối với đời sống, kinh tế - xã hội 8

2.2 Bảo hiểm nông nghiệp 10

2.2.1 Sự cần thiết của bảo hiểm nông nghiệp 10

2.2.2 Khái niệm về bảo hiểm nông nghiệp 12

2.2.3 Phân loại bảo hiểm nông nghiệp 13

2.2.4 Vai trò của bảo hiểm nông nghiệp 17

Trang 6

2.3 Các chủ thể trong hoạt động triển khai thí điểm BHNN và hợp đồng BHNN 18

2.3.1 Các chủ thể trong hoạt động triển khai thí điểm BHNN .18

2.3.2 Hợp đồng bảo hiểm 25

2.4 Bài học kinh nghiệm về BHNN của các nước trên thế giới và rút ra cho Việt Nam 41

2.5 Cơ sở lý luận về kinh tế thực nghiệm 50

2.5.1 Mô hình hồi quy Logit 50

2.5.2 Mức sẵn lòng chi trả ( WTP ) 51

2.6 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài trong và ngoài nước 53

2.7 Khung phân tích 57

Tóm tắt chương 2: 57

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 58

3.1 Quy trình nghiên cứu 58

3.1.1 Giai đoạn nghiên cứu sơ bộ 59

3.1.2 Giai đoạn nghiên cứ chính thức 59

3.2 Cách tiếp cận nghiên cứu 60

3.2.1 Phương pháp định tính 60

3.2.2 Phương pháp định lượng 60

3.3 Phương pháp chọn mẫu và quy mô mẫu 67

3.4 Loại dữ liệu cần thu thập 68

3.5 Công cụ phân tích dữ liệu 69

Tóm tắt chương 3: 69

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 70

4.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 70

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 70

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 72

4.2 Đánh giá kết quả triển khai chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011 – 2013 78

4.2.1 Thực trạng triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011 – 2013 78

Trang 7

4.2.2 Đánh giá kết quả triển khai chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai

đoạn 2011 – 2013 85

4.3 Phân tích kết quả mẫu điều tra 90

4.3.1 Mô tả mẫu điều tra 90

4.3.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm nông nghiệp 97

4.3.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả BHNN 99

4.4 Thảo luận kết quả nghiên cứu 103

Tóm tắt chương 4 106

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 107

5.1 Kết luận 107

5.1.1 Các mục tiêu đề tài nghiên cứu đã đạt được, cụ thể: 107

5.1.2 Về phương pháp nghiên cứu 107

5.1.3 Về kết quả nghiên cứu 107

5.1.4 Hạn chế của đề tài 110

5.1.5 Hướng mở của đề tài 110

5.2 Kiến nghị 110

5.2.1 Điều chỉnh mức phí bảo hiểm để khuyến khích nông dân tham gia 110

5.2.2 Xem xét mở rộng quy mô chăn nuôi 111

5.2.3 Chính phủ cần hỗ trợ vốn vay cho các hộ nông dân 111

5.2.4 Xem xét ổn định thị trường cũng như giá cả đầu ra tạo điều kiện cho hộ nông dân tăng thêm thu nhập 111

5.2.5 Chính phủ cần tạo điều kiện cho nhiều doanh nghiệp bảo hiểm triển khai sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp 112

5.2.6 Tuyên truyền phổ biến rộng rãi về bảo hiểm nông nghiệp 112

5.2.7 Các công ty bảo hiểm cần nâng cao năng lực, đảm bảo giải quyết bồi thường khi rủi ro xảy ra một cách nhanh chóng thoả đáng .113

Tóm tắt chương 5: 113

TÀI LIỆU THAM KHẢO 114 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Tổng hợp các biến trong các mô hình nghiên cứu trước 62

Bảng 3.2: Các biến sử dụng trong phân tích quyết định tham gia BHNN chăn nuôi của hộ nông dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An 63

Bảng 3.3: Các biến sử dụng trong phân tích mức sẵn lòng chi trả BHNN 66

Bảng 4.1: Diện tích và cơ cấu diện tích đất huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An năm 2014 72

Bảng 4.2: Số lượng gia súc trên địa bàn huyện Thanh Chương năm 2013 73

Bảng 4.3: Tổng hợp kết quả triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp đến ngày 30-4-2013 81

Bảng 4.4: Số lượng hộ nông dân tham gia bảo hiểm vật nuôi giai đoạn 2011-2013 83

Bảng 4.5: Số đầu vật nuôi và giá trị bảo hiểm vật nuôi huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011-2013 83

Bảng 4.6: Phí bảo hiểm vật nuôi trên địa bàn huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011-2013 84

Bảng 4.7: Số tiền giải quyết bồi thường bảo hiểm vật nuôi tại huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011-2013 84

Bảng 4.8: Bảng mô tả đặc điểm của nông hộ huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An trong mẫu điều tra 90

Bảng 4.9: Bảng mô tả tuổi, kinh nghiệm của chủ hộ và số thành viên trong gia đình trong mẫu điều tra 91

Bảng 4.10: Thu nhập các hộ và cơ cấu thu nhập năm 2011 và giai đoạn 2012- 2014 trong mẫu khảo sát 92

Bảng 4.11: Thu nhập trung bình hộ hàng năm trong mẫu điều tra 93

Bảng 4.12: Tình hình tham gia BHNN của các hộ trong mẫu điều tra 93

Bảng 4.13: Đầu số vật nuôi tham gian BHNN của các hộ trong mẫu điều tra 94

Bảng 4.14: Thông tin về phí BHNN của các hộ trong mẫu điều tra 95

Bảng 4.15: Thông tin về bồi thường thiệt hại của các hộ trong mẫu điều tra 96

Trang 9

Bảng 4.16: Đánh giá mức độ hài lòng của các hộ nông dân tham gia BHNN trong khâu

bồi thường thiệt hại 96

Bảng 4.17: Kết quả mô hình logit “phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHNN cho vật nuôi” của các hộ nông dân trong mẫu nghiên cứu 98

Bảng 4.18: Các chỉ số phóng đại phương sai (VIF) của mô hình 100

Bảng 4.19: Tóm tắt mô hình hồi quy tuyến tính 100

Bảng 4.20: Phân tích ANOVA 101

Bảng 4.21: Kết quả mô hình hồi quy “phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả BHNN cho vật nuôi” của các hộ nông dân trong mẫu nghiên cứu 101

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Tổng mức sẵn lòng chi trả 52 Hình 2.2: Sơ đồ khung phân tích 57 Hình 3.1: Sơ đồ quy trình nghiên cứu 58

Trang 11

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Trang 12

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Mục tiêu của đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp của chính phủ tại huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011 -

2013, đánh giá nhu cầu tham gia chương trình BHNN, trên cơ sở đó đề xuất một số hàm ý để hoàn thiện bảo hiểm nông nghiệp ở địa phương trong thời gian tới

Các phương pháp phân tích chính được sử dụng trong nghiên cứu là cứu định tính kết hợp sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với dữ liệu thu thập của 52

hộ có hoạt động chăn nuôi ở huyện Thanh Chương – Nghệ An Trong đó, mô hình logit dùng để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHNN, còn

mô hình hồi quy OLS dùng để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mức sẵn sàng chi trả phí bảo hiểm nông nghiệp tại huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An thông qua việc phân tích các thông tin thu được và xử lý số liệu bằng Excel và Eview

Theo kết quả điều tra 52 hộ nông dân cho thấy:

- Tổng thu nhập bình quân năm 2011 là 1.219 triệu đồng đã được cải thiện đáng

kể trong giai đoạn 2012-2014, trung bình một năm trong giai đoạn này tổng thu nhập của 52 hộ gia đình tăng lên 1.292 triệu đồng Thu nhập của ngành chăn nuôi, ngành trồng trọt và thu nhập từ các nguồn khác đều tăng lên Trong ngành nông nghiệp, thu nhập đang chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng từ chăn nuôi và giảm tỷ trọng từ trồng trọt

- Thu nhập trung bình một hộ hằng năm cũng tăng lên đáng kể Năm 2011, thu nhập trung bình một hộ là 23,44 triệu đồng Đến giai đoạn 2012-2014, thu nhập trung bình một hộ một năm là 24,85 triệu đồng Mặt khác sự chênh lệch thu nhập giữa hộ có thu nhập lớn nhất và hộ có thu nhập nhỏ nhất cũng giảm đáng kể, năm 2011 dao động

từ 13-39 triệu đồng/hộ đến trung bình năm giai đoạn 2012-2014 dao động trong khoảng 14-36 triệu đồng/hộ

Trong năm 2013, trong 52 hộ nông dân được điều tra có 17 hộ nông dân gặp rủi

ro do thiên tai, 35 hộ nông dân biết thông tin về bảo hiểm nông nghiệp nghiệp, 43 hộ nông dân muốn tham gia BHNN nhưng chỉ có 39 đã tham gia BHNN Như vậy, có một số hộ nông dân muốn tham gia BHNN nhưng vẫn gặp những vướng mắc khó khăn

mà không thể tham gia Trong tương lai, có 30 hộ nông dân vẫn có ý định tham gia BHNN nhưng nếu xoá bỏ chính sách hỗ trợ phí BHNN thì chỉ có 9 hộ nông dân vẫn có

Trang 13

dự ý định tham gia BHNN Như vậy, có thể thấy thấy các hộ gia đình có quan tâm rất lớn đến phí và hỗ trợ phí BHNN từ chính phủ

Năm đầu tiên (2011) trong 39 hộ gia đình tham gia BHNN đã tiến hành bảo hiểm cho 273 con lợn và 40 con trâu/bò Còn trong 2 năm 2012 và 2013, tổng số lợn được bảo hiểm là 590 con, tổng số trâu/bò được bảo hiểm là 98 con Như vậy, trong giai đoạn 2011-2013, đầu số vật nuôi được bảo hiểm tăng lên đáng kể cả đầu số lợn cũng như đầu số trâu/bò

Năm 2011, tổng phí BHNN vật nuôi của 52 hộ nông dân được điều tra là 47,16 triệu đồng, trong đó 4,632 triệu đồng là do hộ nông dân chi trả, còn 42,528 triệu đồng

là do chính phủ hỗ trợ Còn trong hai 2012-2013, tổng phí BHNN là 106,08 triệu đồng, trong đó hộ nông dân đóng 6,84 triệu đồng còn chính phủ hỗ trợ 99,24 triệu đồng

Với mức ý nghĩa α = 10%, thì trong 7 nhân tố đưa vào mô hình logit thì chỉ có 4 nhân tố có ý nghĩa thống kê đó là: : quy mô chăn nuôi, tuổi của chủ hộ, số thành viên trong gia đình và rủi ro thiên tai(có giá P-value < 0,1) Còn 3 nhân tố: học vấn của chủ

hộ, biết thông tin về bảo hiểm nông nghiệp và nhân tố thu nhập không có ý nghĩa thống kê (có P-value > 0,1)

Với mức ý nghĩa α = 10%, thì trong 8 nhân tố đưa vào mô hình hồi quy OLS thì chỉ có 4 nhân tố có ý nghĩa thống kê đó là: quy mô chăn nuôi, hỗ trợ vốn vay, thu nhập chủ hộ và sự quan tâm tới hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp (có giá P-value < 0,1) Còn

4 nhân tố: học vấn của chủ hộ, biết thông tin về bảo hiểm nông nghiệp, tuổi chủ hộ và nhân tố số thành viên trong hộ phụ thuộc vào chăn nuôi không có ý nghĩa thống kê (có P-value > 0,1) Và mô hình có R-hiệu chỉnh tương đối cao là 0,708

Trên những kết quả nghiên cứu đạt được, để mô hình BHNN hoàn thiện hơn ở địa phương trong thời gian tới thì cần: Điều chỉnh mức phí bảo hiểm, mở rộng quy mô chăn nuôi, hỗ trợ vốn vay, ổn định thị trường cũng như giá cả đầu ra, tạo điều kiện cho nhiều DNBH triển khai sản phẩm BHNN, tuyên truyền phổ biến rộng rãi về BHNN, các công ty bảo hiểm cần nâng cao năng lực, đảm bảo giải quyết bồi thường khi rủi ro xảy ra một cách nhanh chóng thoả đáng

Từ khoá: Bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểm nông nghiệp, huyện Thanh Chương,

tỉnh Nghệ An

Trang 14

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất quan trọng, cung cấp lương thực

và thực phẩm cho con người, nguyên liệu cho công nghiệp nhẹ và hàng hóa để xuất khẩu Nông nghiệp cũng là ngành thu hút nhiều lao động xã hội, góp phần giải quyết công ăn vệc làm và đồng thời còn là một ngành đóng góp không nhỏ vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cho đất nước Tuy nhiên sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam thường xuyên phải hứng chịu những rủi ro do thời tiết và dịch bệnh

BHNN là một công cụ hiệu quả được nhiều nước trên thế giới sử dụng để giảm thiểu rủi ro trong sản xuất nông nghiệp và bảo đảm an sinh xã hội, giúp nông dân yên tâm sản xuất, nâng cao ý thức chủ động phòng ngừa rủi ro, đề phòng và hạn chế tổn thất và thúc đẩy quá trình áp dụng khoa học kỹ thuật, tiếp cận tín dụng và liên kết sản xuất trong nông nghiệp và giảm gánh nặng ngân sách trong việc hỗ trợ trực tiếp nông dân tại các vùng bị thiệt hại

Vì vậy, việc BHNN là rất cần thiết nhằm hạn chế rủi ro, tổn thất và khắc phục hậu quả do thiên tai, dịch bệnh gây ra, đảm bảo ổn định sản xuất cho người nông dân, đảm bảo an sinh xã hội và phát triển nông nghiệp bền vững

Nhận thức được điều này, năm 1993, pháp luật về BHNN ở Việt Nam được hình thành thông qua Nghị định số 100/1993/NĐ-CP của Chính phủ, tuy nhiên với các chính sách chưa phù hợp, doanh nghiệp bảo hiểm chưa có kinh nghiệm triển khai nghiệp vụ bảo hiểm phức tạp này dẫn đến việc BHNN vẫn chưa được triển khai thành công Trước thực trạng đó, ngày 1/3/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 315/QĐ-TTg về việc thực hiện thí điểm BHNN giai đoạn 2011 – 2013 tại 21 tỉnh, thành phố

Thanh Chương là một trong 3 huyện ở Nghệ An được chọn triển khai thí điểm chương trình bảo hiểm vật nuôi (trâu, bò, lợn) Với tổng đàn gia súc lớn nên nhu cầu bảo hiểm vật nuôi của người dân tại huyện Thanh Chương rất cao Từ tháng 4 năm

2012, huyện Thanh Chương đã triển khai làm thí điểm tại 3 xã Cát Văn, Thanh Liên

và Ngọc Sơn Chính sách hỗ trợ mức phí mua bảo hiểm hộ nghèo là 100%, hộ cận nghèo là 90% đã tạo điều kiện thuận lợi cho các gia đình khó khăn có thể tham gia chương trình, đến hết chương trình, toàn huyện đã có 10.606 lượt hộ dân tham gia với tổng số đàn gia súc được bảo hiểm là 37.912 con Trong đó 7.918 con trâu, 5460 con

Trang 15

bò, 21.361 con lợn, tổng phí bảo hiểm hơn 11 tỷ đồng Trong đó, số tiền các hộ dân đóng phí là 66 triệu đồng

Chương trình đã góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển và đảm bảo thu nhập cho bà con nông dân khi tham gia bảo hiểm Đồng thời nâng cao nhận thức của người nông dân về sự cần thiết của BHNN trong sản xuất Việc chi trả, bồi thường kịp thời đã tạo điều kiện cho các hộ dân phục hồi sản xuất, ổn định cuộc sống sau rủi ro Mặc dù đã đạt được những kết quả khả quan nhưng Chương trình cũng tồn tại rất nhiều khó khăn và hạn chế Trong tương lai muốn xây dựng, hoàn thiện chương trình BHNN cần có các điều chỉnh phù hợp

Qua trao đổi trực tiếp với Phòng nông nghiệp huyện Thanh Chương, cán bộ phản ánh rằng, qua 3 năm triển khai thì mới chỉ có hộ nghèo và hộ cận nghèo tham gia bảo hiểm, còn các hộ nông dân không thuộc hộ nghèo, cận nghèo, tổ chức sản xuất lại

ít tham gia BHNN Nguyên nhân ở đây là do phạm vi bảo hiểm còn hẹp, người chăn nuôi chưa được bồi thường trong trường hợp vật nuôi bị chết do giông, lốc xoáy hay bệnh tụ huyết trùng, nhiệt thán, thương hàn… Bên cạnh đó, tỷ lệ phí và mức phí bảo hiểm còn khá cao, người được bảo hiểm phải thanh toán cho doanh nghiệp bảo hiểm toàn bộ phí bảo hiểm được quy định trong vòng 7 ngày kể từ ngày ký hợp đồng bảo hiểm Nếu người được bảo hiểm không thanh toán phí bảo hiểm đầy đủ và đúng hạn thì không được giải quyết bồi thường, trừ khi có thoả thuận khác bằng văn bản Quy tắc này vô hình trung đã đánh vào các hộ bình thường - những hộ có số lượng đàn trâu,

bò, lợn hàng chục con trở lên, cùng một lúc phải đóng một khoản phí lớn, khiến rất nhiều hộ e ngại nên không tham gia

Từ phía doanh nghiệp bảo hiểm – Công ty bảo hiểm Bảo Việt cho rằng, sau một thời gian triển khai thí điểm, họ phải thừa nhận, BHNN là một lĩnh vực khó, do đối tượng bảo hiểm là những động thực vật, chịu tác động rất nhiều bởi các yếu tố thiên nhiên, rủi ro được bảo hiểm và rủi ro không được bảo hiểm rất khó kiểm soát Công tác quản lý rủi ro gặp nhiều khó khăn, nên khả năng trục lợi bảo hiểm cũng rất lớn Chẳng hạn, bảo hiểm vật nuôi, doanh nghiệp bảo hiểm đeo vòng, đeo số vào những con vật được bảo hiểm, khi xảy ra rủi ro -con vật chết - không chắc chắn đó chính là con vật đã được bảo hiểm Kết quả thí điểm đã cho thấy: bồi thường lớn hơn phí thu chưa tính các chi phí quản lý, tuyên truyền quảng cáo, chi phí triển khai nghiệp vụ mới Đại diện của Công ty bảo hiểm Bảo Việt cho rằng: “Bảo Việt luôn xác định đây

Trang 16

là một nhiệm vụ chính trị của DN, thực hiện theo tinh thần doanh nhân với nông dân

và tinh thần DNNN với chủ trương của Chính phủ Mục tiêu khi triển khai BHNN không vì lợi nhuận, nhưng để có thể triển khai lâu dài nghiệp vụ này thì cũng không thể để DN lỗ, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh chung Đây cũng là một vấn đề cần báo cáo Chính phủ để có cơ chế hỗ trợ các DN được giao nhiệm vụ triển khai thí điểm BHNN”

Từ vấn đề thực tế này, nghiên cứu “Đánh giá chương trình BHNN của Chính phủ tại huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An” được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng của chương trình BHNN được áp dụng tại huyện Thanh Chương sau 3 năm triển khai thí điểm (2011-2013), đưa ra cái nhìn từ phía người dân và nhu cầu tham gia chương trình BHNN, và từ phía doanh nghiệp bảo hiểm, từ đó đề xuất các giải pháp để BHNN được triển khai hoàn thiện hơn

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

(3) Xác định các nhân tố ảnh hưởng và xem xét tác động của chúng đến quyết định tham gia BHNN và mức sẵn lòng chi trả phí BHNN

(4) Đề xuất một số hàm ý để triển khai BHNN hoàn thiện hơn ở địa phương trong thời gian tới

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm trả lời các câu hỏi sau đây liên quan đến việc triển khai chương trình BHNN ở huyện Thanh Chương, Nghệ An

Trang 17

(1) Chương trình thí điểm theo quyết định 315/QĐ TTg giai đoạn 2011 – 2013 có tác dụng hỗ trợ rủi ro cho người dân như thế nào ?

(2) Thực trạng triển khai chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp ở địa phương như thế nào?

(3) Những nhân tố nào ảnh hưởng và tác động của chúng như thế nào đến quyết định tham gia bảo hiểm, mức sẵn lòng tham gia của người dân?

