Quy định về thẩm quyền xét xử của các Tòa án trong lĩnh vực hình sự ở mỗi quốc gia là khác nhau, tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: hệ thống pháp luật, cách thức tổ chức của các cơ quan tư
Trang 1MỤC LỤC
A – ĐẶT VẤN ĐỀ ……… ………1
B – NỘI DUNG CHÍNH ……… ………1
I Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ……… 1
II Thực tiễn thi hành thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ……….7
III Những bất cập, vướng mắc trong việc thi hành thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ……….………….10
IV Nguyên nhân của những bất cập, vướng mắc trên ……… 12
V Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự……….13
C – KẾT LUẬN. ……… ……….15
Trang 2A – ĐẶT VẤN ĐỀ.
Như chúng ta đã biết, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn của
tố tụng hình sự trong đó Tòa án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ
án, ra bản án, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật Trên thực tế có nhiều vụ án xảy ra nhưng không phải bất kỳ Tòa án nào đều có thẩm quyền xét
xử tất cả các vụ án đó Vì vậy mà pháp luật phải quy định rất cụ thể về thẩm
quyền xét xử vụ án sơ thẩm nên em xin lựa chọn đề tài“Thẩm quyền xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự” để tìm hiều rõ hơn về vấn đề này.
B – NỘI DUNG CHÍNH.
I Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
1 Khái niệm thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Thẩm quyền xét xử sơ thẩm là quyền mà pháp luật quy định cho phép Tòa
án được xét xử sơ thẩm vụ án hình sự căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đối tượng phạm tội, nơi thực hiện tội phạm hoặc nơi khác theo quy định của pháp luật
2 Phân loại thẩm quyền xét xử.
Quy định về thẩm quyền xét xử của các Tòa án trong lĩnh vực hình sự ở mỗi quốc gia là khác nhau, tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: hệ thống pháp luật, cách thức tổ chức của các cơ quan tư pháp, trình độ năng lực của thẩm phán, điều kiện xét xử,…
Ở Việt Nam, các Tòa án được tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ (trừ Tòa án quân chủng hải quân cảu Tòa án quân sự), thẩm quyền xét xử của Tòa án cũng được quy định hỗn hợp:
- Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm
- Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu vừa có thẩm quyền xét xử sơ thẩm, vừa có thẩm quyền xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm
- Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quân sự trung ương có thẩm quyền xét
xử phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm
Mặc dù pháp luật các nước có quy định khác nhau về thẩm quyền xét xử
sơ thẩm nhưng đều phân loại thẩm quyền xét xử thành 3 loại:
- Thẩm quyền xét xử theo sự việc
- Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ
Trang 3- Thẩm quyền xét xử theo đối tượng.
3 Ý nghĩa của việc phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm hình sự.
- Đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm.
Trong những năm gần đây thì tình hình tội phạm hình sự của nước ta đang theo chiều hướng gia tăng Muốn kiềm chế và làm giảm tội phạm hình sự thì cần phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống chính trị, nhằm nâng cao hiệu quả của chương trình quốc gia phòng chống tội phạm Trong đó chức năng xét
xử của Tòa án đóng một vai trò quan trọng Một vụ án hình sự được xét xử kịp thời và nghiêm minh không chỉ đáp được nguyện vọng của quần chúng nhân dân
mà còn có tác dụng tuyên truyền, giáo dục đối với xã hội, răn đe những đối tượng đang có ý định phạm tội
Việc phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm hính sự một cách rõ rang và hợp lý sẽ hạn chế được các tranh chấp về thẩm quyền, vụ án sẽ được giải quyết kịp thời và chính xác hơn, đáp ứng yêu cầu đấu tranh và phòng chống tội phạm
- Bảo đảm được quyền tự do dân chủ của công dân.
