1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm nông nghiệp trong chăn nuôi heo trên địa bàn huyện tân phú, tỉnh đồng nai

107 320 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu của đề tài - Do thị trường BHNN là loại thị trường đặc biệt, thông tin không đối xứng, người sản xuất bên cầu biết nhiều thông tin hơn doanh nghiệp bảo hiểm bên cun

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một nước sản xuất nông nghiệp lớn với hơn 70% dân số sống bằng nghề nông Mặc dù nền nông nghiệp Việt Nam có vai trò vị trí chiến lược trong việc phát triển kinh tế, xã hội, ổn định chính trị, nâng cao đời sống nhân dân

và là một ngành sản xuất chính nhưng thu nhập của người nông dân từ lĩnh vực này lại không đáng kể

Việt Nam vẫn chưa có một nền nông nghiệp sản xuất lớn theo đúng nghĩa, vẫn duy trì nền sản xuất nhỏ lẻ theo quy mô hộ gia đình, chủ yếu dựa vào sức lao động, không sản xuất theo kế hoạch mà chủ yếu lại theo tập quán, do đó, sản xuất nông nghiệp của Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào vấn đề thời tiết, vị trí địa lý, đặc điểm về địa hình mà Việt Nam lại là một trong những nước chịu nhiều ảnh hưởng và hậu quả do thiên tai gây ra, là một trong năm tâm bão của khu vực Châu Á-Thái Bình Dương Vì vậy, tất yếu sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam phải chịu những rủi ro không chỉ về thiên tai, dịch bệnh mà bên cạnh đó là những rủi ro từ nền kinh tế vĩ

mô, về chính trị Đây cũng là những nguyên nhân chính dẫn đến nông nghiệp Việt Nam là một thị trường tiềm năng cho Bảo hiểm nông nghiệp

Bảo hiểm nói chung và Bảo hiểm nông nghiệp nói riêng đều là những lá chắn cho nền kinh tế, làm giảm thiểu rủi ro có thể sẽ xảy ra đối với những người mua bảo hiểm Và bảo hiểm nông nghiệp ra đời là một nhu cầu cấp thiết đối với nền nông nghiệp Việt Nam nói chung và người nông dân nói riêng, là cứu cánh làm giảm bớt những rủi ro do thiên tai, dịch bệnh gây ra Tuy nhiên trên thực tế vấn đề Bảo hiểm Nông nghiệp ở Việt Nam vẫn chưa thực sự được triển khai có hiệu quả, thị trường bảo hiểm nông nghiệp vẫn chưa phát triển và còn gặp rất nhiều khó khăn

Huyện Tân Phú nằm ở phía Bắc của tỉnh Đồng Nai, có truyền thống chăn nuôi gia súc, đặc biệt là chăn nuôi heo trong nhiều năm nay Tuy nhiên trên thực tế,chăn nuôi heo của huyện gặp rất nhiều rủi ro, ngoài những yếu tố bên trong thì chăn nuôi heo còn chịu nhiều tác động của các yếu tố ngoại cảnh khác như thiên tai, dịch bệnh, thị trường Hạn chế được những rủi ro trong chăn nuôi sẽ giúp các hộ tăng kết

Trang 2

quả và hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập cho người chăn nuôi Với bối cảnh đó, Tân Phú được tỉnh Đồng Nai chọn thực hiện thí điểm BHNN theo Quyết định 315/QĐ-TTg Huyện thực hiện triển khai thí điểm tại 3 xã Phú Xuân, Phú Lâm, Phú Thanh Mặc dù đã được tuyên truyền về chế độ BHNN qua nhiều hình thức nhưng do thói quen về sản xuất và chưa nhận thức đầy đủ về BHNN nên vẫn còn có hiện tượng nghe ngóng, xem xét, chờ đợi Hầu hết người dân chưa tham gia thị trường BHNN trước đây nên nhận thức của họ về quyền lợi, trách nhiệm khi tham gia BHNN chưa thực sự đầy đủ, họ chỉ đơn thuần tham gia mua BH khi được trợ cấp đáng kể từ Chính phủ Số heo tham gia chưa phản ánh đúng tiềm năng hiện có của địa phương Thủ tục hành chính, chính sách pháp luật còn một số hạn chế 15 xã thị trấn còn lại trong huyện không được chọn làm thí điểm thì đến nay BHNN vẫn còn

là vấn đề rất mới mẻ, hầu hết người dân chưa hề biết BHNN Những điều này ảnh hưởng lớn đến việc mở rộng và phát triển thị trường BHNN

Vậy, vấn đề đặt ra đối với phát triển thị trường BHNN là: (1) Những nhân tố chính nào ảnh hưởng đến thực trạng phát triển thị trường BHNN ở Việt Nam nói chung và huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai nói riêng? (2) Để triển khai BHNN rộng trên toàn quốc thì Chính phủ nên thực hiện những chính sách nào? (3) Nếu Chính phủ tiếp tục hỗ trợ phí BH như khi thực hiện thí điểm thì tỷ lệ người dân quyết định tham gia là bao nhiêu?

Trong nước đã có những nghiên cứu liên quan đến hoạt động BHNN nhưng chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu cụ thể về phát triển thị trường BHNN, đặc biệt

là BHNN trong chăn nuôi heo tại huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai Xuất phát từ

những vấn đề trên nghiên cứu lựa chọn đề tài: “Giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm nông nghiệp trong chăn nuôi heo trên địa bàn huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai”là vấn đề mang tính cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn nhằm mở

rộng và phát triển thị trường BHNN trong chăn nuôi trên địa bàn huyện

Trang 3

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thị trường BHNN trong chăn nuôi heo trên địa bàn nghiên cứu, Luận văn đề xuất các giải pháp phát triển thị trường này tại huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

- Do thị trường BHNN là loại thị trường đặc biệt, thông tin không đối xứng, người sản xuất (bên cầu) biết nhiều thông tin hơn doanh nghiệp bảo hiểm (bên cung) về: Rủi ro, phương pháp hạn chế và phòng ngừa rủi ro, mức độ thiệt hại do rủi ro Hiện nay, cầu đang là nút thắt lớn trong thị trường BHNN Do vậy, đối tượng tập trung nghiên cứu của đề tài là cầu về thị trường BHNN trong chăn nuôi heo của các hộ chăn nuôi trên địa bàn huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai

- Các đối tượng khảo sát: Các cán bộ quản lý cấp huyện, cấp xã ở địa bàn chọn điểm khảo sát; Các hộ chăn nuôi heo ở địa bàn chọn điểm khảo sát; Các doanh nghiệp trong hệ thống cung ứng dịch vụ BHNN trên địa bàn khảo sát

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Về không gian:

Nghiên cứu thực trạng chăn nuôi heo và thị trường BHNN trong chăn nuôi heo trên địa bàn huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai

Trang 4

4 Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo hiểm nông nghiệp và thị trường bảo hiểm nông nghiệp;

- Thực trạng thị trường bảo hiểm nông nghiệp trong chăn nuôi heo trên địa bàn huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai;

- Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu bảo hiểm nông nghiệp trong chăn nuôi heo trên địa bàn huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai;

- Giải pháp nhằm phát triển thị trường bảo hiểm nông nghiệp trong chăn nuôi heo trên địa bàn huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh sách bảng biểu, phụ lục, nội dung chính của luận văn được thể hiện trong 03 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo hiểm nông nghiệp và thị trường

bảo hiểm nông nghiệp

Chương II: Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương III: Kết quả nghiên cứu

Trang 5

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP

VÀ THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM NÔNG NGHỆP 1.1 Cơ sở lý luận về BHNN và thị trường BHNN

1.1.1 Rủi ro trong sản xuất nông nghiệp

Theo trường phái truyền thống: Rủi ro là điều không may mắn, không lường

trước được về khả năng xảy ra, về thời gian và không gian xảy ra, cũng như mức độ nghiêm trọng và hậu quả của nó [19] Như vậy theo trường phái này “rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người”

Theo trường phái hiện đại: Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa

mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực Rủi ro co thể mang đến những tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai [19]

1.1.1.2 Các loại hình rủi ro trong sản xuất nông nghiệp

Trong SXNN, các hộ nông dân thường phải đối mặt với nhiều loại rủi ro khác nhau Rủi ro trong SXNN ở nước ta có thể chia thành 4 nhóm lớn: (1) Rủi ro thiên tai, (2) rủi ro dịch bệnh, (3) rủi ro thị trường và (4) rủi ro khác Cụ thể:

a Rủi ro thiên tai

Trong thực tế, thiên tai xuất hiện ngày càng nhiều với tần số lớn hơn và mức

độ gây hại ngày càng nghiêm trọng hơn đối với đời sống của con người và môi

Trang 6

trường xung quanh Trong các lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh, SXNN (theo nghĩa rộng bao gồm nông, lâm, thủy sản) được tiến hành trên diện rộng, hầu hết ở ngoài trời nên chịu sự tác động rất lớn của thiên tai Mặt khác, đối tượng SXNN là những cơ thể sống có chu kỳ sinh trưởng, phát triển khá dài và có mối liên hệ chặt chẽ với thiên nhiên Do đó, sự biến động của thiên nhiên tác động trực tiếp đến thành quả SXNN Thiên tai luôn rình rập và gây ra rất nhiều rủi ro cho SXNN như: rủi ro do lũ lụt, gió bão, hạn hán, nắng gắt, mưa đá, rét đậm, rét hại, cháy rừng, sóng thần…gây ra rất hậu quả lớn đối với SXNN và sinh kế của người dân

Việt Nam là một trong 10 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu toàn cầu nên thiên tai diễn biến rất phức tạp, khó lường, hậu quả ngày càng có xu hướng nặng nề hơn, thậm chí mang tính thảm họa Theo số liệu thống kê, trung bình mỗi năm nước ta phải hứng chịu 6-7 trận bão, gây thiệt cho SXNN từ 15% đến 20% giá trị SXNN Trong hơn 50 năm qua (1960-2014) đã có tới trên 400 trận bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đếnViệt Nam Có tới 80-90% dân số Việt Nam chịu ảnh hưởng của bão, gây tổn thất rất lớn đến tính mạng, tài sản, nhà cửa và phá huỷ môi trường [17]

b Rủi ro dịch bệnh

Mỗi loại cây trồng, mỗi loại gia súc, gia cầm có đặc điểm sinh lý khác nhau nên có các loại dịch bệnh khác nhau Dịch bệnh trong SXNN hết sức đa dạng và đang là yếu tố rủi ro thường trực đối với ngành nông nghiệp, làm cho cây trồng, vật nuôi chết hàng loạt, năng suất thu hoạch giảm sút Trong những năm qua, ở nước ta ngành trồng trọt có các loại sâu, bệnh lan truyền rất nhanh như: Cây lúa có các loại sâu, bệnh như bệnh vàng lùn, bệnh đạo ôn, bệnh khô vằn, dịch rầy nâu, rầy xanh, sâu đục thân…; Cây cà phê, điều cam, quýt có bệnh sâu đục thân, vàng lá vv Trong ngành chăn nuôi có các loại dịch bệnh lan truyền rất nhanh như bệnh dịch cúm gia cầm H5N1, dịch lở mồm long móng ở trâu, bò, heo, dịch heo tai xanh thiệt hại rất

lớn

Dịch bệnh là yếu tố rủi ro thường trực trong SXNN Có những loại bệnh thông thường nhưng có những bệnh nguy hiểm, lan truyềnrất nhanh và rất khó kiểm

Trang 7

soát Cũng như thiên tai, không năm nào ở nước ta không xảy ra các đợt dịch bệnh đối với cây trồng, vật nuôi Khi dịch bệnh xảyra, mặc dù Nhà nước đã có nhiều biện pháp hỗ trợ người dân khắc phục rủi ro nhưng những giải pháp hỗ trợ của Nhà nước

cũng mới giúp người dân khắc phục được một phần thiệt hại [17]

c Rủi ro thị trường

* Rủi ro giá cả: Thị trường nông sản là thị trường cạnh tranh hoàn hảo,

người sản xuất là người chấp nhận giá Rủi ro về giá cả đối với SXNN rất khó kiểm soát như rủi ro giá cả nguyên liệu đầu vào, rủi ro giá cả đầu ra Các nguyên nhân dẫn tới rủi ro giá cả là: Cung vượt cầu trên thị trường, biến động của tỷ giá hối đoái, chất lượng sản phẩm, các rào cản thương mại và sự yếu kém về quản lý thị trường vật tư, thị trường nông sản, hạn chế về cơ chế quản lý chính sách Nhà nước (yếu

kém trong việc quản lý hàng giả, hàng nhái, hàng chất lượng thấp, hàng nhập lậu)

