Kế thừa nội dung quy định của Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993, Luật phá sản năm 2004 vẫn tiếp tục dành cho các chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và người lao động đư
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Bước vào con đường kinh doanh, không một nhà kinh doanh nào muốn doanh nghiệp cũng như sản nghiệp của mình bị “lụn bại” Nhưng mọi điều đều có thể xảy ra, không vượt ra ngoài quy luật tự nhiên “có sinh ắt có có tử”, có thủ tục khai sinh cho doanh nghiệp cũng có thủ tục khai tử cho doanh nghiệp Trong tiếng Việt phổ thông,
“vỡ nợ”, “khánh tận”, “mất khả năng thanh toán” hay “phá sản” được dùng để chỉ tình trạng không trả được nợ khi đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu Quan điểm này đã được kế thừa, phát triển trong đạo luật đầu tiên của Việt Nam về phá sản doanh nghiệp là Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 Tuy nhiên, không như những gì mà Nhà nước và các doanh nghiệp mong đợi, Luật phá sản doanh nghiệp đã sớm bộc lộ những hạn chế, bất cập nảy sinh, vô tình cản trở việc “khai tử” cho các doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản, đi ngược lại mục tiêu nhanh chóng lành mạnh hóa môi trường kinh doanh của Nhà nước Một số học giả đã cho rằng, đây là một trong những đạo luật tốn tiền biên soạn mà ít được dùng nhất trong những đạo luật mà Nhà nước ta đã ban hành Từ khi đạo luật này được ban hành, tổng số đơn nại đến tòa án yêu cầu phá sản doanh nghiệp trên toàn quốc chỉ đếm trên đầu ngón tay, số đơn được các tòa thụ lý và phán quyết lại càng ít hơn Theo một số liệu thống kê không chính thức của báo điện tử Vnexpress tháng 11 năm 2001, tại TP.HCM, tổng số đơn yêu cầu phá sản doanh nghiệp trong giai đoạn 1993-2001 là 11, trong đó có 3 doanh nghiệp được tuyên bố phá sản Trước thực trạng đó, ngày 15/06/2004, Luật phá sản
đã được Quốc hội ban hành nhằm khắc phục những hạn chế, khiếm khuyết của Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993, ghi nhận thêm những cơ chế, chính sách mới nhằm giúp cho việc giải quyết phá sản ở nước ta được tiến hành nhanh chóng và thuận lợi hơn Một số vấn đề liên quan đến Luật phá sản năm 2004 cũng chính là vấn đề sẽ được giải quyết trong phần chính dưới đây của bài luận này
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Đối tượng áp dụng Luật phá sản năm 2004
Trang 2Điều 2 Luật phá sản năm 2004 về đối tượng áp dụng có quy định: “1 Luật này áp
dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã gọi chung là hợp tác xã) được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật 2 Chính phủ quy định cụ thể danh mục và việc áp dụng Luật này đối với doanh nghiệp đặc biệt trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh; doanh nghiệp, hợp tác
xã hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và trong các lĩnh vực khác thường xuyên, trực tiếp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu”.
được quy định cụ thể tại Nghị quyết số 03/2005/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán
TANDTC tại Điều 1 mục I: “Luật phá sản được áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp
tác xã, liên hiệp hợp tác xã (hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã gọi chung là hợp tác xã) được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam; cụ thể là: a Công ty nhà nước; b Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; c Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên ;d Công ty cổ phần; đ Công ty hợp danh; e Doanh nghiệp tư nhân; g Doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính
trị-xã hội; h Hợp tác trị-xã; i Liên hiệp hợp tác trị-xã; k Doanh nghiệp liên doanh; l Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài; m Các loại hình doanh nghiệp, hợp tác xã khác theo quy định của pháp luật Việt Nam”.
Khoản 2 Điều 2 Luật phá sản được hướng dẫn chi tiết ở các văn bản quy phạm pháp luật khác, cụ thể là:
67/2006/NĐ-CP của Chính phủ: “Doanh nghiệp đặc biệt trực tiếp phục vụ quốc
phòng, an ninh áp dụng quy định của Nghị định này là những doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chí sau đây: 1 Được thành lập để trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ mang tính ổn định, thường xuyên trong những lĩnh vực, địa bàn trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và bảo đảm bí mật quốc gia 2 Do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều
lệ 3 Được Nhà nước đặt hàng hoặc giao kế hoạch ổn định, thường xuyên sản xuất
Trang 3cung ứng một hoặc một số sản phẩm, dịch vụ công ích, thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh quy định tại Danh mục A Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 31/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 03 năm 2005 của Chính phủ về sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích 4 Có vị trí quan trọng và việc phá sản đối với doanh nghiệp đó có ảnh hưởng trực tiếp đến quốc phòng, an ninh, trật tự xã hội”.
ích thiết yếu được quy định cụ thể tại Điều 4 Nghị định số 67/2006: “Các doanh
nghiệp, hợp tác xã thuộc danh mục thường xuyên, trực tiếp cung ứng sản phẩm, dịch
vụ công ích thiết yếu được áp dụng quy định của Nghị định này phải đáp ứng các tiêu chí sau đây: 1 Trực tiếp cung ứng sản phẩm, dịch vụ thiết yếu đối với đời sống kinh
tế - xã hội của đất nước, cộng đồng dân cư của một khu vực lãnh thổ Trường hợp cung ứng sản phẩm dịch vụ thiết yếu đối với cộng đồng dân cư của một khu vực lãnh thổ thì phải đáp ứng thêm điều kiện không có doanh nghiệp, hợp tác xã khác cung ứng sản phẩm, dịch vụ đó tại địa bàn 2 Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt hàng, giao kế hoạch theo giá hoặc phí do nhà nước quy định”.
được quy định tại Điều 2 Nghị định số 114/2008/NĐ-CP của Chính phủ: “1 Đối với
lĩnh vực bảo hiểm: là các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm được thành lập và hoạt động tại Việt Nam theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp bảo hiểm), ngoại trừ các công ty môi giới bảo hiểm 2 Đối với lĩnh vực chứng khoán: là các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán được thành lập và hoạt động tại Việt Nam theo quy định của Luật Chứng khoán (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp chứng khoán) 3 Đối với lĩnh vực tài chính khác: là các công ty Xổ số kiến thiết hoạt động kinh doanh xổ số theo quy định của Nghị định số 30/2007/NĐ-CP ngày 01 tháng 3 năm 2007 của Chính phủ về kinh doanh xổ số” và Điều 1 Nghị định số 05/2010/NĐ-CP của Chính
phủ: “1 Nghị định này quy định việc áp dụng Luật Phá sản đối với tổ chức tín dụng
về điều kiện và việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; xác định nghĩa vụ về tài sản
Trang 4và các biện pháp bảo toàn tài sản trong thủ tục phá sản; điều kiện, thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh, thủ tục thanh lý tài sản và tuyên bố phá sản; quyền, nghĩa vụ
và trách nhiệm của người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, của tổ chức tín dụng
bị yêu cầu tuyên bố phá sản và của người tham gia giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản 2 Nghị định này áp dụng đối với các tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng”.
II. Chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là thủ tục đầu tiên trong trình tự giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp (DN), hợp tác xã (HTX) Cũng như pháp luật phá sản của các nước khác trên thế giới, Luật phá sản của Việt Nam quan tâm trước hết đến quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của các chủ nợ, của người lao động và của DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản Kế thừa nội dung quy định của Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993, Luật phá sản năm 2004 vẫn tiếp tục dành cho các chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và người lao động được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản còn chủ DN hoặc đại người đại diện hợp pháp của DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản Ngoài ra, Luật phá sản năm 2004 còn bổ sung quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ sở hữu DN nhà nước, các cổ đông công ty cổ phần và thành viên hợp danh của công ty hợp danh
1. Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của các chủ nợ
Luật phá sản của các nước đều coi chủ nợ là chủ thể số một có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với con nợ Tuy nhiên, có sự khác nhau trong việc quy định phạm vi các chủ nợ có quyền nộp đơn: Trung Quốc, Hungary cho phép cả chủ
nợ có bảo đảm có quyền nộp đơn; một số nước như Malaysia lại quy định chỉ có chủ
nợ không có bảo đảm mới có quyền này hoặc cả chủ nợ có bảo đảm nhưng kèm theo những điều kiện nhất định như phải từ bỏ quyền được bảo đảm…
Trang 5Ở Việt Nam, Luật phá sản năm 2004 chia chủ nợ thành 3 loại: chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần Luật phá sản năm 2004 đã
kế thừa quy định của Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 về quyền nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản của các chủ nợ, theo đó Điều 13 quy định chỉ dành quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho các chủ nợ không có bảo đảm (khoản nợ không được bảo đảm bằng một phần tài sản của DN) và chủ nợ có bảo đảm một phần (khoản nợ được đảm bảo bằng tài sản của DN), mà không cho phép chủ nợ có bảo đảm (khoản
nợ được bảo đảm bằng tài sản của DN) nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Thực chất của thủ tục phá sản là giải quyết mối quan hệ tài sản giữa chủ nợ và con
nợ nên chỉ những người có quyền và nghĩa vụ liên quan trực tiếp mới có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với DN Chính vì vậy, chủ nợ là người đầu tiên
có quyền này Theo đó, chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với DN, HTX khi nhận thấy DN, HTX
đó lâm vào tình trạng phá sản Quy định này là tạo điều kiện cho các chủ nợ không có
sự bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần có cơ hội lựa chọn một thủ tục thích hợp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản Còn đối với các chủ nợ có bảo đảm thì không thuộc diện được pháp luật cho phép thực hiện quyền này, do lợi ích của họ đã được bảo đảm bằng tài sản thế chấp, cầm cố của DN, HTX hay người thứ ba Cho nên khi DN, HTX tiến hành thủ tục phá sản (thanh lý tài sản) những chủ nợ này được ưu tiên thanh toán bằng tài sản bảo đảm
đó Vì vậy, việc quy định quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của họ là không cần thiết
Ngoài ra, Luật phá sản năm 2004 khi quy định về quyền nộp đơn của các chủ nợ
đã đơn giản hóa các điều kiện mà họ phải đáp ứng khi nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 quy định các chủ nợ phải cung cấp cho tòa án các giấy tờ tài liệu để chứng minh rằng DN đã mất khả năng thanh toán nợ đến hạn, điều này gây khó khăn cho các chủ nợ vì họ không thể có khả năng tập hợp đủ chứng cứ để chứng minh DN đó đã lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ
Trang 6đến hạn Điều 13 Luật phá sản năm 2004 chỉ quy định: “Khi nhận thấy doanh nghiệp,
hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản” Nội dung đơn yêu cầu được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 13 Tuy
vậy để tránh tình trạng nộp đơn do không khách quan gây ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, hoạt động kinh doanh của DN hoặc có sự gian dối trong việc yêu cầu mở thủ tục phá sản thì người nộp đơn yêu cầu tùy mức độ sẽ bị xử lí kỉ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật Quy định này nhằm mục đích đề cao trách nhiệm khi người nộp đơn được mở rộng khả năng và điều kiện nộp đơn yêu cầu theo Luật phá sản năm 2004
2. Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của người lao động
Đối với DN mắc nợ, người lao động là chủ nợ đặc biệt không có bảo đảm, hàng hóa duy nhất đem trao đổi là sức lao động và tiền lương là nguồn sống chính của bản thân và gia đình họ Khi DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản họ chính là những người bị thiệt hại nhiều nhất Chính vì thế mà Luật phá sản cho phép họ có quyền tự bảo vệ mình khi quyền, lợi ích bị xâm hại
Luật phá sản năm 2004 quy định điều kiện dễ dàng hơn để người lao động nộp yêu cầu mở thủ tục phá sản Điều 8 Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 quy định người lao động được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi không được DN trả lương trong ba tháng liên tiếp Khác với các chủ nợ khác người lao động không phải nộp tiền tạm ứng lệ phí Luật phá sản năm 2004 tiến bộ hơn khi quy định tại Điều 14: Người lao động được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với DN, HTX
khi họ không trả được lương cũng như các khoản nợ khác và họ nhận thấy DN, HTX
đã thực sự lâm vào tình trạng phá sản Quy định này mang tính định tính nhằm phù hợp với tình trạng lao động ở các loại hình DN, HTX với quy mô lớn, nhỏ khác nhau Tuy nhiên để tránh sự tùy tiện trong việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, người lao động phải cử đại diện (nơi chưa có tổ chức công đoàn) hoặc thông qua đại diện công đoàn nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản với DN, HTX đó Việc cử đại diện cho người lao động phải phải được quá nửa số người lao động trong DN, HTX
Trang 7tán thành bằng bỏ phiếu kín hoặc lấy chữ kí, trường hợp DN, HTX có quy mô lớn, có nhiều đơn vị trực thuộc thì đại diện cho người lao động được cử hợp pháp phải được quá nửa số người được cử đại diện từ các đơn vị trực thuộc tán thành
Khi nộp đơn yêu cầu tòa án tuyên bố phá sản DN, cần phải có nghị quyết của công đoàn hoặc biên bản cuộc họp của tập thể người lao động (ở các DN chưa có tổ chức công đoàn) về việc yêu cầu tòa án tuyên bố phá sản DN Kèm theo đơn kiện đại diện công đoàn hoặc người lao động phải nộp các giấy tờ chứng minh cho yêu cầu của mình như hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể; bảng chấm công, bản nghiệm thu sản phẩm…Sau khi đại diện cho người lao động nộp đơn họ được coi là chủ nợ và không phải nộp tiền tạm ứng án phí
3. Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ sở hữu DN nhà nước, các cổ đông công ty cổ phần, công ty hợp danh
Quy định này là điểm mới của Luật phá sản năm 2004 so với Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 Điều này xuất phát từ thực tiễn áp dụng Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 cho thấy không ít DN đã lâm vào tình trạng phá sản nhưng các chủ nợ và đại diện công đoàn hay đại diện người lao động (nơi chưa có tổ chức công đoàn) không nộp đơn yêu cầu và bản thân DN mắc nợ không đưa đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, nên Tòa án không có cơ sở tiến hành thủ tục phá sản đối với những DN đó
Hệ quả là nhiều DN mất khả năng thanh toán nợ, tình trạng tài chính kiệt quệ, đã ngừng hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động cầm chừng, thoi thóp nhưng không có con đường kết thúc DN về mặt pháp lí
a Đại diện chủ sở hữu DN nhà nước có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với DN nhà nước khi thấy DN nhà nước đó lâm vào tình trạng phá sản mà DN không thực hiện nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (Điều 16) Theo đó, khi nhận thấy DN nhà nước lâm vào tình trạng phá sản, đại diện chủ sở hữu có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Nhưng theo quy định của Luật phá sản thì đây là
Trang 8loại quyền có điều kiện, vì chủ sở hữu DN nhà nước chỉ được thực hiện quyền này khi có 2 điều kiện cần và đủ:
- Khi nhận thấy DN nhà nước lâm vào tình trạng phá sản
- DN đó không thực hiện nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trong thời hạn 3 tháng, kể từ khi nhận thấy DN lâm vào tình trạng phá sản
b Cổ đông của công ty cổ phần có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi nhận thấy công ty cổ phần lâm vào tình trạng phá sản theo Điều lệ công ty hoặc Nghị
quyết của Đại hội cổ đông (Điều 17) Quy định này nhằm bảo vệ lợi ích của các cổ
động trong công ty cổ phần đặc biệt là nhóm cổ đông thiểu số Tuy nhiên để tránh việc nộp đơn tùy tiện của các cổ đông, pháp luật quy định không phải bất kỳ cổ đông nào cũng có quyền tự mình nộp đơn mà chỉ những cổ đông, nhóm cổ đông có đủ điều kiện mới được thực hiện quyền đó Trong trường hợp này, cổ đông hoặc nhóm cổ đông có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định của Điều lệ công ty; Nếu điều lệ công ty không quy định thì việc nộp đơn được thực hiện theo Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông phải được thông qua tại cuộc họp khi được số cổ đông đại diện cho ít nhất 51% tổng số cổ phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp nhận Tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định Trong trường hợp Điều lệ công ty không quy định và công ty không thể tiến hành được Đại hội đồng cổ đông thì cổ đông sở hữu trên 20% hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 6 tháng tính đến thời điểm nộp đơn có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
c Thành viên hợp danh khi nhận thấy công ty hợp danh lâm vào tình trạng phá sản có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với công ty hợp danh đó (Điều 18) Luật phá sản năm 2004 quy định chỉ có thành viên hợp danh của công ty hợp danh mới có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với công ty hợp danh khi nhận thấy công ty hợp danh lâm vào tình trạng phá sản, mà không cần có điều kiện là đại diện hợp pháp của công ty hợp danh đã thực hiện nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở
Trang 9thủ tục phá sản hay chưa Các thành viên góp vốn không có quyền này Quy định này
là phù hợp với những quy định của Luật doanh nghiệp về công ty hợp danh
Thực tiễn cho thấy bên cạnh tâm lí e ngại nộp đơn hoặc có trường hợp vì không biết DN đã lâm vào tình trạng phá sản hay DN che dấu để khắc phục tình trạng này,
Điều 20 quy định: “Trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ, nếu nhận thấy doanh
nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thanh tra, cơ quan quản lí vốn, tổ chức kiểm toán hoặc cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp mà không phải là chủ sở hữu nhà nước của doanh nghiệp có nhiệm vụ thông báo bằng văn bản cho những người có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản biết để họ xem xét việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản” Cũng theo đó, các
cơ quan thông báo phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông báo này Việc
bổ sung quy định về trách nhiệm của một số cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc thông báo DN, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản như trên nhằm tạo điều kiện cho việc mở thủ tục phá sản được thực hiện một cách thuận lợi Mặc dù vậy, song theo các quy định của mình thì Luật phá sản doanh nghiệp Việt Nam luôn coi trọng việc áp dụng các biện pháp nhằm cứu vãn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Tòa án chỉ tuyên bố phá sản DN trong các trường hợp bất đắc dĩ nhất Các giải pháp tổ chức lại kinh doanh hoặc xây dựng phương án hòa giải có thể áp dụng trước khi Tòa án ra quyết mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp (Điều 6, Điều 9) hoặc sau khi tòa án ra quyết định mở thủ tục, DN mắc nợ vẫn
có quyền áp dụng các biện pháp cần thiết để hòa giải với các chủ nợ Theo quy định của Điều 20 – thẩm phán phải yêu cầu DN xây dựng phương án giải quyết và các giải pháp tổ chức lại kinh doanh
4. Đối với doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
Theo quy định tại Điều 15 Luật phá sản năm 2004 thì chính bản thân DN, HTX cũng có thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, nhưng ngay trong quy định lại thiên
về nghĩa vụ nhiều hơn là quyền Theo đó, trong trường hợp nhận thấy DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản thì chủ DN hoặc đại diện hợp pháp của DN có nghĩa vụ nộp
Trang 10đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Nghĩa vụ này của con nợ cũng đã được Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 quy định, tuy nhiên Luật không quy định thời gian cụ thể là bao lâu để DN mắc nợ phải nộp đơn và cũng không quy định chế tài mà DN mắc nợ phải gánh chịu nếu không nộp đơn đúng hạn Hạn chế này đã làm cho quy định về nghĩa vụ nộp đơn của DN mắc nợ trở nên không có tính khả thi Khắc phục nhược điểm này, khoản 3 Điều 15 đã quy định thời hạn đó là 03 tháng, kể từ ngày nhận thấy mình đã lâm vào tình trạng phá sản và nếu vi phạm thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật Ngoài ra, khi nộp đơn, chủ DN hoặc đại diện hợp pháp còn phải cung cấp các giấy tờ, tài liệu theo quy định tại khoản 4 Điều 15
III. Các giấy tờ mà chủ nợ, đại diện người lao động, doanh nghiệp mắc nợ phải nộp
kèm theo đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và ý nghĩa của từng loại giấy tờ đó
Theo quy định trong Luật phá sản năm 2004 về thủ tục phá sản có cụ thể các đối tượng được nộp đơn yêu cầu phá sản và bên cạnh đó cũng quy định các giấy tờ tài liệu kèm theo để căn cứ tuyên bố một DN hay một HTX lâm vào tình trạng phá sản Các đối tượng được nộp đơn yêu cầu phá sản là chủ nợ, người lao động, DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản, chủ sở hữu DN nhà nước, các cổ đông công ty cổ phần, thành viên hợp danh trong công ty hợp danh Tuy nhiên trong các đối tượng có quyền nộp đơn yêu cầu thủ tục phá sản thì mỗi đối tượng nộp đơn lại có quy định cụ thể về nội dung đơn và giấy tờ đi kèm khác nhau Trong đó Luật chỉ quy định các loại giấy
tờ đi kèm với đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cụ thể với các đối tượng là DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản, chủ sở hữu DN nhà nước, các cổ đông công ty cổ phần, thành viên hợp danh trong công ty hợp danh còn với chủ nợ và người lao động thì chưa có quy định cụ thể nào về giấy tờ đi kèm mà chỉ là những căn cứ để mở thủ tục phá sản
1. Đối với doanh nghiệp mắc nợ lâm vào tình trạng phá sản
Theo quy định tại Điều 15 Luật phá sản năm 2004 đối tượng nộp đơn yêu cầu phá sản là DN lâm vào tình trạng phá sản thì ngoài đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản còn có các giấy tờ đi kèm theo đó là: