1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp: Tự do hóa tài chính và tác động của nó đến hoạt động của các Ngân hàng thương mại

123 725 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tự do hóa tài chính và tác động của nó đến hoạt động của các Ngân hàng thương mại
Tác giả Trương Vĩnh Dương
Người hướng dẫn ThS. Trần Thị Kim Anh
Trường học Trường Đại học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khóa luận tốt nghiệp: Tự do hóa tài chính và tác động của nó đến hoạt động của các Ngân hàng thương mại

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG

Sinh viên thực hiện : Trương Vĩnh Dương

Giáo viên hướng dẫn : ThS Trần Thị Kim Anh

Hà Nội – Tháng 11/2007

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT vi

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TDHTC 4

1 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN VỀ TDHTC 4

1.1 PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN CỦA ADB 4

1.2 PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN CỦA OECD 6

1.3 PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN CỦA IMF 7

2 KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT CỦA TDHTC 9

2.1 KHÁI NIỆM TDHTC 9

2.2 BẢN CHẤT TDHTC 10

3 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TDHTC 10

3.1 TỰ DO HÓA LÃI SUẤT 10

3.2 TỰ DO HÓA HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÁC NHTM 11

3.3 TỰ DO HÓA HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH TRÊN THỊ TRƯỜNG 12

3.4 TỰ DO HÓA HOẠT ĐỘNG NGOẠI HỐI 12

II HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN CỦA NHTM 13

1 HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ NGUỒN VỐN 13

1.1 VỐN CHỦ SỞ HỮU 13

1.2 VỐN HUY ĐỘNG 14

1.3 VỐN ĐI VAY 15

1.4 VỐN ỦY THÁC 16

1.5 VỐN KHÁC 16

2 HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG VÀ ĐẦU TƯ 16

2.1 NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG 16

2.2 NGHIỆP VỤ ĐẦU TƯ 18

3 HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 19

3.1 DỊCH VỤ NGÂN QUỸ 20

Trang 3

3.2 CHUYỂN TIỀN 20

3.3 DỊCH VỤ THANH TOÁN 20

3.4 CÁC NGHIỆP VỤ KINH DOANH DỊCH VỤ KHÁC 20

III TÁC ĐỘNG CỦA TDHTC ĐẾN CÁC NHTM 21

1 TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC 21

1.1 VỀ MẶT HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH 21 1.2 VỀ MẶT CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG 23

1.3 VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ SỐ LƯỢNG DỊCH VỤ CUNG CẤP 23

2 TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC - KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG 24 2.1 RỦI RO DO HẠN CHẾ NĂNG LỰC QUẢN LÝ TÍN DỤNG 26

2.2 RỦI RO “BẤT CẬP KỲ HẠN THANH TOÁN” VÀ “RỦI RO TIỀN TỆ” 27

2.3 RỦI RO ĐẠO ĐỨC KINH DOANH DO YẾU KÉM TRONG QUẢN LÝ VĨ MÔ 28

3 TÁC ĐỘNG TDHTC ĐẾN HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM - TRƯỜNG HỢP TRUNG QUỐC 29

3.1 TIẾN TRÌNH TDHTC Ở TRUNG QUỐC 29

3.2 TÁC ĐỘNG CỦA TDHTC ĐẾN HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM Ở TRUNG QUỐC 31

CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA TDHTC ĐẾN HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 35

I TỔNG QUAN VỀ QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH CÁC NHTM VIỆT NAM 35

1 GIAI ĐOẠN TỪ 1975 ĐẾN TRƯỚC NĂM 1990 35

1.1 GIAI ĐOẠN TỪ 1975 ĐẾN 1985 35

1.2 GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1990 36

2 GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1990 ĐẾN NAY 36

2.1 GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1990 ĐẾN NĂM 2000 37

2.2 GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY 38

II TIẾN TRÌNH TDHTC Ở VIỆT NAM 40

1 TỰ DO HÓA LÃI SUẤT 40

1.1 CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT TỪ GIỮA NĂM 2000 TRỞ VỀ TRƯỚC 40

1.2 CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT TỪ GIỮA NĂM 2000 ĐẾN NAY 42

2 TỰ DO HÓA HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÁC NHTM 44

Trang 4

2.1 CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ TÍN DỤNG TỪ NĂM 1976 ĐẾN NĂM

1990 44

2.2 CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ TÍN DỤNG TỪ NĂM 1990 ĐẾN NĂM 1997 44

2.3 CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ TÍN DỤNG TỪ NĂM 1997 ĐẾN NAY 45

3 TỰ DO HÓA HOẠT ĐỘNG NGOẠI HỐI 46

3.1 CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ VÀ LÃI SUẤT NGOẠI TỆ 46

3.2 CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NGOẠI HỐI ĐỐI VỚI GIAO DỊCH VÃNG LAI 49

3.3 CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ ĐỐI VỚI CÁC GIAO DỊCH VỐN 51

4 TỰ DO HÓA HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH TRÊN THỊ TRƯỜNG 54

4.1 CAM KẾT MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG TRONG KHUÔN KHỔ ASEAN 55

4.2 CAM KẾT MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG TRONG KHUÔN KHỔ WTO 56

III THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA TDHTC 58

1 HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ NGUỒN VỐN 59

1.1 TỔNG TÀI SẢN CỦA CÁC NGÂN HÀNG 59

1.2 VỐN TỰ CÓ CỦA CÁC NHTM 59

1.3 HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN 61

2 HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG VÀ ĐẦU TƯ 63

2.1 HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG 63

2.2 HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ ĐẦU TƯ 67

3 HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 68

3.1 DỊCH VỤ THANH TOÁN 68

3.2 DỊCH VỤ KINH DOANH NGOẠI TỆ 70

3.3 HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ MỚI 71

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 75

I XU HƯỚNG TDHTC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM VÀ DỰ BÁO TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 75

1 XU HƯỚNG TDHTC TRÊN THẾ GIỚI 75

Trang 5

1.1 TỰ DO HÓA TRONG QUÁ TRÌNH CHU CHUYỂN VỐN QUỐC TẾ 75

1.2 HỘI NHẬP THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ TÀI CHÍNH TOÀN CẦU 76

1.3 VAI TRÒ CỦA TIẾN BỘ CÔNG NGHỆ MÁY TÍNH VÀ TRUYỀN THÔNG 77

2 XU HƯỚNG TDHTC Ở VIỆT NAM 78

2.1 TỰ DO HÓA HOÀN TOÀN HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH TRÊN THỊ TRƯỜNG 78

2.2 TRIỂN VỌNG VỀ TỰ DO HÓA GIAO DỊCH VỐN 79

3 DỰ BÁO TÁC ĐỘNG CỦA TDHTC ĐẾN HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 79

3.1 NGUY CƠ MẤT THỊ PHẦN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN 79

3.2 NGUY CƠ MẤT THỊ PHẦN HOẠT ĐỘNG CHO VAY 80

3.3 XU HƯỚNG GIA TĂNG CÁC SẢN PHẨM DỊCH VỤ MỚI HIỆN ĐẠI 81

II ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC NHTM - ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN NGÀNH NGÂN HÀNG VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2010 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020 82

1 MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CÁC NHTM GIAI ĐOẠN 2006-2010, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020 82

1.1 QUAN ĐIỂM CÓ TÍNH NGUYÊN TẮC VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 82

1.2 MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CÁC NHTM 82

1.3 LỘ TRÌNH PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG GIAI ĐOẠN 2006-2010 83

2 CÁC ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC NHTM CỤ THỂ 83

2.1 TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC THỂ CHẾ 83

2.2 TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC TÀI CHÍNH 84

2.3 PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐA DẠNG VÀ ĐA TIỆN ÍCH 85

III MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TDHTC 86

1 NHÓM GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC THỂ CHẾ CÁC NHTM 87

1.1 CƠ CẤU LẠI TỔ CHỨC CÁC NHTM 87

Trang 6

1.2 CƠ CẤU LẠI HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM 88

1.3 XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NHÂN SỰ 90

2 NHÓM GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CÁC NHTM 91

2.1 VẤN ĐỀ XỬ LÝ NỢ XẤU 91

2.2 CƠ CẤU LẠI VỐN TỰ CÓ PHÙ HỢP VỚI CHUẨN MỰC QUỐC TẾ 93 3 NHÓM GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG THEO HƯỚNG ĐA DẠNG HÓA VÀ ĐA TIỆN ÍCH 95

3.1 ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG MARKETING 95

3.2 ĐẦU TƯ THÍCH HỢP VỀ MẶT CÔNG NGHỆ 96

3.3 MỞ RỘNG VÀ XÂY DỰNG CÁC KÊNH PHÂN PHỐI MỚI 97

IV MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CHÍNH PHỦ VÀ NHNN 98

1 KIẾN NGHỊ LIÊN QUAN TỚI KHUNG PHÁP LÝ 98

2 KIẾN NGHỊ LIÊN QUAN ĐẾN KHUNG THỂ CHẾ VÀ TỔ CHỨC 99

3 KIẾN NGHỊ LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG THANH TRA GIÁM SÁT NGÂN HÀNG 100

KẾT LUẬN 101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

PHỤ LỤC A: TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH - PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN CỦA IMF 105

PHỤ LỤC B: TÓM TẮT TIẾN TRÌNH TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH Ở TRUNG QUỐC TỪ NĂM 1990 -2006 108

PHỤ LỤC C: TÓM TẮT CÁC CAM KẾT GIA NHẬP WTO TRONG LĨNH VỰC TÀI CHÍNH CỦA VIỆT NAM 113

PHỤ LỤC D: TÓM TẮT LỘ TRÌNH HOÀN THIỆN VÀ MỞ RỘNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG MỚI THEO CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 5 NĂM 2006-2010, NHNN 115

Trang 7

DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

ABC Agricultural Bank of China Ngân hàng nông nghiêp

Trung Quốc

ADB Asia Development Bank Ngân hàng phát triển Châu á AMCs Asset Management Companies Công ty quản lý tài sản ASEAN Association of Southeast Asia

Nations

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

ATM Automatic Seller Machine Máy rút tiền tự động

CCB China Construction Bank Ngân hàng kiến thiết Trung

Quốc EAB Eastern Asia Commercial Bank Ngân hàng Đông Á

FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp từ nước

ngoài GATs General Agreement on Trade in

IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ thế giới

NHĐT & PT Bank for Development and

Investment of Vietnam

Ngân hàng đầu tư và phát triển

NHCT Industry and Commercial Bank Ngân hàng công thương

NHNT Bank for Foreign trade of Vietnam Ngân hàng ngoại thương

ODA Official Development Aids Nguồn vốn hỗ trợ phát triển

chính thức OECD Organization for Economic Co-

operation and Development

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

SOEs State owned Enterprises Doanh nghiệp thuộc sở hữu

Nhà nước TDHTC Financial liberalization Tự do hóa tài chính

Trang 8

WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh hiện nay, vấn đề Tự do hóa tài chính (TDHTC) từng bước hội nhập kinh tế khu vực và thế giới không còn là sự lựa chọn của bất kỳ quốc gia nào nữa mà đang là xu thế tất yếu bắt buộc các quốc gia phải thực hiện để đưa nền kinh

tế nước mình đi vào quỹ đạo chung của thế giới

Hầu hết các nước phát triển và đang phát triển đã thực hiện TDHTC từ khoảng

2 thập kỷ trở lại đây Cả thực tiễn và lý luận đều cho thấy TDHTC đã và đang tạo ra quá trình cạnh tranh bình đẳng, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng thương mại (NHTM) nâng cao năng lực hoạt động của mình Bên cạnh đó TDHTC cũng đã làm xuất hiện một số hiện tượng tiêu cực mà tiêu biểu là khủng hoảng tài chính - ngân hàng diễn ra tại nhiều khu vực, Scandinavi, Châu Mỹ Latin, và mới gần đây nhất là khu vực Nam Á

Không nằm ngoài xu thế phát triển chung, kể từ khi bắt tay vào công cuộc đổi mới từ năm 1986, Việt Nam đã có những động thái tích cực trong cải cách tài chính theo hướng ngày càng tự do, thông thoáng, giảm thiểu sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước Kéo theo đó hoạt động của các NHTM cũng đã có nhiều chuyển biến đáng kể, từ hoạt động mang nặng tính quan liêu bao cấp chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước Tuy nhiên TDHTC ở Việt Nam lại được thực hiện với một xuất phát điểm thấp, nền kinh tế thị trường mới ở mức tiếp cận ban đầu, nhiều bỡ ngỡ, bất cập về cơ chế, môi trường pháp lý, công nghệ, trình độ và kinh nghiệm quản lý ngân hàng còn yếu kém