Một thực tế ở Việt Nam đó là chất lượng nông sản không cao nên thường không có nhiều lợi thế cạnh tranh giá trên thị trường quốc tế Cùng với nó là việc chi phí sản xuất hàng nông sản của Việt Nam thường cao, chu kỳ sản xuất kéo dài, làm cho người nông dân lâm vào khó khăn Trong thị trường nội địa thì người dân SXNN hầu hết không định giá bán được mà lại do trung gian, thương lái ép giá Vì vậy, lợi nhuận SXNN của người nông dân rất thấp, bị rơi nhiều vào tay các trung

gian, thương lái [20]

* Rủi ro do lạm phát: Rủi ro do lạm phát là rủi ro rất khó dự báo và rất khó

kiểm soát bởi lạm phát do nhiều nguyên nhân gây ra như giá cả đầu vào trên thị trường thế giới, tăng tiêu dùng và biến động tỷ giá Đối với SXNN ở nước ta,rủi ro

do lạm phát gây ra những thiệt hại lớn vì nhiều loại vật tư sản xuất hiệnnay còn đang dựa vào nguồn nhập khẩu (nguyên liệu sản xuất thức ăn chănnuôi, phân bón,

thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật ) [19]

d Rủi ro khác

SXNN ở nước ta còn đối mặt với những rủi ro khác như: Rủi về đất đai sản xuất và quản lý nguồn nước, rủi ro về tổ chức quản lý sản xuất và sử dụng vật tư sản xuất, rủi ro do hạn mức tín dụng và trì hoãn thanh toán [19]

Trang 8

* Rủi về đất đai sản xuất và quản lý nguồn nước: Một bộ phận nông dân bị

rủi ro về đất đai sản xuất do Nhà nước thu hồi đất để quy hoạch các khu công nghiệp, cácđô thị và xây dựng hạ tầng giao thông, thủy lợi làm cho đất nông nghiệp giảm Ngoài ra, ô nhiễm môitrường đất cũng làm cho người nông dân bị thiệt hại trong SXNN, chẳng hạn đất bị dầu loang, đất bị nhiễm mặn xâm nhập Các rủi rovề đất đai sản xuất đã làm cho một bộ phận nông dân mất đi sinh kế và rơivào

tình cảnh khó khăn

Bên cạnh đó, rủi ro về quản lý nguồn nước như việc xây dựng các công trình thủy điện đã làm cho nhiều địa phương khan hiếm nguồn nước cho SXNN, nhiều hộ nông dân đã mất đi sinh kế Ô nhiễm nguồn nước do nước bị xâm nhập mặn, nước

bị ô nhiễm do chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt làm cho SXNN bị thiệt hại

* Rủi ro về tổ chức quản lý sản xuất và sử dụng vật tư sản xuất: Do trình

độ chuyên môn kỹ thuật và kiến thức kinh tế thị trường yếu kém, nhiều hộ nông dân chạy theo tín hiệu thị trường đã đưa vào sản xuất các loại sản phẩm mà họ chưa thông hiểu kỹ thuật Mặt khác, do quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún nên việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật không hiệu quả Việc lạm dụng phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật đã làm cho giá thành sản xuất tăng cao, sản

phẩm không tiêu thụ được, người sản xuất trở nên lỗ vốn, phá sản

Không những vậy, do sự yếu kém của các cơ quan chức năng về quản lý thị trường nên các loại vật tư sản xuất kém chất lượng hoặc hàng giả vẫn được bày

bántại các đại lý, các cửa hàng bán lẻ

* Rủi ro do hạn mức tín dụng và trì hoãn thanh toán:Phần lớn nông dân

hiện nay đều thiếu vốn để đầu tư thâm canh hoặc mở rộng quy mô sản xuất Tuy nhiên, họ không vay được đủ vốn do hạn mức tín dụng đối với từngloại hộ và thế là

họ không đủ điều kiện về vốn để đầu tư theo đúng quy trình Bên cạnh đó, sự trì hoãn thanh toán của các doanh nghiệp thu mua sản phẩm của nông dân, làm cho người nông dân bị động trong việc đầu tưtái sản xuất Điển hình ở Đồng bằng sông Cửu Long, trong hợp đồng bán cáTra nguyên liệu giữa nông dân với doanh nghiệp chế biến ghi rất rõ doanh nghiệp sẽ thanh toán cho người nuôi cá trong vòng 10-

Trang 9

15 ngày kể từ khi bàn giao sản phẩm nhưng thực tế phải vài tháng sau mới thanh toán làm cho gánh nặng lãi suất ngân hàng của người nuôi cá nặng thêm [19]

1.1.2 Sự cần thiết của BHNN và phát triển thị trường bảo BHNN

Hàng năm SXNN ở nước ta phải hứng chịu hàng loạt các loại rủi ro, đặc biệt là thiên tai, dịch bệnh tác động nhiều mặt đến đời sống và kế hoạch sản xuất của người dân, nhanh chóng hủy hoại nguồn thu nhập hiện tại và phá hủy tài sản của các hộ gia đình Trước tình cảnh như vậy, nhiều hộ gia đình bị đẩy vào vòng xoáy của nghèo đói Những hộ trước đây sống trên mức nghèo đói thì chỉ sau một thiên tai, dịch bệnh lớn có thể bị dìm xuống dưới mức nghèo đói

Rủi ro

Hình 1.1: Tài sản của hộ nông dân sau rủi ro

(Nguồn: Global AgsRick,2009)

Ngân sách Nhà nước và các nguồn tài chính khác đã phải chi hàng nghìn tỷ đồng để hỗ trợ Tuy nhiên đây mới chỉ mang tính chất khôi phục cuộc sống tối thiểu chứ chưa phải giúp nông dân khôi phục và bù đắp chi phí SXNN

Trong tình hình như vậy, BHNN có thể giải quyết ngay vấn đề tài chính của người nông dân khi họ phải chịu tổn thất Ổn định đời sống cho hàng triệu người nông dân mỗi khi rủi ro xảy ra Vì vậy, phát triển BHNN và thị trường BHNN là hết sức quan trọng và cần thiết, bởi vì:

Trang 10

Thứ nhất, BHNN có tác dụng rất lớn trong việc chia sẻ lợi ích và chia sẻ rủi ro

giữa người SXNN và DNBH Bảo vệ sinh kế người nông dân, giữ vững năng suất lao động, do vậy giúp giảm đói nghèo

Thứ hai, thị trường BHNN giúp khôi phục và duy trì năng lực tài chính ổn

định, bảo vệ các tổ chức tài chính trước tình trạng không thể thanh toán nợ do thiên tai xảy ra, do đó giảm bớt các nỗi lo âu về tinh thần của các tổ chức, cá nhân tham gia BH, thông qua hoạt động chi trả bồi thường

Thứ ba, BHNN có vai trò bổ sung cho các chương trình bảo đảm xã hội do

Nhà nước thực hiện, quỹ Chính phủ được huy động vào những mục tiêu khác thay

vì phải tiến hành trợ cấp trong điều kiện SXNN gặp rủi ro, nhờ đó làm giảm gánh nặng ngân sách Nhà nước và nâng cao hiệu quả phân bổ các nguồn lực xã hội

Thứ tư, thị trường BHNN có tác dụng thúc đẩy các hoạt động thương mại, sản

xuất kinh doanh, khuyến khích người SXNN đầu tư vào các hoạt động mang lại lợi nhuận cao hơn vì có thể yên tâm rằng đứng sau họ đã có sự bảo vệ về tài chính của các Công ty BH thông qua việc họ tham gia BHNN

Thứ năm, thị trường BHNN tạo ra kênh huy động vốn tiết kiệm quan trọng

cho đầu tư phát triển,thúc đẩy thị trường vốn phát triển Mở rộng tài chính nông thôn thông qua các hình thức bảo đảm cho người SXNN được tiếp cận tốt hơn với dịch vụ tài chính và được hưởng điều khoản tín dụng thuận lợi hơn

Thứ sáu, triển khai BHNN góp phần nâng cao dân trí, trình độ nhận thức và

trách nhiệm của người dân trong các hoạt động sản xuất của chính mình và trách nhiệm với xã hội

1.1.3 Lý luận chung về bảo hiểm và bảo hiểm nông nghiệp

1.1.3.1 Bảo hiểm

a Một số khái niệm cơ bản

* Khái niệm bảo hiểm: Bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người

hay của số một ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại, bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ

Trang 11

chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng không

may bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra [23]

* Khái niệm kinh doanh bảo hiểm: Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của

DNBH nhằm mục đích sinh lợi, theo đó DNBH chấp nhận rủi ro của người được BH, trên cơ sở bên mua BH đóng phí bảo hiểm để DNBH trả tiền BH cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện BH [23]

* Kinh doanh tái bảo hiểm: Kinh doanh tái bảo hiểm là hoạt động của DNBH

nhằm mục đích sinh lợi, theo đó DNBH nhận một khoản phí BH của DNBH khác để cam kết bồi thường cho các trách nhiệm đã nhận bảo hiểm [23]

b Các hình thức bảo hiểm

- Bảo hiểm tương hỗ: Là biện pháp chia sẻ rủi ro bằng việc liên kết

giữa các thành viên trong cộng đồng đóng góp một khoản tài chính nhất định để xây dựng quỹ khắc phục rủi ro và chi trả cho các thành viên khi xảy ra rủi ro theo một tỷ

lệ đã được ước định giữa các thành viên trong nhóm

- Bảo hiểm thương mại: Là hoạt động mà ở đó các DNBH chấp nhận rủi ro

trên cơ sở người được bảo hiểm đóng một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để DNBH bồi thường khi xảy ra các rủi ro đã thỏa thuận trước trên của số ít trên cơ sở quy

tụ nhiều người có cùng rủi ro thành cộng đồng nhằm phân tán hậu quả tài chính của những vụ tổn thất [23]

1.1.3.2 Bảo hiểm nông nghiệp

a Khái niệm về bảo hiểm nông nghiệp

Theo Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 và Luật số 61/2010/QH12 thì BHNN thuộc hình thức bảo hiểm thương mại và được quy định là một nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ

Theo đó, bảo hiểm sản xuất nông nghiệp (gọi tắt là bảo hiểm nông nghiệp

- BHNN) là hoạt động với mục đích bồi thường bằng cách đảm nhiệm rủi ro và đền

bù cho những rủi ro trong sản xuất và kinh doanh nông nghiệp [17,19]

b Các loại hình bảo hiểm nông nghiệp

Hiện nay, trên thế giới đang tồn tại 2 loại hình BHNN:

Trang 12

* Bảo hiểm truyền thống:BH truyền thống là loại hình BH mà doanh nghiệp

đền bù thiệt hại cho người mua BH theo mức độ thiệt hại thực tế khi xảy ra rủi ro được cam kết trong hợp đồng BH Đặc trưng cơ bản nhất của BH bồi thường là lấy thiệt hại, tổn thất của từng cá nhân hoặc từng tổ chức làm căn cứ để xét bồi thường

Ưu điểm của phương thức này là mức bồi thường bám sát mức độ thiệt hại của cá nhân, phạm vi BH rộng Tuy nhiên, kinh nghiệm ở một số quốc gia cho thấy hình thức BH truyền thống đang gặp phải một số vấn đề: (1) SXNN là loại hình đa rủi ro và được bố trí trên địa bàn rộng, khi xảy ra rủi ro thì mức độ thiệt hại thường rất lớn; (2) Phải xác định mức độ thiệt hại của từng cá nhân do rủi ro được BH và không được BH; (3) Khó giám định mức độ thiệt hại, đánh giá nguyên nhân gây rủi ro; (4) Khó kiểm soát tình trạng trục lợi BH

