Điều 646 BLDS quy định: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người kh
Trang 1Mở đầu:
Từ ngàn đời xưa, người Việt Nam đã sống với tấm lòng hướng thiện,nhường nhịn, bao dung, tình cảm yêu thương gắn bó luôn bao trùm lên những nếpnhà của mỗi gia đình người Việt Từ trong cái “nôi nuôi lớn đời người ấy mànhững người con luôn luôn làm tròn đạo hiếu, đó cũng là nơi ông bà, cha mẹ khicòn sống đã chắt chiu xây dựng cơ đồ, khi nhắm mắt họ để lại cơ đồ cho hậu thế.Sự kế thừa, tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác được diễn ra như một quy luậtkhách quan, nhưng các quan hệ thừa kế mà các nội dung trong đó ở mỗi chế độkhác nhau được thừa nhận và giải quyết như thế nào do ý chí của giai cấp lãnh đạoxã hội quyết định trên cơ sở tiếp thu và ghi nhận các tập quán tiến bộ, phù hợp vớilợi ích của giai cấp thống trị Luật dân sự Việt Nam năm 2005 đã kế thừa và pháttriển của các bộ luật đi trước về quan hệ thừa kế, bộ luật thực sự là một bước ngoặtlớn trong lịch sử lập pháp của nước ta Trong đó, luật dân sự 2005 còn quy địnhmột vấn đề khá phức tạp đó là về di chúc chung của vợ chồng, quy định này cònrất nhiều vướng mắc trong thực tiễn Nhận thấy sự cấp thiết của vấn đề, em đãchọn đề: Di chúc chung của vợ chồng
I Quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 về di chúc chung của
vợ chồng:
1 Các khái niệm:
Theo nghĩa rộng, quyền thừa kế là pháp luật về thừa kế là tổng hợp các quyphạm pháp luật quy định trình tự dịch chuyển tài sản của người chết cho nhữngngười còn sống Thừa kế là một chế định pháp luật dân sự, là tổng hợp các quyphạm pháp luật điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người kháctheo di chúc hoặc theo một trình tự nhất định đồng thời quy định phạm vi quyền,nghĩa vụ và phương thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của người thừa kế
Trang 2Điều 646 BLDS quy định: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết” Theo quy định này thì di
chúc phải có các yếu tố sau: đó là sự thể hiện ý chí của cá nhân mà không phải làcủa bất cứ chủ thể nào khác; mục đích của việc lập di chúc là chuyển tài sản là disản của mình cho người khác; chỉ có hiệu lực sau khi người đó chết Di chúc làhành vi pháp lí đơn phương của người lập di chúc, di đó di chúc phải tuân thủ cácđiều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung và điều kiện có hiệu lực của
di chúc nói riêng Tức là trước hết phải đáp ứng đủ các điều kiện có hiệu lực củagiao dịch được quy định tại Điều 122 BLDS: người tham gia giao dịch có năng lựchành vi dân sự; mục đích và nội dung giao dịch không vi phạm điều cấm của phápluật, không trái đạo đức xã hội; người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện Bêncạnh đó, di chúc là một loại giao dịch đặc biệt, đồng thời chỉ có hiệu lực khi ngườilập ra nó đã chết nên việc lập di chúc không thể được thực hiện bằng cách ủyquyền cho người khác thay mình lập di chúc Do vậy, tại Điều 652 BLDS quy địnhvề di chúc hợp pháp:
1 Di chúc được coi là hợp pháp khi có đủ các điều kiện sau đây:
a Người lập di chúc minh mẫn, sang suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép;
b Nội dung của di chúc không trái với pháp luật, đạo đúc xã hội; hình thức di chúc không trái với quy định của pháp luật.
2 Di chúc của người đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.
3 Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và phải có công chức hoặc chứng thực.
4 Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.
Trang 35 Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ Trong thời hạn năm ngày kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực
Thừa kế theo di chúc là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết chongười khác còn sống theo quyết định của người đó trước khi chết được thể hiệntrong di chúc Nội dung cơ bản của thừa kế theo di chúc là chỉ định người thừa kế(cá nhân, tổ chức) và phân định tài sản, quyền tài sản cho họ, giao cho họ nghĩa vụtài sản…
2 Quyền lập di chúc chung của vợ chồng:
Điều 663 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Vợ chồng có thể lập di chúc chung
để định đoạt tài sản chung” Cũng giống như một cá nhân khi lập di chúc, vợ
chồng có quyền để lại tài sản của mình cho bất kì một cá nhân, tổ chức nào Tuynhiên khác với di chúc của cá nhân chỉ cần có ý chí của một mình cá nhân đó quyếtđịnh, di chúc chung của vợ chồng thì cần phải có sự thỏa thuận, nhất trí của cả haivợ chồng về khối tài sản chung của mình Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 sửa đổi bổ sung năm 2010: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng choc hung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận” Do khối tài sản chung là khối tài sản do cải hai vợ chồng làm ra, lao động
mà có, thuộc quyền sở hữu chung của cả hai - Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình
Trang 4quy định: “Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”, nên khi để lại di chúc về khối tài sản chung này
cần phải có sự thỏa thuận, nhất trí của cả hai
3 Nội dung, mục đích của di chúc chung của vợ chồng:
Điều 653 BLDS năm 2005 quy định về Nội dung của di chúc bằng văn bản:
1 Di chúc phải ghi rõ:
a Ngày, tháng, năm lập di chúc;
b Họ, tên và nơi cứ trú của người lập di chúc;
c Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;
d Di sản để lại và nơi có di sản;
e Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ.
2 Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đanh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.
Di chúc nói chung và di chúc chung của vợ chồng nói riêng cũng là một giaodịch dân sự nên nội dung và mục đích của giao dịch không trái pháp luật, đạo đứcxã hội Nội dung của di chúc chung của vợ chồng thể hiện ý chí thống nhất của vợchồng đó xác định về khối tài sản chung của mình sau khi chết sẽ được phân chiavà giải quyết như thế nào, xác định quyền và nghĩa vụ của những người hưởng disản
Để di chúc chung của vợ chồng có hiệu lực pháp luật thì mục đích và nộidung của giao dịch không trái pháp luật, đạo đức xã hội Điều cấm của pháp luật lànhững quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vinhất định Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với ngườitrong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng Ví dụ: Ông A và bà
Trang 5T là vợ chồng hợp pháp có ba người thừa kế theo pháp luật là P và Q là con Trướckhi chết ông A và bà T lập di chúc chung định đoạt khối di sản của mình là 200triệu đồng, cho P hưởng 80 triệu, Q hưởng 80 triệu Còn 40 triệu để cho ông D(cháu) với điều kiện là D phải tạt a xít vào H (do H đã từng chửi ông A và bà T rấtthậm tệ) Trong di chúc chung của vợ chồng này ông A và bà T định đoạt cho ông
H hưởng 40 triệu đồng đó là bất hợp pháp Vì vậy phần di chúc liên quan đến 40triệu đồng đó bị coi là không có hiệu lực pháp luật nhưng phần này không ảnhhưởng đến hiệu lực của các phần khác của di chúc nên phần di chúc liên quan đến
150 triệu mà hai con P và Q được nhận vẫn có hiệu lực pháp luật Chỉ những tàisản được phép giao dịch, những công việc được phép thực hiện không vi phạm viphạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội mới là đối tượng của giaodịch dân sự, Tương tự, chỉ những tài sản được pháp luật quy định là được giao dịchthì mới được phép để lại trong di chúc Những di chúc chung của vợ chông nào màđược lập nhằm trốn tránh pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội là những giao dịch cómục đích và nội dung không hợp pháp, không làm phát sinh hiệu lực pháp luật của
di chúc đó
4 Hình thức di chúc chung của vợ chồng:
Về hình thức của di chúc chung của vợ chồng thì Bộ luật dân sự năm 2005của nước ta chưa có điều luật riêng quy định cụ thể mà chỉ quy định di chúc củacá nhân như sau:
Hình thức của di chúc là phương thức thể hiện ý chí của người lập di chúcnhư bằng miệng, bằng văn bản, thông qua các hình thức nào đo người khác biếtđược ý chí của người lập di chúc Hình thức của di chúc là căn cứ pháp lý để phânchia di sản cho người được chỉ định trong di chúc Để đảm bảo tính khách quancủa di chúc thì hình thức phải phù hợp với quy định của pháp luật
Trang 6Hình thức văn bản là chữ viết bằng tay hoặc đánh máy được thể hiện trênmột chất liệu nhất định, chất liệu này được Nhà nước cho phép sử dụng và thừanhận như chất liệu giấy in, giấy viết
Di chúc thể hiện dưới các dạng văn bản sau:
- Di chúc chung bằng văn bản không có người làm chứng (Điều 655 BLDS)
Trường hợp người lập di chúc tự mình viết và ký vào bản di chúc mà không cóngười làm chứng, không công chứng hoặc chứng thực vẫn có giá trị pháp lý Dichúc chung của vợ chồng cần phải có cả chữ kí của cả hai người Tuy nhiên, khiphân chia di sản theo di chúc, nếu những người thừa kế theo pháp luật không đồngý đó là di chúc thì cần phải giám định chữ viết và chữ ký của người lập di chúc
Di chúc không có người làm chứng có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực.Trường hợp này công chứng viên, người có thẩm quyền chứng thực cần xác minhnội dung đúng của vợ chồng lập di chúc hay không
- Di chúc bằng văn bản có người làm chứng (Điều 656 BLDS)
Trường hợp người lập di chúc không thể viết được như cụt hai tay, hai tay bị liệt,không biết chữ… thì nhờ người khác viết lại nội dung mà họ muốn công bố vàphải có hai người làm chứng cho nội dung di chúc là đúng theo ý chí của người lập
di chúc Có hai khả năng xảy ra: thứ nhất là hai người làm chứng cùng có mặtchứng kến việc người lập di chúc công bố ý chí và người khác ghi lại nội dung; thứhai là người lập di chúc nhờ người khác ghi nội dung di chúc sau đó người lập dichúc nhờ hai người làm chứng đọc nội dung cho người lập di chúc nghe và chứngkiến nội dung đó đúng ý chí của người lập di chúc
- Di chúc bằng văn bản có chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn chứng nhậncủa Công chứng Nhà nước (Điều 657) Khi người lập di chúc tuyên bố ý chí củamình, công chứng viên, người có thẩm quyền chứng thực ghi lại nội dung di chúc.Người lập di chúc đọc lại nội dung di chúc và xác nhận ghi đúng ý của mình và kýhoặc điểm chỉ, sau đó công chứng viên, người có thẩm quyền chứng thực xác
Trang 7nhận tình trạng nhận thức của người lập di chúc và ký tên, đóng dấu vào bản dichúc Trường hợp người lập di chúc không biết chữ, không ký, không điểm chỉđược phải có người làm chứng chứng kiến việc tuyên bố ý chí của người lập dichúc và ký vào bản di chúc.
- Di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc đã được chứng nhận chứng thực (điều662)
Pháp luật dự liệu các trường hợp người lập di chúc không thể đến cơ quancông chứng hoặc UBND để chứng thực hoặc chứng nhận di chúc, thì những ngườicó thẩm quyền chứng nhận theo quy định tại Điều 660 BLDS có giá trị pháp lýnhư di chúc có chứng thực, chứng nhận Ví dụ như người lập di chúc làm ăn tạinước ngoài muốn lập di chúc thì đến cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao của ViệtNam ở nước đó để chứng nhận Hoặc ví dụ như người lập di chúc đang làm côngtác khảo sát tại vùng rừng núi, hải đảo xa muốn lập di chúc thì đến người phụtrách đơn vị để xác nhận…
Hình thức di chúc miệng:
Điều 651 BLDS có quy định về hình thức di chúc miệng: di chúc miệng thểhiện ý chí của người lập di chúc bằng lời nói trước mặt người khác Để đảm bảotình khách quan của di chúc, pháp luật quy định trình tự thủ tục ghi lại nội dungcủa di chúc qua các bước sau:
- Khi người lập di chúc ở trong tình trạng tính mạng bị cái chết đe dọa do bệnh tậthoặc các nguyên nhân khác không thể lập di chúc bằng văn bản
- Người lập di chúc thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước ít nhất hai người làmchứng
- Một người làm chứng ghi chép lại nội dung di chúc tuyên bố ý chí, bản ghi chépnội dung di chúc phải công chứng hoặc chứng thực
Nếu sau 3 tháng kể từ ngày lập di chúc miệng mà người lập di chúc vẫn minhmẫn, sáng suốt và có điều kiện lập di chúc bằng văn bản thì di chúc miệng không
Trang 8còn giá trị Đây là trường hợp tự động mất hiệu lực của di chúc không cần phảithông qua thủ tục pháp lý nào.
Trên thực tiễn thì lập di chúc chung bằng miệng rất khó để thực thi, về vấn đềnày em xin đề cập đến ở phần sau
5 Hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng:
Để di chúc chung của vợ chồng có hiệu lực đương nhiên di chúc đó phải là
di chúc hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ vủa người thừa kế theo di chúc.Trường hợp di chúc vi phạm Điều 652 Bộ luật dân sự thì vô hiệu Trường hợp dichúc hợp pháp nhưng do yếu tố khách quan hoặc chủ quan mà không thể thực hiệnđược việc chia di sản theo di chúc thì gọi là di chúc không có giá trị, trường hợpnày coi như không có di chúc
Xuất phát từ tính chất cộng đồng tài sản của vợ chồng và trong thời kỳ hônnhân và ý chí chung của vợ và chồng trong việc định đoạt tài sản bằng di chúc,pháp luật nước ta quy định nếu hai vợ chồng cùng lập di chúc chung, thì di chúc cóhiệu lực kể từ thời điểm người sau cùng chết hoặc từ thời điểm vợ và chồng chếtcùng thời điểm Đây là trường hợp đặc biệt không xác định thời hiệu của thừa kếđối với phần di sản của người vợ hoặc người chồng chết trước Quy định này nhằmbảo vệ quyền lợi của người vợ hoặc chồng còn sống đảm bảo cho người còn sốngtiếp tục khai thác sử dụng tài sản chung do vợ và chồng làm ra trong thời kì hôn
nhân có hiệu quả Điều 167 Bộ luật dân sự năm 1995 đã quy định: “Trong trường hợp vợ, chồng lập di chúc chung mà có người chết trước thì chỉ phần di chúc liên quan đến phần di sản của người chết trong tài sản chung có hiệu lực pháp luật, nếu vợ, chồng có thỏa thuận trong di chúc về thời điểm có hiệu lực của di chúc là thời điểm người sau cùng chết thì di sản của vợ, chồng theo di chúc chung chỉ được phân chia từ thời điểm đó” Khi xác định thời điểm có hiệu lực đối với di
chúc chung do, vợ chồng cùng lập, điều 668 Bộ luật dân sự 2005 lại quy định như
Trang 9sau: “Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chếthoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết” Như vậy, Bộ luật dân sự năm 2005 khôngquy định về yếu tố thỏa thuận của vợ chồng về việc xác định thời điểm có hiệu lựcđối với di chúc chung do vợ chồng cùng lập Tuy nhiên, không vì thế mà hiểu rằngBộ luật Dân sự 2005 không thừa nhận ý chí tự nguyện của người lập di chúc Vìvậy, đối với di chúc do vợ, chồng cùng lập ra sau ngày Bộ luật Dân sự 2005 cóhiệu lực pháp luật thì thời điểm có hiệu lực của di chúc đó được xác định theo batrường hợp sau đây:
- Nếu trong di chúc, vợ chồng không có thỏa thuận gì khác về thời điểm có hiệu lựccủa di chúc chung và một bên chết trước thì phần di chúc liên quan đến phần disản của người đã chết trong khối tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực pháp luật.Phần di chúc liên quan đến phần tài sản của người còn sống trong khối tài sảnchung của vợ chồng chưa có hiệu lực pháp luật
- Nếu trong di chúc mà vợ chồng đã có thỏa thuận về thời điểm có hiệu lực pháp luậtcủa di chúc thì di chúc có hiệu lực vào thời điểm đã được thỏa thuận
- Nếu vợ, chồng cùng chết vào một thời điểm hoặc được coi là đã chết vào cùng mộtthời điểm thì di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực toàn bộ vào thời điểm màvợ, chồng được coi là đều đã chết
6 Quyền sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ di chúc chung của vợ chồng:
Điều 648 BLDS có quy đình về các quyền của người lập di chúc, hai vợchồng khi lập di chúc cũng có những quyền như vậy dựa trên sự đồng nhất ý chícủa cả hai vợ chồng đó là chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản củangười thừa kế; phân định phần di sản cho từng người thừa kế; dành một phần tàisản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng; giao nghĩa vụ cho người thừa kế; chỉđịnh người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản Bên cạnh đó,
Trang 10Luật dân sự Việt Nam ghi nhận quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúcchung của vợ chồng trong điều 664:
1 Vợ, chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung bất cứ lúc nào.
2 Khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung thì phải được sự đồng ý của người kia; nếu một người đã chết thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình.
Nếu hai vợ chồng, hoặc chỉ vợ hoặc chồng có sự thay đổi ý chí thì việc địnhđoạt trong di chúc sẽ bị thay đổi Nếu chỉ có vợ hoặc chồng muốn thay đổi thì cầnphải có được sự đồng ý của người kia, nếu một trong hai đã chết thì chỉ được sửađổi, bổ sung di chúc có liên quan đến phần tài sản của mình Sửa đổi di chúc làviệc người lập di chúc bằng ý chí tự nguyện của mình phủ nhận (làm thay đổi) mộtphần di chúc đã lập Vì vậy, những phần di chúc không bị sửa đổi (phần giữnguyên) vẫn có hiệu lực, phần di chúc đã bị sửa đổi sẽ không còn hiệu lực mà thayvào đó, pháp luật sẽ căn cứ vào ý chí thể hiện sau cùng
Bổ sung di chúc là việc hai vợ chồng, hoặc vợ hoặc chồng quy định thêmmột số vấn đề mà trong di chúc đã lập chưa nói đến nhằm làm cho di chúc cụ thể,chi tiết hơn, rõ hơn Vì vậy, sau khi bổ sung thì cả phần di chúc đã lập và phần bổsung đều có hiệu lực như nhau Nếu di chúc đã lập và phần bổ sung mâu thuẫnnhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật
II Những điểm bất cập của quy định pháp luật hiện nay về di chúc chung của vợ chồng:
Hiện nay, ngày càng có nhiều cặp vợ chồng lập di chúc chung nhằm bảotoàn tài sản để lại cho con cháu nhưng thực tiễn này đã nảy sinh khá nhiều vướngmắc pháp lý
1 Về Quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung: