I Khái niệm và phân loại tự do hoá tài chính1.1Khái niệm Tự do hóa tài chính là quá trình giảm thiểu và cuối cùng là hủy bỏ sự kiểm soát của Nhà nước đối với hoạt động của hệ thống tài c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
Tiểu luận :
“ TỰ DO HOÁ TÀI CHÍNH “
GVHD : Th.S TRƯƠNG MINH TUẤN NHÓM 7
TP Hồ Chí Minh Tháng 12 năm 2014
Trang 2I Khái niệm và phân loại tự do hoá tài chính
1.1Khái niệm
Tự do hóa tài chính là quá trình giảm thiểu và cuối cùng là hủy bỏ sự kiểm soát của Nhà nước đối với hoạt động của hệ thống tài chính quốc gia, làm cho
hệ thống này hoạt động tự do hơn và hiệu quả hơn theo quy luật thị trường Như vậy, bước đầu tiên trong việc tự do hóa dịch vụ tài chính là xóa bỏ các quy định, rào cản pháp lý Việc xóa bỏ các quy định, rào cản không có nghĩa là xóa bỏ một cách hoàn toàn, mà cần bãi bỏ những quy định không cần thiết, có tính ngăn cản sự phát triển các chủ thể
Những quy định, những rào cản pháp lý được xóa bỏ, từ đó giúp cho các chủ thể phát triển cảvề mặt chất lượng cũng như số lượng.Nói cách khác, đây là sự
đa dạng hóa các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính cũng như các sản phẩm dịch
vụ tài chính.Đồng thời, lúc này các chủ thểcung cấp dịch vụ kể cả trong nước lẫn nước ngoài sẽ bình đẳng với nhau, cùng cạnh tranh trong một “sân chơi” bình đẳng
Bản chất của tự do hóa tài chính là hoạt động tài chính theo cơ chế nội tại vốn có của thị trường và chuyển vai trò điều tiết tài chính từ chính phủ sang thị trường, mục tiêu là tìm ra sự phối hợp có hiệu quả giữa Nhà nước và thị trường trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế – xã hội
1.2 Phân loại tự do hóa tài chính
Tự do hóa tài chính trong nước: cho phép các tổ chức tài chính trong nước tự
do thực hiện các dịch vụ tài chính theo nguyên tắc thị trường, các thị trường tài chính trong nước được khuyến khích phát triển, các công cụ chính sách tiền tệ được điều hành theo tín hiệu thị trường
Trước tự do hóa, nhà nước nắm giữ tòan bộ hệ thống ngân hàng và các công
ty bảo hiểm Do đó, ngoài hình thức sở hữu nhà nước, không có một hình thức
sở hữu nào khác Quá trình tự do hóa đưa đến sự song song tồn tại giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân Bên cạnh các ngân hàng thương mại, công ty bảo
Trang 3hiểm, định chế khác của nhà nước, các ngân hàng thương mại cổ phần, các công
ty bảo hiểm, công ty tài chính dưới nhiều hình thức sở hữu khác nhau được thành lập Phạm vi hoạt động của các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính này cũng không bị hạn chế Tư nhân hóa ở mức độ hợp lý là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của tiến trình tự do hóa nội bộ
Tự do hóa tài chính với nước ngoài: loại bỏ kiểm soát vốn, và các hạn chế trong quản lí ngoại hối bao gồm tự do hóa giao dịch vãng lai và tự do hóa giao dịch vốn
Mở cửa cạnh tranh đòi hỏi cho phép các chủ thể nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ quốc gia (đều được người ta gọi là quyền thành lập), tạo cho các chủ thể này những điều kiện hoạt động như những chủ thể trong nước Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là chấm dứt mọi quy định hay giám sát các hoạt động cung cấp dịch vụ Tự dohóa đòi hỏi phải tăng cường cơ sở hạ tầng quy chế và các cơ quan giám sát
II Những thuận lợi và khó khăn của tự do hoá tài chính.
2.1 Thuận lợi
Nhìn từ góc độ kinh tế, hoạt động dịch vụ tài chính cũng giống như các hoạt động trao đổi mua bán các hàng hoá và dịch vụ khác, có thể có những tác động tích cực đến thu nhập và sự tăng trưởng của tất cả các đối tác tham gia Lợi ích của việc tự do hoá các hoạt động thương mại trong lĩnh vực dịch vụ tài chính có thể có được nhìn nhận trên một số giác độ sau:
1 Tự do hoá tài chính sẽ tăng thêm áp lực cạnh tranh làm cho khu vực dịch vụ tài chính hoạt động có hiệu quả và ổn định hơn, đồng thời giúp các tổ chức tài chính nội địa có điều kiện cải thiện năng lực quản lý
2 Tự do hoá tài chính sẽ làm tăng thêm chất lượng các dịch vụ tài chính được cung cấp (do sự độc quyền bị loại bỏ) Người tiêu dùng có thể được
Trang 4hưởng những sản phẩm dịch vụ mới, đa dạng, tiện ích với chi phí và thời gian
ít nhất
3 Tự do hoá các dịch vụ tài chính đem đến nhiều cơ hội cho việc chuyển giao công nghệ và làm giảm thiểu những rủi ro có tính hệ thống
4. Tự do hoá các dịch vụ tài chính tạo điều kiện cho việc thiết lập một chính sách kinh tế vĩ mô có hiệu quả hơn phù hợp với những điều kiện trong một nền kinh tế mở, trên cơ sở đó thực hiện phân phối nguồn lực một cách có hiệu quả trên cơ sở khai thác tối đa lợi thế kinh tế trong nước và thế giới Việc mở cửa thị trường tài chính cũng đồng thời góp phần củng cố lại các tổ chức trung gian tài chính và tạo nhiều cơ hội hơn cho các nhà đầu tư, thông qua việc nâng cao hiệu lực quản lý và giảm nhiều rủi ro, góp phần thúc đẩy chính phủ các nước cải tiến phương pháp quản lý vĩ mô nền kinh tế và thay đổi cách thức can thiệp vào thị trường, đồng thời thúc đẩy việc hoàn thiện hàng lang pháp lý và hệ thống kiểm tra, giám sát của chính phủ đối với những lĩnh vực dịch vụ này
Việc loại bỏ yếu tố độc quyền, tăng cường sự cạnh tranh là nhân tố có tính quyết định trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ, đa dạng hoá các loại hình sản phẩm và mở rộng cơ hội lựa chọn cho người tiêu dùng
Tóm lại, lợi ích tối thượng của tự do hoá tài chính là tạo ra một sự cạnh tranh bình đẳng trong một thị trường trước đây vốn được đặc trưng bằng những yếu tố độc quyền. Cạnh tranh chính là động lực thúc đẩy việc giảm thiểu chi phí, nâng cao chất lượng phục vụ, phân tán rủi ro và tạo cơ hội phát huy lợi thế kinh tế quy mô, tăng cường chuyển giao công nghệ và tạo môi trường thay đổi chính sách quản lý vĩ mô nền kinh tế Trên cơ sở đó, tăng cường năng lực cạnh tranh và sẵn sàng đối phó với những bất thường có thể xảy ra trên bình diện quốc tế
Trang 5
2.2 Khó khăn
Tiềm năng lợi ích của tự do hoá tài chính là rất lớn, tuy nhiên tự do hoá tài chính cũng cố những mặt trái nhất thiết phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, đặc biệt trong điều kiện xu thế tự do hoá tài chính cũng mới chỉ dừng lại ở những bước đi ban dầu Những hạn chế của tự do hoá tài chính thông thường được nhìn nhận trên hai giác độ:
Thứ nhất: Tự do hoá tài chính có thể làm tăng thêm khả năng gây ra khủng hoảng tài chính nếu tiến trình tự do hoá được thực hiện một cách nôn nóng, sai trình tự hoặc thiếu đồng bộ trong các biện pháp quản lý vĩ mô ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế
Mở cửa thị trường tài chính và khủng hoảng tài chính ngân hàng đã từng
là nỗi ám ảnh tưởng như có mối quan hệ nhân quả đối với các nước thi hành chính sách này trong khoảng thời gian trước đây Do vậy, nhiều người cho rằng khủng hoảng ngân hàng là sự kiện kéo theo của cải cách hệ thống tài chính theo hướng mở cửa Thậm chí, nhiều chính phủ cho rằng đó là cái giá phải trả của tự do hoá tài chính
Tuy nhiên, theo nhiều nhà nghiên cứu, việc mở cửa thị trường tài chính, bản thân nó thực chất không phải là nguyên nhân sâu xa dẫn đến khủng hoảng tài chính - ngân hàng Việc cải cách hệ thống tài chính và tự do hoá có chăng chỉ lật tẩy và làm trầm trọng thêm những yếu kém trong thẻ chế và các chính sách tài chính vĩ mô vốn dĩ đã tiềm ẩn, và do đó làm tăng thêm rủi ro của việc dẫn đến khủng hoảng tài chính Những cải cách tài chính theo hướng mở cửa
đã diễn ra ở những nước này thực chất không gây cản trở hoặc làm phương hại đến lợi ích thực thụ, mà chỉ góp phần phơi bày những điểm yếu của hệ thống tài chính nội địa trước những điều kiện của hệ thống tài chính quốc tế
mà thôi
Trang 6Năm 1995, hai nhà nghiên cứu Kamisky và Reinhart và một số nhà nghiên cứu khác đã xác định một loạt các nhân tố đằng sau những vụ đổ vỡ ngân hàng trên thế giới Những nhân tố này gồm: sự không ổn định có tính vĩ
mô như sự thất thường của hoạt động thương mại; tính áp đặt trong chính sách
tỷ giá và lãi suất; sự bùng nổ của hoạt động cho vay; sự sụt giá tài sản, sự du nhập vốn một cách ồ ạt; sự chuẩn bị chưa kỹ lưỡng để sẵn sàng tiến hành mở cửa, và sự không tuân thủ tính logic và trình tự của những cải cách tài chính Nói cách khác, nguyên nhân chính của các cuộc khủng hoảng tài chính lại chính là những yếu kém tiềm ẩn của hệ thống ngân hàng, sự thiếu lành mạnh của hệ thống chính sách quản lý vĩ mô, sự thiếu vắng của một chế độ giám sát, kiểm tra có hiệu quả và sự sai lệch trong đường lối cải cách, chứ không phải xuất phát từ bản thân quá trình tự do hoá tài chính
Thứ hai: tài chính thường được coi là công cụ quản lý chiến lược và là lĩnh vực đặc biệt cần được nắm giữ bởi Nhà nước để tập trung thực hiện những mục đích quan trọng của một quốc gia Việc mở cửa thị trường tài chính có thể có nguy cơ làm xao nhãng hoặc thiếu tập trung trong việc điều hành để thực hiện những mục tiêu đó vì các tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài
sẽ không quan tâm đến một mục đích nào khác hơn là mục đích lợi nhuận Đặc biệt, trong điều kiện hệ thống tài chính nội địa có khả năng cạnh tranh kém, nền tài chính có nguy cơ bị thống trị bởi các tổ chức, doanh nghiệp tài chính nước ngoài thì quyền lực kiểm soát, khống chế và điều khiển thị trường tài chính của Nhà nước sẽ dần bị thu hẹp lại, và do đó có thể phương hại đến mục tiêu chiến lược của quốc gia Hơn nữa, việc mở cửa thị trường tài chính nếu không được chuẩn bị kỹ lưỡng có thể sẽ dẫn đến nhiều hiện tượng tiêu cực, thiếu lành mạnh như lừa đảo, phá sản, đổ vỡ gây thiệt hại đến lợi ích của người tiêu dùng
Trang 7III Các yếu tố thúc đẩy tự do hóa tài chính
3.1 Sự phát triển của ngành công nghệ thông tin
Sự phát triển của ngành công nghệ thông tin đang tạo nhiều khả năng trao đổi xuyên biên giới.Các sản phẩm thông tin đặc biệt là sự ra đời của Internet đã góp phần giảm chi phí giao dịch, cung cấp thêm các kênh mới cho các giao dịch thương mại và giảm các hàng rào đối với sựtham gia của các công ty nhỏ và xa xôi về mặt địa lý.Các doanh nghiệp có thể liên hệ trên toàn thế giới
3.2 Nhu cầu xây dựng nền tài chính quốc gia vững mạnh và hiệu quả