* Bảo hiểm phi truyền thống (bảo hiểm chỉ số): Là phương thức bảo hiểm

mà trong đó việc bồi thường được thực hiện dựa trên một chỉ số như: Chỉ số về lượng nước mưa, chỉ số nhiệt độ, chỉ số năng suất… để xác định trách nhiệm của người bán BH, việc thanh toán căn cứ vào đo lường một sự kiện tương quan với thiệt hại, việc trả tiền BH hoàn toàn dựa trên biến động thực tế của chỉ số so với chỉ

số chuẩn mà không phụ thuộc vào thiệt hại thực tế

Ưu điểm của BH chỉ số là dễ dàng tính phí và bồi thường thiệt hại, giảm thiểu rủi ro đạo đức và sự lựa chọn đối nghịch, giảm chi phí đánh giá thiệt hại Tuy nhiên BH chỉ số cũng có một số hạn chế: (1) Phạm vi BH bị hạn chế (2) Có những đối tượng không bị thiệt hại vẫn được nhận đền bù; (3) Khó khăn trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu về các yếu tố gây rủi ro; (4); Khó khăn về cơ sở dữ liệu để xây dựng phí BH và mức phí bồi thường [17,19]

c Đối tượng và nội dung bảo hiểm nông nghiệp

BHNN là loại hình BH thương mại nhằm bù đắp những thiệt hại xảy ra với đối tượng BH là những vật nuôi, cây trồng và sản phẩm nông nghiệp do rủi ro được BH gây ra.Căn cứ vào đối tượng BH, BHNN được chia thành:

* BHNN trong trồng trọt (bao gồm cây trồng hoặc sản phẩm thu hoạch từ

trồng trọt):Đối tượng BH có thể là bản thân cây trồng trong suốt quá trình sinh

Trang 13

trưởng và phát triển hoặc cũng có thể là sản phẩm cuối cùng do cây trồng đem lại tùy theo mục đích trồng trọt Vì thế có thể chia ra:Đối với cây hàng năm, đối tượng

BH là sản lượng thu hoạch.Đối với cây lâu năm, đối tượng BH là giá trị của các loại cây trồng đó hoặc sản lượng từng năm của mỗi loại cây.Đối với vườn ươm, đối tượng BH là giá trị cây giống trong suốt thời gian ươm giống đến khi nhổ đi trồng nơi khác [19]

* BHNN trong chăn nuôi (bao gồm vật nuôi hoặc sản phẩm thu hoạch từ

chăn nuôi): Đối tượng các sản phẩm chăn nuôi là các loại vật nuôi Đối với vật nuôi

là tài sản cố định thường được BH đến từng con, còn đối với vật nuôi là tài sản lưu động có thể BH cả đàn Vật nuôi là tài sản lưu động là những vật nuôi được nuôi dưỡng trong thời gian ngắn, quá trình thu sản phẩm gắn liền với quá trình giết mổ hoặc chuyển chúng sang làm chức năng tài sản cố định Thời hạn BH của loại này là

từ khi con giống tách mẹ nuôi độc lập đến khi vật nuôi xuất chuồng.Vật nuôi là tài sản cố định thường có thời gian nuôi dưỡng lâu, giá trị lớn và được chuyển dịch dần vào sản phẩm thu được qua các năm Thời hạn BH loại này thường là một năm hoặc

toàn bộ chu kỳ sản xuất [19]

* BHNN trong nuôi thủy sản: Theo Quyết định số 315/QĐ-TTg thì đối

tượng BHNN trong nuôi thủy sản là: Cá Tra, tôm Sú, tôm Thẻ Chân Trắng Vùng nuôi cá Tra thâm canh có diện tích từ 05 ha trở lên; Vùng nuôi tôm Sú, tôm Thẻ Chân Trắng thâm canh có diện tích từ 05 ha trở lên; bán thâm canh có diện tích 10

ha, quảng canh cải tiến có diện tích 15 ha trở lên; Vùng nuôi cá Tra, tôm Sú, tôm Thẻ Chân Trắng phải đảm bảo có đường giao thông; hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất [14]

1.1.4 Những vấn đề lý luận về thị trường bảo hiểm nông nghiệp

1.1.4.1 Khái niệm về thị trường bảo hiểm nông nghiệp

Thị trường BHNN là nơi diễn ra hoạt động mua bán sản phẩm BHNN Hay thị trường BHNN là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu về BHNN

Khác với các loại sản phẩm khác trên thị trường, sản phẩm BHNN không tồn tại hữu hình, không có hình dáng, kích thước, trọng lượng…Nó là loại sản phẩm dịch

Trang 14

vụ đặc biệt, vô hình và là loại sản phẩm mà người mua không bao giờ muốn nó xảy ra

để được thực hiện quyền đòi bồi thường hay trả tiền BH Người mua BHNN chỉ với mục đích đề phòng khi sự kiện BH xảy ra vẫn đảm bảo được an toàn về mặt tài chính,

ổn định được quá trình sản xuất kinh doanh và đời sống

Tham gia thị trường BHNN cũng gồm người mua (hay còn được gọi là người được BH), người bán (các DNBH hay còn gọi là người BH) và Nhà nước (ban hành

cơ chế chính sách, pháp luật nhằm điều tiết thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển thị trường BHNN) Ngoài ra còn có các tổ chức là môi giới BH [19, 20]

1.1.4.2 Đặc điểm của thị trường bảo hiểm nông nghiệp

Cũng giống như thị trường các loại hàng hóa khác, hoạt động của thị trường BHNN cũng tuân theo các quy luật chung của thị trường như quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh Song, thị trường BHNN có những đặc điểm rất khác biệt với các thị trường BH phi nhân thọ khác:

- Đối tượng của BHNN là vật nuôi và cây trồng, là những cơ thể sống được bố trí trên địa bàn rộng lớn Nó không chỉ chịu tác động của điều kiện tự nhiên mà còn chịu tác động của các quy luật sinh học trong quá trình sinh trưởng và phát triển nên rất khó quản lý rủi ro Để tham gia thị trường BHNN, DNBH phải có đội ngũ nhân lực đông đảo và am hiểu nhiều loại rủi ro trong nông nghiệp

- SXNN là ngành đa rủi ro, đôi khi có những rủi ro thảm họa như thiên tai nghiêm trọng, dịch bệnh xảy ra trên diện rộng và có khả năng lan truyền Khi đó, thiệt hại đối với SXNN là rất lớn Chính vì vậy, các doanh nghiệp không thiết tha tham gia thị trường BHNN

- Chủ thể SXNN tuy khá đa dạng nhưng phổ biến vẫn là các hộ nông dân với qui mô sản xuất nhỏ, sản xuất đa canh, tiềm lực đầu tư có hạn nên khó có thể tham gia vào thị trường đối với tất cả các loại sản phẩm

- Việc xác định thiệt hại trong BHNN là phức tạp do sự hao phí lao động sống và lao động quá khứ cho vật nuôi, cây trồng không đồng nhất với thời gian và

kế quả thu được

Trang 15

- Khó kiểm soát được tình trạng rủi ro đạo đức (trục lợi BH) do SXNN được

bố trí trên địa bàn rộng lớn Việc kiểm soát, giám định thiệt hại khi xảy ra rủi ro gặp rất nhiều khó khăn [18,19]

1.1.4.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường bảo hiểm nông nghiệp

a Các nhân tố bên ngoài

* Khung pháp lý và chính sách của Nhà nước đối với BHNN và thị trường BHNN:

Đây là nhân tố thể hiện sự điều chỉnh vĩ mô của Nhà nước đối với BHNN Một khung pháp lý chặt chẽ, hoàn thiện nhưng thông thoáng sẽ tạo điều kiện thuận lợi để cả DNBH và người SXNN tham gia các hoạt động trên thị trường BHNN Các chính sách của Nhà nước trong từng giai đoạn, từng thời kỳ sẽ tạo động lực, khuyến khích hay kìm hãm thị trường BHNN phát triển Khi cần khuyến khích phát triển thị trường BHNN, Nhà nước ban hành các chính sách hỗ trợ, tạo động lực cho thị trường này phát triển (như hỗ trợ phí BH cho người sản xuất, hỗ trợ phí quản lý BHNN cho các DNBH, trợ cấp phí tái BH…) Khi cần điều tiết thị trường BHNN phát triển theo đúng mục tiêu của Nhà nước thì Nhà nước sẽ ban hành các chính sách điều tiết (các quy định về thủ tục thanh toán bảo hiểm quá rườm rà hoặc quy định mức phí bảo hiểm gốc, mức đền bù thiệt hại không thỏa đáng sẽ làm cho các chủ thể sản xuất không muốn tham gia thị trường BHNN) [18]

* Thị trường bảo hiểm và hoạt động tái bảo hiểm:

Hoạt động BHNN là một phần của thị trường BH Vì vậy, sự phát triển của BHNN không tách rời với sự phát triển của thị trường BH Ngoài ra, do đặc điểm của BHNN là rủi ro lớn, một “tấm lá chắn” cho các DNBH thông qua hoạt động tái

BH là vô cùng cần thiết Tái BH là thị trường đầu ra rất quan trọng đối với DNBH gốc Thông qua hoạt động của các doanh nghiệp tái BH, DNBH gốc có thể chia sẻ một phần rủi ro của mình đối với doanh nghiệp tái BH bằng việc trích một phần doanh thu BH gốc để mua BH, khi xảy ra rủi ro các doanh nghiệp tái BH sẽ chi trả

bồi thường cho DNBH gốc

Trang 16

Như vậy, có thể thấy sự phát triển của thị trường BH và tái BH là yếu tố ảnh hưởng rất quan trọng đến sự quyết định của DNBH tham gia hay không tham gia thị trường BHNN Tuy nhiên, cũng do rủi ro trong SXNN lớn, việc các công ty tư nhân nhận tái BH là không nhiều Kinh nghiệm của các nước cho thấy, nếu không có sự tham gia của Nhà nước trong việc nhận tái BH cho ngành SXNN thì BHNN sẽ rất khó tồn tại [19]

b Các nhân tố thuộc về nội tại doanh nghiệp bảo hiểm (bên cung)

DNBH có quyết định tham gia thị trường BHNN hay không phụ thuộc vào nhiều nhân tố Trong đó, các nhân tố chính cụ thể sau:

* Tiềm lực tài chính và chiến lược kinh doanh, quản lý rủi ro của DNBH:

Do rủi ro trong SXNN lớn và bất thường, vì là người cung cấp hàng hóa cho thị trường BHNN, DNBH khó có thể tồn tại được nếu không đủ năng lực kể cả về mặt tài chính, nhân lực hay kỹ thuật nghiệp vụ Một chiến lược quản lý rủi ro phù hợp sẽ giúp cho các DNBH giảm thiểu được chi phí bồi thường khi xảy ra sự kiện rủi ro, đảm bảo được lợi ích kinh doanh của doanh nghiệp Từ đó,các doanh nghiệp

sẽ tự tin hơn khi tham gia cung ứng dịch vụ BH cho các sản phẩm nông nghiệp [19]

* Lợi nhuận kỳ vọng:

Cũng như các doanh nghiệp khác, mục tiêu của DNBH là tìm kiếm lợi nhuận Lợi nhuận kỳ vọng từ nghiệp vụ BH này không cao nên khó thu hút họ tham gia thị trường, trừ khi Nhà nước có những chính sách ưu tiên hoặc chiến lược của họ là tham gia thị trường BHNN để tạo thương hiệu [19]

c Các yếu tố thuộc về người sản xuất (bên cầu)

Cầu là lượng hàng hoá dịch vụ mà người tiêu dùng có khả năng và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau (mức giá chấp nhận) trong một phạm vi không gian

và thời gian nhất định khi các yếu tố khác không thay đổi

Cũng giống như các loại hàng hóa khác, cầu về BHNN của người SXNN cũng tuân thủ theo quy luật cầu Cầu thị trường BHNN phụ thuộc rất nhiều yếu tố, cho nên

sự thay đổi của những yếu tố này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cầu BHNN Để nghiên

Trang 17

cứu mối quan hệ giữa cầu BHNN và các yếu tố ảnh hưởng đến nó, người ta sử dụng hàm cầu, có dạng tổng quát:

AD(x,t) =f(Px; I, Py; T, N, E…)

Trong đó: AD(x,t) là cầu về BHNN xác định trong khoảng thời gian t (ngày, tháng, năm, quý…) và đóng vai trò hàm số cầu Px, I, Py, T, N, E…là các yếu tố ảnh hưởng đến BHNN và đóng vai trò như những biến của hàm cầu (Px là giá cả hay còn gọi là phí BHNN; I là thu nhập của người tiêu dùng; Py là giá cả của hàng hóa, dịch vụ liên quan; T là chuẩn mực và thị hiếu của người tiêu dùng; N là quy

mô dân số; E là kỳ vọng…)

