Pháp luật về bảo hiểm y tế tự nguyện của một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt NamError!. 2 Chương 2: QUÁ TRÌNH THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN Ở VIỆT
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
DOANH THỊ NGỌC TÚ
THùC TR¹NG THI HµNH PH¸P LUËT B¶O HIÓM Y TÕ Tù NGUYÖN ë VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
DOANH THỊ NGỌC TÚ
THùC TR¹NG THI HµNH PH¸P LUËT B¶O HIÓM Y TÕ Tù NGUYÖN ë VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS GVC LÊ VĂN BÍNH
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Doanh Thị Ngọc Tú
Trang 4Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM Y
TẾ TỰ NGUYỆN Ở VIỆT NAM 8
1.1 Bảo hiểm y tế và vai trò của bảo hiểm y tế đối với đời sống xã hội 8
1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật bảo hiểm y tế tự
nguyện ở Việt Nam 10
1.2.1 Khái niệm, bản chất của bảo hiểm y tế tự nguyện 10
1.2.2 Sự hình thành và phát triển của pháp luật bảo hiểm y tế tự
nguyện tại Việt Nam Error! Bookmark not defined
1.2.3 Đặc điểm của pháp luật bảo hiểm y tế tự nguyệnError! Bookmark not defined
1.2.4 Nội dung của pháp luật bảo hiểm y tế tự nguyện ở Việt NamError! Bookmark not defined 1.3 Pháp luật về bảo hiểm y tế tự nguyện của một số nước trên
thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt NamError! Bookmark not defined
1.3.1 Pháp luật bảo hiểm y tế tự nguyện ở Cộng hoà Liên bang ĐứcError! Bookmark not defined 1.3.2 Pháp luật bảo hiểm y tế tự nguyện tại Liên bang NgaError! Bookmark not defined
1.3.3 Pháp luật bảo hiểm y tế tự nguyện ở Trung QuốcError! Bookmark not defined
1.3.4 Pháp luật bảo hiểm y tế tự nguyện tại Thái LanError! Bookmark not defined
1.3.5 Bài học kinh nghiệm về thực thi pháp luật bảo hiểm y tế tự
nguyện cho Việt Nam Error! Bookmark not defined
Trang 52
Chương 2: QUÁ TRÌNH THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM
Y TẾ TỰ NGUYỆN Ở VIỆT NAM TRONG THỰC TIỄNError! Bookmark not defined 2.1 Thực trạng áp dụng pháp luật bảo hiểm y tế tự nguyện của Việt
Nam trong thời gian qua Error! Bookmark not defined
2.1.1 Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế tự nguyệnError! Bookmark not defined
2.1.2 Quỹ bảo hiểm y tế tự nguyện Error! Bookmark not defined
2.1.3 Thẻ bảo hiểm y tế tự nguyện Error! Bookmark not defined
2.1.4 Thủ tục, chất lượng khám chữa bệnh Error! Bookmark not defined
2.1.5 Cơ sở y tế khám chữa bệnh Error! Bookmark not defined
2.1.6 Trình độ nhận thức của người dân về chính sách bảo hiểm y tế
tự nguyện Error! Bookmark not defined
2.2 Đánh giá, nhận xét về thực trạng thi hành pháp luật bảo
hiểm y tế tự nguyện ở Việt Nam Error! Bookmark not defined
2.2.1 Những kết quả đã đạt được trong quá trình thi hành pháp luật về
bảo hiểm y tế tự nguyện Error! Bookmark not defined
2.2.2 Những hạn chế, bất cập còn tồn tại cần khắc phụcError! Bookmark not defined
2.2.3 Nguyên nhân dẫn đến sự bất cập trong việc áp dụng pháp luật
bảo hiểm y tế tự nguyện Error! Bookmark not defined
Chương 3: NHỮNG KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ TỰ
NGUYỆN Ở VIỆT NAM Error! Bookmark not defined
3.1 Những yêu cầu đặt ra đối với việc nâng cao hiệu quả thi
hành của pháp luật bảo hiểm y tế tự nguyện tại Việt NamError! Bookmark not defined 3.2 Những giải pháp hoàn thiện quá trình thi hành pháp luật bảo
hiểm y tế tự nguyện của Việt Nam trong thực tiễnError! Bookmark not defined
KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHYT: Bảo hiểm y tế BHYTTN: Bảo hiểm y tế tự nguyện BHXH: Bảo hiểm xã hội
PLBHYTTN: Pháp luật bảo hiểm y tế tự nguyện
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Số học sinh-sinh viên tham gia BHYTTN giai đoạn
2005-2009
Error! Bookmark not defined
Bảng 2.2: Số đối tượng tham gia BHYTTN nhân dân năm
2006-2009
Error! Bookmark not defined
Bảng 2.3: Tình hình đối tượng tham gia BHYT theo hình thức tự
nguyện năm 2010
Error! Bookmark not defined
Bookmark not defined
Bookmark not defined
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu biểu
đồ
Biểu đồ 2.1: Số người tham gia BHYT từ năm 1993 đến 2010
theo nhóm BHYT bắt buộc và tự nguyện (triệu người)
Error! Bookmark not defined
Bookmark not defined
tự nguyện giai đoạn 2007-2009
Error! Bookmark not defined
Bookmark not defined
Trang 92
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đối với mỗi quốc gia trên thế giới, con người là vốn quý nhất của xã hội, là nguồn lực không thể thay thế trong quá trình phát triển nền kinh tế, mà sức khoẻ lại
là vốn quý nhất của con người Một xã hội phát triển trước hết phải có những con người khoẻ mạnh Tuy nhiên, trong cuộc sống hàng ngày con người luôn luôn gặp phải những rủi ro, trong đó phải kể đến rủi ro về sức khoẻ như: ốm đau, bệnh tật Điều này đã dẫn đến việc xuất hiện các chi phí về khám chữa bệnh mà mọi người không thể xác định được trước (mang tính đột xuất), dù lớn hay nhỏ các chi phí này đều gây khó khăn cho ngân quỹ của gia đình, mỗi cá nhân, đặc biệt với những người có mức thu nhập thấp Để khắc phục những rủi ro cũng như ổn định về mặt tài chính trong trường hợp không may đó, người ta đã sử dụng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó BHYT là một trong những biện pháp tốt nhất Được ra đời vào cuối thế kỷ XIX, BHYT ngày càng phát triển và cho đến nay nó đã tỏ rõ là một biện pháp không thể thiếu trong đời sống của con người với việc khắc phục những rủi ro về mặt sức khoẻ Chính vì vậy ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đều triển khai BHYT nhằm giúp đỡ và tạo ra sự công bằng trong chăm sóc sức khoẻ đối với người bệnh Tại Việt Nam, chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân là một trong những chính sách xã hội quan trọng của Đảng và Nhà nước nhằm tiến tới công bằng trong khám chữa bệnh BHYT nói chung và BHYTTN nói riêng với bản chất nhân đạo phù hợp với truyền thống đạo lí dân tộc Việt Nam cho nên đã nhanh chóng nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của đông đảo quần chúng nhân dân Sau gần 10 năm hình thành, xây dựng và phát triển, chính sách BHYTTN đã đạt được những thành tựu quan trọng góp phần đắc lực vào công cuộc đổi mới đất nước nói chung cũng như sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân nói riêng
Theo quy định Luật BHYT số 25/2008/QH12 ngày 14 tháng 11 năm 2008 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đến năm 2014 sẽ thực
Trang 103
hiện BHYT toàn dân bằng cách chuyển dần các đối tượng tham gia BHYT sang diện BHYT bắt buộc Cùng với Luật BHYT, năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã
ban hành Đề án “Thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân giai đoạn 2012-2015
và 2020”, theo đó, năm 2015 dự kiến sẽ có 70% và đến năm 2020 dự kiến sẽ có
80% dân số tham gia BHYT Như vậy, theo quy định thì tính đến thời điểm này, hình thức BHYTTN sẽ không được áp dụng nữa, các đối tượng được quy định trong luật đều có trách nhiệm tham gia BHYT để tiến tới mục tiêu y tế toàn dân (từ ngày 01/01/2014 tất cả các đối tượng được quy định trong Luật BHYT có trách nhiệm tham gia BHYT, song chưa “bắt buộc” tham gia BHYT)
Điều này sẽ đặt ra câu hỏi liệu việc nghiên cứu về thực trạng áp dụng luật BHYTTN ở Việt Nam thời gian qua có còn ý nghĩa nữa không khi mà luật mới đã
có hiệu lực và các cơ quan có thẩm quyền đang đẩy mạnh triển khai lộ trình tiến tới
y tế toàn dân trên cả nước? Tôi quyết định chọn đề tài “Thực trạng thi hành pháp luật bảo hiểm y tế tự nguyện ở Việt Nam” là bởi những lý do sau:
Mặc dù những quy định mới về BHYT đã được áp dụng hơn 4 năm qua nhưng thực tế chỉ ra rằng để triển khai sâu rộng trên cả nước và trên tất cả các đối tượng thì còn rất nhiều khó khăn, bất cập xảy ra Chẳng hạn những báo cáo số liệu hàng năm cho thấy diện bao phủ BHYT mặc dù đã mở rộng nhiều trong những năm gần đây nhưng vẫn còn gần 40% dân số chưa tham gia (tính đến hết năm 2012), tập trung chủ yếu vào nhóm đối tượng tự nguyện, người lao động trong các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân Dù đã được Nhà nước, các tổ chức quốc tế hỗ trợ từ 70-90% kinh phí mua thẻ BHYT nhưng hiện mới có gần 1,7 triệu người/khoảng 6 triệu người cận nghèo tham gia BHYT Nhóm học sinh-sinh viên bắt buộc phải tham gia BHYT nhưng tỷ lệ tham gia mới đạt 70% Nhóm đối tượng thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có tới 20 triệu người cũng có tỷ lệ tham gia BHYT ở mức thấp
Hơn nữa, tại Phiên họp toàn thể lần thứ 6, Ủy ban về các vấn đề xã hội của
Trang 114
Quốc hội đã nghe dự thảo báo cáo kết quả giám sát tối cao việc thực hiện chính sách, pháp luật và BHYT giai đoạn 2009-2012 và thẩm tra dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT Theo tờ trình sửa đổi Luật BHYT thì việc sửa
đổi lần này sẽ quy định “BHYT là hình thức bảo hiểm bắt buộc” thay hình thức “có
trách nhiệm tham gia BHYT” như hiện nay Quy định này nhằm khẳng định mọi
đối tượng bắt buộc phải tham gia BHYT để thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân Tuy nhiên phần lớn các đại biểu đều đồng tình với dự thảo của Chính phủ cần phải có lộ trình, do vậy các chính sách cũng được xây dựng theo hướng “tiến tới” BHYT toàn dân Ví dụ, có ý kiến đại biểu cho rằng trong thời gian trước mắt vẫn duy trì cả hai loại hình bảo hiểm tự nguyện và bắt buộc:
Lộ trình BHYT toàn dân phải kiên trì, lâu dài nhiều năm, với những kết quả báo cáo của Chính phủ trong bài báo cáo 15 năm thực hiện BHYT, một số nước như ở Úc mất 79 năm, Nhật Bản mất 36 năm, Hàn Quốc mất 26 năm…; Tình hình thực tế và các điều kiện kinh tế xã hội ở nước ta nên thực hiện có 2 loại hình BHYT bắt buộc và BHYTTN là phù hợp, Chính phủ hoặc tổ chức xã hội, cá nhân sẽ hỗ trợ một phần cho một
số đối tượng khó khăn để có khả năng tham gia BHYTTN Loại hình BHYT bắt buộc phải được thực hiện nghiêm túc và có chế tài xử phạt đủ mạnh… [47]
Do đó thiết nghĩ đề tài nghiên cứu về thực trạng thi hành PLBHYTTN vẫn còn có giá trị thực tiễn to lớn Để thực hiện tốt BHYT toàn dân thì việc phát triển PLBHYTTN là việc làm cần thiết và được xem là giai đoạn quá độ Thông qua hình thức BHYTTN sẽ tạo điều kiện cho các đối tượng không thuộc diện tham gia BHYT bắt buộc, nhất là những người có thu nhập thấp được khám bệnh, chữa bệnh, giúp họ thoát khỏi vòng lẩn quẩn: nghèo - ốm đau, bệnh tật - nghèo Sau khi nghiên cứu, xem xét, tổng hợp, đánh giá thực trạng áp dụng PLBHYTTN trong thực tiễn, chúng ta có thể chỉ ra được những ưu điểm và nhược điểm của loại hình
Trang 125
bảo hiểm này đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu, để từ đó góp phần nâng cao hiệu quả thực thi của PLBHYTTN trong lộ trình tiến tới BHYT toàn dân ở tương lai
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về BHYTTN và PLBHYTTN đồng thời nắm được quá trình thay đổi của luật quy định về BHYTTN qua các thời kỳ để phù hợp với xu thế phát triển chung của xã hội
Tìm hiểu thực trạng thi hành PLBHYTTN của người dân hiện nay thông qua một số công trình khoa học, báo cáo, nghiên cứu số liệu trong thực tế ở một số địa phương trên cả nước Từ những con số cụ thể đó đưa ra được đánh giá về tình hình
áp dụng PLBHYTTN còn những thiếu sót, bất cập gì
Rút ra những bài học kinh nghiệm từ việc áp dụng trong thực tiễn để từ đó đưa
ra giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành của pháp luật ngày một tốt hơn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: như đã nêu ở trên, trong giới hạn mục tiêu nghiên
cứu, đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề về triển khai PLBHYTTN ở Việt Nam trong thời gian qua đồng thời chỉ ra được những sai sót để khắc phục, những bài học kinh nghiệm trong quá trình lập pháp và quản lý
có trách nhiệm chuyển sang BHYT bắt buộc
Trang 136
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh Ngoài ra còn kế thừa và phân tích các kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước; các bài viết trên báo, tạp chí chuyên ngành có liên quan đến đề tài nghiên cứu; các báo cáo, thống kê số liệu hàng năm của Bộ y tế và của một số địa phương trên toàn quốc
5 Tình hình nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài
Đề tài về BHYTTN vốn đã được nghiên cứu khá nhiều, đặc biệt là giai đoạn khi Luật BHYT 2008 bắt đầu có hiệu lực Có thể kể đến các công trình đi trước như khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ, đề tài khoa học cấp trường, những nghiên cứu cấp nhà nước, báo cáo số liệu hàng năm…phân tích, nghiên cứu về mặt
lý luận cũng như thực tiễn, chẳng hạn: Thực trạng tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện ở thành phố Hà Tĩnh- Chu Thị Kim Loan và Nguyễn Hồng Ban-2013; Bảo hiểm y tế tự nguyện Việt Nam giai đoạn 2003-2009-Chuyên đề thực tập tốt nghiệp-Phạm Thị Mai-2010; Một số vấn đề về triển khai bảo hiểm y tế tự nguyện tại Bảo
hiểm xã hội Việt Nam, Chuyên đề tốt nghiệp - Vũ Thị Nhâm - 2007; Bảo hiểm y tế
tự nguyện-Những phân tích xã hội học (Nghiên cứu trường hợp thị trấn Hòa Bình
và xã Tam Quang, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An)-Luận văn thạc sỹ xã hội học-Lương Quỳnh Trang-2013… Tuy nhiên theo như tìm hiểu của học viên, thời gian gần đây khi mà sự quy định các đối tượng bắt buộc tham gia BHYT dần dần
có hiệu lực thì số lượng các công trình nghiên cứu cũng giảm dần Điều này cũng không khó hiểu song luận văn vẫn mạnh dạn nghiên cứu vấn đề về PLBHYTTN ở thời điểm này nhằm góp một cái nhìn tổng hợp, khái quát hơn quá trình áp dụng thi hành luật trong thời gian qua, từ đó đưa ra một hướng đi đóng góp cho các nhà làm luật trong tương lai
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và một số bảng số
Trang 147
liệu, phụ lục đi kèm thì nội dung của luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về pháp luật bảo hiểm y tế tự nguyện ở Việt Nam
Chương 2: Quá trình thi hành, áp dụng pháp luật về bảo hiểm y tế tự nguyện
ở Việt Nam trong thực tiễn
Chương 3: Những kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành của pháp
luật bảo hiểm y tế tự nguyện ở Việt Nam
Trang 158
Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN Ở
VIỆT NAM
1.1 Bảo hiểm y tế và vai trò của bảo hiểm y tế đối với đời sống xã hội
BHYT trước hết là một bộ phận quan trọng của hệ thống an sinh xã hội Cùng với các hệ thống an sinh xã hội và hệ thống cứu trợ xã hội, hoạt động BHYT nói riêng và hoạt động của BHXH nói chung đã thực sự trở thành nền móng vững chắc cho sự bình ổn xã hội Chính vì vai trò quan trọng của BHXH, cho nên mọi quốc gia trên thế giới hoạt động BHXH luôn do Nhà nước đứng ra tổ chức thực hiện theo hệ thống pháp luật về BHXH BHYT là một trong chín nội dung của BHXH được quy định tại Công ước 102 ngày 28/6/1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về các tiêu chuẩn tối thiểu cho các loại trợ cấp BHXH Theo Luật BHYT 2008, BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật [34, Điều 2, Khoản 1] Về
cơ bản, đó là một cách dành dụm một khoản tiền trong số tiền thu nhập của mỗi cá nhân hay mỗi hộ gia đình để đóng vào quỹ do Nhà nước đứng ra quản lý, nhằm giúp mọi thành viên tham gia quỹ có ngay một khoản tiền trả trước cho các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe khi người tham gia không may ốm đau phải
sử dụng các dịch vụ đó mà không phải trực tiếp trả chi phí khám chữa bệnh Cơ quan BHXH sẽ thanh toán khoản chi phí này theo quy định của Luật BHYT
BHYT là một phạm trù kinh tế tất yếu của xã hội phát triển, đóng vai trò quan trọng không những đối với người tham gia bảo hiểm, các cơ sở y tế mà còn là thành tố quan trọng trong việc thực hiện chủ trương xã hội hoá công tác y tế nhằm huy động nguồn tài chính ổn định, phát triển đa dạng các thành phần tham gia khám chưa bệnh cho nhân dân Chính sách BHYT của Việt Nam được bắt đầu thực