1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam

110 595 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh nước ta đang hoàn thiện hệ thống pháp luật về tài chính - ngân hàng, trong đó có việc hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến tổ chức và hoạt động BHTG thì việc nghiên cứu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN DUY HOÀN

PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI

Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN DUY HOÀN

PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI

Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật kinh tế

Mã số : 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Anh Sơn

HÀ NỘI - 2011

Trang 3

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI

VÀ TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI

1.1.2 Sự hình thành và phát triển của bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam 10

1.2 Khái niệm, bản chất, mục đích của bảo hiểm tiền gửi 12 1.2.1 Khái niệm, bản chất của bảo hiểm tiền gửi 12

1.2.1.2 Bản chất của bảo hiểm tiền gửi 13 1.2.2 Mục đích của hoạt động bảo hiểm tiền gửi 14 1.2.3 Phân biệt bảo hiểm tiền gửi và các loại hình bảo hiểm

thương mại

15

1.3 Một số vấn đề liên quan đến mô hình tổ chức và hoạt

động bảo hiểm tiền gửi

17

1.3.1.1 Mô hình bảo hiểm tiền gửi tự nguyện và bắt buộc 18

Trang 4

1.3.2 Về hoạt động bảo hiểm tiền gửi 24 1.3.2.1 Hoạt động thu phí của tổ chức bảo hiểm tiền gửi 24 1.3.2.2 Về các hoạt động nghiệp vụ bảo hiểm tiền gửi 26

1.3.3 Về sự phối hợp giữa tổ chức bảo hiểm tiền gửi và các cơ

quan liên quan

31

1.3.3.1 Phối hợp trong việc giám sát hệ thống tài chính 31 1.3.3.2 Phối hợp trong xử lý đổ vỡ tổ chức tín dụng 33

1.4 Vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi 34

1.4.2 Đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi và hệ thống tài

chính, ngân hàng

38

1.4.3 Đối với sự phát triển kinh tế và góp phần ổn định xã hội 39 1.4.4 Vai trò trong xử lý khủng hoảng tài chính, ngân hàng 39

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC BẢO HIỂM

TIỀN GỬI Ở VIỆT NAM

Việt Nam

61

2.2.2 Quản trị và điều hành của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 63

2.2.2.3 Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc 65

2.3 Hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 67

Trang 5

2.3.2 Hoạt động kiểm tra 68

Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỔ

CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI Ở VIỆT NAM

85

3.1 Nhu cầu và cơ sở hoàn thiện pháp luật về tổ chức bảo

hiểm tiền gửi

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BHTG : Bảo hiểm tiền gửi BHTGVN : Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam BKS : Ban kiểm soát

HĐQT : Hội đồng quản trị NHNN : Ngân hàng nhà nước QTDND : Quỹ tín dụng nhân dân TCTD : Tổ chức tín dụng TGĐ : Tổng giám đốc

Trang 7

nhiệm vụ của BHTGVN với 3 mô hình BHTG trên thế giới

59

2.2 So sánh về chức năng, nhiệm vụ của BHTGVN và 03 mô

hình bảo hiểm tiền gửi trên thế giới

60

Trang 8

Danh mục các sơ đồ

Số hiệu

sơ đồ

1.1 Phân công giám sát tài chính - ngân hàng ở Mỹ 32

2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 61 3.1 Các tiêu chí hoàn thiện mô hình tổ chức BHTG 88 3.2 Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức BHTG tại Việt Nam 89

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đang thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế nói chung, lĩnh vực tài chính - ngân hàng nói riêng đang hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng Chính phủ đã ký và cam kết việc mở cửa thị trường tài chính, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), điều đó đặt

ra nhiều cơ hội to lớn nhưng cũng tiềm ẩn những thách thức đối với hệ thống

tài chính - ngân hàng Việt Nam

Để xây dựng hệ thống tài chính - ngân hàng đủ mạnh, đáp ứng được nhu cầu vốn cho nền kinh tế và vượt qua được áp lực của sự cạnh tranh, Chính phủ Việt Nam đã và đang nghiên cứu cải cách hệ thống tài chính - ngân hàng Theo đó, tiến trình cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước được thực hiện mạnh mẽ, tạo sự chủ động và giảm sự can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính vào việc kinh doanh của các tổ chức tín dụng (TCTD), nâng cao năng lực tài chính, cộng nghệ và sản phẩm dịch vụ của các ngân hàng trong nền kinh tế thị trường

Khi nền kinh tế Việt Nam chưa hội nhập sâu rộng thì những tác động của thị trường tài chính thế giới ảnh hưởng đến nước ta không nhiều, nhưng

từ sau khi hội nhập đến nay, nền kinh tế nói chung, hệ thống tài chính - ngân hàng nói riêng chịu sự tác động trực tiếp bởi thị trường tài chính thế giới Chính vì vậy, bên cạnh những rủi ro truyền thống, hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam còn phải đối mặt với những rủi ro mới Cuộc khủng hoảng tài chính - ngân hàng vừa qua cho chúng ta bài học về kiểm soát rủi ro, xây dựng niềm tin công chúng vào hệ thống tài chính - ngân hàng Đây cũng là yêu cầu cấp thiết đặt ra cho Nhà nước và Chính phủ sớm hoàn thiện khung pháp luật

về hệ thống giám sát tài chính quốc gia và hoạt động ngân hàng Hơn nữa, hệ thống tài chính - ngân hàng được coi là "huyết mạch" của nền kinh tế Sự bất

Trang 10

ổn của hệ thống ngân hàng sẽ gây ra những bất ổn về mặt xã hội Do vậy, cần

có sự cân bằng giữa sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống tài chính - ngân hàng

và sự phát triển ổn định của xã hội Để đạt được mục tiêu đó, Chính phủ đã sử dụng công cụ Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) để bảo vệ người gửi tiền và góp phần đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng thông qua các công cụ kiểm soát rủi ro mà Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTGVN) thực hiện

Được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 2000, BHTGVN đã chứng minh được vị trí và vai trò của mình trong việc bảo vệ người gửi tiền, góp phần ổn định hệ thống tài - ngân hàng và nền kinh tế Tuy nhiên, trước bối cảnh hội nhập sâu rộng và đổi mới mạnh mẽ của hệ thống tài chính - ngân hàng, nhiều quy định pháp luật điều chỉnh lĩnh vực BHTG, đặc biệt là mô hình tổ chức không còn phù hợp và cần có sự hoàn thiện Xây dựng Luật BHTG với mô hình tổ chức BHTG giảm thiểu rủi ro đã trở thành yêu cầu tất yếu và cấp thiết trong giai đoạn hiện nay

BHTG là một lĩnh vực mới ở Việt Nam, các văn bản pháp lý điều chỉnh mô hình tổ chức và hoạt động BHTG tại Việt Nam gồm Nghị định 89/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999 của Chính phủ về BHTG, Nghị định 109/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 89/1999/NĐ-CP, Quyết định 75/2000/QĐ-TTg ngày 28/6/2000 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của BHTGVN (Quyết định 75/2000/QĐ-TTg), Quyết định 218/1999/QĐ-TTg ngày 09/11/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập BHTGVN và Thông tư 03/2006/TT-NHNN ngày 25/4/2006 của Ngân hàng nhà nước về việc hướng dẫn một số nội dung tại Nghị định 89/1999/NĐ-CP và Nghị định 109/2005/NĐ-CP Những văn bản đó đến nay đã bộc lộ những bất cập trong việc điều chỉnh mô hình tổ chức và hoạt động BHTG ở nước ta, đặc biệt trong bối cảnh thị trường tài chính những năm qua phát triển mạnh mẽ và những rủi

ro trong hoạt động ngân hàng ngày càng trở nên phức tạp

Trang 11

Theo Luật Ngân hàng nhà nước (NHNN) đã được Quốc hội khóa 12,

kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010, tại Điều 4, khoản 14 quy định: "Ngân hàng nhà nước thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi" Như vậy, BHTGVN vẫn là một tổ chức độc lập theo các quy định pháp luật hiện hành, không thuộc NHNN BHTGVN chỉ chịu sự chỉ đạo của NHNN về lĩnh vực BHTG theo quy định của pháp luật về BHTG Tuy nhiên, tính độc lập của BHTGVN hiện nay chưa rõ ràng, BHTGVN là cơ quan quản lý nhà nước hay là doanh nghiệp nhà nước đặc biệt hoạt động trong lĩnh vực BHTG và có chức năng quản lý quản lý nhà nước về BHTG? Về mặt tổ chức, cơ quan nào quản lý tổ chức BHTG… Có thể nói Pháp luật về BHTG ở Việt Nam còn nhiều bất cập, chưa quy định rõ và đầy đủ mô hình tổ chức, vị trí pháp lý, chức năng nhiệm vụ của tổ chức BHTG, dẫn đến năng lực hoạt động của BHTGVN còn hạn chế, đặc biệt là khả năng giám sát an toàn, cảnh báo sớm, tiếp nhận và xử lý tổ chức tham gia BHTG có vấn đề Việc xây dựng luật BHTG đã được đưa vào chương trình xây dựng luật chính thức của Quốc hội năm 2011, khi đó luật BHTG quy định như thế nào thì BHTGVN thực hiện theo luật BHTG

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới trầm trọng năm 2008 vừa qua cũng bắt nguồn từ khủng hoảng tài chính - ngân hàng mà nguyên nhân được xác định là do hậu quả của việc không kiểm soát được rủi ro BHTG là tổ chức góp phần phòng ngừa và ngăn chặn rủi ro, nên việc nghiên cứu xây dựng mô hình tổ chức BHTG đủ mạnh để đảm bảo an toàn cho hoạt động tài chính - ngân hàng, bảo vệ tốt hơn người gửi tiền và đảm bảo an sinh xã hội là đòi hỏi khách quan Vì vậy, hoàn thiện pháp luật về mô hình tổ chức BHTG tại Việt Nam là một vấn đề quan trọng góp phần xây dựng luật BHTG đạt kết quả, đảm bảo tốt hơn quyền lợi của người gửi tiền và an toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam

Trước thực trạng đó, tôi đã chọn đề tài "Pháp luật về tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam" để làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

Trang 12

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay, đã có một số nghiên cứu về BHTG như: Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam của TS Lê Thị Thu Thủy, Nhà xuất bản Đại học

Quốc gia Hà Nội, năm 2008 Cuốn chuyên khảo này đã đề cập đến mọi vấn đề của BHTG như một cuốn giáo trình về BHTG, cung cấp cho bạn đọc nhiều thông tin quý báu về BHTGVN và thế giới, tuy nhiên công trình này chưa đi sâu vào từng khía cạnh của BHTG Một số công trình khác chủ yếu tập trung vào quy chế pháp lý và hoạt động nghiệp vụ giám sát, kiểm tra, tiếp nhận và

xử lý, phí BHTG, lợi ích của BHTG như: Bảo hiểm tiền gửi - Nguyên lý, thực tiễn và định hướng, TS Nguyễn thị Kim Oanh, Nhà xuất bản Lao động

xã hội, tháng 12 năm 2004; Quy chế pháp lý về bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam, ThS Lê Thị Thúy Sen, Viện Nhà nước Pháp luật, năm 2008 Ngoài ra

cũng có một số bài viết đăng trên các báo và tạp chí đề cập đến vai trò của tổ chức BHTG trong việc bảo vệ người gửi tiền và đảm bảo an sinh xã hội Tuy nhiên, việc nghiên cứu một cách tổng quát về mô hình tổ chức BHTG tại Việt Nam trong bối cảnh sau khi Việt Nam gia nhập WTO và đặc biệt sau khủng hoảng tài chính - ngân hàng vừa qua thì hiện nay chưa có công trình nào Trong bối cảnh nước ta đang hoàn thiện hệ thống pháp luật về tài chính - ngân hàng, trong đó có việc hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến tổ chức và hoạt

động BHTG thì việc nghiên cứu đề tài "Pháp luật về tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam" là cần thiết

Hơn nữa, đây là một lĩnh vực mới ở Việt Nam nên tài liệu tham khảo trong nước không nhiều, đặc biệt là sách nghiên cứu về vấn đề này hầu như rất ít Một số tài liệu tham khảo có thể tìm thấy như các bài viết của các chuyên gia kinh tế, chuyên gia pháp lý đăng trên các tạp chí nghiên cứu của

ngành ngân hàng và của BHTGVN: Bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền theo pháp luật về BHTG tại Việt Nam - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện GS.TSKH Đào Trí Úc, Thông tin BHTG số 03 tháng 4 năm 2007; Quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi, Đặng Dung, Giám đốc văn phòng luật sư

Trang 13

DDZ, Báo điện tử Vietnamnet, ngày 03/3/2010 Tài liệu tham khảo nước ngoài về BHTG cũng ít vì đây là lĩnh vực mới chưa được nhiều người quan tâm nghiên cứu, biên dịch

3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

Luận văn tập trung nghiên cứu làm rõ hơn nguyên lý, vai trò của tổ chức BHTG, đánh giá khách quan về thực trạng mô hình tổ chức BHTG tại Việt Nam Tìm hiểu các quy định pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động BHTG ở một số nước phát triển và trong khu vực để thấy được sự khác nhau và kinh nghiệm quốc tế về mô hình tổ chức BHTG, trên cơ sở đó có thể vận dụng vào điều kiện và hoàn cảnh Việt Nam

Điểm mới của luận văn là bên cạnh việc tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về tổ chức và hoạt động BHTG tại Việt Nam, luận văn có sự so sánh, đối chiếu với thông lệ quốc tế Trên cơ sở đánh giá khách quan, từ đó đưa ra những đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật về mô hình tổ chức BHTG tại Việt Nam

Luận văn này có thể làm tài liệu tham khảo trong quá trình xây dựng luật BHTG cũng như góp phần vào công tác tuyên truyền đến công chúng về lĩnh vực BHTG tại Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nguyên lý hoạt động BHTG, thực trạng pháp luật về tổ chức BHTG tại Việt Nam Trên cơ sở đó, nêu ra những bất cập và hướng hoàn thiện pháp luật về tổ chức BHTG ở Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu nguyên lý hoạt động BHTG, thực trạng các quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh mô hình tổ chức BHTG tại Việt Nam trên cơ sở so sánh, đối chiếu với pháp luật của một

số quốc gia trên thế giới về mô hình tổ chức BHTG

Trang 14

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận văn được viết trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Ngoài ra, luận văn cũng kế thừa

có chọn lọc những vấn đề lý luận, thực tiễn được các nhà nghiên cứu đi trước

đã đưa ra, những tài liệu được công bố trên tạp chí, bài viết, bài báo, báo cáo tổng kết của ngành BHTGVN và các cơ quan từ hoạt động thực tiễn ở Việt Nam và các tài liệu, các nguồn từ nước ngoài

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: thống kê,

so sánh, đối chiếu, phân tích, chứng minh, tổng hợp, quy nạp… để rút ra những kết luận khoa học của mình

6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tôi mong muốn góp phần làm rõ hơn nguyên lý chung về BHTG, pháp luật về tổ chức BHTG tại Việt Nam và sau khi nghiên cứu pháp luật về BHTG của một số nước trên thế giới

và tìm hiểu thực tiễn áp dụng tại Việt Nam để từ đó đưa ra những đề xuất kiến

nghị góp phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức BHTG tại Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về Bảo hiểm tiền gửi và tổ chức bảo

hiểm tiền gửi

Chương 2: Thực trạng pháp luật về tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức bảo hiểm tiền

gửi ở Việt Nam

Trang 15

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI

VÀ TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI

1.1 SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI

1.1.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển bảo hiểm tiền gửi trên thế giới

Xuất phát từ nhu cầu trao đổi vật phẩm làm ra, tiền tệ - phương tiện thanh toán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ ra đời và không ngừng phát huy tác dụng trong đời sống Tiền tệ trở thành hàng hóa đặc biệt Tiếp theo sự ra đời

và phát triển của tiền tệ, kinh doanh ngân hàng đã dần hình thành và không ngừng phát triển Hoạt động ngân hàng an toàn trên cơ sở khởi tạo và duy trì chu kỳ luân chuyển tiền nhịp nhàng - nhận giữ tiền của công chúng, đầu tư tiền, thanh toán tiền gửi - mang lại lợi ích cho người gửi tiền, cơ hội cho nhà đầu tư và thịnh vượng xã hội Yếu tố niềm tin công chúng và sự ổn định trong kinh doanh doanh ngân hàng là nền tảng cho sự phát triển và đóng góp của hoạt động ngân hàng đối với thành công của các hoạt động kinh tế, xã hội và cộng đồng

Hoạt động tài chính - ngân hàng luôn gắn liền với sự nhạy cảm và tiềm ẩn rủi ro, vì vậy mỗi quốc gia cần phải có một tổ chức đứng ra bảo vệ người gửi tiền trong trường hợp ngân hàng xảy ra đổ vỡ để ổn định tình hình trật tự xã hội Khi các quốc gia chưa hình thành hệ thống BHTG, thì trong thực tế, họ đã sử dụng công cụ "bảo hiểm ngầm", có nghĩa là, mặc dù không cam kết công khai trước công chúng về bảo vệ tiền gửi của họ trong trường hợp ngân hàng bị đổ vỡ nhưng nếu điều đó xảy ra thì Chính phủ sẽ đứng ra chi trả tiền gửi cho người gửi tiền Việc bảo vệ ngầm, không thật sự đem lại lợi ích quốc gia cũng như không mang lại niềm tin cho công chúng đối với hệ thống tài chính - ngân hàng, vì vậy hệ thống BHTG công khai đã ra đời

Trang 16

Nguồn gốc ra đời của BHTG gắn liền với việc bảo vệ ngầm, dần chuyển sang bảo vệ công khai tiền gửi BHTG được coi là thiết chế đảm bảo

sự an toàn hữu hiệu, như là "chiếc lá chắn cuối cùng" đối với những tình huống khó khăn nhất của hoạt động ngân hàng, nhằm tạo tâm lý ổn định cho người gửi tiền và tránh được nguy cơ đổ vỡ ngân hàng do rút tiền hàng loạt tại các ngân hàng Như vậy, người gửi tiền sẽ được chi trả một phần hay toàn bộ tiền gửi khi ngân hàng đổ vỡ, theo hợp đồng hay cam kết công khai Hoạt động BHTG công khai được thực hiện đầu tiên ở New York (Mỹ) vào năm

1829 với tên gọi "chương trình bảo hiểm trách nhiệm ngân hàng", nhằm đáp ứng sự đổ vỡ mang tính chất định kỳ của các ngân hàng Mỹ vào thế kỷ XIX Trách nhiệm trong chương trình này muốn đề cập đến tiền gửi ngân hàng và chứng chỉ huy động tiền gửi Sau chương trình này ở New york đem lại kết quả, từ năm 1831 đến 1858 các bang tiếp theo là Vermont, Indiana, Michigan, Ohia và Iowa đã thành lập được tổ chức BHTG và sự tham gia của các ngân hàng vào các tổ chức BHTG là tự nguyện

Mục đích của chương trình này là: Bảo vệ cộng đồng khi có ngân hàng đổ vỡ, bảo vệ người gửi tiền cá nhân và các tổ chức huy động tiền gửi