Như vậy, cầu BHNN có những đặc điểm chung cũng giống như các loại hàng hóa, dịch vụ khác Tuy nhiên, BHNN là một loại hàng hóa đặc biệt nên cầu BHNN cũng có những yếu tố riêng ảnh hưởng đến thị trường này, cụ thể:

* Nhận thức và tâm lý của người sản xuất:

Vì là người mua trên thị trường BHNN nên chỉ khi nào người sản xuất, đặc biệt là người nông dân có đầy đủ nhận thức về BH, việc tham gia BH của họ mới bền vững và tránh tình trạng trục lợi Nhận thức không đầy đủ về lợi ích, vai trò của thị trường BHNN cộng với tâm lý tiếc tiền là nguyên nhân khiến cho người SXNN không muốn tham gia thị trường BHNN và nếu có dễ xảy ra tình trạng trục lợi BH [18,19]

* Khả năng về tài chính (thu nhập):

Là yếu tố ảnh hưởng rất quan trọng đến sự tham gia thị trường BHNN của các chủ thể SXNN, đặc biệt là người nông dân Người nông dân nhìn chung là có điều kiện kinh tế eo hẹp nên thường không muốn bỏ tiền mua BHNN Kinh nghiệm của các nước cho thấy, chỉ khi Nhà nước có sự hỗ trợ phí BH cho người nông dân thì loại hình BH này mới có cơ hội tồn tại

* Quy mô sản xuất:

Là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sự tham gia thị trường BHNN của các chủ sản xuất Đối với các loại sản phẩm sản xuất với quy mô nhỏ thường khôngcó vị thế không quan trọng trong cơ cấu thu nhập của người sản xuất, khi xảyra rủi ro thì

Trang 18

mức độ thiệt hại không ảnh hưởng lớn đến đời sống thì mức độ sẵn sàng của người sản xuất trong việc tham gia thị trường BHNN thấp Ngược lại, các sản phẩm sản xuất với quy mô lớn thường chiếmvị thế trọng yếu trong cơ cấu thu nhập của người sản xuất (chủ yếu là sản phẩm hàng hóa) thì mức độ sẵn sàng tham gia thị trường BHNN của người sản xuất cao hơn [18,19]

* Lợi ích kỳ vọng:

Đây là yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến sự quyết định của các chủ thể SXNN tham gia thị trường BHNN Các quy định, các thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại khi xảy ra sự kiện rủi ro đảm bảo đượclợi ích mong muốn, đảm bảo

sự bình đẳng giữa DNBH với người mua BH có tác dụng khuyến khích người sản xuất tham gia thị trường BHNN [19]

1.2 Cơ sở thực tiễn về BHNN và thị trường BHNN

1.2.1 Thực tiễn bảo hiểm nông nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới

a Bảo hiểm nông nghiệp ở Mỹ

BHNN ở Mỹ là BH đa hiểm họa thông qua chương trình BH cây trồng liên bang - một chương trình liên kết giữa Chính phủ liên bang và các công ty BH Tổng chi phí cho BH cây trồng ở Mỹ lên tới 4 tỷ đô la mỗi năm cho hơn 100 loại cây trồng, trong đó có 4 loại chính (ngô, đậu tương, lúa mì, bông) chiếm tới 79%

BHNN ở Mỹ nhận được sự hậu thuẫn mạnh mẽ từ phía Chính phủ Chính phủ Mỹ cung cấp miễn phí hợp đồng BH năng suất thiên tai cơ bản cho toàn bộ diện tích cây trồng Theo đó, phần tổn thất vượt quá năng suất bình quân của 4 năm trước sẽ được bồi thường bằng 60% giá trị thị trường của tổn thất Nông dân ở Mỹ

có thể mua thêm trách nhiệm cao với mức 38% từ Chính phủ Tổng mức hỗ trợ phí bồi thường của Chính phủ cho cây trồng toàn Liên bang lên tới 59%, còn phần phí cho quản lý khoảng 22%, đồng thời Chính phủ nhận tái BH cho các công ty BH Bên cạnh phương thức BH truyền thống, Mỹ là nước đầu tiên trên thế giới thực hiện BHNN theo chỉ số Đây được coi là một phương thức bổ sung BH cho những rủi ro lớn và có tính tương quan trong SXNN

Trang 19

Mặc dù vậy, chương trình BHNN ở Mỹ chỉ nhận được khoảng 15% số hộ nông dân tham gia Đó là những nông dân có quy mô sản xuất lớn, có học thức và đầu tư mạnh, còn hầu hết hộ nông dân nhỏ lẻ cũng chưa tham gia [19]

b Bảo hiểm nông nghiệp ở Canada

BHNN được thực hiện ở Canada từ những năm 1917 với rủi ro được BH là mưa đá gây thiệt hại cho mùa màng và áp dụng cho tất cả các cây trồng Tuy nhiên khi triển khai đó gặp một số khó khăn nhất định Thời gian dài sau đó, BHNN mới phát triển trở lại Hiện nay, Canada có 3 chương trình BH cơ bản đối với sản lượng

và thu nhập của người nông dân, đó là: Chương trình BH mùa màng; Tài khoản bình ổn thu nhập thuần; và trợ cấp thiên tai trong nông nghịêp Chương trình BH ở Canada được áp dụng cho hơn 100 loại cây trồng và cho cả vật nuôi Ngoài việc BH năng suất còn có BH tổn thất về chất lượng, tổn thất do hạt không nảy mầm, tổn thất

do phải gieo trồng lại

Trong các hoạt động về BHNN luôn có sự hỗ trợ từ phía Chính phủ Canada

ở các khía cạnh khác nhau Hàng năm, Chính phủ đã bỏ ra các khoản chi tương đối lớn kể cả về phí BH cũng như chi phí quản lý Sự hỗ trợ của Chính phủ Canada đối với phí BH tăng đều đặn hàng năm và cao hơn các chi phí khác và đây là phần phí quan trọng nhất trong hoạt động BHNN; về hỗ trợ về các chi phí khác cũng có xu hướng tăng lên Trung bình, mức hỗ trợ của chính quyền khoảng 66% tổng chi phí cho chương trình này

Chính sách BHNN ở Canada có 2 điều khác biệt với chính sách BHNN

ở Mỹ: (1) Toàn bộ chương trình này được thực hiện trực tiếp bởi các đơn vị thuộc chính quyền tỉnh chứ không phải các Công ty BH tư nhân, dưới sự trợ giúp một phần

về tài chính của chính quyền Liên bang; (2) Người mua BH phải mua chung cho tất cả diện tích một loại cây trồng hoặc toàn bộ một loại vật nuôi nào đó [19]

c Bảo hiểm nông nghiệp ở Nhật Bản

Ở Nhật Bản không có công ty BH tư nhân thực hiện BHNN vì không có công ty tư nhân nào đủ tiềm lực tài chính để đối phó với những rủi ro thiên tai tàn khốc của các thảm họa tự nhiên tại Nhật BHNN được thực hiện bởi một chương

Trang 20

trình của Chính phủ và Nhật bản đã rất thành công với hình thức BHNN này Hệ

thống BHNN của Nhật gồm 3 cấp:

- Cấp địa phương: Tất cả các địa phương đều có một Hội BHNN (AMRA),

mà thực chất có thể coi là các Hội BH tương hỗ của những người nông dân Đây là

mô hình BH bắt buộc Bất cứ nông dân nào gieo trồng hoặc chăn nuôi vượt quá quy

mô quy định đều bắt buộc tham gia AMRA và AMRA có nghĩa vụ phải công nhận

tư cách thành viên của họ AMRA có thể giữ lại phần trách nhiệm tối thiểu là 10%, phần còn lại có thể tái BH với các Liên hiệp Hội BHNN khu vực

- Cấp vùng: Bao gồm liên hiệp các hội BHNN khu vực có thành viên là tất cả các Hội BHNN trong khu vực Ngoài việc thực hiện tái BH cho các Hội, Liên hiệp còn hướng dẫn các hội về kiểm soát dịch bệnh

- Cấp trung ương: Cơ quan tái BH nông nghiệp trung ương thực hiện nhận tái

BH cho các Liên hiệp Nếu khoản đền bù của Liên hiệp vượt quá mức nào đó theo quy định, phần vượt trội sẽ được bù đắp từ tài khoản đặc biệt quốc gia Nếu tài khoản đặc biệt quốc gia không đủ, ngân sách nhà nước sẽ trợ cấp Tuy nhiên, chính phủ Nhật bản đã phải hỗ trợ rất nhiều cho hệ thống BHNN này, lên tới 50% phí BH Tổng chi phí hỗ trợ BHNN của Nhật bản gấp đôi của Mỹ [18,19]

d Bảo hiểm nông nghiệp ở Philippines

Chương trình BHNN của Philippines được sự giúp đỡ của Ngân hàng ruộng đất Philippines bằng những biện pháp bảo vệ SXNN theo những tính toán rủi ro thời tiết bất lợi và rủi ro thiên tai khác Năm 1976 Ngân hàng ruộng đất Philippines

đã đề nghị thành lập uỷ ban phát triển chương trình BHNN của Philippines Tổng công ty BHNN Philippines là một công ty Nhà nước và được thành lập không nhằm mục tiêu lợi nhuận mà nhằm giúp đỡ nông dân được thành lập sau đó (năm 1989) Phí BH được chia sẻ giữa Chính Phủ, nông dân và các tổ chức tín dụng Đối với những người vay vốn ngân hàng, tổ chức tín dụng có trách nhiệm trợ giúp 2% phí

BH đối với cây lúa và 3% đối với cây ngô Phần phí BH cũng lại sẽ được chia sẻ theo tỷ lệ 40/60 đối với nông dân và Chính phủ Với những hộ nông dân không vay vốn ngân hàng thì được Nhà nước hỗ trợ 50% phí BH Hiện nay, Philipines thực

Trang 21

hiện 3 chương trình BHNN chính: (1) Chương trình BH cây trồng cho cây lúa, ngô,

và các cây trồng mang tính thương mại có giá trị cao; (2) Tài sản đầu tư vào nông nghiệp như máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, cơ sở hạ tầng; (3) BH vật nuôi

Về chính sách, Chính phủ Philipines quy định: (1) Các hộ nông dân trồng lúa, ngô, cây thương mại có giá trị cao, các hộ chăn nuôi gia súc, hay các tổ chức cá nhân đầu tư tài sản vào nông nghiệp mà có vốn vay từ bất kỳ tổ chức tín dụng nào đó, dù của Nhà nước hay tư nhân đều có thể tham gia chương trình BH; (2) Đối với BH cây trồng, chỉ các trang trại có hệ thống tưới tiêu mới được tham gia; các trang trại hoàn toàn phụ thuộc vào mưa tự nhiên thì chỉ được tham gia BH trong mùa mưa; (3) Người dân có thể mua BH trực tiếp từ văn phòng khu vực của tổng công ty BHNN Nhà nước hoặc từ các đại lý của họ [19]

e Bảo hiểm nông nghiệp ở Trung Quốc

Thị trường BHNN xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc cách đâyhơn 70 năm Tuy nhiên nó đã gặp phải rấtnhiều khó khăn để có thể tồn tại và phát triển Các DNBH của nước này đều bị thua lỗ khi cung cấp BHNN Năm 2004, Chính phủ Trung Quốc thực hiện thí điểm BHNN triển khai tại 7 tỉnh Sau đó Chính phủ nước này đã ban hành chính sách nhằm tiếp tục mở rộng hỗ trợ BHNN và coi đây là một trong những vấn đề ưu tiên trong quá trình thực hiện chính sách tam nông của mình Nhờ có những chính sách hỗ trợ của Chính phủ, đặc biệt là khoản trợ cấp phí BH lớn cho các hộ nông dân, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ BH, tự nguyện tham gia với mức phí thấp, mức bồi thường thấp và được xác định dựa vào chi phí vật chất đầu tư cho sản xuất nên BHNN ở Trung Quốc đã được phát trển nhanh chóng với doanh thu phí BH trong năm 2009 đạt tới gần 2 tỷ USD với khoảng 127 triệu hộ mua BH Trung Quốc đã trở thành nước có doanh thu phí BH đứng thứ 2 trên thế

giới sau Mỹ

Tuy nhiên, hiện nay BHNN của Trung Quốc vẫn gặp nhiều khó khăn về huy động nguồn tài chính, hệ thống văn bản pháp luật về BHNN chưa hoàn chỉnh, nhận thức của người dân về BHNN chưa đầy đủ [16]

g Bảo hiểm nông nghiệp ở Thái Lan

Trang 22

Chương trình BHNN của Thái Lan được Chính phủ cung cấp cho nông dân vào năm 1978 nhưng đã thất bại vào năm 1981 vì không có sự tham gia của người dân Nguyên nhân của sự thất bại này là chưa có nhận thức đúng đắn của người dân

về BHNN, phí BHNN quá cao và cũng chưa có một khung pháp lý rõ ràng cho việc thực thi BHNN Sau thất bại đó, Thái Lan đã đầu tư một cách thỏa đáng và có những chiến lược đúng đắn, quỹ hỗ trợ nông nghiệp ra đời năm 1998 cùng với nhiều các biện pháp hiệu quả được đưa ra để chống lại các rủi ro cho nông dân Nếu chính sách này ổn định lâu dài, các nông dân Thái Lan sẽ có một tương lai đầy hứa hẹn Hiện tại Thái Lan đã gặt hái được nhiều thành công trongchươngtrìnhBHNN [19, 27]

h Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam và huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai

Qua kinh nghiệm thực tế đối với hoạt động BHNN ở các nước trên, có thể rút

ra một số nhận xét và những bài học cho Việt Nam nói chung và huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai nói riêng khi phát triển thị trường BHNN là:

Thứ nhất, rủi ro trong SXNN rất lớn, thu nhập và nhận thức của người nông

dân là hạn chế, điều này dẫn đến khó có nhà BH tư nhân nào có đủ tiềm lực tài chính để nhận BH (mà không có sự hỗ trợ của Nhà nước) do việc đảm bảo hiệu quả kinh doanh cho những nhà BH là khó khăn Vì vậy,việc triển khai BHNN để thành công được không dễ dàng

Thứ hai, trên thế giới chưa có mô hình chuẩn về tổ chức BHNN, tùy theo đặc

điểm của mỗi nước mà có mô hình tổ chức khác nhau Tuy nhiên, có một số mô hình về BHNN cần được nghiên cứu và có thể vận dụng vào Việt Nam như: (1)

Mô hình BHNN được thực hiện bởi các công ty BH dưới sự bảo trợ của Nhà nước như Mỹ, Canada, Trung Quốc; (2) Mô hình xây dựng hệ thống BH tương hỗ từ Trung ương đến địa phương gồm 3 cấp: Trung ương - Vùng - Địa phương như ở Nhật Bản; (3) Mô hình Tổng Công ty BHNN Nhà nước thực hiện dưới sự trợ giúp của Chính phủ như mô hình Tổng công ty BHNN ở Philipines; (4) Mô hình các DNBH tự triển khai dưới hình thức cung cấp các sản phẩm BH thương mại như ở Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc [19]

Trang 23

Thứ ba, BHNN chủ yếu BH cho các rủi ro thiên tai, thậm chí chỉ BH cho một

hoặc vài loại rủi ro cơ bản tùy thuộc vào đặc điểm tự nhiên của từng nước Thời kỳ đầu triển khai, BHNN chủ yếu BH cho cây trồng, vật nuôi có vị thế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của nước đó Sau đó khi có điều kiện mới mở rộng dần

ra cho các vật nuôi cây trồng khác (ví dụ như Philipines)

Thứ tư, chi phí bồi thường tổn thất và chi phí quản lý BHNN rất lớn nên

không hấp dẫn các nhà đầu tư vào lĩnh vực BHNN Tất cả các hoạt động BHNN đều

có sự trợ cấp rất lớn từ Nhà nước bao gồm trợ cấp phí BH, trợ cấp phí quản lý và trợ cấp phí tái BH (Mỹ trợ cấp tới 70%; Canada 66%) Nếu thiếu sự hỗ trợ đủ mạnh từ phía Nhà nước thì hoạt động BHNN rất khó thành công

Thứ năm, mỗi quốc gia lại có những qui định của luật pháp về BHNN

khác nhau: Hình thức BHNN tự nguyện đang được áp dụng ở hầu hết các nước Tuy nhiên, một số quốc gia như Nhật Bản, Philipines qui định BHNN bắt buộc đối với một số sản phẩm nông nghiệp Tại Mỹ coi BHNN là quyền lợi đương nhiên miễn phí của nông dân Do vậy, tại Việt Nam BHNN có thể bắt buộc hoặc tự nguyện hoặc kết hợp cả hai, và Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai thành công BHNN từ việc có chính sách hỗ trợ về mặt tài chính đến tổ chức thực hiện Để thị trường BHNN phát triển Nhà nước cần đảm nhiệm các khâu: (1) Xây dựng môi trường pháp lý cho hoạt động BHNN; (2) Xây dựng hệ thống thông tin và

số liệu; (3) Tăng cường các hoạt động nghiên cứu và phát triển; (4) Phát triển thị trường tái BH

Thứ sáu, cả BH truyền thống và BH chỉ số đều có những ưu điểm và hạn chế

riêng Ở Mỹ và Canada đã thể triển khai cả phương thức BH theo chỉ số như một sự bổ sung lựa chọn cho người nông dân, phù hợp với những rủi ro có tính tương quan làm

Do vậy, BHNN ở Việt Nam có thể triển khai cả hai hình thức này

1.2.2 Thực trạng phát triển thị trường bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam

BHNN ở nước ta được triển khai từ năm 1982 nhưng dịch vụ này phát triển rất chậm Trước thực trạng như vậy, nhận thức được tầm quan trọng của BHNN trong việc góp phần ổn định và thúc đẩy SXNN, ngày 01/03/2011 Chính phủ ban hành

Trang 24

Quyết định số 315/QĐ-TTg về việc thực hiện thí điểm BHNN giai đoạn 2011-2013 tại 20 tỉnh thành với các chính sách khuyến khích chưa từng có trước đây Như vậy,

sự hình thành và phát triển của thị trường BHNN ở Việt Nam có thể chia thành 2 giai đoạn: (1) Trước khi thực hiện thí điểm BHNN theo Quyết định 315/QĐ-TTg và (2) Sau khi thực hiện thí điểm BHNN theo Quyết định 315/QĐ-TTg

1.2.2.1 Giai đoạn trước khi thực hiện thí điểm BHNN theo Quyết định 315/QĐ-TTg

Đây là giai đoạn thị trường BHNN ở Việt Nam bắt đầu được hình thành kể

từ năm 1982 khi Bảo Việt triển khai thí điểm BH cây lúa tại 2 huyện Nam Ninh và

Vụ Bản của tỉnh Nam Định với toàn bộ diện tích trồng lúa của 2 huyện trên Phí BH Bảo Việt thu được năm 1982 là 556 nghìn đồng, chi bồi thường là 464 nghìn đồng,

tỷ lệ tổn thất lên tới 83,45% Năm 1983 phí BH thu được là 790 nghìn đồng, bồi thường tổn thất năm 1983 là 300 nghìn đồng, tỷ lệ tổn thất giảm còn 37,97% Năm

1983 do người dân được mùa, tổn thất SXNN thấp nên phần lớn người nông dân tham gia BH không được bồi thường, khiến họ nghĩ rằng mua BHNN không có lợi,

vì vậy năm 1984 việc triển khai BHNN của Bảo Việt phải dừng lại do người dân không tham gia BH nữa [19]

Từ năm 1993-1998, Bảo Việt tiếp tục triển khai lại BH cây lúa tại 12 tỉnh trên phạm vi cả nước, song kết quả thu được không thành công Tổng diện tích lúa tham gia BH chỉ chiếm 0,73% diện tích lúa cả nước Tổng phí BH Bảo Việt thu được không đủ để đền bù thiệt hại, đã làm cho Bảo Việt bị thua lỗ nặng, bồi thường thiệt hại so với doanh thu lên tới 110%, với tổng giá trị hơn 5 tỷ đồng [20] Nguyên nhân là do trong 2 năm 1996 và 1997, những thảm hoạ thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tục với cường độ cao làm 2.069 người thiệt mạng và ước tính thiệt hại hơn 15.728,88 tỷ đồng, riêng nông nghiệp thiệt hại hơn 4.193,14 tỷ đồng [34] Vì vậy, năm 1998 Bảo Việt đã dừng hoạt động BHNN

Từ năm 2005 đến nay, Bảo Việt lại triển khai BH cho 2 đối tượng là cây cao

su ở Bình Phước và bò sữa ở Lâm Đồng Đây là loại cây trồng và vật nuôi rủi ro thấp, tỷ lệ bồi thường thấp trong khi phí bảo hiểm cao nên người dân lại không mặn

Trang 25

mà tham gia BH Vì vậy, doanh thu phí BH rất thấp, chỉ chiếm từ 0,02% đến 0,05% doanh thu phí toàn tổng công ty

Trong giai đoạn này, không chỉ có Bảo Việt bị thua lỗ trong hoạt động BHNN mà các doanh nghiệp BH nước ngoài cũng gặp phải tình trạng này Công ty trách nhiệm hữu hạn BH tổng hợp Groupama Việt Nam, 100% vốn nước ngoài được thành lập bởi Groupama- một trong những công ty BH lớn nhất Châu Âu, bắt đầu hoạt động tại Việt Nam từ tháng 12/2001 Groupama đã có hơn 100 năm kinh nghiệm cung cấp BHNN tại Pháp, và đã rất chủ động trong việc khởi động BHNN tại các quốc gia khác như Mê-hi-cô, nhưng cũng không thành công với BHNN ở Việt Nam Cụ thể, năm 2003 công ty bắt đầu triển khai hoạt động BHNN ở Việt Nam với dự án BH trọn gói 6 loại vật nuôi cho nông dân Tuy nhiên, do đối tượng tham gia BH ít, phí BH cao, kỹ thuật canh tác nuôi trồng của người dân còn lạc hậu nên doanh thu thấp, bồi thường cao, công ty liên tục lỗ lớn Tỷ lệ bồi thường trên doanh thu năm 2005 lên tới 4.426,67% Tỷ lệ tổn thất cả giai đoạn 2004-2008 trên 220% Những năm sau đó (2009, 2010), Groupama không còn chú trọng vào BHNN mà đa dạng hóa sang các nghiệp vụ BH khác [18,19]

Bảng 1.1: Doanh thu và bồi thường hoạt động BHNN Việt Nam (2006-2010)

3 Bồi thường/Doanh thu (%) 162,15 19,75 24,46 20,71 24,12 27,76

Tr đó: - Công ty Bảo Việt 20,00 13,43 24,42 20,61 22,84 22,78

- Công ty Groupama VN 4.426,67 85,94 27,27 30,22 50,00 87,10

(Nguồn: Hiệp hội BHVN, TổngcôngtyBHBảoViệt, CôngtyTNHHBHtổnghợpGroupamaVN)

Trang 26

Theo số liệu của Cục Quản lý và Giám sát BH (Bộ Tài chính), hiện nay tại Việt Nam có 29 DNBH hoạt động trong lĩnh vực phi nhân thọ và 2 doanh nghiệp tái

BH nhưng chỉ có 2/29 doanh nghiệp trên triển khai hoạt động BHNN là Tổng công

ty BH Bảo Việt và Công ty trách nhiệm hữu hạn BH tổng hợp Groupama Việt Nam Năm 2010 có thêm Công ty cổ phần BH Bảo Minh, Tổng công ty Cổ phần BH Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Công ty cổ phần BH Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam nhưng doanh thu BHNN của các công ty này không đáng kể

Về phía Nhà nước, trong giai đoạn này cũng đã có nhiều chủ trương phát triển hoạt động BHNN, cụ thể như: Điều 4, Luật kinh doanh BH số 24/2000/QH10

quy định: “Nhà nước có chính sách ưu đãi đối với các nghiệp vụ BH phục vụ mục

tiêu phát triển kinh tế- xã hội, đặc biệt là chương trình phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp” Trong Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 có nêu: “Thí điểm BHNN, bảo đảm mức sống tối thiểu cho cư dân nông thôn” Nghị quyết số

