1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VẤN đề tự DO hóa tài CHÍNH ở VIỆT NAM

26 419 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề tự do hóa tài chính ở Việt Nam
Tác giả Trần Thị Thu Ngân, Nguyễn Ngọc Phú
Người hướng dẫn GVHD: Nguyễn Hồng Minh
Trường học TP Hồ Chí Minh University of Economics
Chuyên ngành Lý thuyết Tài chính-Tiền tệ
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2012
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 320,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tự do hóa tài chính là quá trình giảm thiểu và cuối cùng là hủy bỏ sự kiểm soátcủa Nhà nước đối với hoạt động của hệ thống tài chính quốc gia, làm cho hệ thống nàyhoạt động tự do hơn và

Trang 1

Đề tài:

VẤN ĐỀ TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM

Trang 2

2 Nguyễn Ngọc Phú MSSV: K105041632

TP Hồ Chí Minh, Ngày 27 tháng 04 năm 2012

Trang 3

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU

NỘI DUNG

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH 3

1.1 Khái niệm và bản chất tự do hóa tài chính 3

1.1.1/ Khái niệm 3

1.1.2/ Bản chất 3

1.2 PHÂN LOẠI: 3

Chương 2: TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 3

2.1 Tự do hóa tài chính và mối quan hệ tăng trưởng 3

2.1.1 Tự do hóa tài chính tác động đến quá trình chuyển tiết kiệm cho đầu tư 5

2.1.2 Tự do hoá tài chính góp phần nâng cao hiệu quả việc phân bổ nguồn lực đầu tư 6

2.1.3.Tự do hoá tài chính và tiết kiệm 6

2.1.4 Mối quan hệ giữa tự do hóa tài chính và sự tăng trưởng kinh tế là không rõ ràng 7

2.1.5 Kết luận 7

2.2 Tính bất ổn của tự do tài chính 7

2.2.1 Thị trường tài chính phát triển tự do cũng đồng thời là quá trình hình thành bong bóng thị trường 8

2.2.2 Thị trường tài chính tự do có sức hút mạnh mẽ các ngân hàng thương mại 8

2.2.3 Từng bước vi phạm các nguyên tắc cơ bản của quản trị Ngân hàng thương mại 9

2.2.4 Hoạt động của thị trường tài chính tự do, các tổ chức định mức tín nhiệm dần dần bị tê liệt 10

2.2.5 Thị trường tài chính toàn cầu phát triển gắn với sự hình thành mô hình kinh tế thế giới thiếu bền vững 10

Chương 3: KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC, THÁI LAN, CANADA VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM 11

Chương 4: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ VẤN ĐỀ TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM 19

4.1 Thực trạng 19

4.2 giải pháp 21

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh hiện nay, vấn đề tự do hóa tài chính đang từng bước hội nhập vàonền kinh tế khu vực và thế giới đã không còn là sự lựa chọn của bất kỳ một quốc gia nào,

mà nó đang là xu thế tất yếu bắt buộc các quốc gia phải thực hiện để đưa nền kinh tế của

quốc gia mình đi vào quỹ đạo chung của nền kinh tế thế giới Trong một quốc gia, hệ

thống tài chính có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội Quốc gia

có hệ thống tài chính mạnh có thể làm cho quá trình lưu thông tiền tệ được diễn ra suôn

sẻ hơn, kích thích mọi thành phần kinh tế phát triển Do đó khi tự do hóa tài chính, nhữngtiềm năng lợi ích mà nó mang lại là rất lớn, nhưng bên cạnh đó là những mặt trái mànhiều người vẫn nhìn nhận như là nguyên nhân dẫn đến đổ vỡ, khủng hoảng tài chính đãtừng xảy ra ở Mexico năm 1994 - 1995, Thái Lan và một số nước châu Á vào năm 1997

Và nhóm chúng tôi làm bài tiểu luận này nhằm phân tích sâu sắc hơn về tự do hóatài chính trong thị trường ngày nay, về bản chất cũng như những bất ổn xoay quanh vấn

đề tự do hóa tài chính Đồng thời nghiên cứu rõ hơn về thực trạng ở Việt Nam cùngnhững kinh nghiệm đã được đúc kết từ các nước bạn để có một cái nhìn rõ nét và kháchquan hơn để từ đó đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm thúc đầy tự do hóa tài chính ởnước ta

Trang 5

NỘI DUNG

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH

1.1 Khái niệm và bản chất tự do hóa tài chính:

1.1.1/ Khái niệm:

Tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình

thức giá trị Phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ củacác chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhấtđịnh Bản chất của tài chính là các quan hệ tài chính trong phân phối tổng sản phẩm xãhội dưới hình thức tổng giá trị , thông qua đó tạo lập các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêucầu tích lũy và tiêu dùng của các chủ thể trong nền kinh tế Tài chính phản ánh tổng hợpcác mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính thông quaviệc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền

Tự do hóa tài chính là quá trình giảm thiểu và cuối cùng là hủy bỏ sự kiểm soátcủa Nhà nước đối với hoạt động của hệ thống tài chính quốc gia, làm cho hệ thống nàyhoạt động tự do hơn và hiệu quả hơn theo quy luật thị trường Nội dung cơ bản của tự dohóa tài chính bao gồm: Tự do hóa lãi suất, tự do hóa hoạt động cho vay của các ngânhàng thương mại (NHTM), tự do hóa hoạt động ngoại hối, tự do hóa hoạt động của các tổchức tài chính trên thị trường tài chính

Tự do hóa tài chính bao gồm tự do hóa tài chính trong nước và tự do hóa tài chínhvới nước ngoài Tự do hóa tài chính trong nước là cho phép các tổ chức tài chính trongnước tự do thực hiện các dịch vụ tài chính theo nguyên tắc thị trường, các thị trường tàichính trong nước được khuyến khích phát triển, các công cụ chính sách tiền tệ được điềuhành theo tín hiệu thị trường Tự do hóa tài chính với nước ngoài bao gồm tự do hóa giaodịch vãng lai và tự do hóa giao dịch vốn

1.1.2/ Bản chất:

Có thể nói, bản chất của tự do hóa tài chính là hoạt động tài chính theo cơ chế nộitại vốn có của thị trường và chuyển vai trò điều tiết tài chính từ chính phủ sang thịtrường, mục tiêu là tìm ra sự phối hợp có hiệu quả giữa Nhà nước và thị trường trong việcthực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế – xã hội Do đó, kết quả của tự do hóa tài chínhthường được thể hiện bằng tỷ số giữa tiền mở rộng (tiền mặt và tiền gửi trong hệ thốngNHTM) trên thu nhập quốc dân

1.2 PHÂN LOẠI:

Tự do hóa tài chính được phân làm hai cấp độ: Tự do hóa tài chính nội địa (xóa bỏkiểm soát lãi suất và phân bổ tín dụng) và tự do hóa tài chính quốc tế (loại bỏ kiểm soátvốn và các hạn chế trong quản lý ngoại hối)

Chương 2: TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN:

2.1 Tự do hóa tài chính và mối quan hệ tăng trưởng:

Trang 6

Mckinnon (1973), Shaw (1973) và các nhà kinh tế khác đã đồng tình rẳng: tự do hóa tàichính có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế:

 Tăng cường quy mô và cải thiện sự phân bổ nguồn lực tài chính

 Tạo điều kiện cho các công ty trong nước tiếp cận thị trường tài chính toàn cầu

 Cải thiện hệ thống quản lý công ty, tăng cường năng lực cạnh tranh (áp dụngchuẩn mực quản lý, chất lượng, chuẩn mực kế toán, tăng cường tính trách nhiệm

do hóa tài chính có mối quan hệ chặt chẽ với vấn đề tăng trưởng kinh tế bền vững Nóicách khác tự do hoá tài chính sẽ nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực, gia tăng tiếtkiệm và đầu tư, làm cho tỷ trọng tiết kiệm dành cho đầu tư ngày càng tăng, hiệu quả đầutư; và do đó, sẽ kích thích sự tăng trưởng kinh tế và chất lượng của tăng trưởng kinh tế(tăng trưởng bền vững)

Xuất phát từ mô hình của Pagano ta có:

Yt = AKt (1)Trong đó:

 Yt: là tổng sản lượng của xã hội ở thời điểm t;

 Kt: là vốn đầu tư của toàn xã hội tính đến thời điểm t (vốn tích tụ của toàn xã hội

It = Kt+1 – Kt, hayKt+1 = It + Kt (2)

Bằng cách tự do hoá tài chính, nên một phần lớn (f) số tiền tiết kiệm (St) được đưa vào đểđầu tư (It); phần còn lại của số tiền tiết kiệm (1-f) đi lẩn quẩn trong quá trình luân chuyểntiền tệ Chính vì vậy, điều kiện để thị trường vốn cân bằng là:

Trang 7

f*St = It (3)

Công thức (2) được thay vào công thức (1), khi đó tốc độ tăng trưởng của nền kinh tếđược viết lại như sau:

g t+1 = (Yt+1 – Yt)/Yt = (AKt+1 – AKt)/AKt = (Kt+1/Kt) –1, hay

gt+1 = [(It + Kt)/Kt] – 1 = It/Kt = AIt/AKt (4)

Trong đó: gt+1 là tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế vào thời điểm t+1 Một cách tổngquát, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế được xác định như sau:

g = AI/Y = AfS/Y = Afs (s = S/Y) (5) Lấy Lôgarit hai vế của phương trình (5) ta được:

Lng = ln A + Ln f + Ln s (6)

Trong phương trình (6), việc xác định các yếu tố hành vi: f, s, A là rất cần thiết bởi vì cácyếu tố này là kết quả của việc tự do hoá tài chính: chúng tác động trực tiếp đến tăngtrưởng kinh tế

2.1.1 Tự do hóa tài chính tác động đến quá trình chuyển tiết kiệm cho đầu tư:

Tự do tài chính sẽ đẩy mạnh việc sử dụng vốn nhàn rỗi của tư nhân vào tiến trình đầu tư,bởi vì khi đó, các ràng buộc về thủ tục vay vốn sẽ được đơn giản hoá, lãi suất huy độngtương đối thấp do sự cạnh tranh của các tổ chức đầu tư tài chính Tuy nhiên, một nhượcđiểm nổi bậc của quá trình luân chuyển tiền tệ là không thể chuyển hết toàn bộ số tiền tiếtkiệm huy động được cho đầu tư, mà nó bị tiêu hao cho các giao dịch phát sinh và cònđọng lại trong các tổ chức kinh doanh tài chính (dưới dạng dự trữ bắt buộc, tiền mặt chờluân chuyển ) Hơn nữa, tự do hoá tài chính bằng hình thức mở rộng các chi nhánh củacác ngân hàng thương mại và giảm lượng dự trữ bắt buộc sẽ kích thích sự cạnh tranhtrong khu vực kinh doanh tài chính, điều này làm giảm các khoản chi phí giao dịch, chiphí quản lý và đặc biệt là giảm sự khác biệt giữa lãi suất cho vay và lãi suất vay vốn.Chính điều này làm tỷ trọng tiền tiết kiệm dành cho đầu tư (f) ngày càng gia tăng Do đó,Subrata Chatak chứng minh được rằng, tỷ trọng tiết kiệm là một hàm tuyến tính và códạng tổng quát như sau:

f = F(DF) hay

Ln ft = f0 + f1Ln FDft (7)

Trang 8

Trong đó, FDft là nhân tố quyết định bởi chính sách tài chính của Chính phủ Nó cho biếtmức độ can thiệp của Chính phủ trong khu vực tài chính Chẳng hạn như mức độ canthiệp của Chính phủ về mức độ dự trữ bắt buộc trong các tổ chức tài chính, các ngânhàng; hay những hạn chế khác cản trở sự gia nhập hoạt động trong thị trường tài chínhđối với các định chế tài chính.

2.1.2 Tự do hoá tài chính góp phần nâng cao hiệu quả việc phân bổ nguồn lực đầu tư

Bằng cách chuyển nguồn vốn vào các dự án đầu tư có khả năng sinh lời cao, tự do hoá tàichính đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả vốn đầu tư toàn xã hội Quátrình tự do hoá tài chính đòi hỏi các tổ chức tín dụng phải làm việc thật sự cật lực nhằmxác định những dự án nào là những dự án mang lại khả năng sinh lợi cao, để quyết địnhviệc cho vay vốn trong khoảng thời gian ngắn nhất với thủ tục nhanh gọn nhất Như vậy,

do áp lực cạnh tranh ngày càng tăng, các định chế tài chính ngày càng nâng khả năng làmviệc Kết quả là việc đánh giá, thẩm định dự án được thực hiện nghiêm túc và đạt hiệuquả cao hơn Chính vì vậy, vốn đầu tư có thể được đưa vào những dự án mang tính sinhlợi và có hiệu quả cao

Hơn nữa, quá trình tự do tài chính sẽ giúp cho các cá nhân dễ dàng tiếp cận được cácnguồn tín dụng Thông qua việc kinh doanh hoặc học tập bằng các nguồn tín dụng vaymượn được, mỗi cá nhân có thể nâng cao kiến thức của mình Ngoài ra, hiệu ứng lan tỏa(spillover/external effects) về “vốn tri thức” sẽ làm cho mặt bằng kiến thức của xã hộikhông ngừng nâng cao Chính vì vậy, chất lượng nguồn nhân lực của xã hội được cảithiện một cách đáng kể

2.1.3.Tự do hoá tài chính và tiết kiệm

Theo Mckinnon và Shaw, việc tự do hoá tài chính sẽ đảm bảo cho lãi suất thực đượcdương bởi vì sự cân bằng giữa cung và cầu vốn trên thị trường tài chính Do sự tự điềuchỉnh bởi quy luật cung và cầu, lãi suất tiền gửi vào trong các tổ chức tín dụng loại trừ đitốc độ lạm phát sẽ luôn luôn dương, khi đó người cho vay sẽ an tâm hơn khi gửi tiền vàocác tổ chức tín dụng Chính vì điều này sẽ thu hút vốn nhàn rỗi trong dân chúng, kết quả

là làm gia tăng tín dụng cho các dự án đầu tư, kích thích tăng trưởng kinh tế

Do đó, nhân tố tiết kiệm (s) là một hàm tuyến tính và được thể hiện như sau:

s = F(DR) hay

Ln s = S0 + S1Ln DRst (9)Trong đó, DRst (Deposit rates) là lãi suất tiết kiệm

Trang 9

Thay thế các công thức (7), (8) và (9) vào công thức (6) ta có:

K) + C2Ln FD + C3DR + e (10)Y/Ln g = C0 + C1Ln (

Trong đó, u là nhân tố nhiễu độc lập với các biến trong phương trình

Công thức (10) cho biết tốc độ tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào ICOR, nguồn nhân lực,lãi suất (hay lượng tiền gửi tiết kiệm) và chính sách tài chính của Chính phủ Và đây là

mô hình lý lý thuyết của quá trình tự do hoá tài chính tác động đến tăng trưởng kinh tếđược xây dựng dựa trên lý thuyết tài chính – tiền tệ và mô hình tự do hoá tài chính củaSubrata Ghatk và Jalal U Siddili (2000)

2.1.4 Mối quan hệ giữa tự do hóa tài chính và sự tăng trưởng kinh tế là không rõ ràng:

 Thiếu đi những đo lường đồng nhất về chính sách tự do háo tài chính giữa cácquốc gia và thời gian

 Phạm vi nghiên cứu thực nghiệm cũng giới hạn (chỉ tập trung vào một số giải phápcải cách như là loại bỏ sự kiểm soát mọt thị trường tài chính đặc biệt nào đó)

Trang 10

2.2.1 Thị trường tài chính phát triển tự do cũng đồng thời là quá trình hình thành bong bóng thị trường:

Ngày nay, hoạt động thị trường tài chính càng ngày càng phát triển càng thúc đẩyluân chuyển vốn hiệu quả trong nền kinh tế Tuy nhiên, thị trường tài chính chỉ thực sựhiệu quả khi nó còn kiểm soát được tất cả các yếu tố cấu thành thị trường Nhưng khi thịtrường phát triển đến mức tính chất bầy đàn đã chi phối các quyết định bán mua của cácnhà đầu tư, thì tính hiệu quả của thị trường dần biến mất Trên thị trường, các nhà đầu tưluôn hành động trên cơ sở một sự hiểu biết không đầy đủ, điều này làm cho giá cả thịtrường thường thể hiện cái xu hướng chủ đạo hơn là thể hiện sự định giá đúng Giá cảtrên thị trường bị chi phối bới các quyết định mua bán của các nhà đầu tư như vậy cũngkhông còn là chỉ số phản ánh đầy đủ các thông tin sẵn có, và do đó giá cả cũng không còncung cấp những tín hiệu chính xác để phân bổ nguồn lực Giá cả có thể bị đẩy lên rất cao

để rồi sẽ bốc hơi rất nhanh Đó là hiện tượng bong bóng thị trường Bong bóng hìnhthành khi giá hàng hóa tăng cao vượt xa hơn giá trị thực của nó gấp nhiều lần Bong bónghình thành đẩy thị trường tài chính ngày càng đi dần vào trạng thái bất ổn Khi bong bóng

nổ kéo theo những tổn hại cho thị trường và cho tòan bộ nền kinh tế

Bong bóng giá tài sản trên TTTC còn được nảy sinh bởi sự xuất hiện ngày càngnhiều, ngày càng đa dạng của các hàng hóa mới trên thị trường Sự phát triển của TTCKluôn tạo động cơ làm xuất hiện các công cụ tài chính mới Những công cụ này thường làkết quả của quá trình chứng khoán hóa được hỗ trợ bởi kỹ thuật công nghệ thông tin Đó

là những công cụ giúp nhà đầu tư giảm bớt rủi ro để tiến đến đích lợi nhuận vững chắchơn Nhưng cái cách làm giảm bớt rủi ro của các công cụ tài chính mới này lại hàm chứarủi ro nguy hiểm hơn Cơ chế tạo rủi ro đó là khoản lợi nhuận có được khi thị trường ổnđịnh sẽ hoàn toàn thuộc về người này, nhưng khi thị trường gặp trục trặc, những tổn thấtmất mát lại được san sẻ cho nhiều người khác Cơ chế này buộc các nhà đầu tư chứngkhóan phải không ngừng bán, không ngừng mua, không ngừng đẩy giá đến đỉnh điểm đểlợi nhuận họ kiếm được luôn là tối đa Các nhà kinh tế gọi đó là rủi ro đạo đức Bongbóng nổ kéo theo những tổn hại cho thị trường và cho tòan bộ nền kinh tế Trong lĩnh vựctài chính, bong bóng hay xảy ra hơn, sức lây lan và mức độ tàn phá nghiêm trọng hơn,như một vũ khí hủy diệt hàng loạt tài chính

2.2.2 Thị trường tài chính tự do có sức hút mạnh mẽ các ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại là một chủ thể quan trọng trên thị trường tài chính Sự antoàn của các ngân hàng đảm bảo sự phát triển ổn định vững chắc của thị trường tài chínhquốc gia Vì thế, các giải pháp đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng không thể chỉtrông chờ vào nỗ lực quản trị rủi ro của từng ngân hàng, mà còn phải có những áp đặt,những quy định cứng rắn hơn từ phía Ngân hàng trung ương, cũng như các quy định phápquy mang tính toàn cầu Các quy định về tỉ lệ dự trữ bắt buộc, hay những yêu cầu củaBasel 1, đặc biệt chức năng người cứu cánh cuối cùng của Ngân hàng trung ương đối vớiNgân hàng trung ương đã nói lên điều đó

Trang 11

Thị trường tài chính càng được tự do, hoạt động Ngân hàng thương mại càng được nớilỏng, trong khi đáng lẽ phải càng được kiểm soát chặt hơn Các ngân hàng được traoquyền tự do nhiều hơn để thỏa mãn cơn khát lợi nhuận Các ngân hàng có nhiều cách đểchuyển những khoản nợ xấu nằm ngoài bảng quyết toán tài sản Với sự hỗ trợ của thuậtchứng khoán hóa, theo đó các món nợ của khách hàng, đáng lẽ phải được ngân hàngthường xuyên quan tâm để đảm bảo khả năng hoàn trả lại cho ngân hàng thì lại luôn đượcchuyển hóa thành các chứng khoán bán mua dễ dàng cho các nhà đầu tư Với cơ chế này,rủi ro dường rời xa khỏi ngân hàng, trong khi ngân hàng có cơ hội thu lợi nhuận vừa hấpdẫn vừa nhanh chóng Sự nới lỏng hoạt động kinh doanh ngân hàng như vậy đã tiếp sức

Khủng hoảng cho vay dưới chuẩn ở Mỹ là kết quả của sự nới lỏng các tiêu chuẩn cho vaymột cách liều lĩnh chưa từng có Người ta có thể vay nhà mà không cần phải có tiền đặtcọc và không gặp phải một rào cản nào từ phía người cho vay Trong cuộc chạy đua tìmkiếm lợi nhuận không mệt mỏi, gắn liền với việc lao sâu vào kinh doanh chứng khoán,các Ngân hàng thương mại và các định chế tài chính tham gia kinh doanh chứng khoán

đã mắc một cái bẫy nguy hiểm đó là đòn bẩy tài chính tăng cao

Hệ số “đòn bẩy tài chính” được đo bằng tỉ lệ Tài sản Có trên Vốn Nó phản ánh tình hình

sử dụng vốn vay để tài trợ cho tăng trưởng tài sản của ngân hàng Nó cũng là chỉ số đolường mức độ rủi ro của ngân hàng trước sự giảm giá tài sản và các khoản nợ Theo lýthuyết, hệ số 12 được coi là lành mạnh, đảm bảo độ an toàn cho hoạt động ngân hàng

Theo tính toán, nếu hệ số đòn bảy tài chính là 30 thì khi giá thị trường sụt giảm 3,3%toàn bộ tài sản của ngân hàng sẽ bằng 0 Hầu hết các tài sản thế chấp khoản vay của cácngân hàng Mỹ trước khủng hoảng vay chủ yếu là bất động sản, vì thế, với hệ số đòn bảycao, khi bất động sản giảm giá, vốn của các Ngân hàng đầu tư sẽ có thể biến mất Thực tế

ở Mỹ, giá bất động sản đã giảm 5 lần, các ngân hàng liên quan nhiều đến bất động sản(như WaWu) bị thiệt hại đầu tiên Các ngân hàng trụ lại được là do nguồn vốn để muachứng khoán BĐS có một phần được tài trợ bằng tiền gửi tiết kiệm như: Morgan Stanley,Goldman Sachs, Citygroup và J.P.Morgan Chase

Tất cả những buông lỏng trên đã làm cho tín dụng tăng trưởng nóng Điều này cũng nguyhiểm như tăng cung tiền Sự sụp đổ hệ thống tài chính và nguy cơ lạm phát là khôngtránh khỏi

Trang 12

2.2.4 Hoạt động của thị trường tài chính tự do, các tổ chức định mức tín nhiệm dần dần bị tê liệt:

Tổ chức định mức tín nhiệm vốn là một công cụ phục vụ đắc lực việc kiểm tra giám sátcủa chính phủ đối với thị trường tài chính

Có thể nói, đề cao tự do thị trường thái quá đã dần hình thành thị trường độc nhóm tronghoạt động định mức tín nhiệm Các tổ chức định mức tín nhiệm lớn như Moodys, S&P,Fitch dưới sự bảo trợ của chính phủ đã ngày càng nổi tiếng cùng với việc cung cấp ồ ạtnhững chứng khoán rác được xếp hạng tín nhiệm cao Từ thập niên 70, Công ty cung cấpsản phẩm tài chính trả tiền cho công ty xếp hạng tín dụng Đây được gọi là cơ chế “làmđẹp lòng nhau” Thả cương cho thị trường tự điều tiết đã làm cho các tổ chức định mứctín nhiệm bị vô hiệu hóa, không còn là công cụ giám sát thị trường đắc lực như sứ mệnhvốn có của nó Rõ ràng, thị trường đã thất bại trong việc hướng các tổ chức này đến hoạtđộng trung thực và hiệu quả

2.2.5 Thị trường tài chính toàn cầu phát triển gắn với sự hình thành mô hình kinh tế thế giới thiếu bền vững:

Thị trường tài chính tự do luôn có xu hướng trở thành thị trường tài chính tòan cầu Thực

tế cho thấy, tiến trình toàn cầu hóa thị trường tài chính thời gian qua đã gắn với sự ra đờicủa một mô hình phát triển đầy bất ổn, thiếu bền vững cho từng quốc gia tham gia cuộcchơi và cho nền kinh tế toàn cầu

Buông lỏng để cho thị trường thị trường tài chính tự điều tiết cũng đồng nghĩa với buônglỏng lãi suất Lãi suất hoàn toàn do thị trường vay nợ điều tiết Điều này sẽ bất ổn khi cầutiền vay bị đẩy lên quá cao một cách giả tạo do nhà đầu tư kỳ vọng ngông cuồng vào lợinhuận kiếm được trên thị trường này, hay khi thị trường đã có những nhân tố tác độngmới với những lực lượng mới, phức tạp, có khả năng chi phối một cách không lành mạnhđến thị trường Trong điều kiện thị trường như vậy, cũng như giá cả hàng hóa, lãi suất cóthể bị bóp méo không còn phản ánh đúng chi phí vốn vay thật sự Một lãi suất méo mónhư vậy trong một thị trường tài chính toàn cầu sẽ điều tiết dòng chảy của vốn từ chỗ hợp

lý đến trạng thái bất ổn Xu thế toàn cầu hóa tài chính đã khiến vốn khả dụng trên thịtrường tăng cao dường như không giới hạn Một cơ cấu bất ổn được hình thành trong quátrình thị trường tài chính được tự do phát triển, tự do mở rộng trên toàn thế giới Chỉ đếnkhi khủng hoảng xảy ra cả thế giới mới thấy hết tính chất hủy diệt hàng loạt của cái cơcấu bất ổn này

Trang 13

Chương 3: KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC, THÁI LAN, CANADA VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM.

3.1 Kinh nghiệm từ các nước ngoài:

Năm 2000, một nhà nghiên cứu (Yang Qian) đã phân tích mức độ cam kết mở cửa thịtrường của các nước thành viên WTO trong khuôn khổ hiệp định GATT Một trongnhững kết luận đáng chú ý được rút ra là: Mức độ cam kết mở cửa thị trường dịch vụ tàichính nhìn chung không phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của các nước thànhviên Một số nước phát triển đưa ra những cam kết không được cởi mở lắm trong khi đó

có những nước đang phát triển hoặc kém phát triển vẫn cam kết mở cửa thị trường rộngrãi hơn Quyết sách để đưa ra mức độ mở cửa thị trường dường như phụ thuộc nhiều hơnvào những lợi ích tiềm năng có thể mang lại và khả năng cạnh tranh của hệ thống dịch vụtài chính nội địa Hay nói đúng hơn là nó phụ thuộc vào tính hiệu quả và những thành tựu

đã đạt được của công cuộc cải cách hệ thống tài chính ngân hàng của một nước thànhviên theo hướng hội nhập Điều đó có nghĩa là sẽ không có một công thức chung chuẩnxác nào áp dụng cho tất cả các nước khi tiến hành mở cửa kinh tế Tuy nhiên, ở mộtchừng mực nhất định, việc tham khảo kinh nghiệm và những bài học thực tế về việc mởcửa thị trường ở một số nước là cần thiết cho những nước đi sau

3.1.1 Trung Quốc

Trung Quốc bắt đầu chính sách mở cửa kinh tế vào năm 1979 Tuy nhiên, trong 5 nămđầu tiên của thời kỳ mở cửa, công cuộc cải cách dường như chưa chạm đến hệ thống tàichính ngân hàng Dấu hiệu cải cách trong hệ thống tài chính thực sự mới xuất hiện vàonăm 1984 khi hệ thống ngân hàng tách thành hai cấp: ngân hàng Nhà nước (Ngân hàngNhân dân Trung Quốc) và Ngân hàng thương mại Kể từ đó mới xuất hiện dấu hiệu cạnhtranh giữa các ngân hàng và ở một mức độ thận trọng, các ngân hàng nước ngoài bắt đầuđược phép thành lập và hoạt động ở Trung Quốc

Nhìn chung cho đến nay, hệ thống dịch vụ tài chính ở Trung Quốc vẫn bị chính phủkhống chế và kiểm soát chặt chẽ Mức độ mở cửa cho các ngân hàng nước ngoài hoạtđộng còn rất hạn chế.Những đặc điểm chính của thị trường dịch vụ tài chính của TrungQuốc như sau:

Hệ thống ngân hàng:

Bốn ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước kiểm soát trên 80% thị phần và thực hiện việcphân phối tín dụng dựa trên kế hoạch tín dụng của trung ương Những ngân hàng này giữmột phần lớn các khoản tiền gửi nằm ngoài kênh gửi tiền chính thức nhằm mục đích đầu

Ngày đăng: 25/12/2013, 15:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w