Sau thời gian thử nghiệm thành lập tổ chức BHTG ở một số bang đạt hiệu quả thì cùng với chính sách ngân hàng tự do ở Mỹ (1886) và cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 - 1933) đã làm hàng loạt ngân hàng ở Mỹ hoạt động rất khó khăn và "đỉnh cao là năm 1933 có 4000 ngân hàng thương mại phải ngừng hoạt động" [20, tr 18-19] Trong bối cảnh như vậy, để ứng phó với tình huống phức tạp nhằm ổn định tình hình kinh tế, chính trị thì phải bảo

vệ người gửi tiền và Chính phủ Mỹ đã quyết định thành lập BHTG Liên bang (FDIC) năm 1933 FDIC bắt đầu hoạt động ngày 1/4/1934 và đây là mô hình BHTG công khai đầu tiên trên thế giới FDIC có vị trí pháp lý độc lập với Chính phủ, chịu sự kiểm soát trực tiếp của Quốc hội Tính đến nay, FDIC là

tổ chức BHTG công khai sớm nhất và được đánh giá có nhiều thành công, là

mô hình được nhiều quốc gia tham khảo và vận dụng

Trang 17

Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của thống tài chính - ngân hàng trên thế giới, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, nhu cầu về bảo vệ người tiêu dùng nói chung và người gửi tiền nói riêng là nhu cầu đặt ra với bất kể Chính phủ nào Niềm tin của người gửi tiền là quan trọng đối với sự phát triển an toàn và lành mạnh của hệ thống tài chính trong thế giới hiện đại Với những ưu thế và tính chuyên nghiệp trong việc bảo vệ người gửi tiền, góp phần đảm bảo sự ổn định của hoạt động tài chính - ngân hàng, hệ thống BHTG công khai ngày càng phát triển mạnh mẽ trên thế giới BHTG được xác định không chỉ bảo vệ người gửi tiền mà còn được khẳng định như một tiêu chí, đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an toàn hoạt động của TCTD Đến nay, đã có hơn 100 quốc gia sử dụng hệ thống BHTG công khai bảo vệ người gửi tiền và hiện nay có nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển thành lập hệ thống BHTG

Là khu vực có nền kinh tế phát triển năng động nhất thế giới, hệ thống BHTG ở Châu Á ngày càng phát triển

Bảng 1.1: Thời gian thành lập BHTG ở một số nước

hoặc vùng lãnh thổ khu vực Châu Á

Trang 18

Lào Còn Trung Quốc, Nga đang chuẩn bị thành lập hệ thống BHTG Như vậy, xu hướng thành lập hệ thống BHTG và chuyển đổi mô hình tổ chức BHTG ở khu vực Châu Á ngày càng diễn ra phổ biến và mạnh mẽ, Việt Nam cũng nằm trong tiến trình đó

1.1.2 Sự hình thành và phát triển của bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam

- Bối cảnh trong nước

Vào những năm 1988 - 1990 hàng loạt các hợp tác xã tín dụng đô thị

bị đổ vỡ trên toàn quốc gây ra những bất ổn về kinh tế và chính trị Đặc biệt là niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng bị ảnh hưởng nghiêm trọng Trong bối cảnh đó, việc lấy lại niềm tin của công chúng đối với hệ thống tài chính - ngân hàng là yêu cầu quan trọng để tránh tình trạng người dân có tiền không gửi vào ngân hàng hoặc mua vàng tích trữ tại nhà Chính những hành động như vậy đã ảnh hưởng đến quá trình huy động vốn cho sự phát triển kinh tế đất nước trong những lúc khó khăn Trước sự đổ vỡ đó, các

cơ quan chức năng rất lúng túng trong việc xử lý vì không biết lấy đâu ra nguồn tiền để trả cho dân, một bài toán vô cùng khó khăn Chính phủ, NHNN

đã phải "đau đầu" tìm lời giải để làm sao bảo vệ được quyền lợi của người gửi tiền, ổn định được tình hình kinh tế, chính trị một cách nhanh chóng Trước tình hình đó, rút kinh nghiệm về triển khai mô hình Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) theo Quyết định 390/QĐ-TTg ngày 27 tháng 7 năm 1993 của Thủ tướng Chính phủ, thì Quy tắc bảo hiểm trách nhiệm của QTDND đối với khoản tiền gửi có kỳ hạn đã được ban hành (kèm theo Quyết định số 101/TCQĐ-BH ngày 01/02/1994 của Bộ Tài chính Theo quyết định này, Bảo Việt đã triển khai nghiệp vụ BHTG, đây là khởi đầu của chính sách BHTG tại Việt Nam Tuy nhiên, hoạt động BHTG do Bảo Việt thực hiện đã thể hiện những hạn chế về nhiều mặt như: số lượng QTDND tham gia bảo hiểm ít,

"chỉ có 162 quỹ (1995), chiếm 33,22% tổng số dư tiền gửi trong cả nước tại thời điểm đó Đến năm 1997 có 370 QTDND tham gia BHTG với số tiền

Trang 19

thuộc đối tượng được bảo hiểm là 322 tỷ VND" [20] Đối tượng tham gia BHTG thời kỳ này chỉ hạn chế ở QTDND, còn các tổ chức có huy động tiền gửi khác không tham gia Hoạt động BHTG do Bảo Việt tiến hành bước đầu

đã đem lại niềm tin cho công chúng vào hệ thống tài chính - ngân hàng Tuy nhiên, hoạt động đó không đảm bảo các điều kiện cho sự thành công của một

tổ chức BHTG như: chức năng hạn chế, chỉ thực hiện chi trả khi tổ chức tham gia BHTG bị đổ vỡ), việc tham gia BHTG là tự nguyện… Vì vậy, hoạt động

đó thiếu tính chuyên nghiệp, không theo thông lệ quốc tế và hiệu quả hoạt động thấp Trong khi đó, do thực hiện chính sách mở cửa và phát triển nền kinh tế thị trường, hệ thống Tài chính - ngân hàng của nước ta bước đầu phát triển mạnh mẽ và thực hiện đổi mới về nhiều mặt Chính điều đó cũng làm gia tăng rủi ro và yêu cầu kiểm soát rủi ro cũng như yêu cầu bảo vệ người gửi tiền

là rất quan trọng đòi hỏi phải có một tổ chức BHTG chuyên nghiệp theo thông lệ quốc tế

- Bối cảnh quốc tế

Cuộc khủng hoảng tài chính khu vực Châu Á năm 1997, tuy ảnh hưởng không nhiều đến nền kinh tế Việt Nam nhưng cũng tác động đến hoạt động ngân hàng nước ta Trong quá trình xử lý khủng hoảng tài chính - ngân hàng thì BHTG là công cụ tài chính được một số Chính phủ ở Châu Á sử dụng hữu hiệu trong tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và lấy lại niềm tin của công chúng Nhiều quốc gia nhận thấy vai trò quan trọng của tổ chức BHTG trong xử lý khủng hoảng tài chính - ngân hàng; đồng thời, cũng thấy xu hướng phát triển hệ thống BHTG trên thế giới phát triển mạnh mẽ và cũng tác động đến Việt Nam

Trước bối cảnh trong nước và quốc tế như vậy, để bảo vệ người gửi tiền và đảm bảo sự phát triển an toàn, lành mạnh hoạt động tài chính - ngân hàng, tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế bền vững thì cần có một tổ chức chuyên nghiệp thực hiện các nghiệp vụ BHTG Trong xu thế hội nhập sâu

Trang 20

rộng với khu vực và trên thế giới, thị trường tài chính của nước ta có nhiều cơ hội để phát triển nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro và thách thức Để hạn chế những rủi ro đó và bảo vệ được người tiêu dùng nói chung và người gửi tiền nói riêng đòi hỏi sự ra đời của tổ chức BHTG là hết sức cần thiết, đáp ứng được yêu cầu khách quan của thị trường tài chính cũng như toàn bộ nền kinh

tế Đồng thời, hoạt động BHTG của Bảo Việt thực hiện đã bộc lộ những hạn chế, không đảm bảo các yếu tố quyết định sự thành công của một hệ thống BHTG Vì vậy, trong khoản 1 Điều 17, Luật TCTD ban hành năm 1997 đã quy định: "Tổ chức tín dụng có trách nhiệm tham gia tổ chức bảo toàn tiền gửi hoặc bảo hiểm tiền gửi" (Luật các TCTD, sửa đổi bổ sung năm 2004, tại khoản 1 Điều 17 vẫn quy định: "Tổ chức tín dụng có trách nhiệm: Tham gia

tổ chức bảo toàn hoặc bảo hiểm tiền gửi, mức bảo toàn và bảo hiểm tiền gửi

do Chính phủ quy định") Đây là cơ sở quan trọng để tổ chức BHTG ra đời BHTG ra đời, khẳng định đó là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường

Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam được thành lập theo Quyết định 218/1999/QĐ-TTg, hoạt động theo Nghị định 89/1999/NĐ-CP và đi vào hoạt động từ ngày 7/7/2000 Đây là tổ chức duy nhất triển khai hoạt động BHTG tại Việt Nam cho đến thời điểm hiện nay BHTGVN là tổ chức tài chính nhà nước thực hiện chính sách BHTG, là công cụ tài chính được Chính phủ sử dụng để thay mặt Chính phủ bảo vệ người gửi tiền và đảm bảo an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng

1.2 KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT, MỤC ĐÍCH CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI

1.2.1 Khái niệm, bản chất của bảo hiểm tiền gửi

1.2.1.1 Khái niệm bảo hiểm tiền gửi

BHTG là cam kết công khai của tổ chức BHTG đối với tổ chức tham gia BHTG về việc tổ chức BHTG sẽ chi trả tiền gửi bao gồm: phần gốc và lãi cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG bị chấm dứt hoạt động và không có khả năng thanh toán cho người gửi tiền

Trang 21

Tổ chức tham gia BHTG: Là các ngân hàng và các tổ chức tài chính

phi ngân hàng có hoạt động huy động tiền gửi Theo thông lệ quốc tế, có hai

xu hướng là các tổ chức này có thể tham gia BHTG một cách bắt buộc hoặc

tự nguyện tùy theo chính sách của mỗi quốc gia, tuy nhiên xu hướng phổ biến trên thế giới là tham gia bắt buộc

Người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm: Là khách hàng có

tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG Người gửi tiền không phải đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG nhưng có quyền yêu cầu tổ chức BHTG thanh toán tiền gửi kể cả gốc và tiền lãi tích lũy trên tiền gửi đó trong hạn mức chi trả tiền gửi được bảo hiểm của tổ chức BHTG,

có thể là toàn bộ hoặc một phần tiền gửi do chính sách của mỗi quốc gia

1.2.1.2 Bản chất của bảo hiểm tiền gửi

BHTG cũng mang bản chất chung của các loại hình bảo hiểm khác, hoạt động theo nguyên lý lấy số đông bù số ít nhưng BHTG hoạt động có tính chất đặc thù, thể hiện như sau:

- Hoạt động BHTG là hoạt động cung cấp dịch vụ công Dịch vụ BHTG là loại hàng hóa mang tính xã hội cao Việc loại trừ tuyệt đối một cá nhân, hoặc một tổ chức ra khỏi sự thụ hưởng của dịch vụ BHTG là rất khó khăn và tốn kém Chính vì đặc tính không loại trừ thụ hưởng tuyệt đối mà dịch vụ BHTG được xếp vào loại hàng hóa công không thuần túy BHTG là công cụ được Chính phủ sử dụng để thực hiện chính sách công trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng

Trang 22

- Hoạt động của tổ chức BHTG thông thường không vì mục tiêu lợi nhuận Chính phủ các quốc gia thành lập hệ thống BHTG nhằm mục đích để

tổ chức này thực hiện chính sách công của nhà nước Bởi trong thực tế, hoạt động tài chính - ngân hàng là hoạt động nhạy cảm và có tính lan truyền rất cao; đồng thời, sự đổ vỡ của hệ thống tài chính - ngân hàng sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế và gây ra những bất ổn về mặt xã hội Do đó, Chính phủ các quốc gia đã sử dụng công cụ tài chính BHTG, nhằm góp phần đảm bảo sự

phát triển an toàn lành mạnh của hệ thống tài chính - ngân hàng

1.2.2 Mục đích của hoạt động bảo hiểm tiền gửi

Mặc dù mỗi quốc gia có thể thiết kế mô hình tổ chức BHTG khác

nhau nhưng hoạt động BHTG thường có những mục đích cơ bản như sau:

- Mục đích sử dụng công cụ BHTG là nhằm thực hiện chính sách công, vì vậy chính sách BHTG của các quốc gia, đa số được thiết kế để bảo

vệ số đông người gửi tiền;

- Góp phần đảm bảo hệ thống tài chính - ngân hàng hoạt động lành mạnh,

ổn định và ngăn chặn đổ vỡ ngân hàng thông qua các hoạt động nghiệp vụ;

- Góp phần xây dựng một thị trường tài chính lành mạnh, có tính cạnh tranh bình đẳng giữa các tổ chức tài chính với quy mô và loại hình phát triển khác nhau;

- Giảm thiểu gánh nặng cho Chính phủ trong trường hợp xử lý đổ vỡ của TCTD và điều đó đồng nghĩa với việc giảm gánh nặng cho người dân đóng thuế trong trường hợp có ngân hàng đổ bể Bởi nếu, Chính phủ bỏ tiền

ra chi trả cho người gửi tiền trong trường hợp ngân hàng bị đổ bể, tức là lấy tiền ngân sách ra để gánh vác sự đổ vỡ của TCTD thì không phù hợp với quy luật của nền kinh tế thị trường Chính vì vậy, xu hướng của các quốc gia là không sử dụng ngân sách nhà nước để xử lý đổ vỡ của các TCTD Đồng thời, với sự hình thành của hệ thống BHTG, rủi ro sẽ được phân tán đều cho các

Trang 23

bên liên quan và điều đó xét về hệ thống tài chính - ngân hàng nói riêng và trên toàn bộ nền kinh tế nói chung sẽ tạo ra tính ổn định

1.2.3 Phân biệt bảo hiểm tiền gửi và các loại hình bảo hiểm thương mại

BHTG và các loại hình bảo hiểm thương mại khác, bên cạnh những điểm giống nhau thì hoạt động BHTG có những điểm khác biệt, điều đó được thể hiện như sau:

- Về tính chất hoạt động

Cũng giống như các loại hình bảo hiểm thương mại khác, hoạt động BHTG mang tính chất chung của hoạt động bảo hiểm tức là dựa trên nguyên tắc lấy số đông bù số ít Tuy nhiên, đây là một loại hình mang tính chất đặc thù vì BHTG là công cụ thực hiện chính sách công với vai trò cơ bản là bảo vệ người gửi tiền, góp phần đảm bảo sự phát triển an toàn và lành mạnh của hệ thống tài chính quốc gia Tính đặc thù của BHTG so với các loại hình bảo hiểm thương mại khác được thể hiện ở các khía cạnh như: cơ chế bảo hiểm, chủ thể tham gia bảo hiểm, đối tượng nộp phí, đối tượng được hưởng các quyền lợi bảo hiểm…

- Về cơ chế bảo hiểm

Ở các loại hình bảo hiểm thương mại khác, khi chủ thể tham gia bảo hiểm thì sẽ xuất hiện mối quan hệ trực tiếp giữa một bên là đối tượng bảo hiểm và một bên là đối tượng được bảo hiểm Còn ở BHTG thì khác, mặc dù người gửi tiền là người được hưởng lợi trực tiếp từ chính sách BHTG nhưng không xuất hiện mối quan hệ trực tiếp về BHTG giữa người gửi tiền và tổ chức BHTG trừ trường hợp xảy ra đổ vỡ TCTD

- Chủ thể tham gia BHTG

Theo xu hướng chung của các nước, bất cứ một TCTD hoặc không phải

là TCTD nhưng có hoạt động huy động tiền gửi của dân cư thì phải tham gia BHTG bắt buộc Trách nhiệm đóng phí bảo hiểm thuộc về tổ chức tham gia BHTG

Trang 24

- Đối tượng được hưởng các quyền lợi bảo hiểm

Mặc dù người gửi tiền được hưởng các quyền lợi trực tiếp từ chính sách BHTG nhưng họ không phải trực tiếp tham gia BHTG Theo đó, trong trường hợp tổ chức tham gia BHTG bị giải thể hoặc phá sản thì tổ chức BHTG sẽ thay mặt Chính phủ đứng ra chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền theo quy định của pháp luật mỗi quốc gia Số tiền vượt quá hạn mức chi trả tiền gửi được bảo hiểm sẽ được nhận trong quá trình thanh lý tổ chức tham gia BHTG với thứ tự ưu tiên về vị trí chủ nợ theo quy định của pháp luật về giải thể hoặc phá sản

- Đối tượng tham gia BHTG

Các TCTD hoặc không phải là TCTD nhưng có hoạt động huy động tiền gửi của tổ chức hoặc cá nhân là đối tượng tham gia BHTG Như vậy, chủ thể tham gia BHTG chỉ giới hạn là các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng có huy động tiền gửi Đối tượng tham gia bảo hiểm của các loại hình bảo hiểm thương mại là các tổ chức hoặc cá nhân

- Cơ chế tham gia BHTG

Cơ chế tham gia BHTG thông thường là bắt buộc Tất cả cả TCTD hoặc không phải là TCTD được phép thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật mà có nhận tiền gửi của tổ chức hoặc cá nhân (gọi tắt là tổ chức tham gia BHTG) phải tham gia BHTG bắt buộc, còn đối với các loại hình khác thì có thể tự nguyện hay thỏa thuận

- Hình thức pháp lý tham gia

Tham gia BHTG là sự bắt buộc đối với tổ chức tham gia BHTG mà không thông qua hợp đồng bảo hiểm (theo mô hình BHTG bắt buộc, công khai) Sở dĩ, không xuất hiện hợp đồng BHTG giữa tổ chức BHTG và các tổ chức tham gia BHTG vì hợp đồng phải dựa trên cơ sở thỏa thuận, còn mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia BHTG là theo hình thức bắt buộc Đây là

sự khác biệt tương đối đặc trưng vì không chỉ bảo vệ người gửi tiền mà còn vì

Trang 25

sự an toàn lành mạnh trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng Còn ở các loại hình bảo hiểm thương mại khác là sự thỏa thuận giữa tổ chức bảo hiểm và người được bảo hiểm, phải thông qua hợp đồng bảo hiểm

- Nội dung bảo hiểm

Ở BHTG là sự bắt buộc theo những quy định của pháp luật còn ở các loại hình bảo hiểm khác thì có thể do sự lựa chọn của chủ thể về nội dung tham gia bảo hiểm

Ngoài sự khác biệt cơ bản nêu trên, giữa BHTG và các loại hình bảo hiểm thương mại khác còn có những khác biệt về mô hình tổ chức, về cách thức tổ chức hoạt động, sản phẩm dịch vụ…

1.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN MÔ HÌNH TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI

1.3.1 Về mô hình bảo hiểm tiền gửi

Nghiên cứu BHTG trên nhiều góc độ khác nhau sẽ cho chúng ta cái nhìn tổng quan về mô hình tổ chức và mô hình chức năng BHTG

BHTG ra đời, có BHTG "ngầm" và "công khai" Khi BHTG công khai chưa ra đời thì BHTG ngầm được các nước áp dụng Hạn chế của BHTG ngầm là không công khai, pháp luât không quy định cụ thể, minh bạch về BHTG và không công khai mức chi trả BHTG Việc chi trả tiền gửi cho người gửi tiền được thực hiện thông qua cam kết không công khai của Chính phủ hay Ngân hàng Trung ương khi có TCTD giải thể hoặc phá sản Đây là hình thức sơ khai của BHTG ở mỗi nước và xu thế chung hiện nay là BHTG công khai BHTG công khai với quy định về cơ quan có trách nhiệm chi trả tiền bảo hiểm, phí BHTG, mức chi trả… như là cam kết công khai của Chính phủ với người gửi tiền trong việc đảm bảo quyền lợi của họ khi một TCTD bị đổ

vỡ BHTG công khai tăng cường niềm tin công chúng vào hệ thống ngân hàng; hạn chế chi phí xử lý đổ vỡ và xác định rõ trách nhiệm của cơ quan chức năng đối với người gửi tiền Trên thế giới đã có các mô hình BHTG như sau:

Trang 26

- Về hình thức BHTG, có BHTG "bắt buộc" và "tự nguyện";