24/2008/NQ-CP của Chính phủ đề cập tới việc xây dựng các đề án đến năm 2020,

trong đó bao gồm “Đề án thí điểm BHNN” Tuy nhiên, tất cả các chủ trương của

Nhà nước giai đoạn này mới chỉ dừng lại ở mức chỉ đạo, chưa có chương trình hành động cụ thể, các chính sách liên quan đến BHNN mới chỉ là khuyến khích BHNN

tự phát triển mà chưa khẳng định được vai trò hỗ trợ của Nhà nước đối với DNBH

và người SXNN, đặc biệt là nông dân nghèo [19, 22]

1.2.2.2 Giai đoạn thực hiện thí điểm BHNN theo Quyết định 315/QĐ-TTg

Nhằm phát triển thị trường BHNN, ngày 01/03/2011 Chính phủ ban hành Quyết định số 315/QĐ-TTg về việc thực hiện thí điểm BHNN giai đoạn 2011- 2013 tại 20 tỉnh thành Theo tinh thần Quyết định này, các chính sách khuyến khích từ Chính phủ khá mạnh mẽ, chưa từng có trước đây, cụ thể:

Đối tượng được BH gồm 9 loại sản phẩm: Lúa, trâu, bò, heo, gà, vịt, cá Tra, tôm Sú, tôm Thẻ Chân trắng; với rủi ro được BH và bồi thường BH gồm 7 loại thiên tai và 18 loại dịch bệnh của các đối tượng trên Nhà nước hỗ trợ 100% phí BH cho hộ nông dân, cá nhân nghèo SXNN; 80% phí BH cho hộ nông dân, cá nhân cận nghèo; 60% phí BH cho hộ nông dân, cá nhân không thuộc diện nghèo, cận

Trang 27

nghèo và 20% phí BH cho tổ chức SXNN Tổng công ty BH Bảo Việt, Tổng công ty cổ phần BH Bảo Minh, Tổng công ty cổ phần tái BH quốc gia Việt Nam được lựa chọn là các doanh nghiệp triển khai thí điểm BHNN với mục tiêu không

vì lợi nhuận [14]

Tuy nhiên phải đến ngày 01/7/2011 thì chương trình thí điểm mới thực sự bắt đầu sau khi Thông tư 47/TT-BNNPTNT do Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành ngày 29/6/2011 có hướng dẫn cụ thể về: Các loại rủi ro được BH, mức độ thiệt hại được BH, quy trình sản xuất đối với các sản phẩm triển khai thí điểm BHNN, quy mô sản xuất được tham gia thí điểm BHNN, thẩm quyền công bố thiên tai, dịch bệnh và trách nhiệm của người tham gia thí điểm BH Đến ngày 17/8/2011, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 121/TT-BTC hướng dẫn đối với DNBH, trách nhiệm của các cơ quan hữu quan, chế độ hạch toán doanh thu, chi phí của DNBH Trong đó, đáng chú ý là việc DNBH tham gia triển khai theo nguyên tắc không vì mục tiêu lợi nhuận và phải hạch toán tách biệt doanh thu, chi phí với các hoạt động BHNN (nếu có) mà doanh nghiệp đang triển khai Ngày 27/02/2013, Chính phủ ra Quyết định 358/QĐ-TTg nâng mức hỗ trợ cho hộ nông dân, cá nhân cận nghèo SXNN tham gia thí điểm BHNN từ 80% lên 90% phí BH [15]

Theo báo cáo tổng kết ngày 27/6/2014 của Bộ Tài chính, kết quả thí điểm BHNN giai đoạn 2011-2013 cho thấy, trong 3 năm triển khai có 304.017 hộ nông dân/tổ chức SXNN tham gia BHNN, trong đó hộ nghèo chiếm 76,76% tổng số hộ tham gia, hộ thường và tổ chức SXNN chiếm 8,13%, còn lại là hộ cận nghèo Doanh thu phí BH là 394.000 triệu đồng, bồi thường là 701,8 tỷ đồng, tỷ lệ bồi thường trên doanh thu BH là 178,12% Cụ thể trong bảng số liệu dưới đây:

BH thủy sản Tổng

1 Số lượng hộ tham gia Hộ 236.397 60.133 7.487 304.017

Trang 28

1.3 Hộ bình thường Hộ 15.892 3.686 5.133 24.711

2 Doanh thu phí BH Tỷ đ 91,919 83,906 218,175 394,000

(Nguồn: Báo cáo của Bộ tài chính về kết quả thí điểm BHNN giai đoạn 2011-2013) 1.2.2.3 So sánh thực trạng thị trường BHNN trước và sau khi thực hiện Quyết định 315/QĐ-TTg

Giai đoạn trước khi thực hiện Quyết định 315/QĐ-TTg, số lượng các DNBH

và số hộ nông dân tham gia thị trường BHNN rất thấp, doanh thu BH chỉ bằng 2,23% giai đoạn sau, tất cả các DNBH triển khai đều thua lỗ Từ năm 2005-2010, các doanh nghiệp thu hẹp quy mô và đối tượng BH, chỉ BH những loại cây trồng vật nuôi có tỷ lệ rủi ro thấp, thu phí BH cao nên tỷ lệ bồi thường cả giai đoạn này là 32,34% Tuy nhiên người dân lại không mặn mà tham gia BHNN

Bảng 1.3: Một số chỉ tiêu so sánh thực trạng thị trường BHNN

trước và sau khi thực hiện Quyết định 315/QĐ-TTg

Doanh thu BHNN bình

quân (tỷ đ)

Bồi thường BHNN bình

quân (tỷ đ)

Bồi thường/ Doanh thu

(%)

1 Trước khi thực hiện Q.định 315/QĐ-TTg 1,308 0,423 32,34

2 Sau khi thực hiện Q.định 315/QĐ-TTg 131,333 233,933 178,12

(Nguồn: Số liệu tác giả tổng hợp)

Giai đoạn sau, do Quyết định 315/QĐ-TTg ra đời quy định sự hỗ trợ rất lớn

từ Nhà nước bao gồm trợ cấp phí BH, trợ cấp phí quản lý và trợ cấp phí tái BH nên thị trường BHNN phát triển hơn Số hộ nông dân tham gia lớn nên doanh thu phí

BH tăng hơn so với trước là 128,401 tỷ đồng Tuy nhiên, vì Chính phủ quy định những rủi ro được BH cho đối tượng vật nuôi, cây trồng và tôm, cá với một số thiên tai, dịch bệnh có tần số xuất hiện và mức độ thiệt hại cao nên tỷ lệ bồi thường/doanh

Trang 29

thu giai đoạn này lên tới 178,12% Như vậy, có thể khẳng định, nếu không có sự hỗ trợ của Nhà nước thì thị trường BHNN của Việt Nam rất khó có thể tồn tại được

1.2.2.4 Đánh giá chung về thực trạng phát triển thị trường BHNN ở Việt Nam

Những số liệu về thực trạng thị trường BHNN ở Việt Nam trong thời gian qua cho thấy, thị trường BHNN ở Việt Nam phát triển rất chậm Chương trình thí điểm đã kết thúc và đạt được những kết quả đáng kể Tuy nhiên, hiện nay đối với một bộ phận khá lớn nông dân, BHNN vẫn còn là vấn đề rất mới mẻ, còn nhiều người dân chưa hề biết đến khái niệm về BHNN Nguyên nhân do cả phía cung (DNBH) và phía cầu về BHNN (các chủ thể SXNN) đang còn e dè, thận trọng, chờ đợi và thăm dò lẫn nhau, thêm vào đó là vai trò điều tiết của Nhà nước còn chưa rõ ràng Nguyên nhân cụ thể:

a Về phía Nhà nước

(1) Hệ thống văn bản pháp luật về BHNN chưa hoàn chỉnh Cho đến nay, Việt Nam chưa có luật BHNN, và luật bảo hiểm của Việt Nam cũng chưa có những điều khoản quy định cụ thể về BHNN Do vậy, nếu không xây dựng hệ thống văn bản pháp lý cụ thể, riêng biệt cho BHNN thì thị trường này khó có thể tồn tại và phát triển

ổn định [18,19]

(2) Trước khi thực hiện Quyết định 315/QĐ-TTg các chủ trương của Nhà nước giai đoạn này mới chỉ dừng lại ở mức chỉ đạo, chưa có cơ chế hỗ trợ cụ thể cho nông dân và DNBH như: cơ chế, chính sách bù đắp tài chính cho DNBH khi xảy ra rủi ro vượt quá mức độ chi trả của DNBH, chưa có chính sách hỗ trợ toàn bộ hay một phần phí BH gốc cho nông dân

(3) Những bất hợp lý trong các văn bản luật về BHNN cần tiếp tục được nghiên cứu và hoàn thiện để triển khai BHNN trên phạm vi cả nước Các bất hợp lý quy định trong Thông tư 47/2011/TT-BNNPTNT về quy mô chăn nuôi, ngưỡng tỷ

lệ thiệt hại được thanh toán BH, quá trình ra quyết định công bố dịch của chủ tịch UBND tỉnh và thủ tục chi trả BH…là những nội dung cần phải sửa đổi cho phù hợp

để tạo thuận lợi cho người dân khi tham gia BH Ngoài ra, việc quy định các DNBH

Trang 30

triển khai thí điểm bảo BHNN không được ghi nhận lãi đối với nghiệp vụ BHNN đã không khuyến khích các DNBH tham gia thị trường BHNN

(4) Việc Nhà nước trích những khoản trợ cấp rất lớn để cứu trợ người dân khi gặp thiên tai và khoanh nợ, xoá nợ đã tạo nên tính ỷ lại của người nông dân vào Nhà nước, không tạo thành thói quen mua BH Thay bằng việc trợ cấp sau thiên tai, Nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ tài chính, cụ thể là phí BH cho người nông dân

(5) Công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến pháp luật và chính sách BHNN còn hạn chế, đến nay vẫn còn một bộ phận rất lớn nông dân hiểu biết một cách mơ hồ về chủ trương, chính sách BHNN của Nhà nước

(6) Hiện nay, Nhà nước chưa chú trọng đầu tư vào công tác điều tra, nghiên cứu, dự báo để xây dựng chính sách BHNN thống nhất, đồng bộ và phù hợp với từng vùng miền [19]

b Về phía doanh nghiệp bảo hiểm

(1) Hiện nay, sản phẩm BHNN mà các DNBH cung cấp chưa phù hợp với thực tế ngành SXNN nước ta Các DNBH hiện nay chưa có sản phẩm chuẩn, cụ thể cho một loại đối tượng BH, cho một hoặc một nhóm rủi ro nhất định và được triển khai trên quy mô rộng

(2) Công tác khai thác nghiệp vụ BH gặp nhiều khó khăn do hoạt động SXNN của nông dân manh mún, phân tán trên địa bàn rộng, lực lượng cán bộ của các DNBH mỏng, trình độ chuyên môn hạn chế, mức độ hiểu biết về nông nghiệp còn thấp, chi phí khai thác nghiệp vụ lớn Việc xác định giá trị thiệt hại khi

có rủi ro xảy ra không dễ dàng, dễ bị trục lợi BH

(3) Lợi nhuận thu được từ hoạt động BHNN thấp (thậm chí lỗ) đã không khuyến khích các các DNBH tham gia thị trường này Ngoài ra, năng lực tài chính của các các DNBH Việt Nam còn hạn hẹp, trong khi thị trường BH Việt Nam còn nhiều khoảng trống, có nhiều lĩnh vực BH hấp dẫn hơn để các DNBH mở rộng kinh doanh Điều đó giải thích tại sao chỉ có vài các DNBH đã triển khai BHNN Và hiện nay, họ cũng chỉ triển khai trong phạm vi hẹp, những cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, ít rủi ro, đem lại lợi nhuận cho các DNBH

Trang 31

(4) Chưa có phương án và cơ chế hợp tác, liên kết giữa các DNBH với chính quyền địa phương và các ngành hữu quan trong việc triển khai BHNN, thiếu sự hỗ trợ từ hoạt động tái BH cho BHNN

c Về phía người sản xuất

(1) Người nông dân chưa có thói quen và nhận thức đầy đủ về BHNN: Thói quen sản xuất phó thác cho tự nhiên đã thấm sâu vào suy nghĩ của người nông dân

cả nghìn năm nay khiến người nông dân không chủ động tham gia BH Trong khi

đó, DNBH lại chưa làm tốt công tác tuyên truyền về lợi ích của việc tham gia BH, thậm chí khi triển khai thí điểm công tác tuyên truyền vẫn còn nhiều hạn chế Khi

có Quyết định 315/QĐ-TTg ra đời, tuy số lượng các hộ nông dân tham gia nhiều hơn nhưng chủ yếu mới là người nghèo và cận nghèo, hộ bình thường và tổ chức SXNN chỉ chiếm trên 8% Như vậy, họ chỉ đơn thuần tham gia mua BH khi được trợ cấp đáng kể từ Chính phủ

(2) Thu nhập của nông dân còn thấp nên khả năng tài chính để tham gia BHNN của người nông dân bị hạn chế Do đó, người nông dân không tham gia hoặc tham gia ít nên số tiền thu được từ bán BH cho người dân của các DNBH rất thấp, làm cho doanh nghiệp không mặn mà với thị trường này

(3) Vẫn còn hiện tượng rủi ro đạo đức xảy ra khi những cá nhân tham gia BH thay đổi hành vi của mình theo hướng tăng khả năng xảy ra các thiệt hại hơn hoặc làm thiệt hại trở nên trầm trọng hơn

(4) Người nông dân thường chỉ mua BH cho các vật nuôi, cây trồng của họ

có nguy cơ rủi ro xảy ra cao, còn trong trường hợp nguy cơ rủi ro xảy ra thấp, họ không tham gia BH Điều này dẫn tới sự bất lợi cho DNBH, không đảm bảo theo nguyên tắc số đông người tham gia BH bù đắp cho số ít người tham gia gặp rủi ro

(5) Sản xuất manh mún, kỹ thuật chăm sóc, sản xuất của người dân là tự phát, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, chưa có quy trình chuẩn nên việc kiểm soát, đánh giá nguyên nhân gây ra rủi ro rất khó khăn

1.2.3 Một số công trình nghiên cứu có liên quan

Hiện nay, ở nước ta có một số công trình nghiên cứu về BHNN như:

Trang 32

- Dự án “Phát triển BHNN theo chỉ số nhằm nâng cao năng lực của thị

trường tài chính nông thôn vì mục tiêu xóa đói giảm nghèo của Việt Nam” với gói

tài trợ số 1080-1076 của tổ chức Ford Foundation Tại dự án này, Công ty GlobalAgRisk nghiên cứu công trình phát triển BHNN ở Việt Nam và xuất bản bộ

cẩm nang gồm 4 tập về BHNN vào năm 2009 Tập 1: “Những thách thức trong

phát triển thị trường BHNN” tiến hành khảo sát và phân tích các thể chế hiện hữu

có ảnh hưởng như thế nào tới thực trạng cung và cầu BHNN, đồng thời tổng kết các phương thức tiếp cận truyền thống trong các chương trình BHNN Những lợi ích kinh tế của BHNN và các vấn đề đặc thù xuất phát từ thực trạng các hộ nhỏ lẻ chiếm đa số đem đến kết luận rằng những cách tiếp cận truyền thống không phù hợp

với Việt Nam [30] Tập 2: “Vai trò đánh giá rủi ro trong thiết lập định hướng ưu

tiên và chính sách BH” trình bày quy trình đánh giá rủi ro Cũng trong tập này, BH

chỉ số được giới thiệu như là một lựa chọn có tính khả thi cao đối với các rủi ro

thiên tai ở Việt Nam [31] Tập 3: “Ứng dụng trong đánh giá rủi ro và phát triển sản

phẩm BHNN ở Việt Nam” trình bày chi tiết những kinh nghiệm rút ra từ dự án thử

nghiệm sử dụng BH theo chỉ số để tập hợp và chuyển giao rủi ro do lũ lụt ở Việt Nam, đồng thời cũng nêu bật những nỗ lực hiện tại nhằm phát triển BHNN theo chỉ

số ở cấp nông hộ với rủi ro hạn hán [32] Tập 4: “Tầm nhìn chính sách trong phát

triển BHNN ở Việt Nam” trình bày khung chính sách về BHNN kèm theo chương

trình hành động cụ thể dành cho các cá nhân và các tổ chức có liên quan ở Việt Nam

Tuy nhiên, GlobalAgRisk mới chỉ tập trung nghiên cứu rủi ro và quy trình đánh giá rủi ro thiên tai (thời tiết, lũ lụt) trong sản xuất lúa và từ đó định hướng khung chính sách về BHNN cho rủi ro thiên tai, chưa nghiên cứu rủi ro, đánh giá rủi

ro và định hướng khung chính sách về BHNN trong chăn nuôi ở Việt Nam

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “BHNN ở Việt Nam, thực trạng và giải

pháp phát triển” của tiến sĩ Phạm Thị Định và các tác giả, trường Đại học Kinh tế

quốc dân (tháng 8/2011) Trong báo cáo tổng hợp, nhóm nghiên cứu đưa ra được các kết luận: (1) BHNN có ý nghĩa vô cùng quan trọng ở nước ta do Việt Nam là

Trang 33

nước SXNN và đang phải đối mặt với rất nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro thiên tai; (2)

Để thành công, BHNN phải có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước; (3) Mặc dù thị trường BHNN Việt Nam là rất tiềm năng và đã manh nha hình thành cách đây 3 thập kỷ, nhưng BHNN đến nay còn phát triển chậm; (4) Cần hoàn thiện chính sách và khuôn khổ pháp lý đối với hoạt động BHNN, khuyến khích các DNBH và nâng cao hiểu biết của người nông dân về BHNN để họ tham gia thị trường này

Tuy nhiên, nghiên cứu mới tập trung ở thực trạng chung hoạt động BHNN ở Việt Nam, không thực hiện được điều tra về nhu cầu tham gia BHNN ở một số vùng, miền cho một số loại vật nuôi, cây trồng chủ lực, chưa đưa ra được những đề xuất cụ thể về BHNN cho những loại vật nuôi, cây trồng đó (BH theo phương thức

BH nào, rủi ro nào cần được BH, mức hỗ trợ của Nhà nước ) Đề tài cũng chưa nghiên cứu chuyên sâu về kỹ thuật phương thức BH mới theo chỉ số (đặc biệt là cách tính phí BH theo các nấc chỉ số), mà mới chỉ dừng lại ở một số nội dung cơ bản ban đầu

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu chính sách bảo hiểm sản

xuất nông nghiệp ở Việt Nam” của tiến sĩ Phạm Bảo Dương và các tác giả, Viện

chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (năm 2011) Đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu các vấn đề về chính sách liên quan đến BHNN đến năm 2011 Cụ thể: thực trạng triển khai và chính sách liên quan đến BH sản xuất lúa gạo ở Thái Bình và An Giang, BH bò sữa ở Hà Nội, Long An và Lâm Đồng, BH cao su ở Bình Phước và Giai Lai

Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã kết luận: (1) Hoạt động BHNN ở Việt Nam chưa hoàn thiện nên các chính sách chưa thực sự tạo ra động lực đủ mạnh để thúc đẩy phát triển thị trường BHNN và vì thế nó cần được hoàn thiện (2) Rủi ro thiên tai, rủi ro dịch bệnh trong nông nghiệp là hết sức phức tạp, trong bối cảnh đó, để phát triển thị trường BHNN cần phải có mô hình và bước đi phù hợp (3) Cải thiện hệ thống chính sách là giải pháp quan trọng nhất để khuyến khích phát triển BH SXNN ở nước ta trong giai đoạn tới

Trang 34

Đồng thời, nhóm nghiên cứu đề xuất 3 vấn đề cần nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu cơ sở khoa học và đề xuất giải pháp, chính sách xây dựng hệ thống triển khai BHNN ở Việt Nam; Nghiên cứu hoàn thiện xây dựng cơ chế xác định rủi ro, giám định thiệt hại và chi trả bồi thường trong BHNN và nghiên cứu đề xuất giải pháp và chính sách khuyến khích phát triển BHNN tương hỗ ở Việt Nam Tuy nhiên, đề tài này cũng chưa đi sâu nghiên cứu BHNN trong chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi heo ở Việt Nam Mặt khác, nghiên cứu này thực hiện từ năm 2009-2011 khi thị trường BHNN ở Việt Nam chưa phát triển, Chính phủ chưa thực hiện Chương trình thí điểm BHNN nên những phân tích chưa mang tính cập nhật [19]

- Luận văn thạc sỹ kinh tế nông nghiệp “Một số giải pháp phát triển thị

trường bảo hiểm nông nghiệp trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội” (năm 2014) của tác giả Nguyễn Bá Huân (trường Đại học Lâm

Nghiệp) Nội dung của luận văn tác giả phân tích thực trạng chăn nuôi heo và khảo sát 300 hộ dân chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Chương Mỹ Theo đó, tác giả cũng

đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả bảo hiểm cây điều và phân tích được các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHNN của người dân trên địa bàn huyện Chương Mỹ Tác giả đã đưa ra được 3 nhóm giải pháp nhằm thực hiện BH nông nghiệp trong chăn nuôi lợn thu hút được hộ nông dân tham gia

Trang 35

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên của huyện Tân Phú

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Tân Phú là huyện nông nghiệp, nông thôn miền núi của tỉnh Đồng Nai được thành lập theo quyết định số: 107/HĐBT ngày 10/4/1991 của Hội đồng bộ trưởng về việc tách huyện Tân Phú (cũ) thành huyện Tân Phú (mới) và huyện Định Quán

Vị trí địa lý nằm phía Bắc tỉnh Đồng Nai, trung tâm huyện cách TP.Biên Hòa 100km, cách TP.HCM 126km Tọa độ địa lý của Huyện từ 11010’37” đến 11034’49” Vĩ độ Bắc Từ 107011’15” đến 107031’42” Kinh độ Đông Phía Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Tây Bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía Đông Bắc giáp tỉnh Bình Thuận, phía Nam giáp huyện Định Quán, phía Tây giáp huyện Vĩnh Cửu Tổng diện tích đất tự nhiên: 77.692.85 chiếm 13,63% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, mật độ dân số khoảng 202 người/km2

Ranh giới hành chính Huyện được chia thành 18 đơn vị hành chính gồm: 1 thị trấn Tân Phú và 17 xã: Phú Thịnh, Phú Bình, Phú Xuân, Phú Sơn, Phú Lộc, Đắc Lua, Nam Cát Tiên, Phú Điền, Trà Cổ, Phú Trung, Phú Lâm, Tà Lài, Phú Thanh, Phú An, Phú Lập, Thanh Sơn, Núi Tượng, với 145 khu, ấp; 911 tổ nhân dân; là huyện có mật độ dân số thấp, có vị trí địa lý nằm xa TP Biên Hòa (trung tâm tỉnh lỵ), tuy nhiên trên địa bàn huyện có Quốc lộ 20 nối liền Quốc lộ 1 (Hà Nội – TP HCM) với thành phố Đà Lạt và các tỉnh vùng Tây Nguyên Nên có nhiều lợi thế trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, điều kiện tiếp thu khoa học kỹ thuật và phát triển sản xuất hàng hóa, khá thuận lợi về giao thông và thông thương hàng hóa,

mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tăng cường khả năng hợp tác, giao lưu kinh

tế, văn hóa, du lịch với các tỉnh trong vùng, đặc biệt là TP HCM và Lâm Đồng (Nguồn: QH sử dụng đất huyện Tân Phú 2015 – 2020)

Trang 36

2.1.1.2 Địa hình, địa mạo, khí hậu và thủy văn

Huyện Tân Phú có dạng địa hình bán sơn địa, với những dãy đồi thoải lượn sóng Độ cao trung bình 150 – 300m so với mặt nước biển, nơi cao nhất lên đến 500m và có xu hướng thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam Độ dốc <100 chiếm diện tích đa số; có thể phân chia định hình của huyện thành 4 dạng là Núi thấp, Đồi thoải lượn sóng, Địa hình bằng và Địa hình trũng

Nhìn chung với các dạng địa hình phong phú như trên cho phép huyện Tân Phú đa dạng hóa các loại hình sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế tổng hợp Công nghiệp – Thương mại, dịch vụ, Du lịch; tuy nhiên cũng gặp hạn chế lớn trong

bố trí xây dựng và phát triển hạ tầng cơ sở như: giao thông, thủy lợi, điện, … phục

vụ sản xuất

Địa bàn huyện nằm trong vùng có lượng mưa tương đối cao, nhưng phân bố không đều, hình thành hai mùa trái ngược nhau: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau

Nhiệt độ trung bình năm 250C; nhiệt độ trung bình cao nhất 33,40C (tháng 3); nhiệt độ trung bình thấp nhất 18,50C (tháng 1)

Nhìn chung, các yếu tố khí hậu thời tiết cơ bản thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triển, cho phép bố trí đa dạng hóa cây trồng vật nuôi Tuy nhiên, tình trạng thiếu nước cho sản xuất và đời sống của nhân dân trong mùa khô và lũ lụt trong mùa mưa ảnh hưởng rất lớn đối với phát triển kinh tế - xã hội của Huyện

2.1.1.3 Điều kiện đất đai

Tân Phú là một huyện nông thôn miền núi được thiên nhiên ưu đãi về đất đai, thời tiết và thổ nhưỡng; với diện tích đất nông nghiệp (nông, lâm, ngư nghiệp) là 72.650,08 ha, chiếm 93,51% diện tích tự nhiên; trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp: 24.968,1; đất lâm nghiệp: 45.927,0 ha đất; đất phi nông nghiệp 5.011,41 ha; Đất chưa sử dụng 31,36 ha

Trang 37

Bảng 2.1: Cơ cấu sử dụng đất huyện Tân Phú

Đơn vị: ha

I Đất nông nghiệp (nông, lâm, ngư nghiệp) 72.650,80

2 Đất chuyên dùng (kể cả sông, suối, hồ chứa nước) 1.314,90 26,24

3 Các đất phi nông nghiệp khác 2.681,80 53,52

Trang 38

1 Đất bằng 22 70,06

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Tân Phú

2.1.2.1 Đặc điểm dân số, lao động

Dân số năm 2015 là: 167.019 người, tốc độ tăng bình quân là 0,98%, ở nông thôn 144.551 người; số hộ dân cư là: 40.364 hộ, tốc độ tăng bình quân là 0,95%, ở nông thôn là 35.277 hộ Số người trong độ tuổi lao động tăng từ 99.249 người năm

2010 lên 103.989 người năm 2015 (chiếm 71,94% so dân số năm 2015) Lao động làm việc trong các ngành kinh tế - xã hội tăng từ 71.846 người năm 2010 lên 80.207 người năm 2015

Cơ cấu sử dụng lao động đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng lao động trong các ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, nhưng sự chuyển dịch còn chậm, lao động sản xuất nông, lâm nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao

Bảng 2.2: Đặc điểm dân số và lao động huyện Tân Phú 2015

Trang 39

2.1.2.2 Đặc điểm phát triển các ngành kinh tế

Hơn 20 năm kể từ ngày thành lập; kinh tế huyện Tân Phú đạt mức tăng trưởng khá Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) giai đoạn 2011 – 2015 (theo giá CĐ 1994) đạt bình quân 11,12% năm; trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp – thủy sản tăng 5,24%/năm;công nghiệp – xây dựng tăng 26,86%/năm; dịch vụ tăng 13,79%/năm GRDP bình quân đầu người (giá thực tế) đạt 34,35 đồng, tăng 22,99 triệu đồng

Bảng 2.3: Đặc điểm phát triển kinh tế huyện Tân Phú giai đoạn 2013-2015

5.682

5.964 1,10

1

Nông lâm ngư

2.283

2.384

2.501 1,05

2 Công nghiệp- XD tỷ đồng

1.078

1.405

1.603 1,22

3

Thương mại, dịch

1.297

1.564

1.860 1,20

Trang 40

nông nghiệp) Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển ổn định, đã hình thành các vùng chuyên canh tập trung với các loại cây trồng chủ lực như Tiêu, Cà phê, Bưởi, Sầu riêng, Lúa, Bắp và đang từng bước hình thành các cánh đồng lớn, chuỗi liên kết sản xuất – tiêu thụ sản phẩm; quy hoạch và triển khai thực hiện quy hoạch 24 vùng phát triển chăn nuôi và giết mổ tập trung với diện tích 1.334 ha tạo điều kiện cho việc chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi quy mô trang trại; các tiến bộ kỹ thuật từng bước được chuyển giao, ứng dụng có hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp như sử dụng giống mới, phòng trừ dịch bệnh tổng hợp, tưới nước tiết kiệm, năng suất, chất lượng một số cây trồng, vật nuôi chủ lực của huyện được nâng lên, giá trị sản phẩm trồng trọt bình quân trên một đơn vị diện tích năm 2015 đạt 125 triệu đồng/ha, tăng 84% so với năm 2011 (67,8 triệu đồng/ha) Các hoạt động kinh doanh thương mại được cải thiện, tổng mức bán lẻ tăng trưởng bình quân 17,25% Trên địa bàn huyện có 11/16 chợ hoạt động thường xuyên, đáp ứng nhu cầu mua sắm của nhân dân Khu công nghiệp huyện đã đi vào hoạt động, diện tích cho thuê xây dựng nhà xưởng đạt 18%, giải quyết việc làm cho trên 3.000 lao động Bước đầu hình thành tuyến du lịch sinh thái vườn Quốc gia Cát Tiên gắn liền với du lịch cộng đồng ấp 4 xã Tà Lài, khu du lịch Suối Mơ đi vào hoạt động, góp phần đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí cho nhân dân trong và ngoài huyện

Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội gắn với quy hoạch sản xuất và quy hoạch cơ sở hạ tầng nông thôn Tập trung đầu tư nâng cấp, nhất là hệ thống giao thông, điện, trường học, y tế, thủy lợi… Đến năm 2015 tỷ lệ nhựa hóa, bê tông hóa đường huyện quản lý đạt 75,23% (tăng 10,23% so với năm 2011), đường xã quản

lý đạt 69,58% (tăng 42,88% so với năm 2011); 100% số xã được sử dụng điện lưới quốc gia, tỷ lệ hộ dân sử dụng điện an toàn đạt 99,5%; Tỷ lệ trường học các cấp: mầm non, tiểu học, THCS có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia đạt 73,7% (42/57 trường); đầu tư xây dựng 14/17 trung tâm văn hóa xã đạt 82,3%; 58/133 ấp có trung tâm học tập cộng đồng đạt 43,6%; huyện có 18 công trình thủy lợi (gồm 1 hồ chứa,

4 đập dâng, 10 trạm bơm và 3 công trình tiêu hóa, ngăn lũ), năng lực phục vụ tưới 4.278 ha đất sản xuất, tiêu 2.200 ha

Ngày đăng: 05/04/2017, 00:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban chỉ đạo bảo hiểm nông nghiệp tỉnh Nghệ An (2014), Báo cáo công tác triển khai thực hiện theo Quyết định số 315/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm bảo hiểm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An từ năm 2011-2013, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác triển khai thực hiện theo Quyết định số 315/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm bảo hiểm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An từ năm 2011-2013
Tác giả: Ban chỉ đạo bảo hiểm nông nghiệp tỉnh Nghệ An
Năm: 2014
3. Ban chỉ đạo bảo hiểm nông nghiệp tỉnh Thái Bình (2014), Báo cáo của Ban chỉ đạo thí điểm bảo hiểm nông nghiệp tỉnh Thái Bình về triển khai thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011-2013 theo Quyết định số 315/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của Ban chỉ đạo thí điểm bảo hiểm nông nghiệp tỉnh Thái Bình về triển khai thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011-2013 theo Quyết định số 315/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Tác giả: Ban chỉ đạo bảo hiểm nông nghiệp tỉnh Thái Bình
Năm: 2014
4. Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (2011), Thông tư số 47/2011/TT-BNNPTNT về việc hướng dẫn thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi thủy sản theo Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 47/2011/TT-BNNPTNT về việc hướng dẫn thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi thủy sản theo Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ
Tác giả: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
Năm: 2011
5. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2014), Báo cáo tham luận kết quả thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011-2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tham luận kết quả thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011-2013
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Năm: 2014
6. Bộ Tài chính (2011), Thông tư số 121/2011/TT-BTC về việc hướng dẫn một số điều của Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/ 3/2011 của Thủ tướng Chính phủvề thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011-2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 121/2011/TT-BTC về việc hướng dẫn một số điều của Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/ 3/2011 của Thủ tướng Chính phủvề thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011-2013
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2011
7. Bộ tài chính (2011), Thông báo số 25a/TB-BTC về kết luận hội nghị triển khai Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/03/2011 của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo số 25a/TB-BTC về kết luận hội nghị triển khai Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/03/2011 của Thủ tướng Chính phủ
Tác giả: Bộ tài chính
Năm: 2011
8. Bộ Tài chính (2011), Quyết định số 3035/QĐ-BTC về việc ban hành quy tắc, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 3035/QĐ-BTC về việc ban hành quy tắc, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm nông nghiệp
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2011
9. Bộ Tài chính (2012), Quyết định số 2114/QĐ-BTC về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy tắc, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm nông nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số 3035/QĐ-BTC ngày 16/12/2011 của Bộ trưởng Bộ tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 2114/QĐ-BTC về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy tắc, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm nông nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số 3035/QĐ-BTC ngày 16/12/2011 của Bộ trưởng Bộ tài chính
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2012
10. Bộ Tài chính (2013), Thông tư số 96/2013/TT-BTC về việc sửa đổi bổ sung thông tư số 121/2011/TT-BTC ngày 17/08/2011 về việc hướng dẫn một số điều của Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011-2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 96/2013/TT-BTC về việc sửa đổi bổ sung thông tư số 121/2011/TT-BTC ngày 17/08/2011 về việc hướng dẫn một số điều của Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011-2013
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2013
11. Bộ Tài chính (2013), Thông tư số 57/2013/TT-BTC về việc sửa đổi, bổ sung Thông tư số 121/2011/TT-BTC ngày 17/8/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011-2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 57/2013/TT-BTC về việc sửa đổi, bổ sung Thông tư số 121/2011/TT-BTC ngày 17/8/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011-2013
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2013
12. Bộ Tài chính (2014), Báo cáo kết quả thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp theo Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp theo Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2014
13. Chính phủ (2011), Quyết định số 315/QĐ-TTg về việc thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011-2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 315/QĐ-TTg về việc thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011-2013
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
14. Chính phủ (2013), Quyết định 358/QĐ-TTg về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/03/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện thí điểm Bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011-2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 358/QĐ-TTg về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/03/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện thí điểm Bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011-2013
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
15. Công ty Bảo hiểm Bảo Việt (2014),Báo cáo tổng kết thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011-2013 theo Quyết định số 315/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011-2013 theo Quyết định số 315/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Tác giả: Công ty Bảo hiểm Bảo Việt
Năm: 2014
16. Nguyễn Mậu Dũng (2011), “Phát triển bảo hiểm nông nghiệp ở Trung Quốc”, Nghiên cứu Trung Quốc, (số 7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Phát triển bảo hiểm nông nghiệp ở Trung Quốc”", Nghiên cứu Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Mậu Dũng
Năm: 2011
17. Phạm Bảo Dương (2011), Nghiên cứu chính sách bảo hiểm sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam, Đề tài cấp Bộ, Viện chính sách và phát triển nông nghiệp nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chính sách bảo hiểm sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Bảo Dương
Năm: 2011
18. Phạm Thị Định (2011), Bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp phát triển, Đề tài cấp Bộ, trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp phát triển
Tác giả: Phạm Thị Định
Năm: 2011
19. Phòng Kinh tế huyện Tân Phú (2013), Báo cáo phát triển kinh tế - xã hội huyện Tân Phú 2013, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển kinh tế - xã hội huyện Tân Phú 2013
Tác giả: Phòng Kinh tế huyện Tân Phú
Năm: 2013
22. Tổng công ty cổ phần Bảo Minh (2014), Báo cáo tham luận Hội nghị tổng kết thí điểm bảo hiểm nông nghiệp theo Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tham luận Hội nghị tổng kết thí điểm bảo hiểm nông nghiệp theo Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ
Tác giả: Tổng công ty cổ phần Bảo Minh
Năm: 2014
23. Trạm thú y huyện Tân Phú (2013), Báo cáo thống kê thực đàn gia súc trên địa bàn huyện Tân Phú giai đoạn 2011-2013, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thống kê thực đàn gia súc trên địa bàn huyện Tân Phú giai đoạn 2011-2013
Tác giả: Trạm thú y huyện Tân Phú
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w