Việc phân định thẩm quyền xét xử hợp lý không chỉ tạo điều kiện cho công dân được hưởng đầy đủ các quyền của mình theo quy định của pháp luật một cách trực tiếp mà còn tạo điều kiện cho họ thực hiện những nghĩa vụ của công dân Công dân có thể được trực tiếp tham gia các phiên tòa, được sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình, được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước pháp luật… mặt khác họ cũng có thể thực hiện tốt các nghĩa vụ khác của công dân như nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của các cơ quan tiến hành
tố tụng, hay khai trung thực những tình tiết mà mình biết về vụ án của người làm chứng Chính việc đảm bảo những quyền tự do dân chủ đó của công dân cũng góp phần quan trọng để làm rõ sự thật của vụ án, giúp các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết các vụ án một cách nhanh chóng, chính xác, bảo đảm pháp chế
xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự
- Bảo đảm tính tiết kiệm và hiệu quả của các hoạt động tố tụng.
Trên thực tế, việc phân định hợp lý thẩm quyền xét xử sơ thẩm sẽ là tiền
đề giải quyết các vụ án hình sự một các chính xác, hiệu quả và tiết kiệm nhất Thứ nhất, là tiết kiệm chi phí cho hoạt động tố tụng Hiện nay, chúng ta đang trong công cuộc cải cách tư pháp với xu hướng tăng thẩm quyền cho các Tòa án cấp huyện, tiến tới việc thành lập các Tòa án sơ thẩm khu vực Với xu hướng đó thì tất cả các loại án hình sự sẽ được xét xử sơ thẩm ở Tòa án cấp huyện hoặc sau này là Tòa sơ thẩm khu vực Như vậy, các hoạt động tố tụng từ điều tra, tuy
Trang 4tố, xét xử đều đơn giản hơn vì được tiến hành trên địa bàn hẹp, chi phí để tổ chức một phiên tòa cũng thấp hơn
Ngoài ra, nó còn có ý nghĩa quan trọng đối với những người tham gia tố tụng Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc hoãn phiên tòa và phải kéo dài thời gian giải quyết các vụ án hình sự chính là sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng Do vậy, việc phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của những người tham gia tố tụng Nếu các vụ án đều được xét xử ở cấp huyện hoặc tại tòa sơ thẩm khu vực thì việc tham gia phiên tòa sẽ trở nên dễ dàng hơn, tiết kiệm chi phí đi lại cũng như lưu trú nếu vụ án phải xét xử nhiều ngày
- Là cơ sở cho việc xác định thẩm quyền xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm.
Tòa án các cấp muốn xét xử đúng thẩm quyền phải căn cứ vào các quy định của pháp luật vê thẩm quyền xét xử Việc phân định thẩm quyền càng rõ, càng khoa học thì việc xác định thẩm quyền của các cấp Tòa án và giữa các Tòa
án cũng cấp sẽ trở nên dễ dàng và thuận lợi, tránh được những tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các Tòa
Mặt khác, xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm cũng là tiền đề cho việc xác định thẩm quyền xét xử phúc thẩm và giám đốc thẩm Xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm đúng thì sẽ xác định thẩm quyền phúc thẩm và giám đốc thẩm đúng
- Bảo đảm cho việc xét xử chính xác, khách quan các vụ án hình sự.
Việc xét xử chính xác, khách quan một vụ án hình sự phụ thuộc vào nhiều yếu tố Trong đó, việc phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm trên cơ sở tổ chức, năng lực của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán là bước đầu có ý nghĩa trong việc làm sáng tỏ sự thật khách quan cảu vụ án tại Tòa án Ở Việt Nam hiện nay, việc xác định thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử đều căn cứ vào thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự Do vậy, việc điều tra, truy tố, xét xử được nhanh chóng và chính xác trước hết phải xác định được thẩm quyền xét xử sơ thẩm đúng
4 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành.
a Thẩm quyền xét xử theo sự việc.
Thẩm quyền xét xử theo sự việc là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa Tòa án các cấp với nhau căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm
Do TANDTC không có thẩm quyền xét xử sơ thẩm, nên thẩm quyền xét xử sơ
Trang 5thẩm thgeo sự việc là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa hai cấp tòa án còn lại:
• Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cấp huyện và tòa án quân sự khu vực
Tại khoản 1 Điều 170 BLTTHS 2003 quy định: “Tòa án nhân dân cấp
huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm sau đây:
a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;
b) Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; c) Các tội quy định tại các điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221,
222, 223, 224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322, và 323 của Bộ luật hình sự”.
Nếu điều luật có nhiều khoản thì TAND cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực có thẩm quyền xét xử các trường hợp phạm tội thuộc tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ các tội phạm được quy định ở các điểm a, b,c khoản 1 Điều 170 BLTTHS
TAND cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực có thẩm quyền xét xử cùng một lần một người phạm nhiều tội nếu các tội phạm đó đều thuộc thẩm quyền xét xử của các Tòa án này Trong trường hợp một người đang chấp hành hình phạt theo bản án của bất cứ Tòa án cấp nào mà lại bị truy tố về tội thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện hoặc của Tòa án quân sự khu vực thì các Tòa án đó cũng có thẩm quyền xét xử, trừ trường hợp người bị kết án đã bị tuyên án tử hình hoặc tù chung than mà chưa được giảm thời hạn chấp hành hình phạt
• Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu
Tại Khoản 2 Điều 170 BLTTHS 2003 quy định: “Tòa án nhân dân cấp
tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử” Như vậy, TAND cấp tỉnh và Tòa án quân sự
cấp quân khu có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự thuộc hai loại sau:
- Những vụ án không thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực, đó là:
Những vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng và những vụ án
về các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội phá hoại hòa bình, chống loài
Trang 6người và tội phạm chiến tranh; các tội quy định tại các Điều 93, 95, 96, 172,
216, 217, 218, 219, 221, 222, 223, 224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322,
và 323 của Bộ luật hình sự Những tội phạm này, dù là tội phạm ít nghiêm trọng cũng không thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực
Vụ án được xét xử toàn bộ ở cấp trên theo quy định tại Điều 173 BLTTHS Đây là trường bị cáo phạm nhiều tội thuộc thẩm quyền của các Tòa án khác cấp Nghĩa là bị cáo phạm hai tội trở lên, trong đó có tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện hoặc Tòa án quân sự khu vực và tội phạm khác thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp tỉnh hoặc Tòa án quân sự cấp quân khu Trong trường hợp này thì Tòa án cấp trên sẽ xét xử toàn bộ vụ án
- Những vụ án thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực mà mình lấy lên xét xử TAND cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu thường lấy lên xét xử những vụ án thuộc các loại sau: những vụ án phức tạp, khó chứng minh hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; những vụ án
mà bị cáo là thẩm phán, kiểm sát viên, sĩ quan công an, cán bộ lãnh đạo chủ chốt
ở cấp huyện, người nước ngoài, người có chức sắc cao trong tôn giáo, có uy tín cao trong dân tộc ít người.(1)
b Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ.
Thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án các cấp được quy định tại Điều 171 BLTTHS 2003
Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nới tội phạm được thực hiện Trong trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét
xử là Tòa án nới kết thúc việc điều tra
Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì do Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì tùy trường hợp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử
Bị cáo phạm tội ở nước ngoài, nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự thì do Tòa án quân sự cấp quân khu trở lên xét xử theo quyết định của Chánh án Tòa án quân sự trung ương
Điều 172 BLTTHS 2003 quy định về thẩm quyền xét xử những tội phạm xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải Việt Nam thuộc thẩm quyền xét
1 Thông tư số 02/ TTLN ngày 12/01/1989 của TANDTC-VKSNDTC-Bộ tư pháp-Bộ nội vụ hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Trang 7xử của Tòa án Việt Nam, nơi có sân bay hoặc bến cảng trở về đầu tiên hoặc nơi máy bay, tàu biển đó được đăng ký
Máy bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam đang hoạt động ở không phận hoặc lãnh hải nước ngoài vẫn được xem là một bộ phận lãnh thổ của Việt Nam, do vậy những tội phạm xảy ra trên tàu biển, máy bay của Việt Nam do Tòa án Việt Nam xét xử Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng ký Tùy vào tội phạm đó là tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng để xác định cấp Tòa án xét
xử là Tòa cấp huyện huy cấp tỉnh
c Thẩm quyền xét xử theo đối tượng.
Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo đối tượng là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa TAND và Tòa án quân sự căn cứ vào đối tượng phạm tội.(1)
• Đối tượng thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án quân sự
Tòa án quân sự xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự mà người phạm tội thuộc hai nhóm đối tượng:
- Người phạm tội là quân nhân và những người có nghề nghiệp hoặc nhiệm vụ quân sự bao gồm: quân nhân tại ngũ; công chức quốc phòng; công nhân quốc phòng; quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện, diễn tập hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng động viên, tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ trong thời gian phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; những người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý Những người này bị Tòa án quân sự xét xử không phụ thuộc vào việc họ phạm tội gì và phạm tội ở đâu
- Người phạm tội không phải là các đối tượng nêu trên (dân thường, trong mối quan hệ so sánh với các chủ thể nêu trên) Đối tượng này chỉ thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp: + Liên quan đến bí mật quân sự;
Bí mật quân sự là bí mật quân đội, bí mật về an ninh quốc phòng được xác định là bí mật quân sự và được quy định trong các văn bản do các Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành
+ Gây thiệt hại cho quân đội
Gây thiệt hại cho quân đội là gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự, nhân phẩm của quân nhân hoặc của những người có nghề nghiệp, nhiệm vụ quân sự, gây thiệt hại đến tài sản của quân nhân hoặc của những người
có nghề nghiệp, nhiệm vụ quân sự được quân đội cấp phát để thực hiện nhiệm
1 Mục 1 Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA ngày 18/04/2005 của TANDTC,
Bộ quốc phòng, Bộ công an hướng dẫn về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự.
Trang 8vụ quân sự; gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của quân đội;(2) người đang
bị tạm giữ , tạm giam và chấp hành hình phạt tù trong nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam do quân đội quản lý mà lại tiếp tục phạm tội
+ Cùng một vụ án , vừa có người phạm tội hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét
xử của Tòa án quân sự, vừa có người phạm tội hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAND Trong trường hợp này, Tòa án quân sự xét xử toàn bộ vụ án (trừ trường hợp tách vụ án)
• Đối tượng thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND
TAND xét xử sơ thẩm những đối tượng không thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự
TAND xét xử những người không còn phục vụ trong quân đội mà phát hiện tội phạm của họ được thự hiện trong thời gian phục vụ trong uân đội; những người đang phục vụ trong quân đội mà phát hiện tội phạm của họ được thực hiện trước khi vào quân đội nếu những tội phạm đó không liên quan đến bí mật quân sự hoặc không gây thiệt hại cho quân đội
• Tách vụ án để Tòa án quân sự và TAND xét xử sơ thẩm theo thẩm quyền
Về nguyên tắc, Tòa án quân sự xét xử sơ thẩm toàn bộ vụ án trong trường hợp cùng một vụ án, vừa có người phạm tội hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét
xử của Tòa án quân sự, vừa có người phạm tội hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAND Tuy nhiên, có thể tách vụ án để TAND và Tòa án quân sự xét
xử riêng theo thẩm quyền, nếu không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan và toàn diện của vụ án
II Thực tiễn thi hành thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
1 Số lượng các vụ án được Tòa án nhân dân cấp huyện giải quyết và xử lý đã tăng lên đáng kể và chất lượng xét xử cũng ngày càng nâng cao Tuy nhiên lượng án phải xét xử sơ thẩm ở các cấp vẫn còn tồn đọng nhiều.
Từ sau khi BLTTHS 2003 quy định tăng thẩm quyền xét xử cho Tòa án nhân dân cấp huyện, các vụ án được Tòa án nhân dân cấp huyện giải quyết và
xử lý đã tăng lên đáng kể về số lượng và chất lượng xét xử cũng ngày càng được nâng cao Nếu như trước khi được giao thẩm quyền xét xử đầy đủ, trung bình mỗi năm 486 Tòa án nhân dân cấp huyện đã được giao thực hiện thẩm quyền xét
xử mới về hình sự thụ lý 30.403 vụ án với 47.459 bị cáo, giải quyết được 29.634
vụ án với 46.251 bị cáo, đạt tỉ lệ 97,4% số vụ án và bị cáo Sau khi thực hiện thẩm quyền xét xử mới, trung bình mỗi năm các Tòa án này thụ lý 33.387 vụ án với 57.139 bị cáo, giải quyết 31.790 vụ với 51.430 bị cáo, đạt tỉ lệ 95% số vụ án
2 Tài sản của quân đội là tài sản do quân đội quản lý, sử dụng, kể cả trường hợp quân đội giao tài sản đó cho dân quân, tự vệ hoặc bất kỳ người nào khác quản lý, sử dụng để chiến đấu hoặc thực hiện nhiệm vụ quân sự.
Trang 9và 90% số bị cáo Tính từ khi được giao thực hiện thẩm quyền xét xử mới về hình sự đến 31/12/2007, các Tòa án này thụ lý 71.618 vụ án hình sự với 112.203
bị cáo (số vụ án thụ lý theo thẩm quyền mới là 16.057 vụ với 25.212 bị cáo), giải quyết 69.706 vụ án với 107 314 bị cáo (số vụ án giải quyết theo thẩm quyền mới là 14.932 vụ với 23.034 bị cáo) (1)
Nhìn chung, từ khi được giao thực hiện thẩm quyền mới, số lượng các vụ
án hình sự thuộc thẩm quyền mới mà các Tòa án được tăng thẩm quyền bình quân tăng 30 vụ/năm/Tòa án Một số ít đơn vị có số lượng án mới tăng lên trên
100 vụ/năm tập trung chủ yếu ở các Tòa án quận thuộc thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải phòng và một số đơn vị của các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu, Quảng Ninh, Hà Tây
Trong những năm gần đây, mặc dù số lượng các vụ án phải thụ lý xét xử
ở cấp sơ thẩm ngày càng tăng nhưng tôc độ giải quyết tại cấp xét xử này đã nhanh chóng hơn, lượng án tồn đọng ngày càng được hạn chế Đặc biệt chất lượng xét xử ngày càng được nâng cao so với thời gian trước, số lượng các vụ
án mà bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị có chiều hướng giảm so với trước đây
Lượng án tồn đọng tại các Tòa án cấp sơ thẩm (kể cả cấp huyện và cấp tỉnh) hàng năm nhìn chung có xu hướng ngày càng giảm, tuy nhiên không ổn định Theo thống kê chung của Tòa án cấp sơ thẩm (cả cấp huyện và cấp tỉnh) năm 2006, lượng án tồn đọng chiếm 2,40% số vụ thụ lý, giảm hơn hẳn so với các năm trước; năm 2007 toàn ngành thụ lý61.813 vụ án theo thủ tục sơ thẩm đã giải quyết, xét xử 60.483 vụ, số vụ còn tồn lại là 1.330, bằng 2,15%, giảm 0,15% so với năm 2006 (2) Năm 2008, toàn ngành thụ lý 64.381 vụ án, trong đó
có 63.321 vụ án mới thụ lý, 1.060 vụ án cũ còn lại, xét xử 58.449 vụ, chuyển hồ
sơ vụ án 82 vụ, đình chỉ 251 vụ, trả hồ sơ cho Viện kiểm sát 4.258 vụ, số vụ còn tồn đọng là 1.341 vụ, bằng 2,08% số vụ đã thụ lý, giảm 0,07% so với năm 2007
(3) Đến năm 2009, lượng án tồn đọng lại có xu hướng tăng Tính chung cả Tòa
án cấp huyện và cấp tỉnh thụ lý được 66.919 vụ án, trong đó có 65.634 vụ án mới thụ lý, 1.285 vụ án cũ còn lại, xét xử 60.433 vụ, chuyển hồ sơ vụ án 43 vụ, đình chỉ 757 vụ, trả hồ sơ cho Viện kiểm sát 4.229 vụ, số vụ còn tồn đọng là 1.457 vụ, bằng 2,18% số vụ đã thụ lý, tăng 0,1% so với năm 2008 (4) Năm 2010,
1 Tòa án nhân dân tối cao (2008), báo cáo số 07/BC-TA về việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội về tăng thẩm quyền xét xử cho Tòa án nhân dân cấp huyện.