- Theo chức năng, nhiệm vụ, có ba mô hình là: mô hình giảm thiểu rủi

ro, mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng và mô hình chi trả;

- Về sở hữu vốn của tổ chức BHTG có BHTG nhà nước và tư nhân

1.3.1.1 Mô hình bảo hiểm tiền gửi tự nguyện và bắt buộc

Trên thế giới, tùy thuộc vào điều kiện và mục đích của hệ thống BHTG

ở mỗi nước mà sự tham gia BHTG là tự nguyện hay bắt buộc BHTG tự nguyện được ít nước áp dụng hoặc áp dụng ở giai đoạn đầu thử nghiệm Ở Đức, tổ chức BHTG do Hiệp hội ngân hàng Đức thành lập với sự tham gia BHTG của các ngân hàng tư nhân Đức là tự nguyện, nhưng sẽ là bắt buộc đối với các ngân hàng

là thành viên của Hiệp hội Ngân hàng Đức Ở Việt Nam, giai đoạn đầu do Bảo Việt thực hiện, quy định tham gia BHTG là tự nguyện, hoạt động BHTG là vì mục đích lợi nhuận nên chỉ có một số QTDND tham gia, còn các loại hình có huy động tiền gửi khác không tham gia Hình thức tham gia BHTG tự nguyện không phải là phổ biến, đa số các nước áp dụng hình thức BHTG là bắt buộc

Ở Mỹ, tổ chức BHTG ra đời sớm nhất và được coi là có nhiều thành công, tham gia BHTG là bắt buộc với tất cả các ngân hàng Việc tham gia BHTG bắt buộc sẽ tạo nguồn vốn hoạt động cho tổ chức BHTG; đồng thời rủi

ro sẽ được phân tán cho các đối tượng tham gia BHTG, tránh tình trạng chỉ có TCTD yếu kém mới tham gia BHTG, còn những TCTD hoạt động tốt thì không tham gia BHTG Sự hợp lý của quy định về BHTG bắt buộc không chỉ dừng lại ở phòng tránh được rủi ro chọn nhầm đối tượng mà còn đảm bảo và thúc đẩy tính ổn định và an toàn trong hoạt động ngân hàng của một quốc gia Việc tham gia BHTG bắt buộc để đóng góp vào quỹ BHTG là công bằng đối với tất cả các ngân hàng Điều này cũng lý giải vì sao các chi nhánh ngân hàng nước ngoài có ngân hàng mẹ đã tham gia BHTG ở chính quốc nhưng vẫn cần thiết phải bắt buộc tham gia BHTG ở nước sở tại, nơi chi nhánh ngân hàng nước ngoài đó hoạt động Như vậy, cũng làm giảm mức độ rủi ro cho bản thân tổ chức BHTG và gánh nặng của Chính phủ trong việc hỗ trợ tài

Trang 27

chính để chi trả bảo hiểm Do tính chất hoạt động BHTG là thực hiện chính sách công và nhiều ưu điểm nên các quốc gia quy định sự tham gia BHTG là bắt buộc Theo Kent và Sobaci, "trong tổng số 68 hệ thống bảo hiểm tiền gửi được nghiên cứu chỉ có 13 hệ thống BHTG tham gia tự nguyện, 55 hệ thống tham gia bảo hiểm tiền gửi bắt buộc" [20, tr 106]

Ở Việt Nam hiện nay theo mô hình BHTG công khai và bắt buộc đối với các TCTD có nhận tiền gửi của công chúng Theo pháp luật về BHTG, các TCTD và tổ chức không phải là TCTD được phép thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các TCTD, có nhận tiền gửi của các

tổ chức và cá nhân phải tham gia BHTG bắt buộc Sự tham gia BHTG của các TCTD được thể hiện bằng Giấy chứng nhận BHTG do BHTGVN cấp

Để khắc phục hạn chế của BHTG bắt buộc là "có tính chất cào bằng", không khuyến khích đối với TCTD hoạt động có hiệu quả và làm giảm vai trò của tổ chức BHTG, thì tổ chức BHTG cần đẩy mạnh các hoạt động kiểm tra, giám sát; nghiên cứu áp dụng mức phí theo mức độ rủi ro trong hoạt động của từng TCTD và lựa chọn một mô hình BHTG phù hợp

1.3.1.2 Mô hình chức năng

Nghiên cứu mô hình BHTG dưới góc độ thực hiện mục tiêu chính sách công, có 3 mô hình BHTG phổ biến, đó là mô hình chi trả, mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng và mô hình giảm thiểu rủi ro

(i) Mô hình chi trả với mục đích chính là bảo vệ người gửi tiền trong

trường hợp xảy ra đổ vỡ TCTD

(ii) Mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng ngoài việc bảo vệ người

gửi tiền, tổ chức BHTG đã tham gia vào quá trình tạo cơ chế chính thức trong

xử lý đổ vỡ và tránh khủng hoảng tài chính thông qua các hoạt động kiểm tra, giám sát phòng ngừa rủi ro

(iii) Mô hình giảm thiểu rủi ro tổ chức BHTG thực hiện đầy đủ chức

năng, nhiệm vụ của mình là bảo vệ người gửi tiền, đảm bảo hoạt động ngân

Trang 28

hàng phát triển an toàn, lành mạnh và xử lý khủng hoảng ngân hàng có trật tự, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế

Hiện nay trên thế giới, xu hướng chung là theo mô hình tổ chức giảm thiểu rủi ro vì mục tiêu của BHTG là thực hiện chính sách công mà mô hình

tổ chức giảm thiểu rủi ro là thực hiện tốt nhất chính sách công Sự khác biệt

cơ bản của 3 mô hình BHTG đó liên quan đến việc quy định về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức BHTG trong việc thực hiện chính sách công

Bảng 1.2: So sánh mục tiêu thực hiện chính sách công

của 3 mô hình BHTG

chính sách công

Mô hình giảm thiểu rủi ro

Mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng

Mô hình chi trả

1 Bảo vệ người gửi tiền thông qua

cơ chế bồi thường

2 Khuyến khích người gửi tiền ít

được tiếp cần với thông tin về

giám sát tài chính, ngân hàng và

thực hiện nguyên tắc thị trường

3 Giảm gánh nặng cho Chính phủ

và yêu cầu các ngân hàng tốt

đóng góp chi phí trong quá trình

8 Khuyến khích tiết kiệm và thúc

Trang 29

Tùy thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, mỗi quốc gia lựa chọn một mô hình BHTG, mỗi mô hình quyết định chức năng nhiệm vụ của tổ chức BHTG; đồng thời, thiết kế một mô hình tổ chức để thực hiện chức năng nhiệm vụ cho phù hợp Tương ứng với chức năng, nhiệm vụ của từng mô hình BHTG mà hoạt động BHTG được thể hiện như sau:

Bảng 1.3: So sánh chức năng, nhiệm vụ của 3 mô hình BHTG

Mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng

Mô hình chi trả

4 Vai trò trong việc giải quyết đổ vỡ ngân hàng ۷ ۷

7 Can thiệp vào hoạt động của tổ

Nguồn: [35]

1.3.1.3 Mô hình tổ chức bảo hiểm tiền gửi

Hệ thống BHTG trên thế giới cho thấy về cơ bản có hai loại hình tổ chức BHTG bao gồm: một là sở hữu tư nhân, hai là thuộc sở hữu của nhà nước

(i) Tổ chức BHTG tư nhân: Ở những nước, mỗi ngân hàng có tiềm lực

tài chính mạnh hoặc việc điều hành hệ thống ngân hàng không thuộc trách nhiệm của NHTW mà thuộc Hiệp hội ngân hàng thì tổ chức BHTG có thể được thành lập theo hình thức sở hữu tư nhân Ví dụ tổ chức BHTG tư nhân ở Đức (quỹ bảo toàn tiền gửi) do Hiệp hội ngân hàng Đức thành lập với sự tham gia BHTG tự nguyện của các ngân hàng tư nhân Tổ chức này không phải là một pháp nhân, tài sản của quỹ độc lập với tài sản của Hiệp hội ngân hàng Nhà nước không cấp vốn mà chỉ định ra các điều kiện pháp lý cho tổ chức

Trang 30

BHTG thành lập và hoạt động, vốn là do các ngân hàng đóng góp Mô hình này phát huy được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các TCTD là thành viên, giảm chi phí huy động vốn đối với các TCTD Tuy nhiên, mô hình này cũng có nhiều hạn chế như không khuyến khích các TCTD hoạt động tốt tham gia BHTG vì quỹ hình thành trên cơ sở tự nguyện, không có thẩm quyền ban hành văn bản pháp quy, khó xác định trách nhiệm về chi phí bồi thường chi trả Lý do cơ bản là tiềm lực tài chính của tổ chức BHTG tư nhân hạn chế nên không có khả năng xử lý các khoản nợ tiền gửi có quy mô lớn, trên phạm vi rộng Vì vậy, tổ chức BHTG theo mô hình công, thuộc sở hữu nhà nước được nhiều nước áp dụng

(ii) Tổ chức BHTG công: Hiện nay, tổ chức BHTG theo hình thức sở

hữu nhà nước được thành lập dưới hình thức là một cơ quan của Chính phủ, hoặc có sự tham gia của NHTW, bộ tài chính, tùy thuộc vào mỗi quốc gia Theo mô hình này, tổ chức BHTG có tư cách pháp nhân, có quyền hạn như một cơ quan thuộc Chính phủ nên có thẩm quyền ban hành các văn bản mang tính chất quy phạm pháp luật, được nhà nước cấp vốn ban đầu khi thành lập Nhà nước định ra khung pháp lý quy định về tổ chức và hoạt động của tổ chức BHTG, thường là luật BHTG như ở Mỹ và nhiều nước khác Mô hình tổ chức BHTG công có nhiều ưu thế hơn và được áp dụng phổ biến vì được nhà nước hỗ trợ và bảo hiểm là bắt buộc nên tạo ra được sự cạnh tranh bình đẳng

Hệ thống BHTG nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền nên được thiết lập công khai, do nhà nước quản lý, nhằm duy trì và củng cố niềm tin của nhân dân, được thực hiện đầy đủ quyền năng của

tổ chức BHTG sẽ đem lại sự ổn định của hệ thống tài chính- ngân hàng Mô hình này khắc phục được hạn chế của mô hình tư nhân về tiềm lực tài chính khi có đổ vỡ ngân hàng và khả năng tiếp cận thông tin ở độ chính xác cao để

xử lý kịp thời các tình huống xấu xảy ra Tổ chức BHTG thuộc sở hữu nhà nước không chỉ thuần túy chi trả mà thực hiện nhiều hoạt động như: giám sát, kiểm tra, đánh giá mức độ rủi ro, hỗ trợ tài chính và tham gia vào quá trình tái

Trang 31

cấu trúc hệ thống ngân hàng thông qua hoạt động xử lý, mua bán, sát nhập…TCTD nhằm ngăn chặn đổ vỡ hệ thống

Mỗi quốc gia, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể để lựa chọn một mô hình BHTG phù hợp Xu thế chung là theo mô hình tổ chức BHTG của nhà nước,

"trong số 68 quốc gia được nghiên cứu, chỉ có 11 nước tổ chức theo mô hình

tư nhân" [20, tr 40] Mô hình này rất phù hợp với những nước có thị trường tài chính chưa phát triển, hoạt động của hệ thống ngân hàng tiềm ẩn rủi ro lớn, trong đó có Việt Nam

Trong khi năng lực tài chính của các TCTD còn hạn chế thì việc bảo

vệ người gửi tiền, đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng thông qua một tổ chức BHTG của nhà nước sẽ đem lại hiệu quả tốt hơn Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hoạt động tài chính - ngân hàng có tính chất liên thông nên khi xảy ra khủng hoảng như vừa qua, tổ chức BHTG của nhà nước đã phát huy hiệu quả tích cực trong xử lý khủng hoảng

Về thiết kế mô hình tổ chức, các nước thường thiết kế mô hình tổ chức BHTG theo mô hình Tổng công ty Khi được thiết kế theo mô hình này,

tổ chức BHTG có thẩm quyền rộng để thực hiện được mô hình tổ chức giảm thiểu rủi ro như các nước Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan…

Kinh nghiệm hoạt động BHTG thành công trên thế giới cho thấy ở quốc gia có hệ thống tài chính phát triển còn hạn chế, các tổ chức nhận tiền gửi có sự chênh lệch lớn về trình độ, quy mô phát triển và tiềm lực tài chính, môi trường chính sách cho hoạt động theo cơ chế thị trường đang trong quá trình hình thành, tổ chức BHTG theo mô hình sở hữu nhà nước là phù hợp và

Trang 32

bạch, đáp ứng kịp thời việc chi trả tiền bảo hiểm và xử lý đổ vỡ TCTD Trên

cơ sở đó quyền lợi của người gửi tiền mới được bảo vệ tốt nhất và tạo được sự

ổn định của hệ thống tài chính

1.3.2 Về hoạt động bảo hiểm tiền gửi

1.3.2.1 Hoạt động thu phí của tổ chức bảo hiểm tiền gửi

Năng lực tài chính của tổ chức BHTG được hình thành từ các nguồn chủ yếu là Vốn điều lệ do Nhà nước cấp, Quỹ dự phòng nghiệp vụ hình thành

từ nguồn thu phí BHTG và các Quỹ khác Theo thông lệ quốc tế, Quỹ dự trữ bắt buộc của tổ chức BHTG trên tổng số dư tiền gửi được bảo hiểm ở mức an toàn là ở mức từ 1,15% đến 1,5%

Về cách thức đóng góp phí của tổ chức tham gia BHTG

(i) Đóng góp phí trước: Khi một TCTD được chấp nhận tham gia BHTG

thì sẽ phải đóng góp một khoản tiền nhất định Hình thức này do những hạn chế như không khuyến khích và tạo thế chủ động của các tổ chức tham gia BHTG trong quá trình hoạt động nên ít được áp dụng trên thế giới

(ii) Đóng góp phí BHTG thường xuyên theo định kỳ tháng, quý hoặc

năm Đây là hình thức được áp dụng phổ biến trên thế giới, do những ưu điểm

của nó, như tạo tính linh hoạt, chủ động và công bằng cho tổ chức BHTG cũng như tổ chức tham gia BHTG Hiện nay, "có khoảng gần 90% các nước trên thế giới áp dụng hình thức đóng góp này" [20, tr 48] Mức phí hàng năm

thông thường được tính theo công thức sau:

Pa = r D

Trong đó:

- Pa: Là mức phí BHTG hàng năm của một tổ chức tham gia BHTG

- r: là tỷ lệ phí BHTG được áp dụng đối với tổ chức tham gia BHTG

- D: Là số dư tiền gửi là cơ sở tính phí tại tổ chức tham gia BHTG(

thông thường lấy số dư bình quân một ngày trong năm

Trang 33

(iii) Hình thức thứ 3 là đóng góp phí sau: Là hình thức đóng góp sau

khi có một hoặc một số tổ chức tham gia BHTG chấm dứt hoạt động và mất khả năng thanh toán, đặt ra yêu cầu chi trả BHTG Tổ chức BHTG phân bổ chi phí cần chi trả cho các tổ chức tham gia BHTG trong toàn hệ thống đang hoạt động và yêu cầu họ phải đóng góp để chi trả BHTG cho người gửi tiền tại các ngân hàng bị đóng cửa Hình thức này cũng có nhiều hạn chế như không tạo thế chủ động cũng như công bằng cho các TCTD nên cũng rất ít nước trên thế giới áp dụng

Về phương pháp tính phí

(i) Đóng góp phí BHTG theo tỷ lệ phí đồng hạng

Là hình thức đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG theo một tỷ lệ thu phí BHTG áp dụng chung cho tất cả các tổ chức tham gia BHTG trong cùng một hệ thống BHTG Ưu điểm của phương pháp tính phí này là dễ tính toán,

dễ triển khai, đặc biệt là thuận lợi đối với tổ chức BHTG mới hoạt động Tuy nhiên, nó cũng có hạn chế là không tạo sự khuyến khích hoặc công bằng giữa các TCTD và không thể hiện được nguyên tắc thị trường trong quá trình áp dụng

(ii) Đóng góp phí trên cơ sở rủi ro

Là hình thức đóng phí dựa trên sự tính toán về chất lượng hoạt động của tổ chức tham gia BHTG Nếu TCTD nào hoạt động tốt thì mức phí thấp

và ngược lại Phương pháp tính phí này đã khắc phục được nhược điểm của phương pháp tính phí đồng hạng Theo xu thế, sau một thời gian tính phí đồng hạng, các quốc gia thường có xu hướng chuyển sang phương pháp tính phí trên cơ sở rủi ro cho dù phương pháp này có phức tạp hơn phương pháp tính phí đồng hạng, nhưng tạo được sự công bằng và cạnh tranh giữa các TCTD

Ở Việt Nam mức phí là 0,15%/ năm tính trên số dư tiền gửi bình quân của các loại tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG Phí BHTG

do các tổ chức tham gia BHTG nộp, người gửi tiền không phải nộp phí Đây là phí BHTG đồng hạng, không phân biệt theo mức độ rủi ro, tổ chức hoạt động tốt

Trang 34

và tổ chức hoạt động kém cùng có mức nộp phí như nhau, không khuyến khích các TCTD phấn đấu giảm thiểu rủi ro và được hưởng lợi từ việc giảm thiểu rủi ro đó thông qua việc tham gia và nộp phí BHTG Ở một số nước tiên tiến như Mỹ, Hàn Quốc… thực hiện nộp phí theo mức độ rủi ro, áp dụng tính

và nộp phí theo định mức tín nhiệm Trên cơ sở đánh giá, xếp loại theo chất lượng hoạt động, nếu rủi ro càng cao thì nộp phí càng nhiều và ngược lại

1.3.2.2 Về các hoạt động nghiệp vụ bảo hiểm tiền gửi

Các hoạt động nghiệp vụ chủ yếu của tổ chức BHTG bao gồm những vấn đề sau:

(i) Nghiệp vụ kiểm tra, giám sát tổ chức tham gia BHTG

Nghiệp vụ kiểm tra là một trong những nghiệp vụ quan trọng của hoạt động BHTG Nội dung kiểm tra tập trung vào hai vấn đề cơ bản:

Kiểm tra việc chấp hành các quy định về BHTG;

Kiểm tra việc chấp hành các quy định đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng

Công tác giám sát của tổ chức BHTG được tiến hành thường xuyên trên cơ sở các thông tin về tổ chức tham gia BHTG mà tổ chức BHTG có được Nội dung của nghiệp vụ giám sát là đánh giá hoạt động của tổ chức tham gia BHTG từ đó đưa ra các khuyến nghị uốn nắn kịp thời và cảnh báo sớm với tổ chức đó nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng

(ii) Nghiệp vụ hỗ trợ tài chính và xử lý đổ vỡ ngân hàng

Về hỗ trợ tài chính: Khi tổ chức tham gia BHTG gặp khó khăn về tài

chính nhưng chưa đến mức đổ vỡ, tổ chức BHTG thực hiện biện pháp hỗ trợ tài chính để khôi phục TCTD đó Có hai phương án hỗ trợ:

Phương án thứ nhất là tổ chức BHTG thực hiện hoạt động hỗ trợ tài

chính đối với tổ chức tham gia BHTG khi tổ chức này gặp khó khăn về khả năng thanh khoản và thanh toán Tổ chức BHTG có thể mua các tài sản có

Trang 35

đặc biệt là tài sản chưa đến hạn thanh toán để củng cố khả năng thanh khoản của tổ chức tham gia BHTG; hoặc cũng có thể bảo lãnh cho tổ chức tham gia BHTG đi vay vốn của đơn vị khác

Phương án thứ hai là tổ chức BHTG có các hoạt động hỗ trợ ổn định

tổ chức đối với tổ chức tham gia BHTG Thông qua công tác kiểm tra, giám sát phát hiện tổ chức tham gia BHTG gặp khó khăn trong quản lý và điều hành thì tổ chức BHTG có thể hỗ trợ nâng cao năng lực quản lý của tổ chức tham gia BHTG Đây cũng là một nghiệp vụ quan trọng của tổ chức BHTG

Về xử lý đổ vỡ ngân hàng: Tổ chức BHTG thực hiện việc xử lý đổ vỡ

ngân hàng thông qua những chức năng cơ bản như: mua lại ngân hàng bị đổ

vỡ, sau đó xử lý hoặc là phục hồi ngân hàng đó và bán ngân hàng đó cho ngân hàng khác, đây được gọi là nghiệp vụ ngân hàng bắc cầu Nếu ngân hàng đó không còn khả năng phục hồi thì tổ chức BHTG sẽ tiến hành thanh lý Theo báo cáo của ngân hàng thế giới, "sau khi nghiên cứu kinh nghiệm và số liệu ở

1700 ngân hàng trên 57 quốc gia cho thấy ở những nước mà tổ chức bảo hiểm tiền gửi có quyền can thiệp và chấm dứt bảo hiểm tiền gửi " [13] thì các ngân hàng hoạt động ổn định hơn và nguy cơ mất khả năng thanh toán thấp hơn

(iii) Nghiệp vụ chi trả và giám sát thanh lý tài sản sau chi trả

Chi trả BHTG là hoạt động mà tổ chức BHTG thực hiện cam kết thanh toán cho người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm, bao gồm cả gốc và lãi với hạn mức nhất định, theo quy định của mỗi quốc gia.Tổ chức BHTG chỉ thực hiện chi trả bảo hiểm khi tổ chức tham gia BHTG bị phá sản hoặc bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền có văn bản chấm dứt hoạt động và

tổ chức đó mất khả năng thanh toán Đây là biện pháp cuối cùng, sau khi đã

áp dụng các biện pháp hỗ trợ, sáp nhập, mua lại không đem lại hiệu quả

Sau khi chi trả tiền bảo hiểm, BHTG trở thành chủ nợ đối với TCTD Theo thông lệ quốc tế, sau khi chi trả tiền gửi được bảo hiểm, tổ chức BHTG

có vai trò quan trọng trong việc quản lý các mối quan hệ tài chính của tổ chức

Trang 36

tham gia BHTG Vai trò này được thể hiện thông qua các hoạt động như: tham gia vào Hội đồng thanh lý tài sản, tham gia vào Ban điều hành các hoạt động sau chi trả, quyết định thanh toán các khoản công nợ…Kinh nghiệm cho thấy vai trò của tổ chức BHTG cần phải được quy định rõ trong Luật thì việc thu hồi nợ của tổ chức BHTG sẽ được thực hiện tốt hơn

1.3.2.3 Về cơ chế bảo hiểm tiền gửi

Theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật các nước về BHTG thì người gửi tiền là người được hưởng lợi trực tiếp từ chính sách BHTG nhưng không xuất hiện mối quan hệ trực tiếp về BHTG giữa người gửi tiền và tổ chức BHTG trừ trường hợp xảy ra đổ vỡ TCTD Đây là cơ chế đặc thù của hoạt động BHTG, vì hoạt động BHTG là thực hiện chính sách công

Những quy định liên quan đến cơ chế BHTG của một quốc gia trong

đó bao gồm những vấn đề như:

(i) Tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm

Tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm là tiền gửi của một số đối tượng mà pháp luật quy định nằm trong danh mục tiền gửi được bảo hiểm và

là cơ sở để tính phí BHTG Ở Việt Nam, tiền gửi được bảo hiểm là tiền gửi của các cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh gửi tại tổ chức tham gia BHTG Trừ các loại tiền gửi sau đây: Tiền gửi của người gửi tiền là cổ đông sở hữu trên 10% vốn, một số chức danh lãnh đạo chủ chốt của TCTD; Tiền gửi nhằm mục đích để thanh toán của các tổ chức, doanh nghiệp Tiền gửi của các TCTD, tiền gửi của kho bạc nhà nước; Tiền gửi nhằm mục đích đảm bảo thực hiện nghĩa vụ như: tiền ký quỹ, tiền cầm cố, tiền tạm giữ Tùy vào chính sách tiền tệ của mỗi quốc gia mà pháp luật nước đó quy định loại tiền gửi khác nhau Tuy nhiên, mục đích của BHTG là bảo vệ người gửi tiền ít được tiếp cận với thông tin về tài chính, ngân hàng nên thông thường tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi cá nhân bằng nội tệ

là loại tiền gửi mà đến nay tất cả các hệ thống BHTG trên thế giới đều bảo vệ trực tiếp thông qua chi trả BHTG

Trang 37

Một số loại tiền gửi mà nhiều quốc gia loại khỏi đối tượng được bảo hiểm là:

Tiền gửi ngoại tệ;

Tiền gửi liên ngân hàng;

Chứng chỉ tiền gửi không ghi danh;

Tiền gửi của các tổ chức chính trị, xã hội và các đơn vị kinh tế

Ở một số nước, tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm được mở rộng hơn gồm cả tiền gửi của doanh nghiệp, tiến gửi các quỹ đầu tư, Công ty tài chính, Công ty chứng khoán, Công ty bảo hiểm, Hiệp hội tín dụng, Ngân hàng Hợp tác xã, Tổ chức tài chính quy mô nhỏ…

Ở nước ta, tiền gửi được bảo hiểm là tiền gửi bằng đồng Việt Nam Tiền gửi bằng ngoại tệ thì không được bảo hiểm Ở một số nước bảo hiểm cả ngoại tệ như Indonesia…để bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, tạo thuận lợi cho người có ngoại tệ muốn gửi tiền không phải quy đổi nội tệ

(ii) Hạn mức chi trả tiền gửi được bảo hiểm

Hạn mức chi trả tiền gửi được bảo hiểm là hạn mức tối đa mà tổ chức BHTG sẽ chi trả cho mỗi khoản tiền gửi của một cá nhân tại một tổ chức tham gia BHTG khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị đổ vỡ

Hiện nay có hai hình thức chi trả được áp dụng phổ biến trên thế giới

đó là:

Chi trả toàn bộ số tiền gửi (gồm cả gốc và lãi) thuộc đối tượng được

bảo hiểm (gọi là chi trả không giới hạn)

Chi trả tới một giới hạn nhất định (chi trả có hạn mức) Theo đó, nếu

số dư tiền gửi thấp hơn hoặc bằng mức đó thì người gửi tiền sẽ được nhận toàn bộ tiền gửi bao gồm cả gốc và lãi Còn nếu tiền gửi của người gửi tiền lớn hơn hạn mức đó thì người gửi tiền cũng chỉ nhận được số tiền gửi bằng

Trang 38

hạn mức đó, số tiền còn lại được thanh toán theo quy định của pháp luật về giải thể và phá sản

Hạn mức chi trả có giới hạn được áp dụng phổ biến vì tính ưu việt của

nó, như tránh được rủi ro đạo đức đối với cả người gửi tiền và TCTD Rủi ro đạo đức được hiểu là người gửi tiền cũng như tổ chức tham gia BHTG qúa tin tưởng vào tổ chức BHTG mà xem nhẹ việc giám sát, theo dõi hoạt động của TCTD Nếu tiền gửi của người gửi tiền được bảo hiểm 100% thì họ không cần quan tâm đến TCTD đó hoạt động như thế nào vì nếu xảy ra đổ vỡ thì họ cũng không bị mất tiền gửi Điều đó cũng gây ra bất cẩn đối với chính các ngân hàng và các tổ chức có chức năng giám sát ngân hàng Như vậy, trên bình diện toàn bộ nền kinh tế thì điều đó không có lợi

Xác định hạn mức chi trả

Về nguyên tắc, hạn mức này phải được xây dựng phù hợp đủ để xây dựng được niềm tin của công chúng đối với hệ thống tài chính, ngân hàng nhưng cũng không quá cao để xảy ra tình trạng rủi ro đạo đức hoặc nguồn lực tài chính của tổ chức BHTG không có khả năng gánh vác được Nếu hạn mức chi trả quá thấp thì chính sách BHTG sẽ không tác động đến người gửi tiền vì

họ cho rằng nếu TCTD bị đổ vỡ thì số tiền được chi trả không đáng kế so với tiền gửi của họ nên họ không quan tâm Ví dụ, ở vụ khủng hoảng tín dụng xảy

ra ở ngân hàng Northern Rock vào năm 2007, do cơ chế BHTG không phát huy hết tác dụng và một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng rút tiền hàng loạt là do hạn mức chi trả tiền gửi ở Anh quá thấp, không đủ để tạo niềm tin đối với dân chúng "Tại Anh, bảo hiểm tiền gửi chỉ chi trả 100% cho 2000 bảng Anh đầu tiên (khoảng 4100 USD) và 90% đối với 33.000 bảng tiếp theo (khoảng 67.500) Trong khi đó tại Mỹ, tổ chức bảo hiểm tiền gửi liên bang (FDIC) cung cấp mức bảo hiểm 100% cho tiền gửi lên tới 100.000 USD" [30]

Ngược lại, nếu quá cao, tức là chi trả toàn bộ thì lại gây ra bất lợi là người gửi tiền quá tin tưởng vào tổ chức BHTG mà không quan tâm đến các

Trang 39

kỷ cương của thị trường, cũng như không tìm hiểu thực trạng của tổ chức tham gia BHTG Không chỉ người gửi tiền mà tổ chức tham gia BHTG cũng

sẽ bất cẩn trong hoạt động kinh doanh và điều đó gây bất lợi đối với hệ thống

Hạn mức chi trả phù hợp theo thông lệ quốc tế, dao động từ 1 đến 3 lần thu nhập bình quân đầu người của quốc gia đó Theo tính toán, mức trung bình được các nước áp dụng hiện nay là khoảng 3 lần thu nhập bình quân đầu người Ở châu Á, mức chi trả bình quân là 4 lần thu nhập quốc nội bình quân đầu người một năm

Trong thực tế, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội, bối cảnh hoạt động tài chính ngân hàng mà mỗi quốc gia có cách tính hạn mức chi trả và điều chỉnh hạn mức cho phù hợp

Ở Việt Nam, mức chi trả bảo hiểm cho tất cả các khoản tiền gửi bao gồm cả gốc và lãi của một người gửi tiền tại một TCTD tối đa là 50 triệu đồng (Điều 4 Nghị định 109/2005/NĐ-CP ngày 24/08/2005) Số tiền vượt quá hạn mức chi trả sẽ được nhận trong quá trình thanh lý tổ chức tham gia BHTG với thứ tự ưu tiên về vị trí chủ nợ theo quy định của pháp luật về giải thể hoặc phá sản Trong trường hợp xảy ra nguy cơ rút tiền hàng loạt, mỗi nước có thể nâng mức trần bảo hiểm tối đa hoặc bảo hiểm toàn bộ để người dân yên tâm

(iii)Thực hiện chi trả tiền gửi được bảo hiểm Tổ chức BHTG chỉ thực

hiện chi trả bảo hiểm khi tổ chức tham gia BHTG bị phá sản hoặc bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền có văn bản chấm dứt hoạt động và tổ chức đó mất khả năng thanh toán Đây là biện pháp cuối cùng sau khi đã áp dụng các biện pháp hỗ trợ, sáp nhập, mua lại… không đem lại hiệu quả

1.3.3 Về sự phối hợp giữa tổ chức bảo hiểm tiền gửi và các cơ quan liên quan

1.3.3.1 Phối hợp trong việc giám sát hệ thống tài chính

Để thực hiện giám sát hệ thống tài chính - ngân hàng quốc gia, sự phối hợp của các cơ quan trong hệ thống giám sát an toàn là rất quan trọng Nhằm

Trang 40

8 ngân hàng thương mại liên bang lớn nhất Mỹ

i) NH quốc gia không phải là thành viên của FED ii) Một phần tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm liên bang (chia sẻ với OTS)

i) Tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm tại tiểu bang ii) Một phần tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm liên bang (chia sẻ với OCC)

Các ngân hàng tiểu bang

tổ chức BHTG

Ví dụ mô hình giám sát của Mỹ

Có cơ chế pháp lý rõ ràng trong việc phân định chức năng của các cơ quan giám sát Mỹ có 04 cơ quan giám sát hoạt động tài chính - ngân hàng gồm:

i) Cục dự trữ liên bang (FED);

ii) Cơ quan giám sát tiền tệ thuộc Bộ Tài chính (OCC);

iii) Cơ quan giám sát các tổ chức nhận tiền gửi phi ngân hàng thuộc

Bộ Tài chính (OTS);

iv) Bảo hiểm tiền gửi liên bang (FDIC)

Sơ đồ 1.1: Phân công giám sát tài chính - ngân hàng ở Mỹ

Nguồn: [17]

Ngày đăng: 10/07/2015, 12:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (2001), Báo cáo tổng kết công tác 5 năm (2001 - 2005), Báo cáo công tác các năm 2007, 2008, 2009 và Báo cáo tổng kết 10 năm (2001 - 2010), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác 5 năm (2001 - 2005), Báo cáo công tác các năm 2007, 2008, 2009 và Báo cáo tổng kết 10 năm (2001 - 2010)
Tác giả: Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2001
2. Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (2008), Báo cáo một số nội dung chủ yếu liên quan đến hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam cần quan tâm trong quá trình xây dựng Luật bảo hiểm tiền gửi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo một số nội dung chủ yếu liên quan đến hoạt động bảo hiểm tiền gửi Việt Nam cần quan tâm trong quá trình xây dựng Luật bảo hiểm tiền gửi
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2008
3. Chính phủ (2006), Quyết định số 112/2006/QĐ-TTg ngày 24/5 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 112/2006/QĐ-TTg ngày 24/5 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
4. Chính phủ (1999), Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/9 về bảo hiểm tiền gửi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/9 về bảo hiểm tiền gửi
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1999
5. Chính phủ (1999), Quyết định số 218/QĐ-Ttg ngày 09/11 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 218/QĐ-Ttg ngày 09/11 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1999
6. Chính phủ (2000), Quyết định số 75/2000/QĐ-TTg ngày 28/6 của Thủ tướng Chính phủ ban hành kèm theo Điều lệ tổ chức và hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 75/2000/QĐ-TTg ngày 28/6 của Thủ tướng Chính phủ ban hành kèm theo Điều lệ tổ chức và hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2000
7. Chính phủ (2005), Nghị định số 109/2005/NĐ-CP ngày 24/8 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999 của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 109/2005/NĐ-CP ngày 24/8 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999 của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
8. Đặng Duy Cường (2007), "Mô hình tổ chức bảo hiểm tiền gửi giảm thiểu rủi ro", Thông tin Bảo hiểm tiền gửi, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình tổ chức bảo hiểm tiền gửi giảm thiểu rủi ro
Tác giả: Đặng Duy Cường
Năm: 2007
9. Đặng Dung (2010), "Quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi", vietnamnet.vn, ngày 03/3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi
Tác giả: Đặng Dung
Nhà XB: vietnamnet.vn
Năm: 2010
10. Nguyễn Mạnh Dũng (2008), "Trao đổi xung quanh vấn đề tiếp nhận, xử lý tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi", Thông tin Bảo hiểm tiền gửi, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trao đổi xung quanh vấn đề tiếp nhận, xử lý tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
Tác giả: Nguyễn Mạnh Dũng
Nhà XB: Thông tin Bảo hiểm tiền gửi
Năm: 2008
11. Nguyễn Mạnh Dũng - Đặng Duy Cường (2009), "Kinh nghiệm của bảo hiểm tiền gửi Nhật Bản và Hoa Kỳ đối phó khủng hoảng kinh tế và xử lý ngân hàng đổ vỡ", Ngân hàng, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm của bảo hiểm tiền gửi Nhật Bản và Hoa Kỳ đối phó khủng hoảng kinh tế và xử lý ngân hàng đổ vỡ
Tác giả: Nguyễn Mạnh Dũng, Đặng Duy Cường
Nhà XB: Ngân hàng
Năm: 2009
12. Trần Đình Hảo (2008), "Về địa vị pháp lý của tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam", Thông tin Bảo hiểm tiền gửi, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về địa vị pháp lý của tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Hảo
Nhà XB: Thông tin Bảo hiểm tiền gửi
Năm: 2008
13. Mai Hương (2010), "Bảo vệ người gửi tiền - bảo vệ nền tảng tài chính ngân hàng", vietnamnet.vn, ngày 14/6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ người gửi tiền - bảo vệ nền tảng tài chính ngân hàng
Tác giả: Mai Hương
Nhà XB: vietnamnet.vn
Năm: 2010
20. Nguyễn Thị Kim Oanh (2004), Bảo hiểm tiền gửi - Nguyên lý, thực tiễn và định hướng, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm tiền gửi - Nguyên lý, thực tiễn và định hướng
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Oanh
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2004
21. Quốc hội (1997), Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1997
22. Quốc hội (1997), Luật Các tổ chức tín dụng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Các tổ chức tín dụng
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1997
23. Quốc hội (2003), Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam (sửa đổi, bổ sung)
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2003
24. Quốc hội (2004), Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi, bổ sung)
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2004
27. Quốc hội (2010), Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam (sửa đổi, bổ sung)
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2010
28. Quốc hội (2010), Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội 29. Lê Thị Thúy Sen (2008), Quy chế pháp lý về bảo hiểm tiền gửi, Viện Nhànước và Pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi, bổ sung)
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Thời gian thành lập BHTG ở một số nước - Pháp luật về tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
Bảng 1.1 Thời gian thành lập BHTG ở một số nước (Trang 17)
Bảng 1.2: So sánh mục tiêu thực hiện chính sách công - Pháp luật về tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
Bảng 1.2 So sánh mục tiêu thực hiện chính sách công (Trang 28)
Bảng 1.3: So sánh chức năng, nhiệm vụ của 3 mô hình BHTG - Pháp luật về tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
Bảng 1.3 So sánh chức năng, nhiệm vụ của 3 mô hình BHTG (Trang 29)
Sơ đồ 1.1: Phân công giám sát tài chính - ngân hàng ở Mỹ - Pháp luật về tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
Sơ đồ 1.1 Phân công giám sát tài chính - ngân hàng ở Mỹ (Trang 40)
Sơ đồ 1.2: Vai trò của tổ chức BHTG - Pháp luật về tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
Sơ đồ 1.2 Vai trò của tổ chức BHTG (Trang 43)
Bảng 1.4: Diễn biến khủng hoảng Ngân hàng Northern Rock - Pháp luật về tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
Bảng 1.4 Diễn biến khủng hoảng Ngân hàng Northern Rock (Trang 48)
Bảng 1.5: Diễn biến khủng hoảng ngân hàng ở Mỹ và một số nước, - Pháp luật về tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
Bảng 1.5 Diễn biến khủng hoảng ngân hàng ở Mỹ và một số nước, (Trang 51)
Bảng 2.1: So sánh về mục tiêu thực hiện chính sách công và chức năng - Pháp luật về tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
Bảng 2.1 So sánh về mục tiêu thực hiện chính sách công và chức năng (Trang 67)
Bảng 2.2: So sánh về chức năng, nhiệm vụ của BHTGVN và 03 mô hình - Pháp luật về tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
Bảng 2.2 So sánh về chức năng, nhiệm vụ của BHTGVN và 03 mô hình (Trang 68)
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam - Pháp luật về tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (Trang 69)
Sơ đồ 3.1: Các tiêu chí hoàn thiện mô hình tổ chức BHTG - Pháp luật về tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
Sơ đồ 3.1 Các tiêu chí hoàn thiện mô hình tổ chức BHTG (Trang 96)
Sơ đồ 3.2: Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức BHTG tại Việt Nam - Pháp luật về tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
Sơ đồ 3.2 Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức BHTG tại Việt Nam (Trang 97)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm