Đặc biệt các ngân hàng thương mại Việt Nam cũng đã thực hiện đầy đủ vàngày càng tốt hơn các quy định của pháp luật đặc biệt các quy định của phápluật bảo hiểm tiền gửi nhằm tạo niềm tin
Trang 1Đứng trước cuộc khủng khoảng tài chính như hiện nay, các ngân hàng nóichung và các ngân hàng thương mại nói riêng có nhiều biến động lớn về chínhsách tài chính tiền tệ, đòi hỏi các ngân hàng phải có cơ chế điều chỉnh cho phùhợp với bối cảnh hiện nay Trong bối cảnh này việc bảo vệ lợi ích của ngườigửi tiền và tạo niềm tin đối với khách hàng là hoạt động thiết thực Để thực hiệntốt hơn vai trò của mình trong tình trạng khủng khoảng tài chính hiện nay, cácngân hàng thương mại Việt Nam đã có nhiều chính sách thiết thực nhằm ổn địnhtình Đặc biệt các ngân hàng thương mại Việt Nam cũng đã thực hiện đầy đủ vàngày càng tốt hơn các quy định của pháp luật đặc biệt các quy định của phápluật bảo hiểm tiền gửi nhằm tạo niềm tin cho khách hàng đồng thời tăng uy tíncủa ngân hàng đối với khách hàng Mặt khác trong bối cảnh Việt Nam gia nhậpWTO, và trước tình trạng khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới thì sự cạnhtranh của các ngân hàng thương mại ngày càng quyết liệt Đây là bài toán khóđặt ra đối với các ngân hàng nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng Dovậy việc áp dụng các chính sách của pháp luật vào hoạt động ngân hàng đượcchú trọng , nhất là việc áp dụng pháp luật bảo hiểm tiền gửi của các ngân hàngthương mại.Trong phạm vi bài viết này em xin trình bày về một vài thực trạng
áp dụng pháp luật bảo hiểm tiền gửi của các ngân hàng thương mại Việt Namtrong bối cảnh hiện nay
Trang 2an toàn cho hoạt động ngân hàng và hệ thống ngân hàng Thực tế ở các nướccho thấy ,khi có bảo hiểm tiền gửi ra đời hoạt động có hiệu quả, thì số lượng cácngân hàng tuyên bố phá sản giảm đi rõ rệt Bởi vì nhờ có bảo hiểm tiền gửi đãngăn chặn sự đổ vỡ mang tính dây chuyền trong ngân hàng thương mại , gópphần duy trì sự phát triển ổn định ,an toàn cho các tổ chức tín dụng Nhờ có bảohiểm tiền gửi mà quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền được đảm bảo,các ngân hàng đã tạo ra được niềm tin cho người gửi tiền, góp phần phát triểnkinh tế của đất nước, nhất là
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam ra đời từ cuối năm 1999 và chính thức đi vàohoạt động từ 7/10/2000 Kể từ khi ra đời và đi vào hoạt động cho đến nay, thờigian tuy chưa nhiều đối với một tổ chức,nhưng bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã
có nhiều cố gắng để đạt được những kết quả khả quan Cho đến nay tổ chức Bảohiểm tiền gửi đã mở rộng mạng lưới hoạt động tới các khu vực trong phạm vi cảnước, đó là đã thành lập được sáu chi nhánh bảo hiểm tiền gửi khu vực gồm:Chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh khu vực Hà Nội; khu vực Đồng BằngSông Cửu Long (tại Cần Thơ); chi nhánh khu vực Nam Trung Bộ và TâyNguyên (tại Nha Trang); chi nhánh khu vực Đông Bắc Bộ (tại Cần Thơ);và chinhánh khu vực Bắc Trung Bộ ( tại Nghệ An) Đây là những địa bàn kinh tế trọngđiểm của đất nước , đồng thời là nơi tập trung nhiều tổ chức tín dụng và tổ chứcphi tín dụng
Trang 3Trong những năm qua Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã có nhiều hoạt động
và lớn mạnh không ngừng Trong năm 2007, Bảo hiểm tiền gửi đã có nhiều hoạtđộng khá hiệu quả như: cấp và thu hồi chứng nhận bảo hiểm tiền gửi , chi trả tiềngửi được bảo hiểm, giám sát rủi ro (giám sát từ xa, kiểm tra tại chỗ, thanh lý tạichỗ , thanh lý tài sản và thu hồi nợ )…với hơn 1078 tổ chức tham gia bảo hiểm ,trong đó có 76 ngân hàng,1002 tổ chức tài chính phi ngân hàng với số vốn huyđộng là 1.420.627 tỉ đồng là một lượng tiền khá lớn
Vậy Bảo hiểm tiền gửi được hiểu như thế nào?
