1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những vấn đề lí luận chung về di chúc chung của vợ, chồng trong pháp luật dân sự Việt Nam

20 1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 57,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦUDi chúc chung của vợ, chồng là một trường hợp đặc thù trong chế định thừa kế của pháp luật dân sự Việt Nam, được dùng để định đoạt khối tài sản chung hợp nhất của vợ chồng trong th

Trang 1

MỞ ĐẦU

Di chúc chung của vợ, chồng là một trường hợp đặc thù trong chế định thừa

kế của pháp luật dân sự Việt Nam, được dùng để định đoạt khối tài sản chung hợp nhất của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Vấn đề di chúc chung của vợ, chồng được thừa nhận trong tục lệ của ta từ lâu và hiện nay pháp luật nước ta có một số điều quy định về di chúc chung của vợ, chồng Quan niệm truyền thống của người Việt Nam vốn rất coi trọng đạo nghĩa vợ - chồng và luôn muốn củng cố tình thương yêu, đoàn kết trong gia đình, nên cũng khuyến khích việc vợ, chồng cùng nhau lập

di chúc chung để định đoạt tài sản chung, và coi đó như là một biểu hiện cao đẹp của sự đoàn kết, yêu thương giữa vợ - chồng Tuy nhiên qua quá trình áp dụng các quy định về di chúc chung đã nảy sinh một số bất cập như việc xác định các điều kiện có hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng, nội dung của di chúc chung của

vợ chồng… đồng thời Bộ luật Dân sự (BLDS) chưa dự liệu hết các tình huống xảy

ra xung quanh các vấn đề liên quan đến di chúc chung của vợ chồng như các trường hợp cấm vợ chồng lập di chúc chung, trường hợp vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung di chúc chung khi một bên không đồng ý… Do vậy, trong bài này sinh viên

xin lựa chọn đề tài “Di chúc chung của vợ, chồng” để hiểu rõ hơn về vấn đề này.

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I.Những vấn đề lí luận chung về di chúc chung của vợ, chồng trong pháp luật dân sự Việt Nam.

1.Di chúc.

Điều 646 BLDS năm 2005 quy định: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết” Từ khái niệm

này ta có thể thấy những đặc điểm của di chúc:

Thứ nhất, di chúc là sự thể hiện ý chí đơn phương của người để lại di chúc. Ý chí đơn phương này được thể hiện qua việc người lập di chúc toàn quyền định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bất kỳ ai sau khi chết (không phụ thuộc vào việc người được hưởng thừa kế theo di chúc có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hay thân thích với người lập di chúc) và có quyền cho người này nhiều, người kia ít, hoặc không cho người nào đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật Người để lại thừa kế không cần biết người nhận di sản của mình được xác định trong di chúc có nhận di sản của mình hay không mà tự quyết định

Trang 2

trong khi hợp đồng được hình thành bởi sự thỏa thuận ý chí của nhiều bên chủ thể thì di chúc chỉ là sự quyết định đơn phương của người lập ra nó – người để lại di sản thừa kế Pháp luật Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự định đoạt của cá nhân, việc lập di chúc cũng như việc kết hôn không thể thực hiện bằng lối ủy quyền Chính vì vậy mà ngày nay thừa kế theo di chúc trở nên phổ biến hơn thừa kế theo pháp luật

Thứ hai, bản di chúc được lập nhằm mục đích là chuyển dịch di sản của

người chết cho người khác đã được xác định trong di chúc Đây là nội dung quan trọng không thể thiếu được của một di chúc, bởi những di chúc mà không có nội dung định đoạt tài sản cho người khác thì không được coi là di chúc (theo nghĩa hẹp) thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự Mục đích của di chúc là phải chuyển dịch tài sản của người để lại thừa kế cho người khác Và việc chuyển dịch tài sản cho người khác được thực hiện khi người để lại di chúc chết

Thứ ba, di chúc là loại giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực khi chính người xác lập ra nó đã chết Khoản 1 điều 667 BLDS năm 2005 quy định: “di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế” Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người để lại

tài sản thừa kế đã chết Nói ngược lại, khi người lập di chúc còn sống thì di chúc đó chưa có hiệu lực

Tóm lại, di chúc là đối tượng điều chỉnh của BLDS chỉ khi nào nội dung của

di chúc định đoạt phần tài sản của người lập di chúc sau khi người đó chết đi Di chúc là hành vi pháp lý đơn phương của người lập ra nó, do đó di chúc phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung và điều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng Một người muốn định đoạt tài sản của mình bằng di chúc, cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật về thừa kế theo di chúc Thừa kế theo di chúc là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người khác còn sống theo quyết định của người đó trước khi chết được thể hiện trong di chúc Nội dung cơ bản của thừa kế theo di chúc là chỉ định người thừa kế (cá nhân, cơ quan, tổ chức)

và phân định di sản cho từng người thừa kế, giao nghĩa vụ cho người thừa kế trong phạm vi di sản…

2.Di chúc chung của vợ chồng.

a.Khái niệm.

Di chúc chung của vợ, chồng là sự thể hiện ý chí chung thống nhất của hai vợ chồng nhằm dịch chuyển tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng cho người khác sau khi chết Pháp luật nước ta quy định trường hợp di chúc chung của

Trang 3

vợ, chồng bởi chế độ sở hữu của vợ, chồng là chế độ sở hữu chung hợp nhất Điều

217 BLDS năm 2005 quy định:

“1 Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung Sở hữu chung hợp nhất bao gồm sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia và sở hữu chung hợp nhất không phân chia.

2.Các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung”.

Quyền sở hữu của vợ, chồng đối với khối tài sản chung không được xác định

và họ có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với khối tài sản chung đó, trong đó có quyền lập di chúc chung để định đoạt khối tài sản chung của vợ chồng sau khi họ chết Di chúc chung của vợ, chồng có thể coi là một loại di chúc đặc biệt so với di chúc cá nhân (di chúc thông thường) Do đó, bên cạnh những điểm giống di chúc thông thường thì di chúc chung của vợ, chồng có những nét khác biệt như chủ thể lập di chúc là vợ và chồng (gồm hai cá nhân), thời điểm có hiệu lực của di chúc là

từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết, người hưởng thừa kế có thể là người lập ra di chúc…

b.Đặc điểm của di chúc chung của vợ, chồng.

Di chúc chung của vợ, chồng mang đầy đủ những đặc điểm của di chúc thông thường như: sự thể hiện ý chí tự nguyện của bên lập di chúc, nội dung của di chúc là định đoạt tài sản của người lập di chúc, di chúc phát sinh hiệu lực pháp luật khi người để lại di chúc chết Ngoài những đặc điểm chung nêu trên thì di chúc chung của vợ, chồng còn có những đặc điểm riêng sau:

Thứ nhất, di chúc chung của vợ, chồng là sự thể hiện ý chí thống nhất của cả

hai vợ chồng, dựa trên quan hệ hôn nhân đang còn hiệu lực

Di chúc chung của vợ, chồng là sự thể hiện ý chí thống nhất của vợ, chồng

mà nó không bị chi phối bởi ý kiến của bất kì ai, đó là ý chí chủ quan, dựa trên ý chí

và yếu tố tình cảm của bên lập di chúc Dựa trên cơ sở bàn bạc, thỏa thuận đi đến thống nhất lập di chúc chung, quyết định nội dung của di chúc và định đoạt khối tài sản chung Sự thỏa thuận này khác với sự thỏa thuận giữa các chủ thể khi cùng nhau thiết lập các loại hợp đồng Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về một vấn đề nào đó, từ đó làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ

Trang 4

tương ứng của các bên Trong khi đó di chúc chung của vợ chồng lại là sự thỏa thuận giữa hai cá nhân ở cùng một bên (bên để lại di sản)

Di chúc chung của vợ, chồng cũng là một giao dịch dân sự nhưng nó lại thể hiện ý chí đơn phương của bên lập di chúc, đó là vợ và chồng (gồm hai ý chí cá nhân nhưng thống nhất) Như vậy, ý chí đơn phương là điểm khác biệt của di chúc

so với các loại giao dịch dân sự khác

Thứ hai, di chúc chung của vợ, chồng được lập để định đoạt tài sản chung của

vợ chồng trong thời kì hôn nhân

Căn cứ vào điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000: “Tài sản chung của

vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung”.

Tài sản chung của vợ chồng không phụ thuộc vào việc họ ở chung hay ở riêng mà quan trọng là tài sản đó vợ chồng tạo ra trong thời kì hôn nhân thì cho dù

họ sống xa nhau ở các vùng, miền trong nước, hoặc một bên sống ở nước ngoài cũng không ảnh hưởng gì đến tài sản chung

Di chúc chung của vợ, chồng dùng để định đoạt khối tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ, chồng Khi vợ, chồng còn sống thì quyền sở hữu chung hợp nhất đối với khối tài sản chung được pháp luật bảo đảm thông qua các quyền: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt Một trong các biểu hiện của quyền

tự định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu chung là việc lập di chúc để phân chia tài sản Vợ, chồng có quyền thoả thuận để lại di chúc cho bất kỳ ai, có quyền chỉ định người thừa kế và cũng có thể truất quyền thừa kế của người thuộc diện thừa kế Người thừa kế theo di chúc chung có thể là Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân bất kỳ theo sự chỉ định của người để lại di chúc

Thứ ba, di chúc chung của vợ, chồng được hình thành trên quan hệ hôn nhân

đang còn hiệu lực

Khoản 7 điều 8 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Thời kì hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ, chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày

Trang 5

chấm dứt hôn nhân” Việc kết hôn của nam, nữ phải được cơ quan nhà nước có

thẩm quyền công nhận theo đúng các thủ tục và điều kiện mà pháp luật quy định

3.Khái quát về di chúc chung của vợ, chồng trong pháp luật dân sự Việt Nam trước năm 2005.

Trước năm 2005, vấn đề di chúc chung của vợ, chồng trong pháp luật dân sự Việt Nam được chia làm ba giai đoạn chính:

a Giai đoạn trước năm 1945: Giai đoạn này pháp luật Việt Nam tập trung

vào Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật), Bộ luật Gia Long (Hoàng Việt luật lệ), và các Bộ dân luật Bắc Kỳ, Bộ dân luật Trung Kỳ

Trong bốn bộ luật kể trên thì Bộ luật Hồng Đức (thời nhà Lê) và Bộ luật Gia Long (nhà Nguyễn) chưa quy định về di chúc chung của vợ, chồng Di chúc chung của vợ, chồng được quy định trong Bộ dân luật Bắc Kỳ (điều 321) và Bộ dân luật Trung Kỳ (điều 313) Điều 313 Bộ dân luật Trung Kỳ giống điều 321 Bộ dân luật

Bắc Kỳ: “Người chồng được lập chúc thư để xử trí tài sản chung của gia đình tùy theo ý mình nhưng phải có vợ chính đồng ý trừ tài sản của vợ chính ra thì người chồng được làm chúc thư để xử trí tài sản của gia đình tùy theo ý mình, không có vợ chính thuận tình cũng được”

b Giai đoạn 1945 – 1975: Đất nước ta bị chia cắt làm hai miền Bắc – Nam,

các văn bản pháp luật không thể áp dụng chung thống nhất cho cả hai miền Ở miền Bắc vẫn chưa có văn bản nào quy định một cách hệ thống đầy đủ về thừa kế Năm

1972, ở miềm Nam Bộ dân luật Sài Gòn được ban hành để điều chỉnh các quan hệ dân sự trong đó có quan hệ thừa kế Tại điều 572 vấn đề di chúc chung của vợ

chồng được quy định như sau: “…trong trường hợp chúc thư do hai vợ chồng cùng làm để sử dụng tài sản chung, chúc thư được thi hành riêng về phần di sản của người chết trước, người sống vẫn có quyền hủy bãi hay thay đổi chúc thư về phần mình” Như vậy, vợ chồng có thể cùng lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung

của vợ chồng

c Giai đoạn 1975 đến trước khi BLDS năm 2005 có hiệu lực:

Thông tư 81 – TANDTC ngày 24 tháng 7 năm 1981 quy định: “Di chúc do

vợ chồng cùng làm để định đoạt tài sản chung, nếu một bên chết trước thì chỉ riêng phần di sản của người đó được thi hành theo di chúc…” Khi thông tư 81 –

TANDTC không còn phù hợp, pháp lệnh thừa kế năm 1990 ra đời quy định tại điều

23: “Trong trường hợp di chúc do nhiều người lập chung, mà có người chết trước

Trang 6

thì chỉ phần tài sản liên quan đến người chết trước có hiệu lực” Như vậy, pháp lệnh thừa kế không trực tiếp quy định nhưng gián tiếp thừa nhận di chúc chung của

vợ, chồng.

BLDS năm 1995 có hiệu lực từ ngày 1/7/1996 đã dành một chương với 63 điều quy định về chế định thừa kế Vấn đề thừa kế theo di chúc được quy định từ điều 649 đến điều 676 Qua 10 năm thi hành, bên cạnh những vai trò to lớn mà BLDS đem lại thì bộ luật này cũng bộc lộ một số hạn chế dẫn đến việc áp dụng pháp luật gặp nhiều khó khăn nên ngày 14/6/2005, Quốc hội khóa XI tại kỳ họp thứ

7 đã thông qua BLDS năm 2005 thay thế BLDS năm 1995 trong đó có sửa đổi, bổ sung nhiều vấn đề quan trọng về lĩnh vực thừa kế Di chúc chung của vợ, chồng được quy định tại các điều 663, điều 664 và điều 668 BLDS năm 2005

4.Một số khía cạnh pháp lí về di chúc chung của vợ, chồng theo pháp luật một

số nước trên thế giới.

Hiện nay, hệ thống pháp luật của các nước trên thế giới tồn tại hai quan điểm khác nhau về việc thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ, chồng Quan điểm thứ nhất thì thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ, chồng còn quan điểm thứ hai lại không thừa nhận quyền này Có thể thấy như sau:

Pháp luật một số nước không thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ, chồng như: BLDS của nước cộng hòa Pháp (Bộ luật Napoleon) ban hành năm 1804 (Điều 968); BLDS Nhật Bản (điều 975); BLDS và thương mại Thái Lan không quy định về di chúc chung của vợ chồng mặc dù các quy định về tài sản chung của vợ chồng đã được hình thành và có nét tương đồng với pháp luật Việt Nam; Thụy Sỹ hiện nay các nhà lập pháp không thừa nhận khả năng lập di chúc của vợ chồng Trong khi đó pháp luật một số nước như BLDS Đức năm 1896, BLDS bang Quesbec (Canada) lại thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ, chồng

5.Ý nghĩa của di chúc chung của vợ chồng.

Di chúc chung của vợ, chồng có ý nghĩa về mặt pháp lý cũng như ý nghĩa về mặt xã hội rất to lớn

Về mặt pháp lý: Di chúc chung của vợ, chồng phản ánh đúng, phù hợp với

những quy định của pháp luật về chế định sở hữu (vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người, có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung) cũng như phù hợp với pháp luật hôn nhân gia đình Việt Nam Những quy định của pháp luật về di chúc chung

Trang 7

của vợ, chồng giúp cho mỗi cá nhân cũng như mỗi cặp vợ chồng nhận biết được quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình khi lập di chúc để định đoạt tài sản chung hợp nhất và cũng là căn cứ pháp lý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết khi

có tranh chấp xảy ra

Về mặt xã hội: Di chúc chung của vợ, chồng là một biểu hiện cao đẹp về đời

sống tinh thần của người Việt Nam, vợ chồng cùng nhau tảo tần gây dựng nên tài sản chung để nuôi sống gia đình, để cùng nhau tích lũy và cuối cùng vợ chồng đồng tâm với nhau để định đoạt khối tài sản chung đó khi chết đi, đồng thời nó là một minh chứng cho tính “sống chung”, tính “bền vững” của quan hệ hôn nhân cũng như tính “cùng tạo dựng” tài sản của vợ chồng

II.Quy định của pháp luật về di chúc chung của vợ, chồng.

1.Nhận xét chung những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về di chúc chung của vợ, chồng.

Hiện nay, pháp luật thừa kế Việt Nam thừa nhận di chúc chung của vợ, chồng, tuy nhiên khái niệm di chúc chung của vợ, chồng chưa được xác định trong BLDS trong khi đó khái niệm này là cơ sở để hiểu được bản chất và là cơ sở để quy định các vấn đề có liên quan như nội dung, hình thức và cách thức lập di chúc chung của vợ, chồng; hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ chồng… Vấn đề

di chúc chung của vợ, chồng được quy định trong điều 663, điều 664 và điều 668 BLDS năm 2005 và được nằm chung trong chương “Thừa kế theo di chúc”.Vì vậy, khi xem xét, vận dụng về di chúc chung của vợ, chồng chúng ta phải đặt nó trong mối liên hệ với di chúc nói chung Trong quá trình áp dụng và thực thi pháp luật thì những quy định trên vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định như những quy định

về hình thức, hiệu lực pháp luật, về sửa đổi, bổ sung… gây khó khăn trong quá trình

áp dụng pháp luật, gây nên nhiều cách hiểu khác nhau về cùng một vấn đề, có quy định còn chồng chéo, chưa đáp ứng được tính khả thi, chưa phù hợp với những đặc thù của di chúc chung của vợ, chồng…

2.Nội dung của di chúc chung của vợ, chồng.

Nội dung của di chúc là sự thể hiện ý chí của người lập di chúc về việc định đoạt tài sản của mình cho người thừa kế và là một trong những căn cứ để xét đến tính hợp pháp của di chúc Nội dung của di chúc chung của vợ, chồng là tổng hợp các vấn đề mà vợ chồng thể hiện trong di chúc đó Một bản di chúc được thừa nhận

là hợp pháp nếu nội dung của nó không vi phạm những điều pháp luật đã cấm,

Trang 8

không làm trái những điều pháp luật đã quy định; ngoài ra còn phải phù hợp với thuần phong mỹ tục và trật tự công cộng

Nội dung của di chúc bằng văn bản phải đầy đủ các yếu tố:

Một là, ngày, tháng, năm lập di chúc: Ngày, tháng, năm ghi trong di chúc là

cơ sở để xác định thời điểm lập di chúc Pháp luật hiện hành quy định một người có thể lập nhiều bản di chúc do đó vợ chồng cũng có thể lập nhiều bản di chúc để định đoạt tài sản chung, vì vậy pháp luật quy định nội dung này của di chúc để có thể xác định được di chúc nào lập trước, di chúc nào lập sau Thời điểm lập di chúc là căn

cứ để xác định hiệu lực pháp luật của bản di chúc, phù hợp với quy định “Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng mới

có hiệu lực pháp luật” (khoản 5 điều 667 BLDS năm 2005).

Hai là, họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc Nội dung này là căn cứ để

xác định chủ thể lập di chúc, người đó có quyền và điều kiện lập di chúc hay không

Di chúc phải ghi đầy đủ họ tên, nơi cư trú của vợ và chồng, nếu không đảm bảo yếu

tố này thì di chúc không có giá trị pháp lý

Ba là, họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ

các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản Trong di chúc, vợ và

chồng phải ghi rõ đối tượng được hưởng di sản cùng các điều kiện để đối tượng đó được hưởng di sản Pháp luật quy định người thừa kế có thể là cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức Trường hợp người thừa kế là cá nhân thì cá nhân đó phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng

đã thành thai trước khi người để lại di sản chết Còn nếu là cơ quan, tổ chức thì cơ quan, tổ chức đó phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế

Bốn là, di sản để lại và nơi có di sản Trong di chúc phải xác định được di

sản thừa kế để đảm bảo quyền lợi của người hưởng thừa kế theo di chúc chung của

vợ chồng Người lập di chúc phải ghi rõ di sản để lại gồm những gì và có ở đâu

Điều 634 BLDS quy định: “Di sản gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác” nhưng vì di chúc chung của vợ

chồng do vợ và chồng cùng lập nên di sản trong di chúc chung của vợ chồng là tài sản chung hợp nhất của vợ chồng Tuy nhiên, thực tế vẫn có những trường hợp di chúc chung của vợ, chồng lại có nội dung định đoạt tài sản riêng, tồn tại dưới những hình thức như di chúc chung của vợ, chồng định đoạt phần tài sản chung của vợ chồng và tài sản riêng của vợ chồng (ngoài phần tài sản chung của vợ chồng đã

Trang 9

được định đoạt trong di chúc chung) hay di chúc chung của vợ chồng định đoạt toàn

bộ tài sản của vợ chồng, bao gồm: tài sản riêng và phần tài sản trong khối tài sản chung hợp nhất của vợ chồng

Năm là, việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ Vợ

chồng có thể chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và chỉ rõ nghĩa vụ phải thực hiện trong di chúc Khi thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại thì những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện trong phạm vi di sản do người chết để lại Trong trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận (trừ trường hợp có thỏa thuận khác)

3.Hình thức của di chúc chung của vợ, chồng.

Về hình thức của di chúc chung của vợ, chồng pháp luật không có quy định trực tiếp nên vấn đề này được áp dụng tương tự như đối với di chúc cá nhân thông thường Có hai hình thức để thể hiện di chúc chung của vợ chồng là di chúc bằng văn bản hoặc di chúc miệng Việc lựa chọn hình thức thể hiện cũng cần có sự thoả thuận của hai vợ chồng

a.Di chúc miệng:

Di chúc miệng là sự bày tỏ bằng lời nói ý chí của người để lại di sản thừa kế lúc còn sống trong việc định đoạt khối tài sản của mình cho người khác sau khi mình chết Nó chỉ được công nhận là hợp pháp khi người lập di chúc ở trong tình trạng tính mạng bị đe dọa nghiêm trọng mà không thể lập di chúc viết được (bị bệnh sắp chết, bị tai nạn có nguy cơ chết…) Trong trường hợp phải lập di chúc miệng thì phải có ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ Trong thời hạn năm ngày kể từ ngày người lập

di chúc thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải công chứng, chứng thực và nếu sau

ba tháng kể từ thời điểm di chúc miệng mà vợ, chồng còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ (coi như không có di chúc miệng)

b.Di chúc bằng văn bản:

Di chúc bằng văn bản được lập theo các hình thức khác nhau, mỗi hình thức

có nét đặc trưng về điều kiện, trình tự, thủ tục lập cũng như giá trị pháp lý của nó

Di chúc bằng văn bản bao gồm các loại như: Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng (Điều 655 BLDS), di chúc bằng văn bản có người làm chứng (Điều 656 BLDS), di chúc bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực (Điều 657 BLDS)

Trang 10

Dù được lập bằng hình thức nào thì cũng phải tuân theo những quy định chung của

di chúc bằng văn bản, cụ thể tại khoản 2 điều 653 BLDS quy định: “Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc” để bảo

đảm tính cụ thể , rõ ràng, chính xác, tránh gây nên nhiều cách hiểu khác nhau về di chúc Nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ

ký và điểm chỉ của người lập di chúc Pháp luật quy định như vậy nhằm tránh tình trạng giả mạo di chúc, thay thế những trang khác nhau của di chúc

Có quan điểm cho rằng: Nếu di chúc có viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu nhưng những người hưởng thừa kế của người lập di chúc cùng hiểu theo một nghĩa thì di chúc đó vẫn có hiệu lực pháp luật Còn nếu di chúc có viết tắt hoặc ký hiệu mà mỗi người thừa kế hiểu khác nhau và không thống nhất được cách hiểu chung thì di chúc

đó không có giá trị pháp lý Và nếu di chúc có nhiều phần thì phần nào có chữ viết tắt, ký hiệu thuộc trường hợp trên không có giá trị pháp lý, còn các phần khác thì vẫn có giá trị pháp lý Quan điểm này cũng hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật về hiệu lực pháp luật của di chúc, cụ thể theo khoản 2 điều 667 BLDS năm 2005 thì đây không phải là trường hợp dẫn đến di chúc bị vô hiệu một phần hoặc toàn bộ Hơn nữa, di chúc định đoạt tài sản chung của vợ chồng cho những người hưởng thừa kế mà những người hưởng thừa kế của người lập di chúc cùng hiểu theo một nghĩa thì chúng ta cũng nên thừa nhận di chúc đó là hợp pháp

4.Vấn đề sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung của vợ, chồng.

Theo quy định của pháp luật, vợ, chồng không những có quyền được lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung (Điều 663 BLDS 2005) mà còn có quyền có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung bất cứ lúc nào Điều 664 BLDS năm 2005 quy định:

“1 Vợ chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung bất cứ lúc nào.

2 Khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung thì phải được sự đồng ý chủa người kia; nếu một người đã chết thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình”.

Trước tiên, cần hiểu về các khái niệm sửa đổi di chúc, bổ sung di chúc, thay thế di chúc và hủy bỏ di chúc để có thể phân biệt chúng với nhau, xác định chúng trong từng trường hợp cụ thể

Ngày đăng: 29/01/2016, 14:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w