Thêm vào đó, ngày 11/1/2007 vừa qua, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO, điều này sẽ tác động một cách sâu sắc đến tiến trình TDHTC ở Việt Nam và ảnh hưởng đến hoạt động của các NHTM trong nước, đặc biệt là khi mà các cam kết gia nhập được đẩy mạnh thực hiện

Từ thực tế này, vấn đề cấp thiết với các NHTM Việt Nam đó là phải có những chiến lược phát triển toàn diện để tăng nhanh cả về quy mô và chất lượng hoạt động đồng thời vẫn đảm bảo an toàn, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh, sẵn sàng đối phó với các NHTM nước ngoài, những ngân hàng có tiềm lực tài chính mạnh, có

Trang 10

kinh nghiệm hoạt động lâu đời và có trang thiết bị công nghệ hiện đại

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Xuất phát từ tính cấp thiết của đề tài, người viết lựa chọn nghiên cứu “ Tự do

hóa tài chính và tác động của nó đến hoạt động của các NHTM Việt Nam” nhằm:

Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn liên quan TDHTC và tác động của nó đến hoạt động NHTM

Tổng kết quá trình cải cách các NHTM Việt Nam, tiến trình TDHTC ở Việt Nam và ảnh hưởng của nó đến hoạt động của các NHTM

Đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hoạt động của các NHTM dựa trên thực trạng, Định hướng phát triển NHTM của Nhà nước giai đoạn 2006-2010, tầm nhìn đến năm 2020, và xu hướng phát triển của thế giới

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong khuôn khổ ảnh hưởng của một số nội dung cơ bản của TDHTC đến hoạt động của các NHTM Việt Nam, bao gồm các NHTM quốc doanh và các NHTM cổ phần

Phần phân tích và đánh giá TDHTC ở Việt Nam và tác động của nó đến hoạt động của các NHTM Việt Nam giai đoạn từ năm 1986 đến hết năm 2006, khóa luận giới hạn phần định hướng và các biện pháp đề xuất cho giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2010, tầm nhìn năm 2020

4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, kết hợp vận dụng các phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp hệ thống hóa tài liệu, phương pháp so sánh…

5 Nội dung nghiên cứu của đề tài

Tương ứng với mục tiêu nghiên cứu, khóa luận được cấu trúc thành 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về TDHTC và tác động của TDHTC đến các NHTM Chương 2: Tác động của TDHTC đến hoạt động của các NHTM Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động của các NHTM Việt nam

Người viết xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn, Th.S Trần Thị Kim

Trang 11

Anh, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và đưa ra những nhận xét quý báu để người viết có thể hoàn thành khóa luận này

Trang 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH VÀ TÁC

ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TDHTC

1 Một số phương pháp tiếp cận về TDHTC

Kể từ lần đầu tiên xuất hiện trong nghiên cứu kinh điển của Edward Shaw và McKinnon (1973) cho đến nay thuật ngữ “TDHTC” đã được rất nhiều nhà kinh tế tìm hiểu nghiên cứu Mỗi nghiên cứu đều cố gắng đưa ra định nghĩa đầy đủ nhất về TDHTC cũng như tự xây dựng một lộ trình TDHTC tối ưu nhất cho các quốc gia Sau đây là một số phương pháp tiếp cận TDHTC của một số tổ chức trên thế giới bao gồm: Ngân hàng phát triển Châu Á (Asia Development Bank - ADB), Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Orgarnization for Economic Co-operation and Development - OECD) và Quỹ tiền tệ thế giới (International Monetary Fund - IMF)

1.1 Phương pháp tiếp cận của ADB

Theo quan điểm của ADB thì thuật ngữ “TDHTC” chính là sự dỡ bỏ một phần hoặc toàn bộ các hạn chế của chính phủ đối với khu vực tài chính trong nước do đó các tổ chức tài chính có thể tự đưa ra quyết định dựa trên khối lượng, giá trị và thời gian các giao dịch Theo định nghĩa này thì tiến trình TDHTC sẽ được xem xét theo

3 phương diện: xây dựng chính sách, thực thi chính sách và phát triển thể chế + Xây dựng chính sách

Xét về phương diện này thì nhân tố được đề cập đến chính là tốc độ và mức độ tiến đến tự do hóa Các nước có thể tiến hành TDHTC trong một thời gian ngắn hoặc dài, theo đó các quy định hạn chế sẽ lần lượt được dỡ bỏ để thay bằng các quy định mở cửa thông thoáng hơn Tuy nhiên các nước vẫn có thể lựa chọn tiếp tục duy trì một số cơ chế hạn chế Vấn đề tiếp theo là tiến hành tư nhân hóa các ngân hàng quốc doanh

+ Thực thi chính sách

Trong vấn đề này có ba khía cạnh phải được xem xét Thứ nhất là các quy định TDHTC cần phải được thực hiện kết hợp với chính sách ổn định kinh tế vĩ mô bao gồm ổn định giá và chính sách tỷ giá cạnh tranh Bên cạnh đó sự ổn định trong nền

Trang 13

kinh tế bao gồm đầu tư, tiêu dùng và việc làm cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng Vấn đề thứ hai là mối quan hệ giữa TDHTC trong nước và TDHTC thế giới Đặc biệt là những vấn đề xảy ra đối với tài khoản vốn của cán cân thanh toán, Nhà nước có thể sẽ lựa chọn mở cửa hoàn toàn hay một phần đối với các giao dịch liên quan đến dòng vốn ra và dòng vốn vào, theo phương cách từ từ chậm rãi hay là với tốc độ nhanh Tự do hóa tài khoản vốn có thể tiến hành trước hoặc sau khi tự do hóa khu vực tài chính nội địa Thứ ba, đi đôi với TDHTC, Nhà nước cần phải xây dựng được một hệ thống các quy định và giám sát thận trọng thực sự có hiệu quả

+ Xây dựng thể chế

Để TDHTC thành công đòi hỏi phải tăng cường hoặc thậm chí là đổi mới hoàn toàn nhiều thể chế Khung chính sách phải được điều chỉnh và thay đổi một cách nhanh chóng để có thể đáp ứng được tình hình mở cửa khu vực tài chính Ngân hàng trung ương phải được cải tổ lại để có sự độc lập nhất định trong tiến trình tự

do hóa Bên cạnh đó là các cơ quan giám sát, quản lý có thẩm quyền và các NHTM phải đủ tiềm lực để có thể đưa ra các phân tích thích hợp về các khách hàng vay vốn Tuy nhiên điều này lại đòi hỏi mất rất nhiều thời gian do đó các nước cần phải xem xét hết sức cẩn trọng lộ trình tự do hóa Ngoài ra cũng cần phải xem xét bối cảnh quốc tế mà TDHTC nội địa xảy ra vì điều này sẽ ảnh hưởng rất mạnh đến lợi ích cũng như các hiểm họa đi kèm theo tự do hóa

Như vậy có thể kết luận sự thành công của TDHTC phụ thuộc vào:

 Cơ chế hiệu quả và minh bạch vì tiến trình tự do hóa dù là diễn ra với tốc

độ nhanh hay là chậm thì mục tiêu cuối cùng vẫn là chuyển các quyết định tài chính sang trách nhiệm của thị trường Đặc biệt trong trường hợp vẫn duy trì hoạt động các NHTM Nhà nước thì cơ chế hiệu quả và minh bạch lại càng cần thiết

 Kết hợp nhuần nhuyễn thể chế chính sách và sự ổn định kinh tế vĩ mô, cơ chế tỷ giá cạnh tranh, mở cửa một phần tài khoản vốn sau khi tiến hành tự

do hóa khu vực tài chính nội địa cùng với cơ chế giám sát thận trọng

 Xây dựng khung thể chế với hệ thống pháp lý và các cơ quan hoạt động

Trang 14

hiệu quả

1.2 Phương pháp tiếp cận của OECD

Một nghiên cứu kinh tế toàn diện của OECD (1995) về cải cách tài chính cũng

đã giới thiệu một phương pháp tiếp cận khác về TDHTC Dựa trên đánh giá về tiến trình TDHTC của các nước OECD trong suốt 2 thập kỷ 80 và 90 nghiên cứu này đã xem xét TDHTC theo hướng tập trung vào tự do hóa các luồng vốn, đầu tiên là tiến hành cải cách khu vực tài chính theo hướng điều tiết của thị trường và dỡ bỏ các rào cản gia nhập thị trường, tiếp theo là tự do hóa đầu tư trực tiếp nước ngoài và cuối cùng là tự do hóa tài khoản vốn

Theo nghiên cứu này thì hệ thống tài chính ở các nước OECD trong suốt 2 thập

kỷ 80 và 90 đã trải qua nhiều biến động mạnh mẽ về mặt cơ cấu dưới sự tác động của cải cách luật pháp và tiến bộ khoa học công nghệ Đặc trưng của hệ thống tài chính tại hầu hết các nước này trong những năm đầu thập niên 70 là các quy định hạn chế tác động của thị trường bao gồm cả những hạn chế về mặt giá trị và số lượng các giao dịch của các tổ chức tài chính và những quy định về tiếp cận và quản

lý thị trường đối với hoạt động phân phối tín dụng giữa các tổ chức cho vay cạnh tranh với nhau Mục đích của những quy định pháp lý này là để thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước đề ra Biện pháp quản lý trực tiếp cũng thường được sử dụng tại nhiều nước để quản lý hoạt động cho vay, tập trung các nguồn vốn cho vay vào các ngành được Nhà nước trợ cấp trong suốt thời kỳ trước cải cách Những hạn chế đối với tác động của thị trường và cạnh tranh là để đảm bảo cho một thị trường tài chính ổn định Và kiểm soát trong ngành ngân hàng và các tổ chức tài chính được sử dụng như một công cụ quản lý chính sách kinh tế vĩ mô

Tuy nhiên trước sức ép của những nhân tố bao gồm: sự thiếu sót trong cơ sở pháp lý, sự phát triển của khoa học công nghệ và sự phát triển của kinh tế vĩ mô thì cải cách các quy định về tài chính là không thể tránh khỏi và thực tế tất cả các nước

đã thực thi ít nhất một số biện pháp tự do hóa trong suốt 2 thập kỷ qua Bước chuyển biến mạnh mẽ và đáng kể nhất chính là sự chuyển hướng hệ thống tài chính theo thị trường Biện pháp chủ yếu và phổ biến để tiến đến TDHTC đó là sự dỡ bỏ các kiểm soát về giá và lượng dịch vụ do các ngân hàng cung cấp, tự do tiếp cận thị

Trang 15

trường trong lĩnh vực dịch vụ tài chính và sự giảm thiểu các kiểm soát đối với tỷ giá hối đoái

Nhìn chung những thay đổi pháp lý trong hệ thống tài chính trong tiến trình TDHTC ở các nước OECD trong những năm qua có thể tóm gọn như sau:

 Quản lý lãi suất;

 Quy định về thị trường chứng khoán;

 Các hạn chế về lượng đầu tư của các tổ chức tài chính;

 Các quy định về mối liên kết sở hữu trong các tổ chức tài chính;

 Các quy định về hoạt động doanh khác ngoài các hoạt động truyền thống của các tổ chức tài chính;

 Các hạn chế về gia nhập thị trường nội địa của các tổ chức tài chính nước ngoài;

 Quản lý tỷ giá và tài khoản vốn

Những quy định này có thể được chia thành 2 nhóm: Những quy định chủ yếu ảnh hưởng đến khả năng kinh doanh theo mức giá do thị trường điều tiết (lãi suất, quản lý tín dụng, quy định đầu tư, quản lý tài khoản vốn) và những quy định về các rào cản gia nhập và tiếp cận thị trường tài chính (các hoạt động phi truyền thống, quản lý về sở hữu và gia nhập thị trường)