Theo các quy định hiện hành thì Bảo hiểm tiền gửi là một loaị hình bảohiểm phi thương mại, theo đó tổ chức tín dụng và các tổ chức khác có hoạt độngngân hàng có nhận tiền gửi bằng Đồng Việt Nam của khách hàng là cá nhân , hộgia đình , tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh thì bắt buộc phảitham gia đóng phí bảo hiểm tiền gửi cho tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Namtheo quy định Khi xaỷ ra sự kiện bảo hiểm thì tổ chức bảo hiểm tiền gửi ViệtNam sẽ có trách nhiệm thay tổ chức nhận tiền gửi đó trả các khoản tiền gửi đượcbảo hiểm của các khách hàng gửi tiền ở các tổ chức tham gia bảo hiểm đó
Mục đích của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Bảo hiểm tiền gửi trước hết là vì mục tiêu bảo vệ quyền lợi của người gửitiền Khi ngân hàng nào đó bị phá sản, nếu ngân hàng đó tham gia vào cơ chếbảo hiểm tiền gửi hoặc được Chính Phủ tuyên bố chi trả bảo hiểm tiền gửi thìnhững người gửi tiền tại ngân hàng phá sản đó có cơ hội nhận được một phầnhay toàn bộ số tiền gửi của mình Tuy nhiên điều quan trọng hơn là bảo đảmcho tâm lý của người gửi tiền không bị hoang mang, mất niềm tin và người ta sẽnghĩ đến việc phải vội vã rút tiền gửi từ các ngân hàng khác, điều đó tránh được
sự đổ vỡ mang tính dây chuyền có thể xảy ra đối với hệ thống ngân hàng , tổchức tín dụng Do đó, bảo hiểm tiền gửi không chỉ dừng lại ở mục tiêu bảo vệ
Trang 4quyền lợi trực tiếp của người gửi tiền ở ngân hàng bị phá sản mà còn là mộttrong các công cụ để đảm bảo an toàn tín dụng, hạn chế rủi ro và tránh được sự
đổ vỡ có tính dây chuyền của hệ thống tín dụng Mục tiêu tổng quát của bảohiểm tiền gửi chính là sự ổn định của cả hệ thống tài chính
Tổ chức bảo hiểm tiền gửi thay mặt chính phủ trực tiếp bảo vệ người gửitiền thông qua các hoạt động nghiệp vụ như kiểm tra, giám sát từ xa, xử lý đổvỡ.Các cơ quan chức năng có trách nhiệm cung cấp thông tin rõ ràng , minh bạch
về hoạt động tài chính ngân hàng đến người gửi tiền trong đó bao gồm nhữngthông tin về sản phẩm dịch vụ , thông tin về việc công khai bảo vệ người gửi tiềncủa Chính Phủ thông qua tổ chức Bảo hiểm tiền gửi ,thông tin về quản trị , điềuhành của tổ chức tín dụng…Việc cung cấp thông tin này không chỉ là tráchnhiệm của một cơ quan riêng lẻ mà tất cả những cơ quan liên quan như tổ chứctín dụng, tổ chức bảo hiểm tiền gửi , cơ quan giám sát…
Ở Việt Nam vấn đề bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền được Chính Phủquan tâm đặc biệt Chính Phủ đã công khai bảo vệ người gửi tiền thông qua chủtrương phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi Bảo vệ người gửi tiền cũng chính
là bảo vệ người tiêu dùng – vấn đề đang được dư luận quan tâm Người gửi tiềnđược bảo vệ dưới những góc độ khác nhau như thông qua việc Chính Phủ bảođảm sự phát triển an toàn lành mạnh của hệ thống tài chính ngân hàng bằng các
cơ quan giám sát, thực hiện chi trả bảo hiểm tiền gửi cho người gửi tiền,cung cấpthông tin tín dụng đến người tiêu dùng Tóm lại vai trò của bảo hiểm tiền gửiViệt nam rất quan trọng nhất là trong giai đoạn khủng hoảng như hiện nay
Các quy định của pháp luật bảo hiểm tiền gửi
Theo quy định của Nghị định số 89/1999/NĐ- CP ngày 1/9/1999 và Nghịđịnh số 109/2005/NĐ – CP ngày 14/08/2005 sửa đổi bổ sung một số điều của
Trang 5Nghị định 89 thì đối tượng được bảo hiểm tiền gửi là tiền gửi bằng Đồng ViệtNam của người gửi tiền là cá nhân, hộ gia đình,tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân
và công ty hợp danh gửi tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi Khi tổ chức này
bị phá sản thì Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam có trách nhiệm chi trả bảo hiểm tiềngửi cho người gửi tiền.Như vậy đối tượng của bảo hiểm tiền gửi chỉ có thể làđồng Việt Nam, các loại tiền gửi không phải đồng Việt Nam và các loại tiềnđược gửi ở các ngân hàng, các tổ chức tín dụng nhưng không được coi là tiền gửithì không thuộc đối tượng được bảo hiểm.Cũng theo quy định này thì các trườnghợp sau đây không phải là đối tượng của bảo hiểm tiền gửi: Thứ nhất, tiền gửicủa người gửi tiền là cổ đông sở hữu trên 10% vốn điều lệ hoặc nắm giữ trên10% vốn cổ phần có quyền bỏ phiếu của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửiđó;Thứ hai tiền gửi của người gửi tiền là thành viên hội đồng quản trị , Ban kiểmsoát, Tổng giám đốc (Giám đốc),Phó tổng giám đốc( phó giám đốc) của tổ chứctham gia bảo hiểm tiền gửi đó; Thứ ba là tiền gửi dùng để bảo đảm thực hiệnnghĩa vụ của người gửi tiền;Thứ tư là tiền mua các giấy tờ có giá , trừ một sốgiấy tờ có giá theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Về phí bảo hiểm tiền gửi được quy định cụ thể trong luật bảo hiểm tiền gửi.
Trước hết phí bảo hiểm tiền gửi là khoàn tiền mà tổ chức tham gia bảohiểm tiền gửi có nghĩa vụ nộp cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi để được bảo hiểmcho tiền gửi của khách hàng Phí bảo hiểm tiền gửi được hạch toán vào chi phíhoạt động của tổ chức của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phải nộp phí bảo hiểm tiền gửi theomức 0,15% tính trên số dư tiền gửi bình quân của các loại tiền gửi được bảohiểm tại các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.Phí bảo hiểm tiền gửi được tính
và nộp bốn lần trong năm tài chính theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Nếucác tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi vi phạm thời hạn nộp phí bảo hiểm theo
Trang 6quy định thì ngoaì việc nộp đủ số phí còn thiếu , phải chịu phạt mỗi ngày nộpchậm bằng 0,1% (một phần nghìn) số tiền chậm nộp.
2 Thực trạng áp dụng pháp luật bảo hiểm tiền gửi của các ngân hàngthương mại Việt Nam
a) Tình hình hoạt động của các ngân hàng thương mại trong bối cảnh hiện nay
Trong những tháng đầu năm 2008, hoạt động tiền tệ tín dụng ở các ngânhàng thương mại diễn ra hết sức sôi động Các ngân hàng thương mại đã mởrộng mạng lưới hoạt động của mình và các điểm giao dịch cuả một số chi nhánhngân hàng trong trong cả nước , lãi suất trên thị trường cũng có nhiều biến độnglớn Đặc biệt từ sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO,môi trương kinh doanh của các ngân hàng Việt Nam có nhiều thay đổi lớn Sựthay đổi đó tạo ra nhiều cơ hội cũng như thách thức mới cho các ngân hàngthương mại Vit Nam Đây là một dịp tốt để các ngân hàng cạnh tranh với nhữngngân hàng mạnh về tài chính, hiện đaị về công nghệ , phát triển theo hướngchuẩn hóa và quốc tế hóa các sản phẩm dịch vụ Hơn nữa các ngân hàng thươngmại Việt Nam có cơ hội không chỉ mở rộng thị trường trong nước mà cả thịtrường nước ngoài Tuy nhiên thách thức đặt ra đối với các ngân hàng cũngkhông nhỏ về năng lực tài chính, năng lực pháp lý,nguồn nhân lực , công nghệ,dịch vụ…
Đứng trước tình hình đó , giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam diễn
ra tình trạng “ chạy đua lãi suất” Chưa bao giờ lãi suất huy động của các ngânhàng thương mại lại cao như bây giờ Hiện nay mức lãi suất phổ biến cho kì hạn
3 tháng là 8,52%/ năm, 6 tháng là 8,78%/năm, 12 tháng là 9,18%/ năm Lãi suấthuy động cao đồng nghĩa với lãi suất cho vay cũng cao Điều này ảnh hưởng lớnđến các doanh nghiệp vay vốn , làm tăng chi phí sản xuât, tác động vào làm giá
Trang 7cả tăng cao Bên cạnh đó các ngân hàng cũng buộc phải đa dạng hóa sản phẩm,cung ứng công nghệ hiện đại.
b) Thực trạng áp dụng pháp luật bảo hiểm tiền gửi của Ngân hàng thương mại
Tình hình kinh tế trong nước và chính sách của pháp luật BHTG
Đứng trước tình trạng nền kinh tế có nhiều biến động lớn như hiện nay ,các ngân hàng thương mại Việt Nam đã cố gắng để thực hiện tốt hơn các quyđịnh của pháp luật trong hoạt động ngân hàng Số lượng các ngân tham gia tănghơn nhiều so với các năm Quy mô và mạng lưới hoạt động của các ngân hàngthương mại được mở rộng hơn so với trước đây
Trong bối cảnh các ngân hàng đang tìm mọi cách để thu hút khách hàng
về phía mình bằng việc cố gắng mang lại lợi ích cao nhất cho người gửi tiền thìviệc tạo tâm lý an tâm về sự an toàn tiền gửi là một vấn đề quan trọng và gópphần thúc đẩy quá trình huy động vốn Vì lẽ đó mà việc tuân thủ nghiêm ngặtcác quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi được các ngân hàng thương đềcao nhằm mục đích bảo vệ tốt nhất quyền lợi của người gửi tiền với phươngchâm “lấy khách hàng làm tâm điểm”, các ngân hàng thương maị đã có sự liênkết chặt chẽ với các tổ chức bảo hiểm tiền gửi để thực hiện tốt hơn các quy địnhcủa pháp luật bảo hiểm tiền gửi
Trong những tháng gần đây , người ta liên tục chứng kiến những vụ đổ
vỡ ngân hàng diễn ra ở Mỹ và một số nước Châu Âu Đây được đánh giá là cuộckhủng hoảng tồi tệ nhất trong 80 năm qua đối với một nền kinh tế lớn nhất thếgiới này Như một hiệu ứng toàn cầu , nó đã vượt qua biên giới nước Mỹ và lâylan sang nhiều nước Châu Á, Châu Âu Tình hình sẽ càng trở nên tồi tệ nếu nhưngười gửi tiền ở các ngân hàng ồ ạt đến rút tiền do tâm lý hoảng loạn Và hơnlúc nào hết , người ta thấy vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong việc chungtay góp sức với Chính phủ , Ngân hàng trung ương trong việc xử lý khủng hoảng
Trang 8tài chính Các công ty bảo hiểm tiền gửi trên thế giới đã thực hiện nhiều biệnpháp tích cực như : tiếp nhận xử lý các tổ chức tài chính có vấn đề, nâng cao hạnmức chi trả bảo hiểm tiền gửi, tuyên truyền về chính sách bảo hiểm tiền gửi hoặccông bố chính thức về tình hình tài chính ổn định của quốc gia để trấn an côngchúng.
Đối với Việt Nam mặc dù bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chínhtoàn cầu song Chính phủ cũng đã chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước và các Bộ, ngànhliên quan tăng cường giám sát sự an toàn của các ngân hàng trong nước , đồngthời rà soát sự an toàn của ngân hàng nước ngoài mà các ngân hàng Việt Nam cóquan hệ để đảm bảo an toàn tiền gửi từ đó công bố đến người dân được biết để
họ yên tâm vào sự an toàn của thị trường tài chính Việt Nam
Về phần mình qua 9 năm hoạt động, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã cónhững đóng góp tích cực đối với hệ thống tài chính ngân hàng 9 năm qua việctriển khai thực hiện có kết quả các hoạt động nghiệp vụ như cấp chứng nhận bảohiểm tiền, giám sát hoạt động của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi , chi trảtiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền , hỗ trợ tài chính cho một số tổ chứctín dụng…,Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã không ngừng đẩy mạnh công táctuyên truyền các chính sách của Nhà nước về bảo hiểm tiền gửi để từng bướcđưa chính sách bảo hiểm tiền gửi vào cuộc sống, góp phần củng cố niềm tin côngchúng vào hệ thống tài chính ngân hàng, thúc đẩy tăng trưởng nguồn vốn huyđộng trong dân, khai thác nội lực cho sự phát triển của đất nước
Tuy nhiên khó khăn lớn nhất đối với hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở nước
ta hiện nay chính là thiếu khuôn khổ pháp lý , chưa có luật bảo hiểm tiền gửi.Các văn bản dưới luật hiện chưa đồng bộ , chưa đầy đủ đã giảm năng lực hoạtđộng của bảo hiểm và khả năng đóng góp của tổ chức này trong việc giám sát và
ổn định hệ thống tài chính quốc gia
Trang 9Tính đến cuối năm 2004 Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã cấp giấy chứngnhận bảo hiểm tiền gửi cho 1068 tổ chức tín dụng và tổ chức không phải tổ chúckhông phải tổ chức tín dụng được phép thực hiện một hoạt động ngân hàng theoquy định của luật các tổ chức tín dụng, hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, có huyđộng tiền gửi của các cá nhân bằng đồng Việt Nam Bảo hiểm tiền gửi Việt Namkhông bảo hiển cho các loại tiền gửi bằng ngoại tệ để góp phần thực hiện cơ chếquản lý ngoại hối của Nhà nước.
Tuy nhiên trong quá trình hoạt động một số tổ chức tham gia bảo hiểmtiền gửi mất khả năng thanh toán và bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra vănbản chấm dứt hoạt động, bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã chấm dứt bảo hiểm vàthu hồi giấy chứng nhận bảo hiểm của 97 tổ chức tín dụng
Như vậy trong năm 2005, số lượng các tổ là 191 đơn vị , trong đó có 5Ngân hàng thương mại nhà nước, 34 Ngân hàng thương mại cổ phần , 25 Ngânhàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh, 4 công ty tài chính và 903 quỹ tíndụng nhân dân Ngoài ra vấn đề thu bảo hiểm tiền gửi đối với các tổ chức thamgia bảo hiểm tiền gửi cũng đã được thục hiện tốt Bảo hiểm tiền gửi thườn xuyêntheo dõi, hướng dẫn , đôn đốc các đơn vị tính và nộp phí , đảm bảo nguyên tắcthu đúng thu đủ kịp thời theo quy định cuả Nhà nước Số phí bảo hiểm tiền gửiViệt Nam thu được từ các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi tăng 5 năm sau sovới 5 năm trước ở mức 20 – 25% Đây là nguồn tài chính quan trọng để bảohiểm tiền gửi Việt Nam tăng cường năng lực xử lý các rủi ra có thể xảy ra từphía các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi , hạn chế tới mức thấp nhất việc baocấp từ ngân sách nhà nước
Theo quy định của pháp luật bảo hiểm tiền gửi thì các đơn vị tham giabảo hiểm tiền gửi đã chấp hành nghiêm chỉnh, nhất là vấn đề nộp phí bảo hiểmtiền gửi.Các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi nhất là các ngân hàng thươngmại đã nộp đầy đủ và đúng thời gian mà pháp luật bảo hiểm tiền gửi quy định
Trang 10Các ngân hàng thương mại Việt Nam thực hiện các quy định của pháp luật
Về đóng phí bảo hiểm tiền gửi:
Hầu hết các Ngân hàng thương mại Việt Nam đều nộp đúng, đủ mức phítheo quy định của pháp luật bảo hiểm tiền gửi Nhìn chung các ngân hàngthương mại trên địa bàn Hà Nội, khu vực Bắc trung bộ , khu vực Nam trung bộ
và Tây nguyên đã nộp đủ và đúng thời hạn mức phí mà luật bảo hiểm tiền gửiquy định Một số ngân hàng thương mại đã nộp thừa phí như ba ngân hàngthương mại ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có cơ sở tại các tỉnh KiênGiang, Sóc Trăng , An Giang, Đồng Tháp nộp phí thừa với tổng số tiền là78.290.000 đồng Nguyên nhân nộp thừa là không loại trừ số dư tiền gửi khôngđược bảo hiểm khi lấy số dư để tính phí…Những trường hợp này đã được baỏhiểm tiền gửi Việt Nam nhắc nhở
Tuy nhiên trong việc nộp phí theo quy định pháp luật bảo hiểm tiền gửi
có nhiều điều cần phải quan tâm
Trong thời gian gần đây, hệ thống ngân hàng thương mại phát triểnnhanh, mạnh cả về quy mô hoạt động và tốc độ tăng trưởng Hầu hết các đơn vịđầu tư hệ thống công nghệ thông tin hiện đại trong các hoạt động kinh doanh đãmang lại hiệu quả, nâng cao uy tín, hình ảnh đơn vị , đáp ứng yêu cầu phát triểnhội nhập
Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển ngoạn mục đó, còn những bất cập, xuấtphát từ nguyên nhân chủ quan, khách quan mà nhiều ngân hàng thương mại chưathực sự quan tâm khắc phục Một trong những vấn đề đó là việc thực hiện quyđịnh của Nhà nước về tính và nộp phí bảo hiểm tiền gửi (BHTG)
Sai sót thường gặp trong cách tính phí
Theo quy định, các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi- trong đó có các ngân
Trang 11hàng thương mại- có nghĩa vụ nộp phí BHTG bốn kỳ trong năm, định kỳ hàngquý với mức phí 0,15%/năm tính trên toàn bộ số dư bình quân được bảo hiểm Căn cứ đối tượng tiền gửi được bảo hiểm theo quy định của Chính phủ vàhướng dẫn tính, nộp phí BHTG của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (DIV),các Ngânhàng thương mại , các tổ chức hạch toán kế toán và ứng dụng phần mềm tùythuộc điều kiện của mỗi đơn vị để tính phí một cách nhanh chóng, đơn giản Thế nhưng, việc triển khai thực hiện tính và nộp phí BHTG tại một sốNgân hàng thương mại thời gian qua chưa được quan tâm đúng mức, thậm chíđược xem như là công việc hoàn thiện sau, mặc dù đã qua 8 năm thực hiện.Trong đó, nhiều Ngân hàng thương mại từng được các đoàn kiểm tra của DIVkiến nghị khắc phục chỉnh sửa tại đợt kiểm tra trước đây, nhưng việc nộp thừa,thiếu phí vẫn tiếp tục xảy ra
Qua đợt kiểm tra mới đây đối với các Ngân hàng thương mại có trụ sởchính tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy, 2/3 số đơn vị tính và nộpthừa phí, có đơn vị số phí nộp thừa lên tới trên tỉ đồng Nguyên nhân chủ yếu là
do các đơn vị chưa xác định đúng đối tượng tiền gửi được bảo hiểm và khôngloại trừ đối tượng không được bảo hiểm
Điều này xuất phát từ việc, ngay từ đầu các đơn vị chưa thực sự quan tâmviệc tổ chức hạch toán kế toán tiền gửi tiết kiệm của khách hàng là cá nhân, tiềngửi của tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế một cách thống nhất, đúng quy định củaNgân hàng Nhà nước tại Quyết định 479/2004QĐ-NHNN và Quy chế tiền gửitiết kiệm tại Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN Đồng thời, chưa chú trọng việc tổ chức hạch toán nhóm tiền gửi thuộc đốitượng tiền gửi được bảo hiểm Từ đó dẫn đến việc tính phí cho cả số dư tiền gửicủa tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế, tiền gửi bằng ngoại tệ là những đối tượngkhông được bảo hiểm, làm tăng chi phí không đáng có cho đơn vị, giảm đáng kểnguồn vốn trong thời gian dài mà không được phát hiện
Trang 12Một thách thức khác mà các Ngân hàng thương mại đang phải tìm cáchvượt qua, đó là trong điều kiện gia tăng một số lượng đáng kể các chi nhánh,điểm giao dịch mở ra, thì việc tìm kiếm, bố trí nguồn nhân lực lành nghề, phùhợp và ứng dụng kịp thời phần mềm cho hoạt động nói chung và cho công tácthống kê, báo cáo cũng như tính phí là việc làm khó khăn Xung quanh việc tính và nộp phí BHTG, đã nhiều năm nay các tổ chứctham gia BHTG có ý kiến với cơ quan chức năng sớm hoàn thiện, đưa cơ chếchính sách của Nhà nước trong lĩnh vực hoạt động này đi vào cuộc sống, phù
Hầu hết các đơn vị muốn sự minh bạch, công bằng trong chính sách BHTG,rằng họ phải nhận được lợi ích từ phía tổ chức bảo hiểm tiền gửi, tương xứng vớinghĩa vụ đóng góp phí BHTG, như được cảnh báo sớm rủi ro, được hỗ trợ tài
Những đơn vị hoạt động lành mạnh không thể đánh đồng cùng với đơn vịyếu kém, với mức phí BHTG đồng hạng là 0,15%/năm như hiện nay Hầu nhưcác tổ chức tham gia BHTG đều thống nhất thu phí BHTG theo mức độ rủi ro và
có những tiêu chí đánh giá, xếp hạng phù hợp, chính xác Những tồn tại, bất cập trong việc thực hiện chính sách pháp luật về BHTG,những yêu cầu tất yếu khách quan xuất phát từ thực tế hoạt động BHTG, đòi hỏicấp thiết phải có cơ sở pháp lý cao nhất là Luật Bảo hiểm tiền gửi, đồng bộ, nhất
Trên cơ sở pháp lý của luật, mọi hành vi hoạt động của tổ chức, cá nhân liênquan đến hoạt động BHTG được điều chỉnh kịp thời, nâng cao trách nhiệm, bảo
vệ quyền lợi hợp pháp của mỗi chủ thể tham gia, đặc biệt bảo vệ tốt hơn quyền
Hiện nay, Luật về Bảo hiểm tiền gửi đã được đưa vào chương trình xâydựng của Quốc hội cuối năm 2008 Khi dự luật này được phê chuẩn và ban hành,