(4) Cần có những giải pháp nào để hoàn thiện chương trình bảo hiểm nông nghiệp

ở huyện Thanh Chương thời gian tới?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Lý thuyết và thực trạng về chương trình bảo hiểm nông

nghiệp trên địa bàn huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An

- Phạm vi nghiên cứu: Do chương trình bảo hiểm nông nghiệp tại huyện Thanh

Chương mới chỉ thí điểm cho vật nuôi, nên phạm vi nghiên cứu chủ yếu như sau: + Nội dung: Đánh giá thực trạng về chương trình bảo hiểm vật nuôi trên địa bàn huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An

+ Không gian: Các hộ gia đình có sản xuất chăn nuôi trên địa bàn huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An

+ Thời gian: Dữ liệu thu thập trong khoảng thời gian từ 02/2017 đến tháng

04/2017

1.5 Ý nghĩa đề tài nghiên cứu

- Lý thuyết: Kết quả đề tài là hệ thống hoá về mặt lý luận về bảo hiểm nông

nghiệp, giúp cho người đọc có được cái nhìn tổng quát về bản chất của bảo hiểm nông nghiệp cũng như phương pháp đo lường mức phí bảo hiểm nông nghiệp; mức bồi thường khi xảy ra rủi ro trong sản xuất nông nghiệp; đề tài có thể làm tài liệu tham khảo để các nghiên cứu sâu hơn về phân tích hoạt động bảo hiểm nông nghiệp

- Thực tiễn: Đề tài đánh giá được thực trạng, tình hình hoạt động bảo hiểm

nông nghiệp cho lĩnh vực chăn nuôi tại huyện Thanh Chương Kết quả nghiên cứu có thể giúp các hộ nông dân chăn nuôi có cái nhìn tổng quát hơn về bảo hiểm nông nghiệp, lợi ích đem lại từ việc tham gia hoạt động bảo hiểm nông nghiệp Đồng thời,

Trang 18

kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu hữu ích giúp các nhà quản lý quy hoạch ngành chăn nuôi và cung cấp thêm căn cứ khoa học, gợi ra một số hàm ý chính sách để xây dựng

mô hình bảo hiểm nông nghiệp hoàn thiện hơn ở địa phương trong thời gian tới tại huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An

1.6 Kết cấu của luận văn

Luận văn nghiên cứu bao gồm 5 chương

Chương 1: Giới thiệu

Chương 2: Tổng quan tài liệu và cơ sở lý thuyết

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Phân tích và thảo luận kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách

Tóm tắt chương 1:

Trong chương 1, tác giả giới thiệu về: (i) tính cấp thiết của đề tài Từ vấn đề

thực tế này, nghiên cứu “Đánh giá chương trình bảo hiểm nông nghiệp của Chính phủ tại huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, giai đoạn 2011 - 2013”, (ii) mục tiêu

nghiên cứu, (iii) câu hỏi nghiên cứu, (iv) đối tượng và phạm vi nghiên nghiên cứu, (v)

ý nghĩa của nghiên cứu và (vi) giới thiệu kết cấu của luận văn của mình

Trang 19

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ

BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP

2.1 Cơ sở lý thuyết về bảo hiểm nông nghiệp

2.1.1 Khái niệm chung về bảo hiểm

Trong cuộc sống cũng như trong sản xuất, con người luôn có những nguy cơ gặp phải rủi ro vì những nguyên nhân khác nhau như: bão lụt, hạn hán, ốm đau, tai nạn…Mỗi khi gặp phải rủi ro thường gây nên những hậu quả khó lường làm ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất và đến sức khỏe của con người Để đối phó với hậu quả rủi ro, người ta sử dụng nhiều biện pháp, nhưng phổ biến và hiệu quả nhất là bảo hiểm Bởi lẽ, hậu quả của rủi ro thông qua bảo hiểm sẽ được phân tán cho nhiều người cùng gánh chịu, và nó không chỉ thuần túy là sự chuyển giao, chia sẻ rủi ro, mà nó còn là sự giảm thiểu rủi ro, giảm thiểu tổn thất thông qua các chương trình quản lý rủi ro được phối hợp giữa các cá nhân, các tổ chức kinh tế - xã hội với các tổ chức bảo hiểm Bảo hiểm ra đời là một đòi hỏi khách quan của cuộc sống và sản xuất Xã hội càng phát triển văn minh thì hoạt động bảo hiểm cũng ngày càng phát triển và không thể thiếu được đối với mỗi cá nhân, tổ chức và mỗi quốc gia Bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi

ro của một người hay của số một ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại; bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm được xây dựng dựa trên từng góc độ nghiên cứu xã hội, pháp lý, kinh tế, kĩ thuật, nghiệp vụ )

Dưới góc độ thuật ngữ kinh tế- kinh doanh thì bảo hiểm được định nghĩa như sau: “Insurace- bảo hiểm Một phương thức để nhiều người cùng nhau chia phần gánh chịu những rủi ro đối với sinh mạng hay tài sản mà chỉ một số ít người có thể phải gánh chịu.” Định nghĩa trên chỉ dừng lại ở mức độ giải thích từ ngữ nhằm cho người đọc có hiểu biết khái quát chung nhất về “bảo hiểm” (Nguyễn Văn Định, 2008)

Dưới góc độ pháp lý, Giáo sư Hemard trích trong Nguyễn Văn Định (2008) đưa

ra khái niệm: “Bảo hiểm là một nghiệp vụ, qua đó, một bên là người được bảo hiểm chấp nhận trả một khoản tiền (phí bảo hiểm hay đóng góp bảo hiểm) cho chính mình hoặc cho một người thứ ba khác trong trường hợp rủi ro xảy ra, sẽ được trả một khoản tiền bồi thường từ một bên khác là người được bảo hiểm, người chịu trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro, đền bù những thiệt hại theo Luật Thống Kê”

Trang 20

Dưới góc độ kinh doanh bảo hiểm, các công ty, tập đoàn bảo hiểm thương mại trên thế giới đưa ra khái niệm: “Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công

ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm” (Nguyễn Văn Định, 2008)

Sự khác nhau trong các quan niệm xuất phát từ việc nhìn nhận bảo hiểm ở các góc độ và cách thức tiếp cận khác nhau Bảo hiểm là một lĩnh vực rộng và phức tạp hàm chứa yếu tố kinh doanh, pháp lý và kỹ thuật nghiệp vụ đặc trưng nên rất khó tìm

ra được một định nghĩa hoàn hảo Trên cơ sở các khía cạnh đó, khái niệm về bảo hiểm được hiểu một cách chung nhất: “ Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tài chính, thông qua đó một cá nhân hay một tổ chức có quyền được hưởng bồi thường hoặc chi trả tiền bảo hiểm nếu rủi ro hay sự kiện bảo hiểm xảy ra nhờ vào khoản đóng góp phí bảo hiểm cho mình hay cho người thứ ba Khoản tiền bồi thường hoặc chi trả này do một

tổ chức đảm nhận, tổ chức này có trách nhiệm trước rủi ro hay sự kiện bảo hiểm và bù trừ chúng theo quy luật thống kê” Khái niệm này đã bao quát được phạm vi và nội dung của tất cả các loại hình bảo hiểm như: bảo hiểm thương mại, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm nông nghiệp…

2.1.2 Bản chất của bảo hiểm

Cơ chế hoạt động của kinh doanh bảo hiểm tạo ra một “sự đóng góp của số đông vào bất hạnh của số ít” trên cơ sở quy tụ nhiều người có cùng rủi ro thành cộng đồng nhằm phân tán hậu quả tài chính của những vụ tổn thất Như vậy, thực chất mối quan hệ trong hoạt động bảo hiểm không chỉ là mối quan hệ giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm mà là tổng thể các mối quan hệ giữa những người được bảo hiểm trong cùng một cộng đồng bảo hiểm xoay quanh việc hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm – một hình thức đặc biệt của các khoản dự trữ bằng tiền

Bản chất chung của bảo hiểm đó là quá trình phân phối lại tổng sản phẩm trong nước giữa những người tham gia nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính phát sinh khi tai nạn, rủi ro bất ngờ xảy ra gây tổn thất đối với người tham gia bảo hiểm Tuy nhiên, phân phối trong bảo hiểm chủ yếu là phân phối không đều và phần lớn không mang tính chất bồi hoàn trực tiếp (loại trừ một số loại hình bảo hiểm như: bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm tiền hưu trí)

Trang 21

Về bản chất xã hội của bảo hiểm, nhờ có sự san sẻ rủi ro giữa các cá nhân và đơn vị tham gia bảo hiểm nên nhiều thiệt hại về người và của đã được trợ giúp trang trải, bù đắp làm cho đời sống xã hội không bị xáo trộn, đời sống sản xuất không bị đình trệ Mặt khác, tính xã hội còn thể hiện rất rõ trong bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y

tế Nhờ có bảo hiểm, khi người lao động ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí, v.v nguồn thu nhập của họ bị giảm sút hoặc mất hẳn, họ sẽ được

bù đắp phần thiếu hụt đó từ quỹ bảo hiểm xã hội, hoặc khi ốm đau, được chăm sóc y tế không phải trả tiền trực tiếp từ nguồn thu nhập của gia đình Xã hội càng phát triển, các loại hình dịch vụ bảo hiểm càng đa dạng và bản chất xã hội của nó càng thể hiện rõ nét hơn Con người trong mọi lúc, mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh đều cần đến sự hỗ trợ của bảo hiểm

Cơ chế chuyển giao rủi ro trong bảo hiểm được thực hiện giữa bên tham gia bảo hiểm và bên bảo hiểm thông qua các cam kết bảo hiểm Theo cơ chế này, bên tham gia phải nộp phí bảo hiểm và bên bảo hiểm cam kết bồi thường hay chi trả tiền bảo hiểm khi đối tượng bảo hiểm hay người được bảo hiểm gặp phải rủi ro hay sự kiện bảo hiểm Tất nhiên, rủi ro hay sự kiện bảo hiểm phải là ngẫu nhiên, khách quan mà hai bên đã thỏa thuận

Phí bảo hiểm mà bên tham gia nộp cho bên bảo hiểm phải được thực hiện trước khi rủi ro hay sự kiện bảo hiểm xảy ra Ngược lại, khoản tiền mà bên bảo hiểm trả cho bên tham gia hay cho người thứ ba chỉ được thực hiện sau khi sự kiện bảo hiểm hay rủi ro xảy ra gây tổn thất

Việc san sẻ rủi ro, bù trừ tổn thất trong bảo hiểm được bên bảo hiểm tính toán

và quản lý dựa vào số liệu thống kê rủi ro và tình hình tổn thất, cũng như quỹ bảo hiểm

mà họ thiết lập được dựa trên nguyên tắc số đông bù số ít

Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tài chính chứ không phải hoạt động sản xuất Chính vì vậy, lợi ích của các bên phải được luật hóa cụ thể và vai trò quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực này là rất quan trọng và không thể thiếu được với mỗi quốc gia

2.1.3 Vai trò của bảo hiểm đối với đời sống, kinh tế - xã hội

Bảo hiểm đóng vai trò quan trọng đối với đời sống của người dân, là một trong những cơ chế đảm bảo an sinh xã hội trong nền kinh tế quốc dân

- Vai trò đối với nền kinh tế

Bảo hiểm góp phần ổn định tài chính cho người tham gia bảo hiểm trước tổn thất do rủi ro gây ra, tổn thất đó sẽ được công ty bảo hiểm trợ cấp hoặc bồi thường kịp

Trang 22

thời để người tham gia nhanh chóng khắc phục hậu quả, ổn định cuộc sống và sản xuất kinh doanh Từ đó, các hoạt động sẽ được khôi phục và diễn ra bình thường Trong các nền kinh tế hiện đại, bảo hiểm đã trực tiếp đảm bảo cho các khoản đầu tư, không có sự đảm bảo của bảo hiểm thì các chủ đầu tư, mà nhất là các ngân hàng liên quan sẽ không dám mạo hiểm đầu tư vốn cho dự án Bởi vậy, bảo hiểm là một hoạt động kích thích đầu tư

Bảo hiểm là một trong những kênh huy động vốn rất hữu hiệu để đầu tư phát triển kinh tế - xã hội Các cơ quan và DNBH thu phí bảo hiểm trước khi rủi ro và sự kiện bảo hiểm xảy ra với đối tượng bảo hiểm Điều đó cho phép họ có một số tiền rất lớn và cần phải quản lý chặt chẽ để đảm bảo quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm Ngoài ra, giữa các thời điểm xảy ra rủi ro do tổn thất và thời điểm chi trả hoặc bồi thường luôn có một khoảng cách Khoảng thời gian này có thể kéo dài nhiều năm nhất

là trong BHTN và BHXH Bởi vậy, số phi thu được phải đưa vào dự trữ, dự phòng và phải đem đầu tư để thu lãi Điều đó càng khẳng định thêm vai trò huy động vốn để đầu

tư của toàn ngành bảo hiểm là vô cùng quan trọng đối vơi các nền kinh tế (Nguyễn Văn Định, 2008)

Bảo hiểm góp phần ổn định và tăng thu cho ngân sách Với các quỹ bảo hiểm ngày càng tăng do người tham gia bảo hiểm đóng góp, các cơ quan, DNBH sẽ trợ cấp hoặc bồi thường kịp thời cho họ để ổn định đời sống và sản xuất nếu như đối tượng bảo hiểm gặp phải rủi ro hay sự kiện bảo hiểm Vì vậy, ngân sách nhà nước không phải chi tiền để trợ cấp cho các thành viên, các doanh nghiệp khi gặp rủi ro

Bảo hiểm góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế giữa các nước thông qua hoạt động tái bảo hiểm Thị trường bảo hiểm nội địa và thị trường bảo hiểm quốc tế có mối quan hệ qua lại, thúc đẩy nhau phát triển thông qua hình thức phân tán rủi ro và chấp nhận rủi ro- hình thức tái bảo hiểm giữa các công ty của các nước Như vậy bảo hiểm vừa góp phần phát triển quan hệ kinh tế giữa các nước, vừa góp phần ổn định thu, chi ngoại tệ cho ngân sách (Nguyễn Viết Vượng, 2006)

- Về khía cạnh xã hội, bảo hiểm có thể khắc phục những hậu quả về rủi ro tổn thất phát sinh, thiệt hại về của cải vật chất và con người, làm gián đoạn quá trình sinh hoạt của dân cư, ngưng trệ hoạt động sản xuất của nền kinh tế Bảo hiểm sẽ bù đắp các tổn thất phát sinh nhằm tái lập và đảm bảo tính thường xuyên liên tục của các quá trình

xã hội Như vậy, trên phạm vi rộng trên toàn bộ nền kinh tế xã hội, bảo hiểm đóng vai

Trang 23

trò như công cụ an toàn và dự phòng đảm bảo khả năng hoạt động lâu dài của mọi chủ thể dân cư và kinh tế Với vai trò đó, bảo hiểm khi xâm nhập sâu rộng mọi lĩnh vực của đời sống đã phát huy tác động vốn có của mình: thúc đẩy ý thức đề phòng, hạn chế tổn thất cho mọi thành viên trong xã hội

Hoạt động bảo hiểm góp phần tạo việc làm cho xã hội Ngành bảo hiểm đã thu hút một lực lượng lớn lao động làm việc tại các doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, mạng lưới đại lý bảo hiểm và nhiều ngành nghề liên quan khác Trong điều kiện thất nghiệp đang ám ảnh nền kinh tế toàn cầu thì sự phát triển ngành bảo hiểm vẫn được coi là còn nhiều tiềm năng ở các quốc gia sẽ giải quyết tình trạng thiếu việc làm cũng như các vấn đề xã hội có liên quan khác (Võ Thị Pha, 2005) Bảo hiểm là chỗ dựa tinh thần cho mọi người dân, mọi tổ chức kinh tế - xã hội Chỉ với một mức phí bảo hiểm rất khiêm tốn mà các cơ quan, các DNBH thu được, họ

có thể giúp đỡ cho các cá nhân, các gia đình, các cơ quan doanh nghiệp khắc phục được hậu quả của rủi ro, cho dù đó là những rủi ro khôn lường trong cuộc sống và sản xuất Đó chính là chỗ dựa để họ yên tâm hơn, tin tưởng hơn vào cuộc sống tương lai (Nguyễn Văn Định, 2008)

Như vậy, bảo hiểm đã góp phần đóng góp tích cực vào việc phát triển kinh tế -

xã hội, là chỗ dựa tinh thần cho người dân Việc bảo hiểm ra đời, tồn tại và phát triển là đòi hỏi khách quan của cuộc sống, của hoạt động kinh doanh, sự đòi hỏi này đều xuất phát từ những mong muốn tự chủ, an toàn về tài chính cũng như nhu cầu của con người

2.2 Bảo hiểm nông nghiệp

2.2.1 Sự cần thiết của bảo hiểm nông nghiệp

Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất quan trọng, cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người, nguyên liệu cho công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm

và hàng hóa xuất khẩu Nông nghiệp cũng là ngành thu hút nhiều lao động xã hội, góp phần giải quyết công ăn việc làm, đồng thời còn là một ngành đóng góp không nhỏ vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Nhưng sản xuất nông nghiệp thường không ổn định bởi lẽ ngành này có nhiều đặc điểm khác biệt so với nhiều ngành sản xuất khác trong nền kinh tế quốc dân

Sản xuất nông nghiệp thường áp dụng trên một phạm vi rộng lớn và hầu hết được tiến hành ở ngoài trời, vì thế nó chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện tự nhiên Hàng năm điều kiện tự nhiên vẫn luôn đe dọa và gây tổn thất lớn cho quá trình sản xuất nông nghiệp

Trang 24

Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những cơ thể sống như: cây trồng, vật nuôi Chúng không chỉ chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên mà còn chịu sự tác động của các quy luật sinh học như đồng hóa, dị hóa, thời gian sinh trưởng, cho sản phẩm…vì vậy, xác suất rủi ro trong nông nghiệp lớn hơn rất nhiều so với nhiều ngành sản xuất khác

Chu kì sản xuất của nông nghiệp thường kéo dài, thời gian lao động và thời gian sản xuất lại không trùng nhau, do đó việc đánh giá, kiểm soát, phòng ngừa và quản lý rủi ro rất khó thực hiện Trong khi đó ngành nông nghiệp lại có hàng trăm, hàng ngàn loại cây trồng, vật nuôi khác nhau, mỗi loại lại gặp những rủi ro khác nhau, thậm chí có những loại rủi ro mà hậu quả của chúng gây nên thiệt hại mang tính chất thảm họa Từ đó đã ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của người chăn nuôi trồng trọt, họ không dám đầu tư mặc dù có lao động, có đất đai, bởi vì tài sản thế chấp vốn vay không có, mà rủi ro lại luôn rình rập

Các rủi ro thường gặp trong nông nghiệp bao gồm rất nhiều loại, có những loại mang tính tích lũy rủi ro, hậu quả của chúng mang tính thảm họa và diễn ra trên diện rộng, đặc điểm này có rất lớn đến việc triển khai bảo hiểm Ở nước ta, có thể chia các loại rủi ro thường gặp trong nông nghiệp thành các nhóm sau đây:

+ Nhóm gió bão: hậu quả trực tiếp của gió bão làm đổ và gãy các loại cây trồng, hoa quả bị rụng, chuồng trại chăn nuôi bị đổ…

+ Nhóm úng, lũ lụt: ở nước ta úng lụt diễn ra hường xuyên, tùy thuộc vào thời tiết khí hậu và địa hình ở mỗi vùng Hậu quả trực tiếp của loại rủi ro này là làm sạt lở

đê điều, hư hại các công trình thủy lợi, cây trồng và vật nuôi bị cuốn trôi…

+ Nhóm hạn hán và gió lào: loại rủi ro này thường diễn ra cục bộ, cong đôi khi phạm vi cũng rất rộng Tùy theo thời hạn dài hay ngắn sẽ làm cho một số loại cây trồng bị chết, năng suất thu hoạch giảm

+ Nhóm sâu bệnh và dịch bệnh: đây là loại rủi ro diễn ra phổ biến trong ngông nghiệp và hậu quả của chúng đôi khi mang tính thảm họa Sâu bệnh và dịch bệnh làm cho cây trồng, vật nuôi bị chết hàng loạt, năng suất thu hoạch giảm sút

Ngoài những rủi ro phổ biến kể trên còn có một số loại rủi ro khác như: sương muối, gió bắc, đốt phá, chiến tranh…

Những đặc điểm trên cho thấy, tính ổn định trong sản xuất nông nghiệp là rất thấp, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp ở nước ta Vì vậy, để chủ động đối phó và có

Trang 25

quỹ dự trữ, dự phòng bồi thường kịp thời những tổn thất do thiên tai gây ra, biện pháp tốt nhất và hữu hiệu nhất là tiến hành bảo hiểm nông nghiệp Bảo hiểm nông nghiệp ra đời là cần thiêt khách quan, nó góp phần bảo vệ an toàn các loại tài sản và quá trình sản xuất nông nghiệp, góp phần ổn định cuộc sống cho hàng triệu người dân cùng một lúc, ổn định giá cả trên thị trường tự do, đặc biệt là giá cả những mặt hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với nước ta, một đất nước có gần 80% dân số và gần 70% lực lượng lao động xã hội sống dựa vào sản xuất nông nghiệp

2.2.2 Khái niệm về bảo hiểm nông nghiệp

Bảo hiểm nông nghiệp là một nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ có đối tượng bảo hiểm là các rủi ro phát sinh trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và đời sống nông thôn, bao gồm những rủi ro gắn liền với: cây trồng, vật nuôi, vật tư, hàng hóa, nguyên liệu, nhà xưởng (Nguyễn Văn Định, 2010)

Bảo hiểm nông nghiệp là một trong những loại bảo hiểm tài sản (theo nghĩa rộng) có tính chất tương đối đặc biệt và riêng rẽ rõ ràng so với các loại bảo hiểm tài sản thông thường khác Bởi vì đối tượng bảo hiểm của bảo hiểm tài sản là những của cải đã có sẵn và có giá trị thực tế nhưng ở BHNN thường vào thời kỳ đầu mua bảo hiểm, đổi tượng bảo hiểm đang lớn dần, lúc này không thể nào xác định được chính xác giá trị, chỉ có thể chờ tới khi thu hoạch mới xác định được rõ ràng giá trị của đối tượng bảo hiểm Do đó, BHNN trên thực tế là một loại bảo hiểm lợi ích dự định trước , còn gọi là bảo hiểm lợi ích hứa hẹn Điều đó có nghĩa là, nếu người tham gia bảo hiểm thu hoạch không đạt sản lượng của năm không bị thiệt hại vì tai nạn rủi ro bảo hiềm rủi ro trong thời kỳ thu hoạch, doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường phần tổn thất

đó Vì khó đánh giá một cách chính xác sản lượng thu hoạch, nên nếu doanh nghiệp ấn định số tiền bảo hiểm quá cao, sẽ gây rủi ro về đạo đức nên thường hay bảo hiểm dưới giá trị, người tham gia bảo hiểm phải tự gánh chịu một phần trách nhiệm về rủi ro tổn thất đã xảy ra (Nguyễn Văn Định, 2008)

Từ việc phân tích khái niệm bảo hiểm ở nhiều góc độ khác nhau, xét khái quát, BHNN được định nghĩa là phương pháp chuyển giao rủi ro được thực hiện qua hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp, trong đó bên mua bảo hiểm (bao gồm: Các hộ nông dân, ngư dân, chủ trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp, thủy sản) chấp nhận trả phí bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm cam kết phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được

Trang 26

bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm trong lĩnh vực nông nghiệp theo luật định (Nguyễn Văn Định, 2008)

2.2.3 Phân loại bảo hiểm nông nghiệp

Theo Nguyễn Văn Định (2008), Bảo hiểm nông nghiệp thường phân loại thành bảo hiểm cây trồng, bảo hiểm vật nuôi và bảo hiểm thuỷ sản

* Bảo hiểm cây trồng

- Đối tượng và phạm vi bảo hiểm

+ Đối tượng của cây trồng có thể là bản thân cây trồng trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển hoặc cũng có thể là sản phẩm cuối cùng do cây trồng đem lại tùy theo mục đích trồng trọt Vì thế có thể chia ra:

Đối với cây hàng năm: đối tượng bảo hiểm là sản lượng thu hoạch, thời gian tính từ lúc gieo trồng đến khi thu hoạch xong sản phẩm

Đối với cây lâu năm: đối tượng bảo hiểm là giá trị các loại cây đó hoặc sản lượng từng năm của mỗi loại cây, thời gian có thể kéo dài một năm, sau đó tái tục qua các năm

Đối tượng vườn ươm: đối tượng bảo hiểm là giá trị cây trồng trong suốt thời gian ươm giống đến khi nhổ đi trồng nơi khác, thời gian bắt đầu từ lúc gieo trồng đến khi cây đủ tuổi nhổ đi trồng nơi khác

+ Phạm vi bảo hiểm: trong quá trình sinh trưởng và phát triển, cây trồng thường gặp nhiều rủi ro khác nhau Khi triển khai bảo hiểm, các công ty bảo hiểm thường tiến hành một hay một số loại rủi ro nhất định, những rủi ro còn lại đặc biệt là những rủi ro mang tính kinh tế, xã hội sẽ được giải quyết bằng các chính sach kinh tế

xã hội của Nhà nước

- Phương pháp tính phí bảo hiểm cây trồng (Nguyễn Văn Định, 2008)

Phí bảo hiểm cây trồng bao gồm phí bồi thường tổn thất (phí thuần) và phần phụ phí Công thức tính phí: P = f + d

Trong đó: P : phí bảo hiểm cây trồng

f: Phí thuần d: Phụ phí

* Bảo hiểm chăn nuôi

- Đối tượng và phạm vi bảo hiểm

+ Đối tượng bảo hiểm trong chăn nuôi: là các sản phẩm chăn nuôi và các loại vật nuôi Đối với vật nuôi là tài sản cố định thường bảo hiểm từng con, còn đối với

Trang 27

vật nuôi thường bảo hiểm cả đàn là vật nuôi lưu động nhưng được nuôi dưỡng trong thời gian ngắn

+ Thời hạn bảo hiểm: thường là 1năm hoặc là toàn bộ chu kỳ sản xuất Nếu là toàn bộ chu kỳ sản xuất thì nó sẽ được bắt đầu từ khi vật nuôi được chuyển thành tài sản cố định đến khi kết thúc chu kỳ sản xuất

+ Phạm vi bảo hiểm: Trong chăn nuôi thường gặp rất nhiều rủi ro, có cả rủi ro khách quan có cả rủi ro chủ quan…Tuy nhiên chỉ có những rủi ro thông thường sau đây mới được bảo hiểm

Thiệt hại do thiên tai, lũ lụt gây ra

Bệnh dịch bao gồm cả những bệnh truyền nhiễm và những bệnh không truyền nhiễm

Buộc phải giết mổ để đề phòng lây lan Hoặc là khi vật bị đau ốm không thể tiếp tục nuôi dưỡng và sử dụng được

Và một số rủi ro khác như: các động vật ăn thịt đánh cắn lẫn nhau, hoặc bị tai nạn giao thông, hoả hoạn

+ Giá trị bảo hiểm và chế độ bảo hiểm (Nguyễn Văn Định, 2010):

Đối với súc vật vỗ béo và lấy thịt, giá trị bảo hiểm thường là giá trị xuất chuồng bình quân một số năm trước đó nhằm loại trừ những yếu tố ngẫu nhiên ảnh hưởng

Trồng trọt và chăn nuôi đều áp dụng các chế độ bảo hiểm khác nhau nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm, làm giảm phí và phù hợp với tình hình tổ chức và quản lý của công ty bảo hiểm

+ Phương pháp xác định phí bảo hiểm chăn nuôi (Nguyễn Văn Định, 2010): Khi tiến hành bảo hiểm các sản phẩm chăn nuôi, thì công tác tính phí giống như xác định phí bảo hiểm cho cây trồng hàng năm Tuy nhiên ở đây, chỉ giới hạn trong phạm

vi xác định phí bảo hiểm theo đầu con gia súc,gia cầm

Phí bảo hiểm theo đầu con đối với từng loại súc vật thường được tính theo công thức sau:

p f1 f 2 f3 f 4

f1 : phí bồi thường thiệt hại f2 : phí đề phòng hạn chế tổn thất f3 : phí dự trữ dự phòng

Trang 28

f 4: : phí quản lý và lãi dự kiến

Trong đó cách tính phí bồi thường thiệt hại được xác định như sau:

t : trọng lượng bình quân 1 con vật nuôi trước khi bị chết, bị thải loại, tai nạn

năm i thuộc phạm vi bảo hiểm

pi : giá bình quân 1 đơn vị sản phẩm vật nuôi trước khi bị thải loại, tai nạn,

chết năm i

 Thực hiện triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp theo Quyết định 315/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ triển khai 3 loại bảo hiểm chính, đó là bảo hiểm cây lúa, bảo hiểm vật nuôi và bảo hiểm thủy sản

* Bảo hiểm cây lúa

- Mục Đích Bảo hiểm này là nhằm hỗ trợ cho Người sản xuất nông nghiệp chủ động khắc phục và bù đắp thiệt hại tài chính do hậu quả của thiên tai, dịch bênh gây ra, góp phần đảm bảo ổn định, an sinh xã hội nông thôn, thúc đầy sản xuất nông nghiệp

- Người được bảo hiểm là các hộ nông dân/tổ chức trồng lúa tại địa bàn xã đã đăng ký tham gia bảo hiểm và có quyền lợi hợp pháp đối với cây lúa trên Diện tích lúa được bảo hiểm

- Đối tượng được bảo hiểm: Cây lúa nước được trồng trọt theo đúng quy trình hướng dẫn được Bộ NN&PTNT ban hành hoặc Quy trình của Sở NN&PTNT được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt (Thông tư số 47/2011/TT – BNNPTNT & 43/2012/TT-BNNPTNT)

- Rủi ro được bảo hiểm và bồi thường bảo hiểm:

Thiên tai: bão, lũ, lụt, hạn hán, rét đậm, rét hại, sương giá xâm nhập mặn, sóng thần, giông, lốc xoáy theo công bố thiên tai của cơ quan chức năng có thẩm quyền Dịch bệnh: Bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá, lùn sọc đen, đạo ôn, bạc lá; dịch rầy nâu, sâu đục thân; theo công bố dịch bệnh hoặc xác nhận dịch bệnh của cơ quan chức năng có thẩm quyền

- Số tiền bảo hiểm là giá trị bằng tiền Việt Nam được bảo hiểm theo từng vụ

Trang 29

Phương thức Tính toán số tiền bồi thường:

Chi phí gieo cấy do hậu quả thiên tai, dịch bệnh được bảo hiểm:

Số tiền bồi thường = số tiền bảo hiểm * 5%

Tổn thất thu hoạch do hậu quả thiên tai, dịch bệnh được bảo hiểm:

diện tích lúa được bảo hiểm

* Bảo hiểm vật nuôi

- Mục Đích Bảo hiểm: Sản phẩm này được thiết kế nhằm hỗ trợ cho Người chăn nuôi gia súc/gia cầm chủ động khắc phục và bù đắp thiệt hại tài chính do hậu quả của thiên tai, dịch bênh gây ra, góp phần đảm bảo ổn định, an sinh xã hội nông thôn, thúc đầy sản xuất/chăn nuôi

- Người được bảo hiểm: là hộ nông dân/tổ chức chăn nuôi thuộc địa bàn triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp tại các tỉnh Hà Nội, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Định, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Nghệ An, Thanh Hóa

- Đối tượng được bảo hiểm:

Trâu, bò sữa, bò thịt, lợn thịt, lợn nái, gà thịt, gà đẻ, vịt thịt, vịt đẻ

Đối với trâu, bò: bệnh lở mồm long móng, tụ huyết trùng, nhiệt thán;

Đối với lợn: bệnh tai xanh, bệnh lở mồm long móng, đóng dấu, phó thương hàn, tụ huyết trùng; dịch tả;

Đối với gà, vịt: Bệnh cúm gia cầm, Niu-cát-xơn (Newcastle), gumboro, dịch tả (vịt) Các loại dịch bệnh trên được công bố dịch bệnh hoặc xác nhận dịch bệnh của cơ qua chức năng có thẩm quyền

- Thời hạn bảo hiểm:

Nông dân sẽ được bồi thường nếu vật nuôi chết trong thời hạn bảo hiểm này với quy định cụ thể:

+ Trâu, bò: 01 năm;

Trang 30

+ Lợn thịt: Từ 02 tháng tuổi đến khi xuất chuồng và không vượt quá 06 tháng tuổi + Lợn nái, đực giống: 01 năm;

+ Gà thịt, vịt thịt: Từ 02 tuần tuổi đến hêt chu kỳ nuôi tùy theo từng loại

+ Gà đẻ, vịt đẻ: từ 2 tuần tuổi đển 60 tuần tuổi

* Bảo hiểm thủy sản

Người được bảo hiểm sẽ được bồi thường chi phí nuôi trồng Tôm/Cá theo tỷ lệ bồi thường đối với các tổn thất do các nguyên nhân trực tiếp sau:

Tôm sú, Cá tra/cá Basa bị mắc dịch bệnh do cơ quan chức năng liên quan công bố Tôm/Cá chết hàng loạt và/hoặc mất trắng do thiên tai do cơ quan chức năng liên quan công bố

Công ty bảo hiểm sẽ không bồi thường trong vòng 10 ngày kể từ ngày thả con giống Sau 3 năm triển khai thí điểm, bảo hiểm nông nghiệp đã đóng góp một phần rất quan trọng trong việc san sẻ rủi ro hàng năm cho ngành thủy sản, tuy nhiên do có quá nhiều vấn đề phát sinh nên từ năm 2013 các công ty bảo hiểm đã ngừng triển khai bảo hiểm thủy sản Nguyên nhân được cho rằng chính sách đối với loại hình bảo hiểm phức tạp này cần tiếp tục hoàn thiện, bởi sau khi thẩm định, doanh nghiệp bảo hiểm đã nhận thấy nguy cơ rủi ro quá lớn, không kiểm soát được rủi ro trong sản xuất và có các hành vi trục lợi bảo hiểm

2.2.4 Vai trò của bảo hiểm nông nghiệp

Nông nghiệp là một lĩnh vực rất nhiều rủi ro mang tính khách quan và gây thiệt hại có tính hệ thống để lại hậu quả nghiêm trọng Chính vì vậy bảo hiểm nông nghiệp

là một yêu cầu cần thiết và có một ý nghĩa to lớn đối với nền kinh tế quốc dân

BHNN giúp khôi phục và duy trì năng lực tài chính ổn định, giảm bớt nỗi lo âu

về tinh thần của người dân thông qua hoạt động chi trả bồi thường, góp phần bảo vệ an toàn các loại tài sản và quá trình sản xuất nông nghiệp, góp phần ổn định cuộc sống cho hàng triệu người dân cùng một lúc, ổn định giá cả trên thị trường tự do, đặc biệt là giá cả một trong những mặt hàng thiết yếu nhất là lương thực và thực phẩm

BHNN có khả năng làm giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước và nâng cao hiệu quả của việc phân bổ các nguồn lực trong xã hội Trong nhiều trường hợp, với các tổn thất lớn, diễn ra trên diện rộng thì các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ không đủ khả năng thanh toán và có thể bị phá sản Do vậy, để bảo hiểm giảm bớt mức độ thiệt hại, giảm bớt sự tài trợ của ngân sách nhà nước và tạo quyền chủ động trong việc đề

Trang 31

phòng, hạn chế tổn thất thì việc tham gia BHNN của người dân ở khu vực nông thôn là rất cần thiết (Bộ Tài Chính, 2013)

Những năm gần đây, Nhà nước đã coi BHNN như là một bộ phận trong chiến lược phát triển nông thôn Việc thực hiện thí điểm BHNN được triển khai theo Quyết định 315/QĐ-TTg với sự tham gia hỗ trợ và quản lý của nhà nước đã tạo điều kiện phát huy tối đa vai trò của BHNN giúp nông dân an tâm phát triển sản xuất cũng như phát triển nền kinh tế đất nước

2.3 Các chủ thể trong hoạt động triển khai thí điểm BHNN và hợp đồng BHNN 2.3.1 Các chủ thể trong hoạt động triển khai thí điểm BHNN

2.3.1.1 Doanh nghiệp bảo hiểm triển khai thí điểm BHNN

Đặc điểm, điều kiện của doanh nghiệp bảo hiểm triển khai thí điểm BHNN

Doanh nghiệp triển khai thí điểm BHNN là doanh nghiệp bảo hiểm có triển khai nghiệp vụ BHNN và có đăng ký thực hiện việc triển khai thí điểm BHNN theo Quyết

định số 315/QĐ-TTg

Theo quy định tại khoản 8 Điều 1 Quyết định số 315/QĐ-TTg và Điều 3 Thông

tư số 121/2011/TT-BTC các điều kiện để doanh nghiệp bảo hiểm đăng ký triển khai BHNN gồm:

Thứ nhất, doanh nghiệp bảo hiểm phải kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ

BHNN thuộc loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, theo đó, doanh nghiệp phải được cấp giấy phép thành lập và hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ

Thứ hai, doanh nghiệp đó phải đáp ứng khả năng thanh toán theo quy định của

Luật Kinh doanh bảo hiểm Tại Khoản 1, Điều 16 Nghị định số 46/2007/NĐ-CP có nêu rõ: Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm có biên khả năng thanh toán tối thiểu phải lớn hơn 25% tổng phí bảo hiểm thực giữ lại tại thời điểm tính biên khả năng thanh toán hoặc lớn hơn 12,5 % của tổng phí bảo hiểm gốc và phí nhận tái bảo hiểm tại thời điểm tính biên khả năng thanh toán Với doanh nghiệp có triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp có thể đảm bảo cho những rủi ro rất lớn, trong một thời gian ngắn, mang tính chất thí điểm tiên phong và không có tính chất lợi nhuận thì doanh nghiệp bảo hiểm phải đảm bảo khả năng chi trả là tuyệt đối

Thứ ba, doanh nghiệp bảo hiểm phải có hệ thống công ty, chi nhánh, văn phòng

giao dịch tại địa bàn triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp Quy định này nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bảo hiểm có thể tiếp cận và tìm hiểu trực tiếp tại các

Trang 32

địa bàn thí điểm, đồng thời tuyên truyền những thông tin về bảo hiểm nông nghiệp đến người tham gia, nhanh chóng, kịp thời bồi thường, hỗ trợ cho người tham gia khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra nhằm tạo tâm lý yên tâm cho họ tiếp tục tham gia sản xuất và tin tưởng vào việc tham gia bảo hiểm nông nghiệp

Thứ tư, doanh nghiệp bảo hiểm cần phải có đội ngũ nhân viên làm bảo hiểm

nông nghiệp Do tính chất công việc bảo hiểm nông nghiệp quá rộng tại những địa bàn nông thôn, vùng xa nên cần một nguồn nhân lực am hiểu nhất định về lĩnh vực này và

có tổ chức nhân viên đảm bảo việc triển khai bảo hiểm đạt được hiệu quả cao

Trong đợt triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp theo đăng kí của các doanh nghiệp bảo hiểm, Bộ Tài chính đã ra Quyết định số 2174/QĐ-BTC ngày 9/9/2011và Quyết định số 2175/QĐ-BTC ngày 9/9/2011 cho công ty Bảo Việt và công ty Bảo Minh thực hiện thí điểm

- Thủ tục đăng ký triển khai thí điểm BHNN của doanh nghiệp bảo hiểm

Theo quy định tại Điều 4 Thông tư 121/2011/TT-BTC thì hồ sơ đăng ký triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện tới Bộ Tài chính gồm:

Một là, văn bản đề nghị được triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp theo

mẫu quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư 121/2011/TT-BTC Quy định này thể hiện sự tự nguyện của các doanh nghiệp bảo hiểm khi tham gia chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp vì doanh nghiệp tự đánh giá khả năng của doanh nghiệp của mình hoặc tự nâng cao hiệu quả kinh doanh đáp ứng đủ điều kiện như quy định của pháp luật Đồng thời, thông qua việc điền đầy đủ thông tin theo mẫu đăng ký tham gia thí điểm bảo hiểm nông nghiệp như thông tin về tên doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, giấy phép thành lập và hoạt động, vốn điều lệ, địa bàn đăng ký triển khai thí điểm, đối tượng được bảo hiểm, các sản phẩm bảo hiểm đăng ký triển khai thí điểm (nêu cụ thể từng sản phẩm)… cơ quan có thẩm quyền sẽ dựa vào đó lựa chọn được những doanh nghiệp có khả năng nhất và các sản phẩm đăng ký triển khai thí điểm thích hợp nhất cho lần triển khai thí điểm này Sự lựa chọn này còn đảm bảo được khả năng kiểm tra, quản lý của Nhà nước đối với doanh nghiệp triển khai bảo hiểm nông nghiệp, tránh triển khai tràn lan và khó quản lý dẫn đến thất bại như những đợt triển khai bảo hiểm nông nghiệp ở nước ta từ trước đến nay

Hai là, tài liệu chứng minh đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 3 Thông tư

số 121/2011/TT-BTC bao gồm:

Trang 33

- Được cấp giấy phép thành lập và hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ Trong đó, Chủ tịch Hội đồng Quản trị (Hội đồng thành viên) hoặc Tổng Giám đốc (Giám đốc) hoặc Phó Tổng Giám đốc (Phó Giám đốc) có kinh nghiệm triển khai bảo hiểm nông nghiệp

- Đáp ứng biên khả năng thanh toán theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm

- Có hệ thống công ty, chi nhánh, văn phòng giao dịch tại địa bàn triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp;

- Có phương án bố trí đội ngũ nhân viên làm bảo hiểm nông nghiệp

Ba là, phương án kinh doanh trong 3 năm triển khai thí điểm bảo hiểm nông

nghiệp, trong đó nêu rõ:

Các sản phẩm bảo hiểm dự kiến triển khai, kèm theo quy tắc, điều khoản, biều phí bảo hiểm, quy trình khai thác, giám định, bồi thường; quy trình kiểm soát nội bộ; quy trình quản lý rủi ro, quản lý chương trình tái bảo hiểm; công thức, phương pháp và giải trình cơ sở tính phí, dự phòng nghiệp vụ của sản phẩm bảo hiểm dự kiến triển khai; xác định cụ thể mức trách nhiệm bảo hiểm, bồi thường bảo hiểm đối với sản phẩm bảo hiểm

- Tài liệu có liên quan bao gồm: mẫu giấy yêu cầu bảo hiểm, tài liệu giới thiệu yêu cầu bảo hiểm, tài liệu giới thiệu sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp bảo hiểm, tài liệu minh họa bán hàng, các mẫu hợp đồng bảo hiểm kê khai và ký vào khi mua bảo hiểm Các tài liệu này là một bộ phận của hợp đồng bảo hiểm

- Địa bàn dự kiến triển khai thí điểm, trong đó giải trình cụ thể về mạng lưới khai thác dự kiến triển khai (hệ thống chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh, kênh phân phối), nhân sự đáp ứng yêu cầu triển khai bảo hiểm tới từng xã tại địa bàn đăng ký triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp

- Dự kiến doanh thu, chi phí của từng sản phẩm dự kiến triển khai đối với từng đối tượng được bảo hiểm

Bốn là, chương trình tái bảo hiểm theo quy định của pháp luật hiện hành Doanh

nghiệp đăng ký triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp tuân thủ các bước sau:

Bước 1: Doanh nghiệp gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện, hồ sơ đăng ký

triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp tới Bộ Tài chính

Bước 2: Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ theo

quy định, Bộ Tài chính có văn bản trả lời về việc chấp thuận hoặc từ chối chấp thuận

Trang 34

đề nghị của doanh nghiệp bảo hiểm Trong trường hợp chấp thuận, Bộ Tài chính ban hành Quyết định phê chuẩn doanh nghiệp bảo hiểm triển khai thí điểm đồng thời thông báo cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi dự kiến triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp về doanh nghiệp bảo hiểm và các sản phẩm bảo hiểm dự kiến triển khai thí điểm tại địa bàn Trong trường hợp từ chối, Bộ Tài chính có văn bản nêu rõ lý do

Bước 3: Công bố thông tin hoạt động thí điểm bảo hiểm nông nghiệp Trong

thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản chấp thuận của Bộ Tài chính, doanh nghiệp bảo hiểm phải đăng báo hàng ngày của báo trung ương và báo địa phương nơi doanh nghiệp triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp trong 5 số báo liên tiếp về những nội dung công bố thông tin dưới đây:

- Tên, địa chỉ trụ sở chính, trụ sở Chi nhánh, Văn phòng đại diện, Văn phòng giao dịch (địa điểm kinh doanh) tại địa bàn dự kiến triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp;

- Địa bàn triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp, đối tượng được bảo hiểm, các sản phẩm bảo hiểm dự kiến triển khai;

- Họ, tên của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp;

- Hệ thống phân phối sản phẩm của doanh nghiệp bảo hiểm

Đây là những thông tin mà doanh nghiệp cần phải công bố rộng rãi trên phương tiện thông tin đại chúng để cho những cơ quan chức năng dễ dàng sát, kiểm tra và báo cáo trong quá trình doanh nghiệp tham gia triển khai thí điểm Đặc biệt, công bố rộng rãi sẽ thu hút sự quan tâm, tìm hiểu, tham gia của các đối tượng tham gia bảo hiểm nông nghiệp theo quy định của pháp luật

Khi thay đổi địa bàn đăng ký triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp, sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp (bao gồm đối tượng bảo hiểm), doanh nghiệp bảo hiểm phải được sự chấp thuận bằng văn bản của Bộ Tài chính Khi thay đổi thì doanh nghiệp bảo hiểm phải gửi hồ sơ đề nghị thay đổi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện tới

Bộ Tài chính theo quy định tại Điều 7 Thông tư 121/2011/TT-BTC

Nhìn chung, quy định về thủ tục đăng ký triển khai bảo hiểm nông nghiệp dành cho doanh nghiệp rất đầy đủ, cụ thể, phù hợp với mục tiêu quản lý của Nhà nước, đảm bảo việc quản lý, giám sát hoạt động triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp được chặt chẽ và đạt hiệu quả cao nhất

Trang 35

2.3.1.2 Bên mua bảo hiểm nông nghiệp

- Điều kiện và đặc điểm của bên tham gia bảo hiểm nông nghiệp

Với tinh thần chung của Quyết định 315/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khi triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp là nhằm hỗ trợ cho người sản xuất nông nghiệp nên bên mua bảo hiểm nông nghiệp sẽ được hưởng chính sách hỗ trợ của Nhà nước về phí bảo hiểm khi đáp ứng các điều kiện được hỗ trợ thí điểm như quy định

Thứ nhất, tại khoản 5 Điều 1 Quyết định 315/2011/QĐ-TTg chỉ rõ tổ chức, cá

nhân thuộc đối tượng được hỗ trợ thí điểm bảo hiểm là các hộ nông dân, ngư dân, chủ trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp, thủy sản trên địa bàn thực hiện thí điểm đó là:

- Trồng lúa tại các tỉnh: Nam Định, Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Thuận, An Giang, Đồng Tháp

- Chăn nuôi trâu, bò, lợn, gia cầm tại các tỉnh: Bắc Ninh, Nghệ An, Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Thanh Hóa, Bình Định, Bình Dương và Hà Nội

- Nuôi trồng thủy sản cá tra, cá ba sa, tôm sú, tôm chân trắng tại các tỉnh: Bến Tre, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau

Thứ hai, tổ chức, cá nhân tham sản xuất nông nghiệp tham gia thí điểm phải có

quyền lợi được bảo hiểm Đây chính là những quyền lợi được thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm khi họ tham gia ký kết với doanh nghiệp bảo hiểm Và những quyền lợi trong hợp đồng này phải được thỏa thuận trong khuôn khổ của pháp luật về bảo hiểm nông nghiệp

Thứ ba, tổ chức, cá nhân tham gia thí điểm bảo hiểm nông nghiệp và đóng phí

bảo hiểm thuộc phần trách nhiệm của mình Tức là những đối tượng này phải tham gia trong chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011-2013 này và ngoại trừ phần hỗ trợ phí bảo hiểm từ phía Nhà nước đối với các đối tượng được hỗ trợ thì

họ phải đóng phí bảo hiểm thuộc phần trách nhiệm của mình

Theo Quyết định 315/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, phí bảo hiểm sẽ được Nhà nước hỗ trợ tùy theo đối tượng như sau: hộ nông dân, cá nhân nghèo sản xuất

nông nghiệp tham gia thí điểm được hỗ trợ 100% phí bảo hiểm; “hộ nông dân, cá nhân

cận nghèo sản xuất nông nghiệp tham gia thí điểm được hỗ trợ 90% phí bảo hiểm

“(Khoản 1, Điều 1 Quyết định số 358/QĐ-TTg, sửa đổi mức hỗ trợ từ 80% phí bảo hiểm lên 90% phí bảo hiểm cho hộ nông dân, cá nhân cận nghèo sản xuất nông

Trang 36

nghiệp tham gia thí điểm bảo hiểm nông nghiệp.); hộ nông dân, cá nhân không thuộc diện nghèo, cận nghèo sản xuất nông nghiệp tham gia thí điểm được hỗ trợ 60% phí bảo hiểm; với tổ chức sản xuất nông nghiệp tham gia thí điểm bảo hiểm nông nghiệp được hỗ trợ 20% phí bảo hiểm

Thứ tư, khi tham gia thí điểm bảo hiểm nông nghiệp, các cá nhân, tổ chức phải

thực hiện sản xuất, canh tác, chăn nuôi, nuôi trồng, phòng dịch theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Ngoài việc quy định như vậy để cơ quan bảo hiểm có sơ sở để đền bù, người nông dân chống được rủi ro thì nó còn hướng dẫn, thúc đẩy họ sản xuất theo quy trình để qua đó ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đạt năng suất chất lượng cao hơn, sạch hơn, có thể dễ dàng bán ở thị trường trong nước cũng như xuất khẩu, tăng lợi ích cho chính những người sản xuất

- Đăng kí tham gia thí điểm bảo hiểm nông nghiệp

Theo quy định của Chính phủ, Ủy ban nhân dân mỗi tỉnh sẽ lập Ban chỉ đạo về bảo hiểm nông nghiệp thực hiện công tác chỉ đạo triển khai bảo hiểm nông nghiệp ở địa phương, phối hợp và báo cáo về các Bộ, ngành có liên quan Bên cạnh đó là công tác phối hợp với doanh nghiệp bảo hiểm để ban hành các quy trình kỹ thuật trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng đối với đối tượng được bảo hiểm, đồng thời công bố, xác nhận dịch bệnh, thiên tai được bảo hiểm Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận đối tượng tham gia bảo hiểm, đối tượng được bảo hiểm Việc đăng ký tham gia thí điểm bảo hiểm nông nghiệp được thực hiện như sau:

Bước 1: Tỉnh thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp thực hiện đăng ký bằng

văn bản với Bộ Tài chính và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo mẫu tại Phụ lục 11 ban hành kèm theo Thông tư 121/2011/TT-BTC Giấy đăng ký tham gia bảo hiểm phải ghi rõ đối tượng tham gia bảo hiểm là cây lúa, vật nuôi hoặc thủy sản; rủi ro được bảo hiểm được quy định cụ thể với từng loại đối tượng và địa bàn tham gia bảo hiểm theo đơn vị xã, huyện được lựa chọn trong tỉnh theo nguyên tắc tại điều 6 Quyết định 315 QĐ-TTg cụ thể như sau:

Thứ nhất, mỗi tỉnh lựa chọn địa bàn thí điểm bảo hiểm nông nghiệp phải có quy

mô sản xuất mang tính đại diện cho đối tượng được bảo hiểm của địa phương Các địa phương được chọn làm nơi thí điểm phải có diện tích sản xuất nông nghiệp với quy mô lớn, tập trung, không sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, sản xuất thường theo quy trình, kỹ thuật của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và của đội ngũ khuyến nông địa phương Đồng thời, các vùng được lựa chọn thí điểm đều có trình độ dân trí cao, người

Trang 37

dân quen với việc sản xuất tập trung, theo quy trình, không tùy tiện Họ thường xuyên được tập huấn các quy trình, kỹ thuật sản xuất hiệu quả

Thứ hai, các huyện, xã được lựa chọn phải đảm bảo tính đại diện, hợp lý trong

khu vực; thuận lợi cho việc sơ kết, tổng kết, đánh giá, giám sát, rút kinh nghiệm và nhân rộng Khi các tỉnh lựa chọn địa phương tham gia thí điểm phỉa đảm bảo tính cân đối giữa các địa phương, căn cứ theo khí hậu, thời tiết và trình độ sản xuất vùng ở đó

mà lựa chọn khu vực thí điểm cho phù hợp và đạt hiệu quả cao nhất Đặc biệt, các cơ quan chức năng trong phạm vi quản lý của mình phải thường xuyên theo dõi, giám sát chặt chẽ việc thực hiện thí điểm Sau khi hoàn thành đợt thí điểm phải tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm giai đoạn thực hiện thí điểm

Thứ ba, đảm bảo nguyên tắc số đông bù số ít Đó là việc phân chia tổn thất của

một hoặc một số người cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu Doanh nghiệp bảo hiểm mong muốn có số đông nông dân tham gia để có thể hạch toán bù cho

số ít bị thiết hại

Thứ tư, phù hợp với chính sách phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn

của Nhà nước Việc lựa chọn địa bàn triển khai thí điểm phải phù hợp với chính sách phát triển chung của Đảng và Nhà nước, đảm bảo phát triển bền vững, hiệu quả

Trên cơ sở nguyên tắc chọn địa bàn thí điểm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 47/2011/TT-BNNPTNT được sửa đổi bởi Thông

tư số 43/2012/TT-BNNPTNT, đưa ra tiêu chí về quy mô địa bàn và quy mô sản xuất

để được chọn thực hiện thí điểm như sau:

+ Đối với quy mô và địa bàn sản xuất lúa nước: Mỗi tỉnh chọn 03 huyện; quy

mô bảo hiểm toàn huyện đối với các vùng chuyên sản xuất lúa nước ở các vụ sản xuất lúa chính: Đông- Xuân, Mùa, Hè- Thu Đáp ứng về cơ sở hạ tầng vùng sản xuất lúa nước như có đường giao thông thuận tiện; hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng sản xuất, thu hoạch lúa trong điều kiện thời tiết bình thường tại địa phương

+ Đối với chăn nuôi: mỗi tỉnh chọn 3 huyện, mỗi huyện chọn 3 xã trở lên; quy

mô bảo hiểm toàn xã Về quy mô chăn nuôi, đối với các hộ chăn nuôi trâu, bò (thịt, cày kéo, sinh sản), bò sữa bằng hình thức nuôi nhốt hoặc chăn thả có kiểm soát (không

áp dụng đối với trâu, bò thả rông) có từ 01 con trở lên; đối với chăn nuôi lợn (thịt, nái, đực giống) các hộ chăn nuôi có số lượng lợn thịt từ 02 con/lứa trở lên; lợn nái có từ 01 con trở lên; lợn đực giống có từ 01 con trở lên; đối với chăn nuôi gà, vịt (thịt, đẻ) tổng đàn có từ 200 con trở lên đối với gà, vịt thịt và quy mô từ 100 con đối với gà, vịt đẻ

Trang 38

+ Đối với thủy sản nuôi: mỗi tỉnh chọn 03 huyện, mỗi huyện chọn 03 xã trở lên, quy mô bảo hiểm toàn xã

Bước 2 Ủy ban nhân dân cấp xã được lựa chọn phối hợp với doanh nghiệp bảo

hiểm tuyên truyền bảo hiểm nông nghiệp với người dân, tổ chức triển khai bảo hiểm

và cử ra đại diện chủ hợp đồng bảo hiểm Đại diện chủ hợp đồng bảo hiểm có thể là người được bảo hiểm hoặc đại diện do người được bảo hiểm ủy quyền, được sự chấp thuận của Ủy ban nhân dân xã Đại diện cho người được bảo hiểm có thể là cán bộ chính quyền xã, người đứng đầu các tổ chức xã hội, nghề nghiệp trong xã

Đồng thời, đối với tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc diện được hỗ trợ sẽ có đơn tự nguyện, cam kết tham gia thí điểm bảo hiểm nông nghiệp và phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về đối tượng tham gia bảo hiểm (hộ nông dân thuộc diện nghèo, cận nghèo; hộ nông dân không thuộc diện nghèo, cận nghèo; tổ chức sản xuất nông nghiệp), đối tượng được bảo hiểm (cây lúa, vật nuôi, thủy sản) tại địa bàn xã theo mẫu quy định tại phụ lục 12, 19, 26 ban hành kèm theo Thông tư 121/2011/TT-BTC gửi đến đại diện chủ hợp đồng bảo hiểm hoặc ủy ban nhân dân xã

để đại diện chủ hợp đồng bảo hiểm sẽ lập danh sách hộ tham gia bảo hiểm và gửi đến đại lý bảo hiểm nông nghiệp tại địa phương Sau đó cá nhân tổ chức sẽ kê khai giấy yêu cầu bảo hiểm (theo mẫu), đóng phí bảo hiểm dựa trên cơ sở hợp đồng bảo hiểm được đại diện chủ hợp đồng ký giao kết Doanh nghiệp bảo hiểm sẽ cấp giấy chứng nhận bảo hiểm dựa trên hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết và giấy yêu cầu bảo hiểm của tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp

Như vậy, cá nhân, tổ chức tham gia bảo hiểm sẽ được doanh nghiệp bảo hiểm cấp giấy chứng nhận bảo hiểm thay vì ký hợp đồng bảo hiểm với từng trường hợp riêng lẻ, hợp đồng bảo hiểm sẽ được đại diện chủ hợp hợp đồng bảo hiểm ký kết với doanh nghiệp bảo hiểm Giấy chứng nhận bảo hiểm và hợp đồng bảo hiểm là bằng chứng cho sự giao kết của các bên, tuy nhiên quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên cũng như các nội dung liên quan sẽ được cụ thể trong hợp đồng bảo hiểm

2.3.2 Hợp đồng bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm là căn cứ quan trọng quy định quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm theo thỏa thuận của hai bên Điều 12, khoản 1, 2 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định: “Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải

Trang 39

đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”

- Chủ thể của hợp đồng bảo hiểm

Chủ thể trong hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp bao gồm bên bảo hiểm và bên được bảo hiểm Bên bảo hiểm là doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm có kinh doanh sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp Tuy nhiên, doanh nghiệp bảo hiểm này phải đáp ứng đầy

đủ điều kiện mà luật quy định khi tham gia kinh doanh bảo hiểm nông nghiệp Bên được bảo hiểm là người tham gia bảo hiểm hay nói cách khác là bên mua bảo hiểm bao gồm: các hộ nông dân, ngư dân, chủ trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp, thủy sản

+ Bên bảo hiểm

Bên bảo hiểm là bên nhận phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm và chấp nhận rủi ro bảo hiểm về phía mình Theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm thì bên nhận bảo hiểm chỉ có thể là một tổ chức có tư cách pháp nhân và được phép hoạt động kinh doanh bảo hiểm, được gọi là doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm này phải đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh bảo hiểm nông nghiệp Về doanh nghiệp bảo hiểm được thực hiện thí điểm: Bộ Tài chính đã quy định điều kiện

để các doanh nghiệp bảo hiểm được thực hiện thí điểm Theo đăng ký của các doanh nghiệp bảo hiểm, Bộ Tài chính trước mắt đã có quyết định cho Bảo Việt, Bảo Minh thực hiện

+ Bên tham gia bảo hiểm

Bên tham gia bảo hiểm là tổ chức, cá nhân đứng ra yêu cầu bảo hiểm và giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nông nghiệp Bên tham gia bảo hiểm phải nộp cho bên bảo hiểm một khoản tiền là phí bảo hiểm Khác với bên bảo hiểm, bên tham gia bảo hiểm có thể là bất kỳ tổ chức, cá nhân nào khi có nhu cầu tham gia bảo hiểm Tuy nhiên, đối với bảo hiểm nông nghiệp trong đợt thí điểm này thì có phần hạn chế đối tượng tham gia vì đây chỉ mới là chương trình thí điểm nên đối tượng tham gia phải thuộc các địa bàn, khu vực được chọn triển khai thí điểm và chỉ được bảo hiểm cho một số đối tượng nhất định như cây lúa, trâu, bò, bò sữa, cá tra, tôm sú, tôm thẻ chân trắng Nếu bên tham gia bảo hiểm là cá nhân thì phải có đủ năng lực hành vi dân sự Năng lực hành vi dân sự là khả năng tự có của chủ thể trong việc thực hiện kiểm soát và làm chủ hành vi của mình

Trang 40

- Đối tượng bảo hiểm và phạm vi bảo hiểm

Bảo hiểm nông nghiệp có đối tượng bảo hiểm là các loại cây trồng, vật nuôi, thủy hải sản và các sản phẩm nông nghiệp khác Trong đợt thí điểm bảo hiểm nông nghiệp theo Quyết định số 315/QĐ-TTg doanh nghiệp bảo hiểm sẽ triển khai 3 loại bảo hiểm: bảo hiểm cây lúa theo chỉ số năng suất, bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểm tôm/cá Phạm vi thực hiện thí điểm ở 21 tỉnh (thành phố) trên cả nước và với mỗi tỉnh (thành phố) chỉ được bảo hiểm một vài đối tượng bảo hiểm nhất định (trừ tỉnh Nghệ An)

Tại Điều 1, Điều 3 Thông tư số 47/2011/TT-BNNPTNT được sửa đổi, bổ sung ở điểm 1, điểm 2 Điều 1 Thông tư số 43/2012/TT-BNNPTNT và Quyết định

số 3035/QĐ-BTC được sửa đổi bổ sung bởi Quyết định số 2114/QĐ-BTC quy định rõ về đối tượng và phạm vi bảo hiểm nông nghiệp như sau:

• Đối với bảo hiểm cây lúa theo chỉ số năng suất:

Đối tượng bảo hiểm là cây lúa (nước) mà cụ thể là năng suất thu hoạch lúa được trồng trên một đơn vị diện tích trên đơn vị diện tích được thực hiện ở các tỉnh là Nam Định, Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Thuận, An Giang và Đồng Tháp

Phạm vi được bảo hiểm: doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm mức sụt giảm năng suất lúa gây ra bởi các rủi ro thiên tai và/hoặc sâu bệnh/dịch bệnh trong thời hạn được bảo hiểm Các loại thiên tai, dịch bệnh trong phạm

vi bảo hiểm là các loại thiên tai như: bão, lũ, lụt, hạn hán, rét ðậm, rét hại, sương giá, xâm nhập mặn, sóng thần, giông, lốc xoáy; Các loại dịch bệnh như: bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá, lùn sọc đen, đạo ôn, bạc lá, dịch rây nâu, sâu đục thân (Điều 4, Quyết định số 3035/QĐ-BTC về Quy tắc, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm cây lúa theo chỉ

số năng suất.)

Điều 7, Quyết định số 3035/QĐ-BTC về Quy tắc, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm cây lúa theo chỉ số năng suất cũng quy định trường hợp loại trừ bảo hiểm cho hợp đồng bảo hiểm cây lúa theo chỉ số năng suất Hợp đồng bảo hiểm không được bảo hiểm các rủi ro sau: Các loại rủi ro không được quy định được bảo hiểm ở trên; các rủi ro chiến tranh, hạt nhân, phóng xạ và khủng bố; người được bảo hiểm cố

ý gây hại; rủi ro liên quan đến bảo quản sau thu hoạch (lúa bị nảy mầm, cháy, ngập nước, mất cắp, bẩn,…); các rủi ro về chất lượng lúa như rủi ro liên quan đến hàm lượng dinh dưỡng, mốc, mất hương vị; Đồng thời doanh nghiệp có quyền từ chối bồi thường một phần số tiền bồi thường bảo hiểm đối với trường hợp tổn thất xảy ra do

Ngày đăng: 22/02/2018, 00:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w