2 Tòa án nhân dân tối cao (2008), phụ lục báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án năm 2007.
3 Tòa án nhân dân tối cao (2008), Số liệu thống kê thụ lý và giải quyết các vụ án hính sự sơ thẩm năm 2008.
4 Tòa án nhân dân tối cao (2009), Số liệu thống kê thụ lý và giải quyết các vụ án hính sự sơ thẩm năm 2009.
Trang 10số lượng án tồn đọng tăng rõ rệt Tính chung tòan ngành thụ lý được 58.370 vụ
án, trong đó có 56.968 vụ án mới thụ lý, 1.402 án cũ còn lại xét xử 52.595 vụ, chuyển hồ sơ vụ án 213 vụ, đình chỉ 288 vụ, trả hồ sơ cho Viện kiểm sát 3.823
vụ, số vụ còn tồn đọng là 1.451 vụ, bằng 2,49% số vụ đã thụ lý, tăng 0,31% so với năm 2009 (1)
2 Số lượng cán bộ, trình độ đội ngũ cán bộ và cơ sở vật chất của Tòa án cấp huyện đã được cải thiện đáng kể.
Đội ngũ cán bộ lãnh đạo Tòa án các cấp đã được kiện toàn, bổ sung, bảo đảm yêu cầu công tác chỉ đạo, điều hành, công tác tuyển dụng cán bộ, công chức tạo nguốn Thẩm phán có nhiều tiến bộ, đã khắc phục được tình trạng thiếu cán
bộ lãnh đạo ở Tòa án địa phương, từng bước bảo đảm biên chế Thẩm phán, cán
bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân Năm 2006, các Tòa án địa phương đã tuyển dụng mới 448 cán bộ, chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã bổ nhiệm mới
227 Thẩm phán Tòa án nhân dân địa phương Riêng các Tòa quân sự, do có sự phối hợp chặt chẽ và được sự quan tâm của Bộ quốc phòng nên đã thực hiện đầy
đủ biên chế cán bộ, thẩm phán
Công tác luân chuyển, biệt phái cán bộ trong toàn ngành đã được quan tâm và thực hiện có hiệu quả Thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo lại, bồ dưỡng nghiệp vụ và tập huấn các văn bản pháp luật mới cho cán bộ, công chức Tòa án và đội ngũ Hội thẩm nhân dân đồng thời cử nhiều cán bộ theo học các lớp sau đại học, lý luận chính trị, ngoại ngữ
Trong những năm gần đây, Tòa án cấp huyện đã cải thiện nhiều về cơ sở vật chất, từ phòng xét xử, điều kiện, phương tiện đi lại đều đã được nâng cao Nhà nước đã cấp kinh phí để Tòa án cấp huyện tiến hành đầu tư xây dựng trụ sở, mua sắm các trang thiết bị mới như: bàn ghế làm việc, trang bị hội trườn, máy tính,… để đảm bảo cho hoạt động của Tòa án diễn ra thuận lợi và đạt được kết quả cao nhất
3 Những kết quả đạt được trong xét xử của các Tòa án quân sự.
Báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án quân sự năm 2010 nêu rõ, trong năm qua ngành Tòa án quân sự đã đạt được nhiều kết quả đáng mừng như: toàn ngành đã quán triệt đầy đủ, nghiêm túc các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, nghiên cứu và áp dụng đúng đắn pháp luật trong xét xử; đã xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chiến lược cải cách tư pháp của ngành Tòa án quân sự và hoàn thành xây dựng 5 đề án gồm: Đề án hoàn thiện thẩm quyền xét xử của Tòa
án quân sự theo chiến lược cải cách tư pháp; Đề án giao cho Tòa án quân sự thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính trong quân đội; Đề án về mô hình tổ
1 Tòa án nhân dân tối cao (2010), Số liệu thống kê thụ lý và giải quyết các vụ án hính sự sơ thẩm năm 2010.