Chính phủ các nước ngày càng nhận thấy rằng bảo hộ không phải là cách tốt nhất thực hiện mục tiêu về chính sách Do những can thiệp làm méo mó thị trường của chính phủ, các nguồn lực tài chính phân bổ không hiệu quả làm nảy sinh nhiều khoản tín dụng xấu dẫn đến nguy cơ dễ đổ vỡ cho các trung gian tài chính Trong khi đó, để phát triển kinh tế đòi hỏi một nền tài 14 chính vững mạnh, hữu hiệu, các thể chế tài chính đáng tin cậy nhằm củng cố lòng tin của người tiêu dùng và giới đầu tư, buộc chính phủ các nước phải thực hiện nhiều cải cách thị trường theo hướng mở cửa Những cải cách theo hướng này giúp các quốc gia hấp thu nhiều lợi ích to lớn Điều này làm gia tăng xu hướng tự do hóa trên phạm vi toàn cầu
VI Tiến trình tự do hóa tài chính
Tự do hóa tài chính được tiến hành sau tự do hóa thương mại Tiến trình tự
do hóa tài chính trải qua những bước sau:
Bước 1: Cải tiến và hiện đại hóa ngân hàng, đây là điều kiện cần thiết để
phát triển cơ sở hạ tầng trên thị trường tài chính
Bước 2: Tự do hóa hoàn toàn lãi suất và thực hiện chính sách tỷ giá thả nổi
có sự quản lý của nhà nước
Tự do hóa lãi suất là một phần quan trọng của tự do hóa tài chính, bản chất của tự do hóa lãi suất chính là cơ chế điều hành lãi suất hoàn toàn để cho cung
Trang 8cầu vốn trên thị trường xác định lãi suất cân bằng Ngân hàng trung ương chỉ can thiệp bằng các công cụ để điều hành theo định hướng
Tự do hóa lãi suất gắn liền với cải cách cơ cấu, bao gồm: Cơ cấu lại các khoản nợ khó đòi, tiến hành tư nhân hóa một số ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước, áp dụng các chính sách kích thích cạnh tranh lành mạnh trong khu vực ngân hàng
Chính sách tỷ giá thả nổi có quản lý là xây dựng một hành lang tỷ giá cho phép tỷ giá giao động trong một khoảng giới hạn nhất định xung quanh tỷ giá chính thức của ngân hàng trung ương
Bước 3: Tự do hóa các giao dịch trên tài khoản vãng lai, xóa bỏ hoàn toàn
cơ chế phân bổ quota và những rào cản khác trong giao dịch vãng lai
Bước 4: Từng bước tự do hóa các giao dịch trên tài khoản vốn.
Tự do hóa giao dịch vốn là quá trình dỡ bỏ dần những hạn chế đối với các giao dịch này như xóa bỏ hoàn toàn những quy định hạn chế tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu của các nhà đầu tư nước ngoài Cho phép các nhà đầu tư nước ngoài chuyển vốn về nước với các khoản đầu tư dài hạn-ngắn hạn thông qua hệ thống ngân hàng Việt Nam Cho các doanh nghiệp trong nước tự do tiếp cận với các nguồn vốn quốc tế thông qua phát hành cổ phiếu
Đối với người dân tự do hóa nguồn vốn cho phép họ thực hiện các hoạt động ở nước ngoài như mở tài khoản ngân hàng, tham gia các hoạt động đầu tư nhằm đạt lợi nhuận cao
Các doanh nghiệp được phép đầu tư và sở hưu các công ty khác nhau, các dòng vốn được tự do di chuyển từ nơi có tỷ suất sinh lợi thấp sang những nơi có
tỷ suất sinh lợi cao
V - Điều kiện để cho tự do hóa tài chính thành công
Cải cách tài chính ở Việt Nam, hội nhập tài chính bằng cách mở cửa dần từng bước các giao dịch thương mại trên lĩnh vực tài chính là một xu hướng tất yếu.Việt Nam muốn hội nhập tài chính thì chính sách tài chính và chính sách tiền tệ phải linh hoạt
Trang 9Những điều kiện cho việc tự do hóa tài chính thành công là:
- Ổn định đáng tin cậy
- Quản lý kinh tế vĩ mô vững chắc và tiết kiệm quốc gia cao
- Thực hiện đúng lộ trình tự do hóa kinh tế
- Hệ thống tài chính hoạt động hiệu quả
- Hệ thống giám sát ngân hàng hợp lý và việc thi hành có hiệu quả
Giám sát chặt chẽ hệ thống ngân hàng thông qua việc yêu cầu dự trữ, phân hạng tài sản và báo cáo, phân tán rủi ro… Việc giám sát chặt chẽ sẽ giúp tránh nguy cơ xảy ra khủng hoảng ngân hàng Ở Chi lê do việc thiếu giám sát dẫn đến cuộc khủng hoảng ngân hàng vào giai đoạn 1981 – 1983
VI - Thực trạng về tự do hóa tài chính ở Việt Nam:
4.1 Về thực trạng phát triển thị trường tiền tệ
Tham gia thị trường tiền tệ gồm có: 5 Ngân hàng thương mại Nhà nước, Ngân hàng chính sách xã hội, 36 Ngân hàng thương mại cổ phần, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài (HSBC Vietnam, Standard Chartered Vietnam, Shinhan Vietnam, ANZ Vietnam, Hong Leong), 4 ngân hàng liên doanh, 51 chi nhánh ngân hàng nước ngoài và 49 văn phòng đại diện của ngân hàng nước ngoài Ngoài ra, còn có 2 công ty tài chính 100% vốn nước ngoài, gồm Home Credit
và Prudential, một số công ty bảo hiểm , quỹ tín dụng nhân dân, quỹ đầu tư Tuy nhiên tham gia là thành viên của thị trường liên ngân hàng, thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc nhà nước, thị trường mở thì không phải tất cả các tổ chức trên, hầu như chỉ có các NHTM NN, NHTM, ngân hàng liên doanh, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, một số công ty bảo hiểm
Nhìn chung, năm 2014 trên TTTT, lãi suất cho vay và huy động liên tục biến động, tỷ giá giữ ở mức ổn định trong một khoảng thời gian dài Thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng ổn định, đảm bảo an toàn, cung - cầu vốn không
có biến động lớn, vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng (TCTD) đảm bảo khả năng thanh toán
Trang 10Từ đầu năm tới nay Ngân hàng Nhà nước chỉ 1 lần điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng USD/VND tăng 1% , đây là việc làm rất cần thiết và phần nào phản ánh giá trị thực của VND Trong ngắn hạn tỷ giá vẫn ổn định do đồng USD đang mất giá quá mạnh trên thị trường thế giới. Tuy nhiên, ở Việt Nam lượng kiều hối thường gia tăng đột biến vào cuối năm, nguồn cung này sẽ góp phần giảm áp lực dự trữ ngoại tệ Dự báo cho một thị trường ngoại hối dần ổn định, cung cầu ngoại tệ trên thị trường đã dần cân bằng, tính thanh khoản ngoại
tệ được cải thiện đáng kể, tỷ giá trên thị trường tự do sát với tỷ giá của các ngân hàng thương mại
Với sự phát triển của các tổ chức trung gian tài chính, đặc biệt là các TCTD, với cơ chế điều hành chính sách tiền tệ và nghiệp vụ Ngân hàng Trung ương tiến dần tới phù hợp với thông lệ quốc tế, các Ngân hàng thương mại và
Tổ chức tín dụng được chủ động trong các hoạt động huy động vốn và cho vay của mình, tham gia tích cực, năng động và cạnh tranh mạnh mẽ với nhau trên thị trường tiền tệ, theo đó, nó cũng có điều kiện thúc đẩy thị trường tiền tệ phát triển
4.2 Về thực trạng phát triển thị trường tiền gửi và huy động vốn:
Đây là thị trường có sự cạnh tranh mạnh mẽ nhất và sôi động nhất giữa các tổ chức trung gian tài chính trong việc thu hút tiền nhàn rỗi trong dân cư
Năm 2008, sự biến động vào đầu năm của lãi suất và mức dự trữ bắt buộc
mà NHTW quy định đã khiến thị trường tiền gửi và huy động vốn rơi vào hoàn cảnh khó khăn khi mà sự thiếu hụt của nguồn vốn huy động trong ngắn hạn kèm theo đó là lãi suất tiền gửi đã tăng mạnh
Năm 2009 cũng là một năm kinh doanh không mấy thuận lợi đối với các doanh nghiệp nói chung và hệ thống NHTM nói riêng, đặc biệt là trong những tháng đầu năm Tuy nhiên, nhờ các chính sách kích thích kinh tế của Chính phủ,
sự điều hành thận trọng của NHNN cùng với những nỗ lực tự thân của các