1.3 Phương pháp tiếp cận của IMF

Một nghiên cứu toàn diện của IMF về TDHTC đã được tiến hành trong năm

2003 Nghiên cứu này trước hết tập trung vào chỉ ra những hạn chế của các nghiên cứu về TDHTC trước đây, và dựa trên những hạn chế này đưa ra một cách tiếp cận hoàn toàn mới về TDHTC, theo 3 khía cạnh: tài khoản vốn, TDHTC nội địa và phát triển thị trường chứng khoán Tác giả đã tiến hành xem xét tiến trình tự do hóa diễn

ra ở 28 quốc gia trong giai đoạn từ năm 1973 đến 1999, chia thành 4 nhóm: các nước G-7; khu vực Châu Á; khu vực Châu Âu; và các nước Châu Mỹ Latin

Đối với mỗi lĩnh vực, nghiên cứu này đưa ra 3 cơ chế: tự do đầy đủ, tự do một phần và hạn chế hoàn toàn Nhân tố được sử dụng để xác định khi nào thì tài khoản vốn, khu vực tài chính nội địa và thị trường chứng khoán là tự do hóa đầy đủ hay một phần hay là bị hạn chế được mô tả chi tiết tại phụ lục A

Trang 16

+ Về tài khoản vốn

Để nghiên cứu tự do hóa tài khoản vốn tác giả đã đánh giá những quy định đối với tình hình vay vốn của các tổ chức tài chính trong nước, tình hình vay vốn của các tổ chức phi tài chính, thị trường tỷ giá hối đoái và kiểm soát đối với dòng vốn chảy ra Hai chỉ số đầu thể hiện những quy định đối với dòng vốn chảy vào Những quy định này có thể tồn tại dưới nhiều dạng nhưng thể hiện rõ nhất và nghiêm ngặt

là việc cấm vay vốn từ nước ngoài Các kiểm soát nhẹ nhàng hơn là những hạn chế

về kỳ hạn thanh toán tối thiểu của các dòng vốn chảy vào và tỷ lệ dự trữ bắt buộc không được tính lãi của các khoản vay nước ngoài

Trong cơ chế tự do hóa tài khoản vốn đầy đủ, các NHTM và các doanh nghiệp đều được tự do vay vốn nước ngoài Các tổ chức này có thể vẫn phải báo cáo với các cơ quan quản lý chính phủ song việc cấp phép vay vốn là hoàn toàn tự động Tỷ

lệ dự trữ bắt buộc thông thường thấp dưới 10% Bên cạnh đó Nhà nước không quy định về các tỷ giá đặc biệt nào đối với cả giao dịch tài khoản vãng lai và giao dịch tài khoản vốn cũng như các quy định đối với dòng vốn chảy ra

+ Về TDHTC nội địa

Khi tính toán mức độ tự do của hệ thống tài chính nội địa, tác giả đã phân tích những quy định về lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay, tình hình phân phối tín dụng và tiết kiệm bằng ngoại tệ Cùng với các thông tin này tác giả còn thu thập thêm các số liệu về tỷ lệ dự trữ bắt buộc Để xác định được thời điểm tự do hóa tác giả tập trung chủ yếu vào 2 nhân tố đầu là lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay Bên cạnh đó nghiên cứu này còn bổ sung thêm các thông tin về các quy định liên quan đến mặt lượng của các giao dịch tài chính, qua đó cho thấy mức độ kiểm soát của khu vực tài chính nội địa

Tự do hóa khu vực tài chính trong nước được đặc định bởi sự giảm thiểu can thiệp của Nhà nước đối với các tỷ lệ lãi suất huy động và cho vay và các quản lý tín dụng, nghĩa là sẽ không còn các trợ cấp đặc biệt cho một số lĩnh vực cũng như các can thiệp đối với phân phối tín dụng Ngoài ra các khoản tiền gửi bằng ngoại tệ là hoàn toàn được phép

+ Về thị trường chứng khoán

Cuối cùng, để xác định thời điểm tự do hóa thị trường chứng khoán nghiên cứu này đã phân tích cải cách về các quy định về quyền mua cổ phần trên thị trường

Trang 17

chứng khoán nội địa của nhà đầu tư nước ngoài và sự cho phép chuyển vốn về nước

và sự chuyển các khoản thu nhập và cổ tức về nước

Trong một thị trường chứng khoán phát triển đầy đủ các nhà đầu tư nước ngoài được phép nắm giữ các tài sản nội địa mà không có các quy định hạn chế về

tỷ lệ nắm giữ Thêm vào đó các khoản vốn, cổ tức, trái tức và các khoản lợi nhuận khác đều được tự do hồi hương trong vòng 2 năm kể từ khoản đầu tư ban đầu Như vậy theo quan điểm của IMF thì TDHTC là sự giảm thiểu can thiệp đối với giao dịch tài khoản vốn nước ngoài, tự do hóa khu vực tài chính nội địa và sự phát triển của thị trường chứng khoán Một thị trường tài chính được coi là tự do hóa đầy

đủ khi có ít nhất hai trong ba khía cạnh trên được tự do hóa đầy đủ và khía cạnh còn lại đã tự do hóa một phần và được xem là tự do hóa một phần nếu chỉ có hai trong

Nói tóm lại TDHTC có thể được hiểu chính là quá trình giảm thiểu và cuối cùng là hủy bỏ sự kiểm soát của Nhà nước đối với hoạt động của hệ thống tài chính quốc gia, làm cho hệ thống này hoạt động tự do hơn và hiệu quả hơn theo cơ chế điều tiết của thị trường Nội dung cơ bản của TDHTC bao gồm:

Trang 18

 Tự do hóa lãi suất;

 Tự do hóa hoạt động cho vay của các NHTM;

 Tự do hóa hoạt động của các tổ chức tài chính trên thị trường tài chính;

 Tự do hóa hoạt động ngoại hối

TDHTC có thể được hiểu là bao gồm TDHTC trong nước và TDHTC với nước ngoài Trong đó TDHTC trong nước là cho phép các tổ chức tài chính trong nước tự

do thực hiện các dịch vụ tài chính theo nguyên tắc thị trường, các thị trường tài chính trong nước được khuyến khích phát triển, các công cụ chính sách tiền tệ được điều hành theo tín hiệu thị trường Còn TDHTC với nước ngoài bao gồm tự do hóa giao dịch vãng lai và tự do hóa giao dịch vốn

Tự do hóa cũng có thể được phân làm hai cấp độ: (1) TDHTC nội địa bao gồm xóa bỏ kiểm soát lãi suất và phân bổ tín dụng và (2) TDHTC quốc tế bao gồm loại

bỏ kiểm soát vốn và các hạn chế trong quản lý ngoại hối Hạt nhân của TDHTC là

tự do hóa lãi suất và cần thiết phải kiểm soát quá trình tự do hóa lãi suất

2.2 Bản chất TDHTC

Như vậy có thể nói bản chất của TDHTC là từng bước nới lỏng kiểm soát của Nhà nước để các hoạt động tài chính vận hành theo cơ chế nội tại vốn có của thị trường và chuyển vai trò điều tiết tài chính từ chính phủ sang thị trường nhằm hướng đến mục tiêu là tìm ra sự phối hợp có hiệu quả giữa Nhà nước và Thị trường trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế - xã hội

3 Nội dung cơ bản của TDHTC

Nội dung cơ bản của TDHTC bao gồm 4 vấn đề: Tự do hóa lãi suất; Tự do hóa hoạt động cho vay của các NHTM; Tự do hóa hoạt động của các tổ chức tài chính trên thị trường tài chính và Tự do hóa hoạt động ngoại hối

3.1 Tự do hóa lãi suất

Tự do hóa lãi suất là hạt nhân của TDHTC nói chung và là cơ sở để xác định thời điểm tiến hành tự do hóa khu vực tài chính nội địa Tự do hóa lãi suất là để cho lãi suất hình thành trên cơ sở cung cầu vốn, tiết kiệm, thu nhập cá nhân, doanh nghiệp và những nhân tố khác Nhà nước sẽ không ấn định mức lãi suất đồng thời

Trang 19

cũng không khống chế mức lãi suất trần và sàn mà thay vào đó là để lãi suất hình thành theo cơ chế thị trường Các NHTM được quyền xác định và công bố lãi suất kinh doanh của mình Trong cơ chế tự do hóa lãi suất, có thể tồn tại ở hai dạng:

 Nếu Nhà nước hoàn toàn không can thiệp đến hệ thống lãi suất thị trường thì đó là cơ chế tự do hóa lãi suất hoàn toàn (thả nổi lãi suất);

 Nếu Nhà nước tham gia can thiệp gián tiếp có tính định hướng thì đó là cơ chế tự do hóa lãi suất có quản lý

Tự do hóa lãi suất sẽ làm cho các luồng tài chính được lưu thông thông suốt Việc tự do hóa lãi suất cũng sẽ cho phép các NHTM chủ động hơn trong việc kinh doanh tiền tệ, tạo ra môi trường cạnh tranh có lợi cho các nhà sản xuất kinh doanh

vì lãi suất có xu hướng giảm thấp Mặt khác, khi các NHTM được quyền ấn định lãi suất họ sẽ tìm ra phương án huy động vốn và sử dụng vốn tốt nhất, giảm được rủi ro

và sự cạnh tranh giữa các NHTM là cơ sở để hình thành lãi suất thị trường

3.2 Tự do hóa hoạt động cho vay của các NHTM

Đây là cơ chế mà trong đó nguồn vốn trong nền kinh tế được phân bổ dựa trên lãi suất trị trường và mức độ tin cậy của người đi vay, từ đó đạt được sự thỏa mãn lợi ích của các ngân hàng và đối tượng vay, chứ không phải bằng các quyết định hành chính Việc xóa bỏ những hạn chế, định hướng hay ràng buộc về số lượng trong quá trình phân bổ nguồn vốn đã tạo khả năng nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay của các NHTM

Các NHTM sẽ tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc cho vay (quyết định đối tượng cho vay, khách hàng được vay, hình thức cho vay, mức cho vay, thời hạn vay

và thu hồi nợ…) Đồng thời các ngân hàng sẽ cạnh tranh nhau trong việc vay và cho vay Nhờ đó mà khách hàng được hưởng lợi nhiều từ việc tự do hóa hoạt động tín dụng Họ có quyền lựa chọn vay ở đâu, với mức vay bao nhiêu trên cơ sở các điều khoản thỏa thuận giữa NHTM và khách hàng Còn các ngân hàng sẽ cho vay và quản lý khoản vay của mình hiệu quả hơn

Trong cơ chế này Nhà nước cũng sẽ giảm dần sự can thiệp vào việc phân bổ tín dụng của các NHTM, chuyển từ can thiệp trực tiếp như hạn mức tín dụng, các chương trình chỉ định tín dụng… sang can thiệp bằng việc tạo ra sự giám sát từ xa

Trang 20

3.3 Tự do hóa hoạt động của các tổ chức tài chính trên thị trường

Trong cơ chế tự do hóa hoạt động của các tổ chức tài chính thì phạm vi hoạt động của các tổ chức tài chính sẽ được mở rộng Các tổ chức tài chính trong nước

và nước ngoài đều có thể tham gia cung ứng các dịch vụ trên thị trường Theo đó việc cấp giấy phép thành lập các ngân hàng trong nước sẽ dần được nới lỏng còn các tổ chức tài chính nước ngoài sẽ tiếp cận dễ dàng hơn với thị trường tài chính trong nước dưới hình thức chi nhánh, ngân hàng liên doanh, và văn phòng đại diện… Bên cạnh đó các tổ chức tài chính sẽ có một sân chơi bình đẳng trong việc cung cấp các loại hình dịch vụ tài chính Một môi trường cạnh tranh tự do như thế

sẽ mang lại tính hiệu quả cho thị trường tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung

3.4 Tự do hóa hoạt động ngoại hối

Cơ chế tự do hóa hoạt động ngoại hối là cơ chế trong đó Nhà nước không ấn định tỷ giá hối đoái, không có ràng buộc về các dòng vốn ngoại tệ trong và ngoài quốc gia Tự do hóa hoạt động ngoại hối cũng đồng nghĩa với việc thiết lập hệ thống tỷ giá hối đoái theo tín hiệu thị trường Hay có thể nói giữa các NHTM, khách hàng thỏa thuận với nhau về tỷ giá mua bán và các điều khoản giao dịch ngoại hối Nhà nước chỉ tiến hành can thiệp khi cần thiết, trong trường hợp có sự biến động thị trường ngoại hối ảnh hưởng xấu tới nến kinh tế vĩ mô

Các dòng chảy ngoại hối có ảnh hưởng rất lớn tới sự cân bằng, ổn định của cán cân thanh toán của một quốc gia Tuy nhiên sự ổn định của cán cân thanh toán trong điều kiện hội nhập lại không thể tách rời sự di chuyển linh hoạt của các luồng vốn

Sự vận động tự do của các dòng vốn trên thị trường thế giới là nguồn đầu tư bổ sung rất quan trọng đối với mọi nền kinh tế, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển

Tự do hóa hoạt động ngoại hối cũng là mục tiêu cuối cùng mà nhiều quốc gia đặt ra trong tiến trình TDHTC của mình vì tự do hóa hoạt động ngoại hối nếu xảy ra trong điều kiện thị trường chưa phát triển đầy đủ thì sẽ để lại những hậu quả rất nghiêm trọng Cũng chính vì lý do này mà nhiều nước hiện nay tuy đã tiến hành mở cửa các vấn đề khác trong nội dung TDHTC song vẫn rất dè dặt khi tiến đến tự do

Trang 21

hóa hoạt động ngoại hối

II HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN CỦA NHTM

Nhìn nhận một cách tổng thể, các NHTM hoạt động kinh doanh với 3 mảng nghiệp vụ chính: Hoạt động nghiệp vụ nguồn vốn; Hoạt động tín dụng và đầu tư; và Hoạt động kinh doanh dịch vụ ngân hàng Mỗi hoạt động này đều có một vị trí và tác dụng khác nhau nhưng đều hướng đến một mục tiêu chung và tổng quát của bất

kỳ một NHTM nào, đó là đáp ứng nhu cầu của khách hàng với hiệu quả cao nhất

1 Hoạt động nghiệp vụ nguồn vốn

Nghiệp vụ nguồn vốn hay còn gọi là nghiệp vụ Nợ là nghiệp vụ tiền đề nhằm tạo nguồn vốn hoạt động của NHTM Nhìn chung xét theo khía cạnh logic thì ngân hàng nào tạo lập được nhiều vốn thì càng có điều kiện mở rộng cho vay, mở rộng tín dụng cho nền kinh tế Vì vậy nghiệp vụ nguồn vốn lúc nào cũng rất được quan tâm Nguồn vốn của một NHTM bao gồm những loại nguồn vốn sau đây:

1.1 Vốn chủ sở hữu

Nguồn vốn chủ sở hữu là nguồn vốn khởi đầu và được bổ sung trong quá trình hoạt động Nguồn vốn này tuy không chiếm tỷ trọng lớn nhưng có ý nghĩa rất quan trọng Vốn chủ sở hữu của NHTM bao gồm:

+ Vốn điều lệ:

Đây là vốn được tạo lập ban đầu khi mới thành lập NHTM và được ghi trong điều lệ ngân hàng Vốn điều lệ phải đạt được mức tối thiểu theo quy định của pháp luật Vốn này sẽ được ngân sách Nhà nước cấp nếu đó là ngân hàng công hoặc do các cổ đông đóng góp theo cổ phần nếu là ngân hàng cổ phần

Vốn điều lệ có thể được thay đổi theo xu hướng tăng lên nhờ được cấp bổ sung, hoặc phát hành cổ phiếu bổ sung, hoặc được kết chuyển từ quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ theo quy định của luật pháp mỗi nước Vốn điều lệ được sử dụng trước hết

để xây dựng, mua sắm tài sản cố định, các phương tiện làm việc và quản lý, tức tạo

ra cơ sở vật chất cho hoạt động của ngân hàng Ngoài ra các NHTM còn được sử dụng vốn điều lệ để hùn vốn kinh doanh, cấp vốn cho các công ty trực thuộc và hoạt động kinh doanh khác

Trang 22

+ Các quỹ của ngân hàng:

NHTM cũng là một tổ chức kinh tế, vì vậy đều có quyền trích lập các quỹ như các đơn vị kinh tế khác, để sử dụng cho những mục đích nhất định Ngoài ra do tính chất đặc thù của NHTM là hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng nên hầu hết hệ thống luật ngân hàng ở các nước đều cho phép các NHTM được trích lập Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ Thông thường quỹ này được trích lập theo tỷ lệ quy định (khoảng 5%) từ lợi nhuận ròng hàng năm, cho đến khi

số dư của quỹ này ngang bằng vốn điều lệ

Như vậy các quỹ của NHTM bao gồm:

 Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của ngân hàng (Quỹ dự trữ);

 Quỹ đầu tư phát triển;

 Quỹ dự phòng (gồm dự phòng tài chính, dự phòng trợ cấp…);

 Quỹ khen thưởng phúc lợi…

1.2 Vốn huy động

Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu (bao gồm của pháp nhân

và thể nhân) mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng Đây là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng, được thể hiện ở chỗ nó không chỉ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của các ngân hàng mà còn là tiền nhàn rỗi của xã hội được huy động và tập trung để sử dụng có hiệu quả cho các yêu cầu của nền kinh tế xã hội Vốn huy động theo tính chất được chia thành 2 nhóm:

+ Vốn huy động hoạt kỳ:

Bao gồm tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế cá nhân và tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức tín dụng khác Đây là loại tiền gửi mà theo tính chất của nó, khách hàng được linh hoạt sử dụng, người ta gọi đó là tiền gửi có thể phát séc để chỉ tính linh hoạt của nó Chủ tài khoản được quyền lập thư chuyển tiền, phát hành séc rút tiền từ tài khoản một cách tự do mà không phải báo trước Các đơn vị

và cá nhân gửi tiền vào tài khoản này không nhằm mục đích hưởng lãi, mà nhằm phục vụ nhu cầu giao dịch thanh toán cho chính mình

+ Vốn huy động định kỳ:

Trang 23

Bao gồm tiền gửi định kỳ, tiền gửi tiết kiệm của cá nhân, tổ chức, tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu… Đặc điểm của loại nguồn vốn này là khách hàng chỉ được rút tiền khi đáo hạn (tuy nhiên trong điều kiện bình thường các ngân hàng vẫn cho phép rút tiền trước hạn)

Vốn huy động định kỳ là nguồn vốn ổn định vì vậy không những đáp ứng được

sử dụng để cấp tín dụng ngắn hạn mà còn được sử dụng để cấp tín dụng trung và dài hạn Đối với vốn huy động định kỳ, người gửi tiền có mục đích xác định là hưởng lãi Vì vậy họ sẽ chọn ngân hàng nào có lãi suất cao hơn, chứ không đòi hỏi hệ thống dịch vụ hiện đại như khi lựa chọn ngân hàng gửi vốn hoạt kỳ Vì vậy mà các ngân hàng thường sử dụng công cụ lãi suất để tập trung nguồn vốn này Cạnh tranh lãi suất để thu hút nguồn vốn này là cuộc canh tranh hợp lý và gay gắt

1.3 Vốn đi vay

Vốn đi vay chiếm một vị trí quan trọng trong tổng nguồn vốn của NHTM, nhưng đồng thời cũng mang ý nghĩa thiết lập sự cân bằng trong cân đối và sử dụng vốn của mỗi ngân hàng

Đối với những ngân hàng vừa và nhỏ, tình trạng thiếu vốn kinh doanh diễn ra thường xuyên và cần phải bổ sung nguồn vốn bằng cách đi vay các ngân hàng khác Đối với những ngân hàng có điều kiện mở rộng cho vay, do thủ tục cho vay đơn giản, điều kiện cho vay thoáng hơn, lãi suất hấp dẫn hơn sẽ dẫn đến hậu quả thiếu vốn Trong trường hợp này, các NHTM đó cần đi vay để đáp ứng nhu cầu mở rộng tín dụng Một ngân hàng mà khi đã sử dụng hết nguồn vốn khả dụng mà vẫn còn phát sinh nhu cầu vay vốn của khách hàng thì ngân hàng đó đang ở trong trạng thái hưng thịnh, vốn vay ngân hàng khác vừa giúp họ mở rộng tín dụng vừa giúp

mở rộng và giữ chân khách hàng

Nguồn vốn đi vay gồm 2 loại:

 Vay ngân hàng trung ương;

 Vay các NHTM khác

Tuy nhiên để hệ thống ngân hàng ổn định, hoạt động có hiệu quả hơn thì hoạt động tín dụng giữa các ngân hàng nên tập trung qua thị trường liên ngân hàng

Trang 24

1.4 Vốn ủy thác

Vốn ủy thác là nguồn vốn tiếp nhận từ các nhà tài trợ của chính phủ, tổ chức tài chính hoặc tư nhân để tài trợ theo các chương trình dự án về phát triển kinh tế-xã hội… Ngân hàng nào được chỉ định tiếp nhận và chuyển giao vốn này được coi là thực hiện dịch vụ trung gian tài chính theo yêu cầu của nhà tài trợ và được hưởng thu nhập dưới dạng hoa hồng dịch vụ tài chính trung gian

Thông thường chỉ các ngân hàng lớn, có mạng lưới rộng khắp và có uy tín mới

có đủ điều kiện để được chỉ định làm dịch vụ này

1.5 Vốn khác

Vốn phát sinh trong quá trình hoạt động không thuộc các nguồn nói trên như vốn phát sinh trong khi làm đại lý chuyển tiền, thanh toán, công nợ chưa đến hạn trả…

2 Hoạt động nghiệp vụ tín dụng và đầu tư

Nhiệm vụ cơ bản nhất của bất kỳ một NHTM nào là chuyển hóa nguồn vốn tiền

tệ huy động được để đáp ứng các nhu cầu của nền kinh tế xã hội dưới các hình thức khác nhau Đó chính là nghiệp vụ tín dụng và đầu tư

2.1 Nghiệp vụ tín dụng

Đây là một nghiệp vụ cơ bản hàng đầu của các NHTM, theo đó NHTM thoả thuận với khách hàng (qua hợp đồng tín dụng) để khách hàng sử dụng một khoản tiền nhất định trong một thời hạn nhất định, có lãi suất và phải hoàn trả

Để giảm thiểu rủi ro, khi thực hiện nghiệp vụ tín dụng phải tuân thủ 3 nguyên tắc sau: (1) Hoàn trả đúng hạn cả vốn và lãi; (2) Sử dụng vốn tín dụng đúng mục đích cam kết và có hiệu quả; và (3) Tiền vay phải được bảo đảm bằng tài sản

Trên cơ sở thực hiện các nguyên tắc nói trên, nghiệp vụ tín dụng được thực hiện dưới các hình thức sau đây:

+ Cho vay trực tiếp:

Theo loại hình này, người xin vay tiến hành các thủ tục vay vốn, ngân hàng sau khi thẩm định kiểm tra hồ sơ vay vốn của khách hàng, nếu nhu cầu vay vốn hợp lệ

và khách hàng có khả năng trả nợ, có tài sản đảm bảo (nếu không được vay bằng tín

Trang 25

chấp) thì ngân hàng sẽ thực hiện việc cho vay Khách hàng muốn nhận được vốn vay đều phải ký vào khế ước Khi đến hạn, khách hàng vay vốn trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng Nếu đến hạn mà khách hàng vay vốn không trả nợ thì ngân hàng được phép phát mãi tài sản hoặc áp dụng các chế tài khác để thu nợ Nghiệp vụ này gọi là cho vay trực tiếp vì người đi vay và người trả nợ là một chủ thể Cho vay trực tiếp là loại hình nghiệp vụ tín dụng phổ biến của NHTM

Nếu căn cứ vào thời hạn, cho vay trực tiếp được chia làm 3 loại:

 Cho vay ngắn hạn: thời hạn vay từ 1 ngày đến 1 năm;

 Cho vay trung hạn: thời hạn vay từ 1 năm đến 5 năm;

 Cho vay dài hạn: thời hạn vay trên 5 năm

Cho vay ngắn hạn chủ yếu để đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh (vốn luân chuyển) trong khi cho vay trung dài hạn là để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho các đơn vị và tổ chức kinh tế

Nếu căn cứ vào tính chất bảm đảm của khoản vay, cho vay được chia thành 2 loại:

 Cho vay có bảo đảm: Đây là loại cho vay áp dụng với những khách hàng mới vay vốn lần đầu, hoặc khách hàng chưa có uy tín với ngân hàng… Đối với những khách hàng vay vốn thuộc loại này bắt buộc phải có tài sản đảm bảo cho khoản vay;

 Cho vay bằng tín chấp không cần có bảo đảm: Cho vay loại này áp dụng đối với những khách hàng truyền thống có quan hệ tín dụng lâu năm với ngân hàng đồng thời là những khách hàng có tình trạng tài chính vững chắc, sản xuất kinh doanh ổn định, có lãi, có quan hệ tốt trong giao dịch với khách hàng và ngân hàng

+ Cho vay gián tiếp

Cho vay gián tiếp là khoản cho vay được thực hiện bằng cách chiết khấu chứng

từ có giá hoặc mua lại các chứng từ nợ thương mại theo thỏa thuận giữa ngân hàng với khách hàng

Cho vay gián tiếp được thực hiện dưới các dạng sau:

Trang 26

 Chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá;

 Nghiệp vụ bao thanh toán (factoring)

+ Cho thuê tài chính

Đây là loại hình nghiệp vụ tín dụng trung và dài hạn mới hình thành và phát triển từ những thập niên 60 của thế kỷ XX Theo hình thức này ngân hàng sẽ tiến hành tài trợ bằng cách cho thuê máy móc thiết bị theo yêu cầu của người đi thuê và được thực hiện qua công ty con của NHTM (Công ty cho thuê tài chính)

+ Bảo lãnh ngân hàng

Thực chất, bảo lãnh ngân hàng là tín dụng bằng chữ ký, nhờ chứng thư bảo lãnh của ngân hàng mà người được bảo lãnh có thể ký kết và thực hiện các hợp đồng kinh tế, thương mại, và tài chính một cách thuận lợi Tuy bảo lãnh là nghiệp vụ không xuất vốn nhưng lại có độ rủi ro vì ngân hàng bảo lãnh buộc phải thực hiện cam kết bảo lãnh khi người được bảo lãnh vì lý do nào đó đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình

Trong hoạt động kinh tế, thương mại và tài chính các chứng thư bảo lãnh của ngân hàng đều rất có uy tín, được tin tưởng không những trong phạm vi một nước

mà cả trên phạm vi quốc tế

2.2 Nghiệp vụ đầu tư

Đầu tư là hình thức bỏ vốn nhằm thực hiện và thu được một kết quả nhất định

về kinh tế-xã hội Hay nói cách khác đầu tư là một hình thức bỏ vốn để kiếm lời Đầu tư của ngân hàng có thể được phân thành 2 nhóm lớn: đầu tư trực tiếp và đầu tư tài chính

+ Đầu tư trực tiếp

Đây là hình thức ngân hàng bỏ vốn đầu tư trực tiếp quản lý và sử dụng phần vốn của mình để tạo ra lợi nhuận Các ngân hàng chỉ được sử dụng vốn của mình để đầu tư trực tiếp Các hình thức đầu tư trực tiếp bao gồm:

 Hùn vốn liên doanh trong nước và nước ngoài;

 Mua cổ phần của các công ty, đơn vị kinh tế;

 Mua cổ phần của các ngân hàng cổ phần;

Trang 27

 Cấp vốn thành lập các công ty con (công ty cho thuê tài chính, công ty chứng khoán, công ty mua bán nợ, công ty đầu tư, công ty bảo hiểm…) + Đầu tư tài chính

Đầu tư tài chính là hình thức đầu tư linh hoạt, người đầu tư có thể dễ dàng thay đổi danh mục đầu tư theo hướng có lợi vì vậy đây là hình thức đầu tư thường đuợc các NHTM sử dụng khá phổ biến Trong điều kiện có sự hoạt động của thị trường chứng khoán, các chứng khoán đều có tính thanh khoản cao Do đó đầu tư vào chứng khoán không những tạo ra khoản mục đầu tư có mức sinh lời tương đối ổn định mà còn tại ra khoản “dự trữ thứ cấp” sẵn sàng hỗ trợ các nhu cầu thanh toán phát sinh nhanh ngoài dự kiến của ngân hàng Đây là một hình thức đầu tư khôn khéo và linh hoạt

Đầu tư tài chính được thực hiện bằng cách:

 Đầu tư vào trái phiếu Chính phủ và trái phiếu của ngân hàng trung ương Đầu tư loại này có hệ số rủi ro thấp, thậm chí là bằng 0 Vì vậy mà các ngân hàng có vốn khả dụng lớn thường đầu tư loại này;

 Đầu tư vào trái phiếu công ty: Đầu tư trái phiếu công ty có lãi suất thường cao hơn song tỷ lệ rủi ro cũng lớn hơn rất nhiều so với trái phiếu Chính phủ

3 Hoạt động kinh doanh dịch vụ ngân hàng

Hoạt động kinh doanh dịch vụ ngân hàng được coi là nghiệp vụ trung gian và không ảnh hưởng trực tiếp đến nghiệp vụ tín dụngvà đầu tư

Kinh doanh dịch vụ ngân hàng không những làm cho các NHTM trở thành các ngân hàng đa năng mà còn thông qua loại hình hoạt động dịch vụ này sẽ tạo ra một phần thu nhập khá lớn với chi phí rất thấp Trong thực tế, ngân hàng nào mở rộng hoạt động dịch vụ thì kết quả kinh doanh sẽ tốt hơn, tỷ suất lợi nhuận cũng cao hơn Tuy nhiên chỉ những ngân hàng lớn và hiện đại với mạng lưới rộng khắp và quan hệ đại lý với nhiều ngân hàng trong và ngoài nước thì mới có khả năng và điều kiện để phát triển các loại hình dịch vụ ngân hàng

Các dịch vụ ngân hàng cung cấp cho khách hàng bao gồm:

Trang 28

3.1 Dịch vụ ngân quỹ

Đây là dịch vụ chiếm ưu thế của các ngân hàng Các công việc kiểm, đếm, phân loại, công việc, bảo quản thu phát tiền mặt… là thuộc loại hình dịch vụ này và có thể nói không ai có thể làm dịch vụ này tốt hơn ngân hàng

3.2 Chuyển tiền

Ngân hàng nhận chuyển tiền đề chuyển tiền từ địa phương này sang địa phương khác ở trong nước hoặc từ nước này sang nước khác theo yêu cầu của người chuyển tiền Nhịp sống hiện đại đòi hỏi dịch vụ chuyển tiền phải nhanh chóng và chính xác

Và với hệ thống trang thiết bị hiện đại ngày nay cho phép các ngân hàng thực hiện việc chuyển nhanh trong nước và quốc tế đã và đang đáp ứng nhu cầu của khách hàng

3.3 Dịch vụ thanh toán

Hầu hết các giao dịch thanh toán giữa các khách hàng trong nước và ngoài nước đều được thực hiện qua ngân hàng Nhờ việc nắm giữ tài khoản của khách hàng, đồng thời thông qua việc kiểm soát các chứng từ thanh toán mà các ngân hàng hoàn toàn có khả năng thực hiện dịch vụ thanh toán theo yêu cầu của khách hàng Các dịch vụ thanh toán có thể chia thành 2 nhóm:

 Dịch vụ thanh toán trong nước: bao gồm thanh toán bằng séc, nhờ thu, ủy nhiệm chi, thẻ tín dụng…

 Dịch vụ thanh toán quốc tế: bao bồm tín dụng thư, nhờ thu, chuyển tiền, thẻ tín dụng quốc tế…

Khi thực hiện dịch vụ thanh toán, ngân hàng vừa đóng vai trò là trung gian thanh toán vừa là người kiểm soát quá trình thanh toán vì vậy mà các sai sót trong khâu thanh toán do ngân hàng thực hiện là rất ít xảy ra đồng thời những tiêu cực xảy ra trong thanh toán là rất hạn chế

3.4 Các nghiệp vụ kinh doanh dịch vụ khác

NHTM cũng tiến hành thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác bao gồm kinh doanh ngoại tệ, vàng, bạc, đá quý, thanh toán thẻ tín dụng quốc tế, dịch vụ nhận và chi trả kiều hối, thu đổi ngoại tệ phi mậu dịch…

Như vậy dịch vụ của ngân hàng là rất đa dạng và phong phú Bất kỳ một lĩnh

Trang 29

vực nào có liên quan đến hoạt động ngân hàng thì các ngân hàng đều sẵn sàng cung cấp theo yêu cầu của khách hàng Hoạt động kinh doanh dịch vụ một mặt tăng nguồn thu nhập của ngân hàng, mặt khác cũng góp phần tạo điều kiện để mở rộng

và phát triển các mảng hoạt động kinh doanh cơ bản khác

Trên đây là những hoạt động cơ bản nhất của một NHTM nói chung Không giống như một số hoạt động kinh tế khác, hoạt động NHTM gắn liền không chỉ với nền kinh tế trong nước mà còn gắn rất chặt với những diễn biến, đổi thay trong nền kinh tế thế giới Ngày nay tùy vào mục tiêu phát triển và thế mạnh mà mỗi ngân hàng mà sẽ chú trọng vào lĩnh vực hoạt động cụ thể Tuy nhiên nhìn chung trong thời đại mà hầu hết các quốc gia đang hội nhập vào nền kinh tế thế giới thì ngoài việc củng cố hoạt động cơ bản của mình, các ngân hàng còn không ngừng đưa ra những sản phẩm mới, cung cấp thêm tiện ích cho khách hàng nhằm phục vụ khách hàng ngày một tốt hơn

III TÁC ĐỘNG CỦA TDHTC ĐẾN CÁC NHTM

Nhìn từ góc độ kinh tế, hoạt động dịch vụ tài chính cũng giống như các hoạt động trao đổi mua bán các hàng hóa và dịch vụ khác, có thể có những tác động tích cực cũng như tiêu cực đến thu nhập và sự tăng trưởng của tất cả các đối tác tham gia

1 Tác động tích cực

1.1 Về mặt hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh

Theo một nghiên cứu của WTO thì TDHTC với mục tiêu cuối cùng là chuyển vai trò điều tiết sang trách nhiệm của thị trường, từng bước dỡ bỏ các rào cản gia nhập thị trường và tạo điều kiện cho sự tham gia của nhiều ngân hàng nước ngoài sẽ thúc đẩy hoạt động cạnh tranh và kỷ luật thị trường trong hoạt động ngân hàng Các ngân hàng do đó sẽ phải hoạt động theo cơ chế vận hành của thị trường Cạnh tranh gay gắt sẽ đóng vai trò là động lực thúc đẩy hiệu quả không chỉ trong các nghiệp vụ huy động, phân bổ nguồn vốn mà còn trong các nghiệp vụ kinh doanh dịch vụ khác của mỗi ngân hàng Mở cửa thị trường tài chính trong nước còn dẫn đến quá trình tái cơ cấu thị trường và hoạt động của NHTM theo hướng chuyên môn hóa (bán lẻ, đầu tư hoặc bán buôn), phụ thuộc vào khả năng cạnh tranh của mỗi ngân hàng

Trang 30

Cũng giống như trong các lĩnh vực khác, quá trình hội nhập sẽ tạo ra những ngân hàng có quy mô lớn, tài chính lành mạnh và kinh doanh hiệu quả; các ngân hàng năng lực yếu kém sẽ bị đào thải bởi sự cạnh tranh hoặc phải vươn lên nếu muốn tồn tại

Bên cạnh đó khả năng cạnh tranh của các ngân hàng sẽ có cơ hội được nâng cao khi được liên kết hợp tác với các đối tác nước ngoài trong chuyển giao công nghệ, phát triển sản phẩm và khai thác thị trường Dưới tác động của tự do hóa hoạt động các tổ chức tín dụng, các dịch vụ ngân hàng sẽ phát triển nhanh và có chất lượng cao hơn, đặc biệt là dịch vụ ngân hàng bán lẻ, thẻ thanh toán và các dịch vụ thanh toán Hội nhập quốc tế tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh do mở rộng khả năng tiếp cận các khu vực thị trường mới và các nhóm khách hàng có mức độ rủi ro thấp Những tác động về mặt cạnh tranh và hiệu quả đã được chứng minh rất rõ trong nhiều nghiên cứu, trong đó phải kể đến nghiên cứu của Cho và Khatkhate (1989) về TDHTC ở 5 nước Châu Á Nghiên cứu này đã khẳng định TDHTC đã thúc đẩy phát triển trên thị trường tài chính và tăng cường khả năng cạnh tranh của hệ thống ngân hàng Ngoài ra nghiên cứu kinh điển của Levine (1996) ảnh hưởng của tự do hóa hoạt động của các tổ chức tín dụng bằng mô hình toán học đã cho thấy sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài sẽ cải thiện hiệu quả hoạt động của ngân hàng thông qua thúc đẩy cạnh tranh

Trước áp lực cạnh tranh gay gắt cũng như sự dỡ bỏ các quy định liên quan đến phân phối tín dụng các NHTM nội địa buộc sẽ phải nâng cao hiệu quả hoạt động hơn nữa nếu không muốn bị lâm vào tình trạng phá sản Trước đây do đặc tính của các quy định liên quan đến hoạt động cho vay chính sách, các NHTM được sử dụng như các công cụ của Nhà nước trong việc hỗ trợ phát triển cho một số doanh nghiệp

và ngành nghề nhất định nên hoạt động cấp vốn vẫn thường dựa vào các tiêu chí phi thương mại Tuy nhiên khi có sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài với kỹ năng thẩm định dự án đầu tư tốt thì nếu không kịp thời cải thiện chất lượng hoạt động khả năng nhanh chóng bị đẩy vào tình trạng phá sản do không số lượng nợ xấu quá lớn là khó tránh khỏi (Claessens, Demirguc-Kunt và Huizinga, 1998)

Các NHTM trong nước không chỉ phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ

Trang 31

phía các NHTM khác từ nước ngoài mà còn phải chịu sức ép giành giật thị phần từ các tổ chức phi ngân hàng khác Một trong những nội dung của TDHTC đó là sự phát triển của thị trường chứng khoán cùng với sự ra đời của nhiều loại hình công ty đầu tư khác Trong khi các công ty có khả năng sinh lợi lớn và danh tiếng có thể thay vì vay vốn trực tiếp từ ngân hàng sẽ chuyển sang huy động vốn trực tiếp từ các nhà đầu tư thông qua phát hành các chứng chỉ thương mại như trái phiếu và cổ phiếu, thì phía nghiệp vụ huy động vốn cũng chứng kiến sự dịch chuyển trong luồng vốn tiết kiệm cá nhân hoặc luồng vốn tiền gửi trong các ngân hàng sang các

tổ chức phi ngân hàng, các công ty đầu tư, công ty quản lý quỹ…(P Fischer, Gueyie và Ortiz, 1997)

1.2 Về mặt công nghệ và quản trị ngân hàng

Mở cửa thị trường tài chính kéo theo sự thành lập của các ngân hàng nước ngoài dưới hình thức hiện diện thương mại khác nhau như chi nhánh, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài… Đây là điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực tài chính, đồng thời các công nghệ ngân hàng và các kỹ năng quản lý tiên tiến sẽ được các ngân hàng trong nước tiếp thu thông qua liên kết, hợp tác kinh doanh, quá trình học hỏi và hỗ trợ kỹ thuật của các ngân hàng nước ngoài Bên cạnh đó các ngân hàng nước ngoài cũng giúp cải thiện nhanh chóng tình hình quản trị của các ngân hàng nội địa đặc biệt là khi các ngân hàng nước ngoài tham gia điều hành quản lý trực tiếp tại ngân hàng trong nước - trường hợp các ngân hàng liên doanh, ngân hàng cổ phần… ( Niels Hermes và Robert Lensink, 2003) Các ngân hàng trong nước đặc biệt ở các nước đang phát triển còn có cơ hội nhận được sự hỗ trợ và tư vấn, đào tạo, bỗi dưỡng kiến thức mới của các ngân hàng nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế; hỗ trợ xây dựng năng lực quản trị ngân hàng tiên tiến Nhờ vậy mà khoảng cách chênh lệch về trình độ công nghệ của các ngân hàng nội địa so với các ngân hàng nước ngoài dần được thu hẹp Như vậy quản trị ngân hàng được tăng cường cùng với công nghệ quản lý tiên tiến sẽ đem lại khả năng lớn hơn trong việc phòng ngừa và xử lý rủi ro trong từng ngân hàng và cả

hệ thống trong nước

1.3 Về chất lượng và số lượng dịch vụ cung cấp

Trang 32

TDHTC với nội dung bao gồm tự do hóa hoạt động cho vay của các ngân hàng

và tự do hóa hoạt động của các tổ chức tài chính hay nói cách khác là giảm thiểu các can thiệp tín dụng và loại bỏ bảo hộ kinh doanh của ngân hàng nội địa đã có những tác động tích cực đến số lượng và chất lượng dịch vụ cung cấp của các ngân hàng

Sự phát triển TDHTC trong lĩnh vực ngân hàng làm cho tính cạnh tranh giữa các NHTM càng trở nên gay gắt Bởi vậy muốn tồn tại và phát triển các NHTM phải không ngừng mở rộng và nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ Vì thế mà các khách hàng sẽ được hưởng các sản phẩm truyền thống lẫn những sản phẩm mới với tiện ích đa dạng, chi phí thấp và thời gian nhanh nhất

Có một thực tế đó là TDHTC luôn diễn ra trong bối cảnh tự do hóa kinh tế nói chung với tự do hóa thương mại, cắt giảm chi tiêu chính phủ, thay đổi chính sách tiền tệ, lãi suất, cắt giảm trợ cấp đối với một số ngành… Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động tín dụng và đầu tư của các ngân hàng Tự do hóa thương mại sẽ có những ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của một lượng lớn khách hàng doanh nghiệp vay vốn từ ngân hàng, theo đó mà khả năng thu hồi vốn

và lợi nhuận từ các doanh nghiệp vay vốn này cũng tăng lên rất nhiều Tuy nhiên cũng có những lo lắng xung quanh vấn đề những doanh nghiệp vay vốn không đủ năng lực cạnh tranh trong môi trường kinh doanh mới, dẫn đến sự gia tăng đáng kể

số lượng nợ xấu trong hoạt động tín dụng Điều này đỏi hỏi các NHTM cần phải đẩy mạnh hơn nữa trong công tác thẩm định dự án đầu tư để đảm bảo thu hồi khoản vay một cách thuận lợi

2 Tác động tiêu cực - khủng hoảng tài chính - ngân hàng

Sự gia tăng khủng hoảng tài chính tiền tệ ở cả các nước phát triển và đang phát triển trong những thập niên 80 và 90 thế kỷ 20 đã khiến nhiều người không khỏi nghi ngờ về lợi ích của TDHTC Đặc biệt là hệ thống ngân hàng tại nhiều quốc gia

đã xuất hiện hàng loạt vấn đề đáng lưu ý, thậm chí có một số ngân hàng đã rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng Trong nhiều trường hợp ví dụ như Chilê năm

1981, những vấn đề trong hệ thống NHTM đã nhanh chóng xuất hiện chỉ ngay sau

Trang 33

khi Nhà nước giảm thiểu can thiệp đối với hệ thống tài chính

Khủng hoảng ngân hàng có xác suất xuất hiện tại những nước tiến hành TDHTC cao hơn so với những nước kìm hãm tài chính kể cả khi một số lĩnh vực khác bị kìm hãm Một đặc điểm khác là khủng hoảng ngân hàng không phải là hậu quả tức thì ngay sau khi tự do hóa mà thông thường xảy ra sau đó một vài năm Một nghiên cứu phân tích về các cuộc khủng hoảng ngân hàng trên thế giới cho thấy 18 trong 25 trường hợp được nghiên cứu, khủng hoảng tài chính đã diễn ra theo sau TDHTC khoảng 5 năm Do vậy, nhiều người cho rằng khủng hoảng ngân hàng là sự kiện kéo theo của cải cách hệ thống tài chính theo hướng mở cửa Thậm chí nhiều chính phủ cho rằng đó là cái giá phải trả của TDHTC Trớ trêu thay nhận định này dường như được minh chứng bởi các cuộc khủng hoảng ngân hàng diễn ra ở Argentina, Brazil, Chile trong những năm 70, khủng hoảng tiền tệ ở Mexico năm 1994-1995 và Thái Lan 1997

Tuy nhiên theo nhiều nhà nghiên cứu việc mở cửa thị trường tài chính, bản thân

nó thực chất không phải là nguyên nhân sâu xa dẫn đến khủng hoảng tài chính - ngân hàng Việc cải cách hệ thống tài chính và tự do hóa có chăng chỉ lật tẩy và làm trầm trọng thêm những yếu kém trong thể chế và các chính sách tài chính vĩ mô vốn

dĩ đã tiềm ẩn, và do đó làm tăng thêm rủi ro của việc dẫn đến khủng hoảng tài chính

TDHTC thường xuyên gây ra các cuộc khủng hoảng ở cả các nền kinh tế phát triển và đang phát triển bởi vì cơ chế tự do hóa đã tạo điều kiện cho nền kinh tế hấp thu một lượng vốn chảy vào quá lớn so với khả năng hấp thụ của chúng một cách an toàn Thời gian trôi qua, vốn chảy vào biến thành vốn chảy ra, để lộ ra một hệ thống tài chính què quặt Đặc điểm của chu kỳ thịnh vượng - suy vong là như sau Nhờ có tăng trưởng nhanh hơn và/hoặc lạm phát cao hơn, lãi suất có xu hướng cao hơn ở nước có tài khoản được tự do hóa so với mức quốc tế Lãi suất cao hơn này, kết hợp với sự hiện diện của nhiều cơ hội mới nảy sinh từ việc tự do hóa, dẫn đến dòng vốn chảy vào tăng lên mạnh, phần lớn là vốn vay ngân hàng ngắn hạn và vốn đầu tư vào hạng mục tài sản (vốn đầu tư gián tiếp), giống như việc van ngăn nước được mở ra Dòng vốn đổ vào này dẫn đến việc tăng giá của bản tệ trong cơ chế tỷ giá linh hoạt,

Trang 34

hoặc thậm chí thêm nhiều vốn đổ vào hơn nữa trong cơ chế tỷ giá ổn định, với quan niệm sai lầm rằng không có rủi ro tiền tệ khi vay nước ngoài Dù khả năng nào xảy

ra đi nữa thì nền kinh tế sẽ có tăng trưởng tiền tệ nhanh, và thậm chí tăng trưởng tín dụng nhanh hơn thế, giá các loại tài sản tăng kiểu bong bóng, kéo theo cơn sốt đầu

tư và tiêu dùng

Tuy nhiên, sự thịnh vượng này sẽ biến thành suy vong một khi tính cạnh tranh

bị giảm sút, tài khoản vãng lai thâm hụt, và nợ xấu tăng lên, làm xói mòn lòng tin của các nhà đầu tư Sự tăng giá của bản tệ, hoặc là do sự lên giá về danh nghĩa, hoặc

là do lạm phát cao hơn, làm giảm tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu, và do đó làm tăng thêm thâm hụt tài khoản vãng lai Sau giai đoạn giá các loại tài sản đạt đỉnh điểm, lượng tín dụng cho vay đầu tư bất động sản và chứng khoán trở nên khó thu hồi, trong khi đó các khoản đầu tư kinh doanh không còn mang lại mấy lợi nhuận Mất cân đối trong cán cân vãng lai và sự mong manh dễ vỡ của hệ thống tài chính là dấu hiệu của rủi ro và thúc đẩy vốn chảy ngược ra ngoài Sự đổ ngược vốn ra ngoài như vậy gây áp lực lên tỷ giá và thị trường tài sản nội địa và đặt các cơ quan quản lý vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan giữa một bên là nâng lãi suất, và một bên là để cho bản tệ bị mất giá Tình trạng tiến thoái lưỡng nan này càng trở nên trầm trọng khi tỷ giá được giữ cố định cho đến khi thịnh vượng biến thành suy vong Bản tệ mất giá sẽ làm tăng gánh nặng nghĩa vụ tài chính cho những doanh nghiệp vay vốn bằng ngoại tệ, đặc biệt khi sự phá giá diễn ra sau giai đoạn tỷ giá được ấn định Trong trường hợp xấu nhất thì sự chảy ngược vốn ra bất thình lình sẽ châm ngòi cho các cuộc khủng hoảng ngân hàng và tiền tệ nghiêm trọng ở Scandinavia, Mỹ La tinh

và Đông Á, mặc dầu giữa chúng có những khác biệt đáng kể

Tóm lại khủng hoảng ngân hàng thường xảy ra tại những nước có môi trường thể thế kém hiệu quả Cụ thể TDHTC thường sẽ gây nên những tác động tiêu cực đến các NHTM khi các quy định pháp lý lỏng lẻo, nạn tham nhũng tràn lan, thủ tục hành chính rườm rà, và các công cụ quản lý kém hiệu quả (Demirguc-Kunt và Detragiache, 1998)

2.1 Rủi ro do hạn chế năng lực quản lý tín dụng

Trong hệ thống tài chính bị kiểm soát nghiêm ngặt, lãi suất cho vay của các

Trang 35

ngân hàng thường bị khống chế trong mức lãi suất trần và sàn điều này khiến các ngân hàng không thể cho vay với lãi suất quá cao Do đó cấp tín dụng cho những dự

án có độ rủi ro cao không thể mang lại lợi nhuận Nhưng khi lãi suất được tự do hóa, thì việc các ngân hàng tài trợ cho những dự án mạo hiểm với mong muốn nhận được nhưng khoản lợi nhuận khổng lồ là hoàn toàn có thể xảy ra Thực tế một trong những lợi ích của TDHTC đó là các dự án có độ rủi ro cao và lợi nhuận lớn có thể tìm kiếm được nguồn tài trợ

Nếu một khoản cho vay với độ rủi ro cao được bảo hiểm bằng một danh mục đầu tư đa dạng thì khoản cho vay rủi ro này sẽ không thể đẩy các ngân hàng vào tình trạng phá sản hay xét một cách tổng thể thì không thể dẫn đến khủng hoảng toàn hệ thống Tuy nhiên danh mục đầu tư mạo hiểm kể cả đa dạng thì thường vẫn rất nhạy cảm với những cú shock kinh tế lớn ví dụ như suy thoái kinh tế

Bên cạnh đó quản trị danh mục cho vay có độ rủi ro cao là rất phức tạp trong khi ở hầu hết các nước mới ở những năm đầu TDHTC thì các cán bộ nhân viên ngân hàng thường không có đủ những kỹ năng và kinh nghiệm quản trị cần thiết này Đánh giá mức độ rủi ro của dự án và quản trị khoản cho vay từ lúc cấp phát vốn đến lúc thu hồi cùng đòi hỏi những kỹ năng nhất định mà vốn trước đây trong

cơ chế cấp phát tín dụng đã không được sử dụng nhiều

2.2 Rủi ro “bất cập kỳ hạn thanh toán” và “rủi ro tiền tệ”

Tại phần lớn các quốc gia ở những năm đầu mới TDHTC, ngân hàng giữ vai trò chủ đạo trong việc rót những khoản tiết kiệm trong nước vào đầu tư Những ngân hàng này cấp vốn cho rất nhiều doanh nghiệp mà họ có mối quan hệ từ lâu, đồng thời các giám đốc ngân hàng cũng thường giữ những vị trí nhất định trong ban quản trị của chính những doanh nghiệp đó Thị trường chứng khoán của các quốc gia này nói chung cũng chưa phát triển

Trong bối cảnh đó đáng lý nhu cầu vốn dài hạn, tốt nhất được thỏa mãn bằng các khoản đầu tư dài hạn của những người cho vay dưới dạng vốn cổ phần hay trái phiếu dài hạn thì các doanh nghiệp lại phải giải quyết cho những vấn đề thiếu hụt nguồn tài trợ qua ngân hàng Trong khi đó với vai trò là trung gian tài chính, các ngân hàng thông thường sẽ chuyển các khoản vay ngắn hạn (tiền gửi) thành tài sản

Trang 36

dài hạn (các khoản tín dụng và đầu tư), theo đó rủi ro về “bất cập kỳ hạn thanh toán” sẽ xuất hiện Đặc biệt trong trường hợp TDHTC diễn ra trước khi thị trường liên ngân hàng phát triển thì các ngân hàng có thể sẽ gặp rất nhiều khó khăn để đối phó với những vấn đề thanh khoản, nếu như ngân hàng trung ương không đáp ứng kịp thời Vấn đề thanh khoản tại một ngân hàng có thể nhanh chóng lan sang các ngân hàng khác và trở thành khủng hoảng khi các nhà chức trách không được thông báo đầy đủ (Chari và Jagannathan, 1988)

Đó là chưa kể đến tại nhiều quốc gia, TDHTC diễn ra đồng thời với dỡ bỏ các kiểm soát giao dịch tài khoản vốn Điều này đã tạo nên một rủi ro khác hay còn gọi

là rủi ro ngoại hối khi các ngân hàng có thể huy động vốn ngoại tệ từ nước ngoài sau đó cho vay lại trong nước và có sự biến động mạnh về tỷ giá ngoại tệ Điều này giải thích cho lý do vì sao mà khủng hoảng tiền tệ thường xảy ra ngay trước khi hoặc đồng thời với khủng hoảng ngân hàng

2.3 Rủi ro đạo đức kinh doanh do yếu kém trong quản lý vĩ mô

Cũng đã có những nghiên cứu chứng minh được rằng trong điều kiện TDHTC cùng với việc giảm độc quyền trong kinh doanh ngân hàng đã làm gia tăng rủi ro đạo đức kinh doanh, một trong những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng ngân hàng (Caprio và Summers, 1993)

Theo Caprio và Summers (1993) và Hellmann, Murdock, và Stiglitz (1994) thì nguyên nhân dẫn đến rủi ro đạo đức đó chính là việc cấp phép kinh doanh ngân hàng ngày càng rộng rãi và sự dỡ bỏ hạn chế trong lãi suất Khi lãi suất được kiểm soát và các rào cản gia nhập ngành còn rất nghiêm ngặt thì giấy phép kinh doanh ngân hàng là rất có giá trị Điều này khuyến khích các ngân hàng quản trị rất tốt công tác tín dụng và độ rủi ro của các danh mục tín dụng và đầu tư Tuy nhiên khi TDHTC xuất hiện đã làm tăng mức độ cạnh tranh và giảm lợi nhuận độc quyền thì giá trị của giấy phép kinh doanh ngân hàng theo đó mà cũng mất dần, khuyến khích các ngân hàng chấp nhận rủi ro cao hơn để mong có được lợi nhuận lớn hơn Trong trường hợp này đòi hỏi phải xây dựng một cơ chế quản lý và giám sát thận trọng có hiệu quả để kiểm soát tình hình và ngăn chặn nguy cơ khủng hoảng

TDHTC đã làm tăng nguy cơ các ngân hàng sẵn sàng chấp nhận rủi ro do đó

Trang 37

mà bất cứ một cơ chế nào hạn chế các nhà quản trị ngân hàng trong việc đánh giá hợp lý độ rủi ro các quyết định cho vay sẽ là rất nguy hiểm Hạn chế trách nhiệm là một trong những cơ chế như vậy Việc Nhà nước đảm bảo một cách công khai hay ngấm ngầm cho những khoản tiền gửi vào ngân hàng càng làm cho rủi ro đạo đức kinh doanh tăng cao, tạo điều kiện cho các ngân hàng lơ là trong việc quản lý các khoản tiền gửi một cách hợp lý và cấp tín dụng tràn lan

Tóm lại TDHTC bằng việc dỡ bỏ các hạn chế đối với các ngân hàng và các tổ chức trung gian tài chính khác đã làm tăng nguy cơ các tổ chức này chấp nhận rủi ro cao hơn Điều này đã dẫn đến tình trạng dễ rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng Tuy nhiên nhiều nghiên cứu đã cho thấy TDHTC không phải là nguyên nhân trực tiếp bởi vì các khoản tín dụng và đầu tư rủi ro cao nếu được thẩm định tốt thì hoàn toàn

có thể mang lại lợi nhuận và thậm chí là lợi nhuận rất lớn Tuy nhiên do hạn chế trách nhiệm và các cơ chế bảo đảm công khai hay ngấm ngầm khác đã khiến các ngân hàng sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm Nếu các cơ chế giám sát và quản lý thận trọng kém hiệu quả trong việc quản lý hoạt động của các ngân hàng thì TDHTC sẽ đẩy toàn hệ thống vào tình trạng hết sức mỏng manh Ngoài ra các kỹ năng thẩm định và quản trị rủi ro tín dụng, quản trị danh mục đầu tư mạo hiểm chỉ có thể được nâng cao dần dần trong môi trường tài chính tự do và thông qua học hỏi từ thực tế

do đó mà NHTM tại các nước mới tiến hành tự do hóa thường dễ rơi vào tình trạng khủng hoảng

3 Tác động TDHTC đến hoạt động của các NHTM - trường hợp Trung Quốc

3.1 Tiến trình TDHTC ở Trung Quốc

Ngay từ những năm đầu tiến hành cải cách kinh tế Trung Quốc đã xác định cải cách khu vực tài chính theo hướng vận động của thị trường và từng bước tiếp cận môi trường thế giới là một phần cốt yếu cho sự thành công của công cuộc cải cách toàn bộ nền kinh tế Tuy nhiên quá trình TDHTC ở Trung Quốc, không giống như ở nhiều nước mà diễn ra một cách chậm rãi, phức tạp và được đặc trưng bởi tính

“thực dụng” rõ nét Tiến trình tự do hóa ở quốc gia này cũng không theo một chiến lược nhất định mà thay vào đó là một chiến lược hỗn hợp giữa TDHTC nội địa, tự

do hóa trên thị trường chứng khoán và mục tiêu đặt ra cuối cùng là tự do hóa tài

Trang 38

khoản vốn (Xem thêm phụ lục B)

TDHTC ở Trung Quốc thực sự bắt đầu vào năm 1978 đánh dấu bằng sự ra đời của hệ thống ngân hàng 2 cấp, tách bạch chức năng chính sách và chức năng thương mại của các ngân hàng Theo đó Ngân hàng nhân dân Trung Hoa (People’s Bank of China - POBC) sẽ đóng vai trò của NHNN, thực hiện chức năng điều tiết chính sách tiền tệ vĩ mô, loại bỏ dần các nghiệp vụ thương mại khác Các ngân hàng khác bao gồm NHTM quốc doanh và cách ngân hàng ngoài quốc doanh khác sẽ tiến hành kinh doanh theo chức năng của một NHTM thông thường Để đáp ứng mục tiêu chính sách, Trung Quốc cũng đã thành lập 3 ngân hàng chính sách vào năm 1994, đánh dấu bước cải cách mới trong hệ thống ngân hàng, giảm dần cơ chế bao cấp tín dụng, nâng cao năng lực hoạt động cho hệ thống ngân hàng

Song song với quá trình cải cách hệ thống ngân hàng, Trung Quốc cũng tiến hành từng bước phát triển thị trường chứng khoán Đây là một bức tranh điển hình phản ánh “tính thực dụng” trong quá trình TDHTC ở Trung Quốc Thay vì phát triển toàn diện trên cả nước, thị trường chứng khoán bước đầu chỉ được phát triển thí điểm tại một số thành phố được lựa chọn như các đặc khu kinh tế hay các thành phố lớn như Thượng Hải Và chỉ sau khi mô hình này thành công thì mới bắt đầu nhân rộng ra các tỉnh thành khác Tuy nhiên trong những năm cuối của thế kỷ 20 tình trạng của thị trường chứng khoán Trung Quốc cũng chỉ mới ở dạng sơ khai và chưa thực sự hiệu quả Song khi bước sang thế kỷ 21, cùng với việc ban hành nhiều luật mới cũng như tiến hành cải cách mạnh mẽ các doanh nghiệp thì thị trường chứng khoán thực sự đã có nhiều tiến bộ đáng kể

Cũng như nhiều quốc gia khác, mục tiêu cuối cùng trong TDHTC mà Trung Quốc hướng đến là tự do hóa tài khoản vốn, nhưng chưa đủ điều kiện nên được thực hiện có giới hạn với sự giám sát chặt chẽ, nhất là đối với dòng vốn ngắn hạn vào thị trường chứng khoán và dòng vốn ra Về quản lý nợ vay nước ngoài, Chính phủ vẫn quyết định hạn mức vay nợ trung và dài hạn hàng năm, quy định thời hạn trả nợ và loại tiền vay cũng như phân bổ cho các ngành nghề, khu vực Lý do mà quốc gia này đưa ra nhằm biện minh cho những quy định thắt chặt với giao dịch tài khoản vốn đó là Trung Quốc vẫn còn tồn tại rất nhiều yếu kém trong chính sách kinh tế vĩ

Trang 39

mô, thể chế và cơ cấu tài chính chưa thực sự phát triển và hệ thống hành lang pháp

lý chưa đủ chín muồi để có thể đưa Trung Quốc tiến đến tự do hóa tài khoản vốn Đặc biệt là sau cuộc sống sót ngoạn mục trong khủng hoảng tiền tệ Đông Nam Á,

mà theo đánh giá là chủ yếu nhờ vào quản lý nghiêm ngặt tài khoản vốn thì bước tiến đến tự do hóa tài khoản vốn của Trung Quốc còn chậm chạp hơn và hầu như là không có tiến triển gì trong những năm gần đây

3.2 Tác động của TDHTC đến hoạt động của các NHTM ở Trung Quốc

a Hoạt động nguồn vốn

Có thể nói đặc điểm chung của các NHTM Trung Quốc đó chính là “sở hữu Nhà nước” Hầu hết các ngân hàng chiếm thị phần lớn trong thị trường ngân hàng đều thuộc sở hữu Nhà nước mà tiêu biểu là bốn NHTM quốc doanh: Ngân hàng nông nghiệp Trung Quốc (Agrilcultural Bank of China - ABC), Ngân hàng công thương Trung Quốc (Industrial and Commercial Bank of China - ICBC), Ngân hàng Trung Quốc (Bank of China - BOC) và Ngân hàng kiến thiết Trung Quốc (China Construction Bank - CCB) Tính đến trước năm 1998 thì tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng Trung Quốc đều thấp dưới mức tiêu chuẩn quốc tế 8% Do đó mà Bộ Tài chính đã phát hành 270 tỉ Nhân dân tệ trái phiếu đặc biệt để tăng cường vốn cho những ngân hàng lớn để nâng tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu trung bình từ 4,4% lên 8% đúng theo Luật NHTM Đến cuối năm 2003, Trung Quốc đã rút khoảng 45 tỉ USD

từ dự trữ ngoại hối để hỗ trợ 2 ngân hàng CCB và BOC Tháng 12/2006, Bộ Tài chính khẳng định lần đầu tiên sẽ rót vốn vào 2 Ngân hàng ICBC và ABC Một số báo cáo cho hay ICB sẽ nhận 50 tỉ USD từ Nhà nước, có thể là từ dự trữ ngoại hối hoặc từ trái phiếu chính phủ

Để khuyến khích các NHTM tự tăng vốn và nâng cao năng lực quản lý, Nhà nước đang khuyến khích các ngân hàng này tiến hành cổ phần hóa, phát hành cổ phiếu trong và ngoài nước Tháng 5/2006, ICBC bán cổ phiếu ra công chúng, theo sau CCB và BOC Giá cổ phiếu của các ngân hàng này liên tục tăng lên ICBC trở thành ngân hàng cổ phần trong tháng 10 với sự tham gia đầu tư của Bộ Tài chính và Công ty đầu tư Central Huijin Co Ltd., mỗi bên chiếm 50% cổ phiếu Vài tháng

Trang 40

sau, Goldman Sachs, American Express và Allianz Group kết hợp mua 3,78 tỉ USD, khoảng 8,89% cổ phiếu của ICBC, tỉ lệ đầu tư nước ngoài cao nhất trong ngành ngân hàng Trung Quốc Hiện nay ICBC có 18.000 chi nhánh ở Trung Quốc, hơn 4 triệu khách hàng công ty và hơn 100 triệu khách hàng cá nhân Tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu lên tới 10,26%, trên mức 8% theo tiêu chuẩn quốc tế vào cuối năm 2005

b Hoạt động tín dụng

Mặc dù chiếm đến 70% tổng thị phần tín dụng của toàn ngành nhưng một vấn

đề rất nghiêm trọng của các NHTM Trung Quốc đó chính là tình hình nợ xấu tăng cao Theo một tính toán thì tính đến năm 1995 tỷ lệ nợ xấu của Trung Quốc lên đến khoảng 20% đến 50% tổng GDP Nếu tiến hành kiểm toán các NHTM quốc doanh theo tiêu chuẩn quốc tế thì các ngân hàng này đều không đủ năng lực hoạt động Nguyên nhân là do cho đến trước thời điểm TDHTC, thậm chí là cho đến nhiều năm sau đó, tín dụng của các ngân hàng Trung Quốc đều được sử dụng để tài trợ cho các doanh nghiệp Nhà nước (SOEs), thêm vào đó trình độ quản trị rủi ro, đánh giá dự

án cho vay cũng rất yếu kém Trước tình hình này, Nhà nước Trung Quốc và bản thân các ngân hàng đã cùng nhau từng bước giải quyết tình hình nợ xấu Năm 1998, Nhà nước đã thành lập các công ty quản lý tài sản (AMCs) để xử lý nợ xấu của 4 NHTM lớn Tổng số 1,4 nghìn tỉ Nhân dân tệ nợ khó đòi hay 9% trên tổng dư nợ đã được chuyển sang cho AMCs Ngoài ra giữa năm 2000, PBOC đã chỉ đạo các ngân hàng không được cho các công ty SOEs làm ăn thua lỗ vay nữa Tuy nhiên, việc cải cách những SOEs này và chương trình phát triển tín dụng của Nhà nước là những điều kiện tiên quyết để đem lại thành công cho việc cơ cấu lại ngành ngân hàng Kết quả là đến tháng 6/2004, BOC và CCB đã xử lý 300 tỉ Nhân dân tệ (khoảng 36,2 tỉ USD) nợ khó đòi, giảm tỉ lệ nợ xấu từ 5,16% xuống còn 3,74 % Còn đối với ICBC thì đến cuối năm 2005 tỉ lệ nợ xấu xuống còn 4,43% năm 2005, gần tới mức 1-2% của các Ngân hàng nước ngoài

Trong tiến trình tự do hoá lãi suất, các NHTM đã được phép điều chỉnh lãi suất cho vay trên dưới 10% và trên 30% đối với các khoản vay cho các công ty nhỏ Tháng 9/2000, PBOC lên kế hoạch 3 năm để tự do hoá lãi suất Các hạn chế vềviệc

Ngày đăng: 26/05/2014, 10:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Tổ chức hệ thống Ngân hàng Việt Nam trước 1988 - Khóa luận tốt nghiệp: Tự do hóa tài chính và tác động của nó đến hoạt động của các Ngân hàng thương mại
Hình 2.1 Tổ chức hệ thống Ngân hàng Việt Nam trước 1988 (Trang 43)
Hình 2.2: Tổ chức hệ thống Ngân hàng Việt Nam giai đoạn 1987-1990 - Khóa luận tốt nghiệp: Tự do hóa tài chính và tác động của nó đến hoạt động của các Ngân hàng thương mại
Hình 2.2 Tổ chức hệ thống Ngân hàng Việt Nam giai đoạn 1987-1990 (Trang 44)
Bảng 2.1: Phát triển về số lƣợng NHTM Việt Nam từ 1991-2006 - Khóa luận tốt nghiệp: Tự do hóa tài chính và tác động của nó đến hoạt động của các Ngân hàng thương mại
Bảng 2.1 Phát triển về số lƣợng NHTM Việt Nam từ 1991-2006 (Trang 46)
Bảng 2.2 đã cho thấy bắt đầu từ năm 1992, lãi suất cho vay đã đƣợc nâng lên  cao  hơn  lãi  suất  tiền  gửi,  cơ  chế  lãi  suất  cũng  chuyển  từ  lãi  suất  thực  âm  sang  lãi  suất thực dương - Khóa luận tốt nghiệp: Tự do hóa tài chính và tác động của nó đến hoạt động của các Ngân hàng thương mại
Bảng 2.2 đã cho thấy bắt đầu từ năm 1992, lãi suất cho vay đã đƣợc nâng lên cao hơn lãi suất tiền gửi, cơ chế lãi suất cũng chuyển từ lãi suất thực âm sang lãi suất thực dương (Trang 49)
Hình 2.5 : Từ trần lãi suất đến lãi suất cơ bản rồi tự do hóa lãi suất, 1998 - 2002 - Khóa luận tốt nghiệp: Tự do hóa tài chính và tác động của nó đến hoạt động của các Ngân hàng thương mại
Hình 2.5 Từ trần lãi suất đến lãi suất cơ bản rồi tự do hóa lãi suất, 1998 - 2002 (Trang 51)
Hình 2.6: Tỷ trọng tín dụng cho vay theo thành phần kinh tế năm 1987 - Khóa luận tốt nghiệp: Tự do hóa tài chính và tác động của nó đến hoạt động của các Ngân hàng thương mại
Hình 2.6 Tỷ trọng tín dụng cho vay theo thành phần kinh tế năm 1987 (Trang 52)
Bảng 2.3: Thay đổi trong tỷ trọng cho vay trong tổng dƣ nợ từ năm 1990-1995 - Khóa luận tốt nghiệp: Tự do hóa tài chính và tác động của nó đến hoạt động của các Ngân hàng thương mại
Bảng 2.3 Thay đổi trong tỷ trọng cho vay trong tổng dƣ nợ từ năm 1990-1995 (Trang 53)
Hình 2.7: Diễn biến tỷ giá VND/USD qua các năm - Khóa luận tốt nghiệp: Tự do hóa tài chính và tác động của nó đến hoạt động của các Ngân hàng thương mại
Hình 2.7 Diễn biến tỷ giá VND/USD qua các năm (Trang 56)
Hình 2.9: Tổng tài sản của các NHTM Việt Nam 2003-2007 - Khóa luận tốt nghiệp: Tự do hóa tài chính và tác động của nó đến hoạt động của các Ngân hàng thương mại
Hình 2.9 Tổng tài sản của các NHTM Việt Nam 2003-2007 (Trang 67)
Hình 2.10: Huy động vốn từ nền kinh tế năm 2001-2006. - Khóa luận tốt nghiệp: Tự do hóa tài chính và tác động của nó đến hoạt động của các Ngân hàng thương mại
Hình 2.10 Huy động vốn từ nền kinh tế năm 2001-2006 (Trang 70)
Bảng 2.7 : Thị phần huy động tiền gửi của các NHTM Việt Nam so với chi nhánh  ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh hoạt động tại Việt Nam - Khóa luận tốt nghiệp: Tự do hóa tài chính và tác động của nó đến hoạt động của các Ngân hàng thương mại
Bảng 2.7 Thị phần huy động tiền gửi của các NHTM Việt Nam so với chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh hoạt động tại Việt Nam (Trang 71)
Hình 2.11: Tốc độ tăng trưởng tín dụng giai đoạn 2000-2006 - Khóa luận tốt nghiệp: Tự do hóa tài chính và tác động của nó đến hoạt động của các Ngân hàng thương mại
Hình 2.11 Tốc độ tăng trưởng tín dụng giai đoạn 2000-2006 (Trang 73)
Bảng 2.9 : Thị phần hoạt động cho vay của các NHTM Việt Nam so với chi nhánh  ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh hoạt động tại Việt Nam (Đơn vị: %) - Khóa luận tốt nghiệp: Tự do hóa tài chính và tác động của nó đến hoạt động của các Ngân hàng thương mại
Bảng 2.9 Thị phần hoạt động cho vay của các NHTM Việt Nam so với chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh hoạt động tại Việt Nam (Đơn vị: %) (Trang 74)
Hình 2.12: Tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt qua các NHTM - Khóa luận tốt nghiệp: Tự do hóa tài chính và tác động của nó đến hoạt động của các Ngân hàng thương mại
Hình 2.12 Tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt qua các NHTM (Trang 77)
Hình 2.14: Số lƣợng máy ATM lắp đặt tại Việt Nam từ năm 2003-2007 - Khóa luận tốt nghiệp: Tự do hóa tài chính và tác động của nó đến hoạt động của các Ngân hàng thương mại
Hình 2.14 Số lƣợng máy ATM lắp đặt tại Việt Nam từ năm 2003-2007 (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm