1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam

22 428 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 191 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài tập lớn lần này, tôi xin được làm rõ đề tài số 5 : Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật bảo hiểm tiền gửi tại các ngân hàng thương mại và những đánh giá, nhận xét của tác giả v

Trang 1

MỞ BÀI:

Kinh doanh tiền tệ, tín dụng là loại hình kinh doanh đặc thù trong nền kinh tế Tínhđặc thù của loại hình kinh doanh này không chỉ đơn thuần là sự đặc biệt của đối tượngkinh doanh là - tiền tệ - loại hàng hoá khác hẳn với các loại hàng hoá thông thường củathị trường nói chung mà còn là kinh doanh tín dụng là kinh doanh “trên sự kinh doanhcủa người khác” Nói như vậy không có nghĩa là kinh doanh tín dụng hoàn toàn phụthuộc vào khách quan, vào kết quả kinh doanh của những người vay vốn của tổ chức tíndụng (TCTD) nhưng đặc trưng hiển nhiên và là thuộc tính của kinh doanh tín dụng là phụthuộc rất nhiều vào sự trung thực và hiệu quả kinh doanh của những người vay vốn củaTCTD Do vậy, kinh doanh tín dụng là loại hình kinh doanh có nhiều rủi ro Đặc trưngkhác của hoạt động kinh doanh tín dụng là kinh doanh chủ yếu bằng vốn của người khác,tức là bằng tiền huy động được mà chúng ta vẫn thường nói là đi vay để cho vay Và đặctrưng nữa của hoạt động kinh doanh tín dụng là tính liên quan lẫn nhau trong hệ thống tíndụng và mối quan hệ của các hoạt động tín dụng với toàn bộ nền kinh tế

Để đảm bảo an toàn tín dụng Nhà nước cùng với các tổ chức tín dụng phải tìm kiếm và

áp dụng nhiều biện pháp khác nhau, tôi tạm xếp chúng thành hai nhóm là các biện pháppháp lí và các biện pháp tổ chức Ngoài ra, cũng có thể kể đến loại biện pháp nữa là cácbiện pháp nghiệp vụ của các TCTD Các biện pháp pháp lí được thể hiện chủ yếu ởnhững quy định trong các đạo luật về ngân hàng và các tổ chức tín dụng ví dụ như cácquy định về mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng; về dự trữ bắt buộc; lập dựphòng rủi ro; quy định về các hạn chế tín dụng; về giới hạn cho vay, bảo lãnh; giới hạngóp vốn, mua cổ phần; các biện pháp bảo đảm tiền vay Các biện pháp tổ chức quản lýnhà nước đối với sự hình thành và hoạt động của các tổ chức tín dụng; thành lập các tổchức bảo hiểm, bảo toàn tiền gửi Trong bài tập lớn lần này, tôi xin được làm rõ đề tài số

5 : Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật bảo hiểm tiền gửi tại các ngân hàng thương mại

và những đánh giá, nhận xét của tác giả về vấn đề nêu trên Để giúp chúng ta có thể hiểu

rõ hơn về vấn đề áp dụng bảo hiểm tiền gửi ở các ngân hàng thương mại như thế nào.!Bài viết này còn nhiều thiếu sót do kinh nghiệm và vốn hiểu biết còn nhiều hạn chế,mong thầy cô thông cảm và giúp đỡ Em xin chân thành cảm ơn!

NỘI DUNG:

Trang 2

I Khái quát về bảo hiểm tiền gửi.

1. Khái niệm.

Nguồn gốc ra đời của bảo hiểm tiền gửi gắn liền với việc chuyển từ “ Bảo vệ ngầm”sang “bảo vệ công khai” tiền gửi Theo đó, người gửi tiền sẽ được chi trả một phần hoặctoàn bộ tiền gửi khi ngân hàng đổ vỡ theo hợp đồng hoặc cam kết công khai Bởi lẽ, niềmtin của người gửi tiền rất quan trọng đối với sự an toàn và phát triển lành mạnh của hệthống ngân hàng trong thế giới hiện đại Với những ưu thế và tính chuyên nghiệp trongviệc bảo vệ người gửi tiền và góp phần đảm bảo sự ổn định của hoạt động ngân hàng, hệthống bảo hiểm tiền gửi công khai ngày càng phát triển mạnh mẽ trên thế giới Tính đếnnăm 2009, trên thế giới có khoảng 104 quốc gia trên thế giới sử dụng hệ thống bảo hiểmtiền gửi công khai và 16 quốc gia khác đang nghiên cúu hình thành hệ thống bảo hiểmtiền gửi để bảo vệ người gửi tiền, xu hướng này vẫn còn tiếp tục tăng cao do ưu thế vượttrội của hệ thống bảo hiểm tiền gửi

Ở Việt Nam, khởi đầu của chính sách bảo hiểm tiền gửi là quy tắc bảo hiểm tráchnhiệm của quỹ tín dụng nhân dân đối với các khoản tiền gửi có kỳ hạn đã được ban hànhkèm theo quyết định số 101/TCQĐ- BH ngày 1/2/1994 của Bộ Tài chính do Bảo Việttriển khai

Ngày 9/11/1999 Chính phủ đã ban hành quyết định số 218/QĐ-TTg cho phép thànhlập tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam ( BHTG Việt Nam ) nhằm bảo vệ quyền lợi vàlợi ích hợp pháp của người gửi tiền, duy trì sự phát triển ổn định, an toàn và lành mạnhcủa hệ thống ngân hàng Tổ chức chính thức đi vào hoạt động từ ngày 7/7/2000, cho đếnnay, văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động BHTG ở Việt Nam là Nghị định 89/1999/NĐ-

CP ngày 1/9/1999 và Nghị định 109/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 về việc sửa đổi, bổsung một số điều của Nghị định 89/1999/NĐ-CP ngày 1/9/1999 của Chính phủ về BHTGPháp luật về BHTG của Việt Nam và Luật BHTG của một số nước trên thế giới khôngđưa ra khái niệm về BHTG Tuy nhiên, thông qua việc xác định các vai trò, chức năng,

mô hình của tổ chức BHTG…có thể đưa ra khái niệm bảo hiểm tiền gửi như sau: Bảohiểm tiền gửi là cam kết công khai của tổ chức BHTG đối với tổ chức tham gia BHTG vềviệc tổ chức BHTG sẽ trả tiền gửi cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG bịchấm dứt hoạt động và không có khả năng thanh toán cho người gửi tiền

Trang 3

2. Đặc điểm của Bảo hiển tiền gửi.

BHTG cũng mang bản chất của các loại hình bảo hiểm nói chung, tức là, hoạt độngtheo nguyên lý lấy số đông bù số ít nhưng bên cạnh đó, BHTG còn mang những tính chấtđặc thù như sau:

Thứ nhất: BHTG là công cụ được sử dụng để thực hiện chính sách công của từng

quốc gia và thường hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm,

tổ chức BHTG có trách nhiệm thay TCTD trả các khoản tiền gửi được bảo hiểm của tổchức,cá nhân gửi tiền ở tổ chức tham gia BHTG Trong thực tế, hoạt động của ngân hàng

là hoạt động nhạy cảm, mang tính rủi ro và lan truyền cao Sự đổ vỡ của các ngân hàng sẽảnh hưởng lớn đến nền kinh tế và gây ra những bất ổn về xã hội Do đó, Chính phủ cácquốc gia đã sử dụng công cụ tài chính BHTG nhằm góp phần đảm bảo sự phát triển antoàn, lành mạnh của hệ thống ngân hàng và ổn định xã hội

Thứ hai: trong quan hệ BHTG, các TCTD là đối tượng tham gia BHTG, có trách

nhiệm đóng phí BHTG cho tổ chức BHTG và đối tượng được bảo hiểm chính là khoảntiền gửi của người gửi tiền Do đó, trong trường hợp tổ chức tham gia BHTg bị giải thểhoặc phá sản thì thì tổ chức bảo hiểm tiền gửi sẽ thay mặt Chính phủ đứng ra chi trả tiềngửi được bảo hiểm cho người gửi tiền theo quy định của pháp luật Mặc dù người gửi tiềnđược hưởng những quyền lợi trực tiếp từ chính sách BHTG nhưng họ không phải trựctiếp tham gia BHTG Thông qua cơ chế này, tổ chức tham gia BHTG cũng được hưởnglợi gian tiếp từ việc tham gia BHTG vì niềm tin của công chúng đối với các tổ chức thamgia BHTG sẽ cao hơn, hoạt động huy động tiền gửi từ cư dân sẽ dễ dàng hơn

Thứ ba: cơ chế tham gia BHTG là bắt buộc đối với các tổ chức tài chính có hoạt động

huy động tiền gửi của cộng đồng Pháp luật về BHTG quy định về điều kiện bảo hiểm,mức phí bảo hiểm mà các tổ chức tham gia BHTG có nghĩa vụ thực hiện,…các bên thamgia không có quyền thỏa thuận Đặc điểm này làm cho BHTG khác biệt so với đa số cácloại hình bảo hiểm thương mại được hình thành trên cơ sở hợp đồng và các bên có thểthỏa thuận về nội dung của hợp đồng Việc áp dụng chế độ bảo hiểm bắt buộc đối với tiềngửi không chỉ nhằm hạn chế rủi ro cho các tổ chức nhận tiền gửi, bảo vệ lợi ích của ngườigửi tiền mà còn đảm bảo sự bình đẳng, công bằng giữa các tổ chức có hoạt động ngânhàng, góp phần nâng cao uy tín của các TCTD

Trang 4

3 Vai trò của Bảo hiểm tiền gửi trong hoạt động hoạt động ngân hàng.

Nhìn chung, vai trò của hoạt động BHTG có thể tóm tắt ở những điểm sau:

Một là: hoạt động bảo hiểm tiền gửi có vài trò quan trọng trong việc bảo vệ người

gửi tiền, nâng cao niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng Điều này đượcthực hiện thống qua hoạt động chức năng của BHTG trong giám sát, kiểm tra việc chấphành các quy định của pháp luật về an toàn trong hoạt động của các tổ chức tham giaBHTG; hỗ trợ, xủ lý tổ chức tín dụng bị đổ vỡ, chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền…

Hai là: BHTG góp phần đảm bảo sự phát triển lành mạnh của hoạt động ngân hàng

bằng việc tạo ra một sân chơi bình đẳng cho tất cả các TCTD, đặc biệt là các TCTD cóquy mô hoạt động nhỏ Thông qua các nghiệp vụ kiểm tra, giám sát rủi ro các TCTD,BHTG có thể cảnh báo đến các cơ quan chức năng hoặc TCTD về tình hình hoạt độngcủa TCTD có vấn đề, từ đó giúp cơ quan chức năng và TCTD có vấn đề có những hànhđộng kịp thời nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động Ngoài ra, trong trường hợp TCTDgặp khó khăn thì BHTG sẽ sử dụng các biện pháp hỗ trợ tài chính nhằm phục hồi tổTCTD có nguy cơ đổ vỡ và thực hiện chi trả tiền gửi cho người gửi tiền tại tổ chức thamgia BHTG trong trường hợp có đổ vỡ xảy ra để tránh ảnh hưởng đến các TCTD khác và

ổn định tình hình kinh tế- xã hội

Ba là: BHTG góp phần thúc đẩy quá trình huy động vốn phục vụ phát triển kinh tế

và ổn định xã hội Thông qua vai trò người gửi tiền và xây dựng, củng cố niềm tin củacông chúng đối với hệ thống ngân hàng, BHTG có vai trò quan trọng thúc đẩy quá trìnhhuy động vốn phục vụ phát triển kinh tế đất nước Huy động vốn trong dân cư để phục vụphát triển là nhu cầu tất yếu đặt ra đối với mỗi nên kinh tế Nguồn vốn trong dân cư đượcthu hút qua nhiều kênh khác nhau, đặc biệt là thông qua các ngân hàng

Bốn là: BHTG có vai trò quan trọng trong giải quyết khủng hoảng hang hàng Một

trong những nguyên nhân gây ra khủng hoảng là hiện tượng rút tiền hàng loạt của ngườigửi tiền Trong khi đó, hoạt động ngân hàng là hoạt động mang tính nhạy cảm và lantruyền cao, hiện tượng rút tiền hàng loạt có thể xảy ra do những tin đồn sai sự thật màkhông xuất phát từ chính hoạt động yếu kém của tổ chức nhận tiền gửi Trong trường hợpnày, BHTG sẽ là một là chắn quan trọng hỗ trợ cho tổ chức tham gia BHTG, tạo tâm lý

an tâm cho người gửi tiền và ngăn chặn hiện tượng đổ vỡ hàng loạt xảy ra

Trang 5

4. Một số hạn chế của Bảo hiểm tiền gửi.

Cơ chế bảo hiểm tiền gửi có những hạn chế nhất định cần được nghiên cữu để đánhgiá đúng vai trò của BHTG, từ đó xây dựng các quy định của pháp luật phù hợp một mặtnhằm phát huy các vai trò tích cực của BHTG, mặt khác, nhằm ngăn ngừa các hệ quả tiêucực của cơ chế BHTG

tổ chức nhận tiền gửi để lựa chọn gửi tiền tại tổ chức nhận tiền gửi hoạt động lành mạnh,

an toàn Chính vì vậy, họ có thể gửi tiền vào các tổ chức nhận tiền gửi hoạt động thiếu antoàn, có khả năng đổ vỡ cao Điều đó có thể gây mất an toàn đối với hệ thống ngân hàng

và có thể tăng thêm gánh nặng cho BHTG do phải tăng chi trả bảo hiểm khi tổ chức nhậntiền gửi yếu kém bị đổ vỡ

+ Hành vi của tổ chức nhận tiền gửi: Các tổ chức nhận tiền gửi có xu hướng ỷ lại vàohoạt động BHTG và sự tin tưởng của người gửi tiền, họ có thể không sử dụng các biệnpháp an toàn như: không cần tăng vốn tự có, giảm dự trữ tối đa để tận dụng cho vay…Vàđặc biệt với khả năng thu hút nguồn vốn dễ dàng, các tổ chức nhận tiền gửi sẽ có xuhướng cho vay dễ dàng hơn với những điều kiện và sự kiểm soát ít chặt chẽ hơn hoặcchấp nhận cho vay ở lĩnh vực có rủi ro cao…Đó là những biểu hiện cư xử thiếu chuẩnmực đạo đức, trái với kỷ cương thị trường và đe dọa đến sự an toàn của chính tổ chứcnhận tiền gửi và sự an toàn của hệ thống ngân hàng nói chung

Để hạn chế rủi ro đạo đức trong hoạt động BHTG, các nước sử dụng nhiều biện phápkhác nhau như xây dựng các quy định của pháp luật phù hợp về phạm vi tiền gửi đượcbảo hiểm, chủ thể được BHTG, hạn mức BHTG, phí BHTG, tăng cường hoạt động của

cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng…

Bảo hiểm tiền gửi trong các cuộc khủng hoảng tài chính.

Trang 6

Trong các cuộc khủng hoảng tài chính, khi có nguy cơ đổ vỡ hàng loạt các ngân hàng,

có thể gồm nhiều ngân hàng lớn, BHTG thường không đủ khả năng để chi trả cho ngườigửi tiền Chính vì vậy, nếu chỉ trông chờ vào nguồn vốn của BHTG thì sẽ không bảo vệđược quyền lợi của người gửi tiền củng cố được niềm tin của người gửi tiền vào hệ thốngngân hàng, từ đó, không hạn chế nguy cơ đổ vỡ mang tính dây chuyền trong hệ thốngngân hàng Khi đó, Chính phủ hoặc Ngân hàng trung ương cần hỗ trợ về tài chính để ổnđịnh tình hình hoạt động ngân hàng và bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền

Thực tế đã chứng minh trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua, Chính phủ

và Ngân hàng trung ương hầu hết các nước đã phải bỏ ra các khoản tiền rất lớn để hỗ trợkhả năng thanh toán cho các ngân hàng hoặc mua cổ phần để tiếp sức cho các ngân hàng,nhằm cứu vãn cho các ngân hàng trước nguy cơ phá sản và bảo vệ quyền lợi của ngườigửi tiền

II Pháp luật bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam.

1 Quy định về các chủ thể thực thi pháp luật BHTG Việt Nam.

a Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.

Tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam ( DIV ) là tổ chức tài chính được thành lập theoquyết định số 218/1999/QĐ-TTg, ngày 9/11/1999 của thủ tướng Chính phủ, nhằm bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của các tổ chứctham gia BHTG và sự phát triển an toàn, lành mạnh hoạt động ngân hàng BHTG ViệtNam có tư cách pháp nhân, độc lập về tài chính và chủ động trong quá trình hoạt động.Nguồn vốn hoạt động của tổ chức BHTG Việt Nam được hình thành từ nguồn vốn doNhà nước cấp và nguồn vốn góp thường xuyên của các tổ chức tham gia BHTG Đây làmột tổ chức hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, được miễn các loại thuế theo quyđịnh của pháp luật, được mở tài khoản tại ngân hàng Nhà nước, Kho bạc nhà nước, tàiTCTD Nhà nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật, có cân đối tài chính và đượclập các quỹ phù hợp với quy định của pháp luật

b Quy định về tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi.

Chủ thể tham gia Bảo Hiểm tiền gửi được quy định tại điểm a, khoản 1 mục I củathông tư số 3/2006/TT-NHHN gồm: Tổ chức tín dụng, tổ chức không phải là tổ chức tíndụng được phép thực hiện một số hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ

Trang 7

nghĩa Việt Nam có nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân phải tham gia Bảo hiểm tiền gửibắt buộc.

Tính đến 31/12/2009, có 1.136 tổ chức tham gia BHTG gồm 3 Ngân hàng thương mạiNhà nước; 39 Ngân hàng thương mại cổ phần; 5 Ngân hàng liên doanh; 33 chi nhánhngân hàng nước ngoài; 5 Ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 11 công ty tài chính, 1 quỹtín dụng nhân dân trung ương và 1.039 quỹ tín dụng cơ sở

c Quy định về người gửi tiền.

Chủ thể được bảo hiểm trong quan hệ BHTG chính là người gửi tiền Theo quy địnhtại Điều 3 Nghị định 89/1999/NĐ-CP của Chính phủ thì chỉ có khách hàng gửi tiền là cánhân thì mới được hưởng quyền lợi bảo hiểm khi gửi tiền tại các tổ chức tham gia BHTG.Nghị định của Chính phủ số 109/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 quy định theo hướng mởrộng hơn phạm vi người được hưởng quyền lợi bảo hiểm so với Nghị định 89/1999/NĐ-

CP bao gồm: cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân công ty hợp danh gửitiền tại tổ chức tham gia BHTG, trừ các trường hợp:

+ Người gửi tiền là cổ đông sở hữu trên 10% vốn điều lệ hoặc nắm giữ trên 10% vốn

cổ phần có quyền bỏ phiếu của tổ chức tham gia BHTG đó;

+Người gửi tiền là thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc( Giám đốc) của tổ chức tham gia BHTG đó

+Người gửi tiền có tiền gửi dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của người gửi tiềnhoặc người gửi tiền dùng tiền mua các giấy tờ có giá, trừ một số giấy tờ có giá theohướng dẫn của Ngân hàng Việt Nam

2 Quy định về đối tượng được Bảo hiểm tiền gửi, phí bảo hiểm tiền gửi và hạn mức

bảo hiểm tiền gửi.

a Quy định về đối tượng được Bảo hiểm tiền gửi.

Về đối tượng được bảo hiểm tiền gửi hay loại tiền được bảo hiểm tiền gửi , Điều 3Nghị định 89/1999/NĐ-CP quy định: Tiền gửi được bảo hiểm là đồng Việt Nam của các

cá nhân gửi tại các tổ chức tham gia bảo hiểm Theo quy định này, bảo hiểm tiền gửi ViệtNam chỉ bảo hiểm cho Đồng bản tệ là Việt Nam đồng Nghị định số 109/2005/NĐ-CP vềviệc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 89/1999/NĐ-CP và thông tư số03/2006/TT-NHNN hướng dẫn thi hành hai Nghị định trên cũng quy định tiền gửi được

Trang 8

bảo hiểm là tiền gửi bằng Đồng Việt Nam của người gửi tiền là cá nhân, hộ gia đình, tổhợp tác, các doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh gửi tại các tổ chức tham gia Bảohiểm tiền gửi.

b Quy định về mức phí bảo hiểm tiền gửi.

Hiện nay ở Việt Nam, sử dụng phương pháp tính đồng hạng trên tổng số dư tiềngửi được bảo hiểm Tức là tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phải nộp phí bảo hiểm tiềngửi theo mức 0,15%/năm tính trên số dư tiền gửi bình quân của các loại tiền được bảohiểm tại tổ chức tham gia BHTG

Phí bảo hiểm tiền gửi được tính và nộp làm bốn kỳ trong một năm theo định kỳhàng quý và được nộp vào tài khoản của BHTG Việt Nam chậm nhất là vào ngày 20tháng đầu tiền của quý thu BHTG Tổ chức vi phạm thời hạn nộp phí BHTG theo quyđịnh thì ngoài việc nộp đủ số phí còn thiếu, phải chịu phạt mỗi ngày chậm bằng 0,1% sốtiền chậm nộp

c Quy định về hạn mức Bảo hiểm tiền gửi.

Khoản 1 Điều 4 Nghị định 89/1999/NĐ-CP của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửiquy định: “ số tiền bảo hiểm được trả cho tất cả các tài khoản tiền gửi của một cá nhân tạimột tổ chức tham gia BHTG, tối đa là 30 triệu đồng Việt Nam” Tuy nhiên do điều kiệkinh tế- xã hội luôn thay đổi, đời sống nhân dân ngày càng tăng lên, số người gửi tiền vàlượng tiền gửi vào các TCTD ngày càng tăng lên Quy định về số lượng tiền gửi tối đa là

30 triệu đồng trở nên không còn phù hợp với thực tế, làm giảm hiệu quả hoạt động của tổchức BHTG Nghị định số 109/2005/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định89/1999/NĐ-CP đã quy định về giới hạn số tiền được bảo hiểm như sau: số tiền bảo hiểmđược trả cho tất cả các khoản tiền gửi bảo gồm cả gốc và lãi của một người gửi tiền tạimột tổ chức tham gia BHTG tối đa 50 triệu đồng Số tiền vượt quá 50 triệu đồng sẽ đượctrả trong quá trình thanh lý tài sản của tổ chức tham gia BHTG

3 Quy định về chi trả bảo hiểm tiền gửi và thu hồi nợ sau khi chi trả bảo hiểm tiền

gửi.

a Quy định về sự kiện bảo hiểm tiền gửi

Nghị định 109/2005/NĐ-CP và thông tư số 03/2006/TT-NHNN đã quy định về sựkiện bảo hiểm, theo đó, sự kiện bảo hiểm xảy ra khi đồng thời có hai căn cứ:

Trang 9

+ Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác định tổ chức tham gia BHTG không cókhả năng thanh toán được số nợ đến hạn.

+ Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có văn bản yêu cầu tổ chức này chấm dứt cácgiao dịch để tiến hành thanh lý tài sản hoặc toà án thông báo quyết định mở thủ tục thanh

lý tài sản

b Quy định về chi trả bảo hiểm tiền gửi.

Khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày có vănbản của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền hoặc của tòa án, tổ chức tham giaBHTG phải nộp hồ sơ đề nghị chi trả bảo hiểm cho BHTG Việt Nam Hồ sơ gồm danhsách và số tiền gửi của từng người gửi tiền tại tổ chức tham gia BHTG; danh sách và sốtiền của người gửi tiền đề nghị BHTG Việt Nam chi trả bảo hiểm

BHTG Việt Nam sau khi tiến hành kiểm tra các chứng từ, sổ sách để xác địnhchính xác số tiền chi trả phải có phương án chi trả bải hiểm cho người gửi tiền, đồng thờiniêm yết danh sách người gửi tiền thuộc đối tượng bảo hiểm được chi trả tại trụ sở chính

và phong giao dịch của tổ chức tham gia BHTG và các điểm chi trả bảo hiểm

Sau 10 năm kể từ ngày tổ chức tham gia BHTG có thông báo đầu tiên về việc chitrả bảo hiểm, những khoản tiền BHTG không có người nhận và không có lý do chínhđáng xẽ được bổ sung vòa nguồn vốn hoạt động của TCBHTG

c Vấn đề thu hồi nợ sau khi chi trả bảo hiểm tiền gửi.

Sau khi chi trả tiền gửi được bảo hiểm, BHTG Việt Nam sẽ trở thành chủ nợ của tổchức tham gia BHTG Theo quy định tại khoản 32 Mục VI thông tư số 03/2006/TT-NHNN ngày 25/4/2006 của NHNN, BHTG Việt Nam được phân chia giá trị tài sản theothứ tự thanh toán theo quy định của pháp luật về giải thể, phá sản và được quyền tham giavào quá trình thanh lý tài sản của tổ chức tham gia BHTG theo quy định của pháp luật.III Thực tiễn áp dụng pháp luật bảo hiểm tiền gửi tại các ngân hàng thương

mại.

1 Tình hình hoạt động của các ngân hàng thương mại trong bối cảnh hiện nay

Trong những tháng đầu năm 2008, hoạt động tiền tệ tín dụng ở các ngân hàngthương mại diễn ra hết sức sôi động Các ngân hàng thương mại đã mở rộng mạng lướihoạt động của mình và các điểm giao dịch cuả một số chi nhánh ngân hàng trong trong cả

Trang 10

nước , lãi suất trên thị trường cũng có nhiều biến động lớn Đặc biệt từ sau khi Việt Namgia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, môi trương kinh doanh của các ngân hàngViệt Nam có nhiều thay đổi lớn Sự thay đổi đó tạo ra nhiều cơ hội cũng như thách thứcmới cho các ngân hàng thương mại Vit Nam Đây là một dịp tốt để các ngân hàng cạnhtranh với những ngân hàng mạnh về tài chính, hiện đaị về công nghệ , phát triển theohướng chuẩn hóa và quốc tế hóa các sản phẩm dịch vụ Hơn nữa các ngân hàng thươngmại Việt Nam có cơ hội không chỉ mở rộng thị trường trong nước mà cả thị trường nướcngoài Tuy nhiên thách thức đặt ra đối với các ngân hàng cũng không nhỏ về năng lực tàichính, năng lực pháp lý,nguồn nhân lực , công nghệ, dịch vụ…

Đứng trước tình hình đó , giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam diễn ra tìnhtrạng “ chạy đua lãi suất” Chưa bao giờ lãi suất huy động của các ngân hàng thương mạilại cao như bây giờ Hiện nay mức lãi suất phổ biến cho kì hạn 3 tháng là 8,52%/ năm, 6tháng là 8,78%/năm, 12 tháng là 9,18%/ năm Lãi suất huy động cao đồng nghĩa với lãisuất cho vay cũng cao Điều này ảnh hưởng lớn đến các doanh nghiệp vay vốn , làm tăngchi phí sản xuât, tác động vào làm giá cả tăng cao Bên cạnh đó các ngân hàng cũng buộcphải đa dạng hóa sản phẩm, cung ứng công nghệ hiện đại

2 Thực trạng áp dụng pháp luật bảo hiểm tiền gửi của Ngân hàng thương mại

a Tình hình kinh tế trong nước và chính sách của pháp luật BHTG

Đứng trước tình trạng nền kinh tế có nhiều biến động lớn như hiện nay , các ngânhàng thương mại Việt Nam đã cố gắng để thực hiện tốt hơn các quy định của pháp luậttrong hoạt động ngân hàng Số lượng các ngân tham gia tăng hơn nhiều so với các năm.Quy mô và mạng lưới hoạt động của các ngân hàng thương mại được mở rộng hơn so vớitrước đây

Trong bối cảnh các ngân hàng đang tìm mọi cách để thu hút khách hàng về phíamình bằng việc cố gắng mang lại lợi ích cao nhất cho người gửi tiền thì việc tạo tâm lý antâm về sự an toàn tiền gửi là một vấn đề quan trọng và góp phần thúc đẩy quá trình huyđộng vốn Vì lẽ đó mà việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật về bảo hiểmtiền gửi được các ngân hàng thương đề cao nhằm mục đích bảo vệ tốt nhất quyền lợi củangười gửi tiền với phương châm “lấy khách hàng làm tâm điểm”, các ngân hàng thương

Trang 11

maị đã có sự liên kết chặt chẽ với các tổ chức bảo hiểm tiền gửi để thực hiện tốt hơn cácquy định của pháp luật bảo hiểm tiền gửi.

Trong những tháng gần đây , người ta liên tục chứng kiến những vụ đổ vỡ ngânhàng diễn ra ở Mỹ và một số nước Châu Âu Đây được đánh giá là cuộc khủng hoảng tồi

tệ nhất trong 80 năm qua đối với một nền kinh tế lớn nhất thế giới này Như một hiệu ứngtoàn cầu , nó đã vượt qua biên giới nước Mỹ và lây lan sang nhiều nước Châu Á, Châu

Âu Tình hình sẽ càng trở nên tồi tệ nếu như người gửi tiền ở các ngân hàng ồ ạt đến rúttiền do tâm lý hoảng loạn Và hơn lúc nào hết , người ta thấy vai trò của tổ chức bảohiểm tiền gửi trong việc chung tay góp sức với Chính phủ , Ngân hàng trung ương trongviệc xử lý khủng hoảng tài chính Các công ty bảo hiểm tiền gửi trên thế giới đã thựchiện nhiều biện pháp tích cực như : tiếp nhận xử lý các tổ chức tài chính có vấn đề, nângcao hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi, tuyên truyền về chính sách bảo hiểm tiền gửi hoặccông bố chính thức về tình hình tài chính ổn định của quốc gia để trấn an công chúng.Đối với Việt Nam mặc dù bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầusong Chính phủ cũng đã chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước và các Bộ, ngành liên quan tăngcường giám sát sự an toàn của các ngân hàng trong nước , đồng thời rà soát sự an toàncủa ngân hàng nước ngoài mà các ngân hàng Việt Nam có quan hệ để đảm bảo an toàntiền gửi từ đó công bố đến người dân được biết để họ yên tâm vào sự an toàn của thịtrường tài chính Việt Nam

Về phần mình qua 9 năm hoạt động, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã có những đónggóp tích cực đối với hệ thống tài chính ngân hàng 9 năm qua việc triển khai thực hiện cókết quả các hoạt động nghiệp vụ như cấp chứng nhận bảo hiểm tiền, giám sát hoạt độngcủa tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi , chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền, hỗ trợ tài chính cho một số tổ chức tín dụng…,Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã khôngngừng đẩy mạnh công tác tuyên truyền các chính sách của Nhà nước về bảo hiểm tiềngửi để từng bước đưa chính sách bảo hiểm tiền gửi vào cuộc sống, góp phần củng cốniềm tin công chúng vào hệ thống tài chính ngân hàng, thúc đẩy tăng trưởng nguồn vốnhuy động trong dân, khai thác nội lực cho sự phát triển của đất nước

Tuy nhiên khó khăn lớn nhất đối với hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở nước ta hiệnnay chính là thiếu khuôn khổ pháp lý , chưa có luật bảo hiểm tiền gửi Các văn bản dưới

Ngày đăng: 29/01/2016, 21:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w