Thẩm quyền này trong Bộ luật TTHS 2003 được quy định cụ thể như sau: 1.2.1 Thẩm quyền xét xử theo sự việc Thẩm quyền xét xử theo sự việc là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa Tòa án cá
Trang 1MỤC LỤC:
LỜI MỞ ĐẦU
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm hình sự của Tòa án
1.1 Khái niệm
1.2 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm trong Bộ luật TTHS Việt Nam
1.2.1 Thẩm quyền xét xử theo sự việc
1.2.2 Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ
1.2.3 Thẩm quyền xét xử theo đối tượng
2 Thực tiễn thi hành và đề xuất hoàn thiện các quy định của pháp luật
về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
2.1 Những kết quả đạt được
2.2 Những bất cập, vướng mắc trong việc thực hiện thẩm quyền xét xử 2.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về thẩm quyền xét
xử sơ thẩm
KẾT LUẬN
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003 Bộ luật này thay thế Bộ luật tố tụng hình sự ngày 28/6/1988 và có hiệu lực thi hành
từ ngày 01/7/2004 đã đánh dấu một bước phát triển mới của pháp luật tố tụng hình sự nói chung và thẩm quyền xét xử sơ thẩm hình sự nói riêng
Thẩm quyền xét xử sơ thẩm là một trong những qui định trung tâm của chế định thẩm quyền xét xử của Tòa án Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật khác về vấn đề này là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động
tư pháp những năm qua Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng còn một số bất cập
và vướng mắc khi thực thi xử lý các vụ án trên thực tế Để phân tích một cách cụ thể và từ đó đưa ra được hướng hoàn thiện cho vấn đề trên em đã lựa chọn đề tài
“Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và việc hoàn thiện quy định pháp
luật về vấn đề này”.
Trang 3GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm hình sự của Tòa án
1.1 Khái niệm
Theo giáo trình luật TTHS trường Đại học Luật Hà Nội: “Thẩm quyền xét
xử sơ thẩm là quyền mà pháp luật quy định cho phép Tòa án được xét xử sơ thẩm vụ án hình sự căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; đối tượng phạm tội; nơi thực hiện tội phạm hoặc nơi khác theo quy định của pháp luật” (T346) Đây là một khái niệm hẹp giới hạn trong phạm vi nghiên cứu
về thẩm quyền xét xử của Tòa án theo quy định tại Chương XVI của Bộ luật TTHS (thẩm quyền hình thức) còn xét một cách rộng hơn thẩm quyền xét xử của tòa án còn bao gồm cả thẩm quyền nội dung bao gồm cả quyền hạn giải quyết quyết định của tòa án đối với những vấn đề cần được xem xét mà trong phạm vi bài làm này sẽ không đề cập đến
1.2 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm trong Bộ luật TTHS Việt Nam
Cũng như đa phần các nước khác trên thế giới hiện nay, pháp luật Việt Nam phân chia cấp xét xử gồm: tòa án cấp sơ thẩm, tòa án cấp phúc thẩm và tòa án tối cao Trong đó, tòa án được tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ (ngoại trừ tòa
án quân chủng hải quân thuộc tòa án quân sự), đồng thời pháp luật tố tụng Việt Nam cũng phân chia thẩm quyền xét xử của tòa án thành ba loại: thẩm quyền xét
xử theo sự việc, thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ và thẩm quyền xét xử theo đối tượng Thẩm quyền này trong Bộ luật TTHS 2003 được quy định cụ thể như sau:
1.2.1 Thẩm quyền xét xử theo sự việc
Thẩm quyền xét xử theo sự việc là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa Tòa án các cấp với nhau căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm
* Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và tòa án quân sự khu vực.
Đây là cấp xét xử đầu tiên trong thứ tự các cấp xét xử theo quy định của Bộ
luật TTHS Việt Nam Khoản 1 Điều 170 có quy định: “Tòa án nhân dân cấp
Trang 4huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm sau đây :
a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;
b) Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; c) Các tội quy định tại các điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221,
222, 223, 224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322 và 323 của Bộ luật hình sự”
Theo đó, tòa án nhân dân cấp huyện và tòa án quân sự khu vực được xét xử các loại tội có mức phạt cao nhất 15 năm tù trừ các tội phạm đã liệt kê tại Điểm
a, b, c Điều 170 theo quy định của Bộ luật TTHS Đây là sự tiến bộ so với ĐIều
145 Bộ luật TTHS năm 1988 khi thẩm quyền xét xử sơ thẩm chỉ giới hạn ở những tội phạm mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt từ 7 năm tù trở xuống trừ: các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia và các tội quy định tại các Điều 89, 90, 91, 92, 93, 101 (Khoản 3), 102, 179, 231, 232 Bộ luật hình sự Việc
mở rộng thẩm quyền xét xử cho tòa án cấp huyện xuất phát từ vai trò của nó đối với thực tiễn xét xử nhằm giảm công việc quá tải cho các tòa án cấp tỉnh, tòa án cấp phúc thẩm, tòa án nhân dân tối cao Mặt khác điều này cũng hoàn toàn phù hợp với quá trình nâng cao năng lực của cán bộ tòa án, cơ sở vật chất tòa án cấp huyện đáp ứng cho giai đoạn phát triển mới của nước ta
* Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và tòa án quân
sự cấp quân khu
Cũng tại Điều 170, Khoản 2 có quy định: “Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân
Trang 5sự khu vực hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử”
“Những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa
án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực” được hiểu là các tội thuộc trường hợp quy định tại Điểm a, b, c Khoản 1 điều 170 Bộ luật TTHS; những vụ
án có bị cáo phạm nhiều tội trong đó có tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Tòa án quân sự cấp quân khu (Điều 173) Nói cách khác, thẩm quyền của tòa án cấp tỉnh là được xét xử các vụ án có tội phạm
mà mức cao nhất của khung hình phạt trên 15 năm tù (tội phạm đặc biệt nghiêm trọng) hoặc những vụ án mà bị cáo phạm nhiều tội trong đó có tội thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án cấp tỉnh, tòa án quân sự cấp quân khu thì tòa án cấp trên xét xử toàn bộ vụ án; hoặc những vụ án không thuộc thẩm quyền của tòa án cấp huyện hoặc thuộc thẩm quyền của tòa án cấp huyện nhưng tòa án tỉnh thấy cần thiết phải lấy lên để xét xử do tính chất đặc biệt của nó Hiện nay, chưa có quy định pháp luật cụ thể nào đưa ra điều kiện các vụ án được tòa án nhân dân cấp tỉnh được lấy lên xét xử nên thường phải căn cứ vào tình tiết vụ án (phức tạp hay không), có liên quan đến các đối tượng chủ chốt cấp huyện và trình độ của cơ quan tiến hành tố tụng cấp dưới (có đủ khả năng xét xử hay không) mà tòa án nhân dân cấp tỉnh quyết định lấy lên xét xử Thực tế các cơ quan trên vẫn phải áp dụng thông tư số 02/ TTLN ngày 12 tháng 1 năm 1989 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư Pháp, Bộ Nội Vụ hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự 1988
1.2.2 Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ
Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ là sự phân định thẩm quyền xét xử của các tòa án căn cứ vào những dấu hiệu địa điểm nhất định Thẩm quyền này của các tòa án được quy định tại Điều 171, 172 Bộ luật Tố tụng hình sự
Trang 6Theo đó: thẩm quyền xét xử sơ thẩm thuộc về tòa án nơi có tội phạm được thực hiện Quy định như vậy nhằm mục đích tạo điều kiện đối với các cơ quan tiến hành tố tụng (điều tra thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng…) và người tham gia tố tụng (đảm bảo sự có mặt của họ tại phiên tòa) được thuận lợi Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì tòa án nơi kết thúc điều tra có thẩm quyền xét xử Ví dụ: một người chuyên hành nghề trộm cắp trên các chuyến tàu, thời điểm phạm tội và địa điểm phạm tội thường không thể xác định được, vậy
áp dụng nguyên tắc này thì tòa án nơi tội phạm được phát hiện, nơi bị cáo cư trú hoặc bị bắt có thẩm quyền xét xử (xác định dựa vào thẩm quyền điều tra)
Riêng đối với “tòa án quân sự quân chủng hoặc tổ chức tương đương có tổ chức tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử sơ thẩm không phụ thuộc vào nơi thực hiện tội phạm, nếu người phạm tội thuộc đơn vị của quân chủng hoặc tổ chức tương đương, hoặc tội phạm gây thiệt hại trực tiếp cho quân chủng hoặc tổ chức tương đương” Nếu không xác định được nơi thực hiện tội phạm hoặc trong
nhiều trường hợp có nhiều bị can thuộc nhiều đơn vị khác nhau hay tội phạm đó được thực hiện ở nhiều nơi, nếu Viện kiểm sát quân sự truy tố bị can trước tòa án quân sự nào thì tòa án quân sự đó có thẩm quyền xét xử sơ thẩm
Bên cạnh đó, trong trường hợp bị cáo phạm tội ở nước ngoài nhưng được xét xử tại Việt Nam mà thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án nhân dân thì tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước có thẩm quyền xét xử (nếu không xác định được nơi này thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
ra quyết định giao cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm) Còn nếu bị cáo thuộc thẩm quyền xét
xử của tòa án quân sự thì tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm theo quyết định của Chánh án tòa án quân sự trung ương
Trang 7Thẩm quyền xét xử sơ thẩm trong trường hợp tội phạm xảy ra trên tàu bay, tàu biển của Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải Việt Nam thuộc về tòa án Việt Nam nơi có sân bay hoặc bến cảng trở về đầu tiên hoặc nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng ký Quy định này là hoàn toàn phù hợp với thông
lệ quốc tế cũng như quy tắc chung của Công pháp quốc tế Máy bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoạt động ở không phận hoặc lãnh hải nước ngoài vẫn được xem là bộ phận lãnh thổ của Việt Nam Do vậy tội phạm xảy ra trên tàu bay, tàu biển của Việt Nam phải do tòa án Việt Nam xét xử
Trong trường hợp chuyển vụ án không thuộc thẩm quyền của mình cho Tòa
án ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc ngoài phạm vi quân khu do Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu quyết định (Điều 174)
1.2.3 Thẩm quyền xét xử theo đối tượng
Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo đối tượng là sự phân định thẩm quyền xét
xử giữa tòa án nhân dân và tòa án quân sự căn cứ vào đối tượng phạm tội
Tại Điều 3 Pháp lệnh tổ chức tòa án quân sự 2002 có quy định về thẩm
quyền xét xử của tòa án quân sự đó là: “…những vụ án hình sự mà bị cáo là:
1 Quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ phối thuộc với Quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu và những người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý;
2 Những người không thuộc các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này mà phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho Quân đội”
Dấu hiệu đối tượng tội phạm phân biệt rõ hai thẩm quyền giữa tòa án quân
sự và tòa án nhân dân Tòa án nhân dân có thẩm quyền xét xử hầu hết các đối tượng phạm tội trừ các đối tượng thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án quân sự
Trang 8(theo Điều 3 pháp lệnh trên) Còn trong các tòa án quân sự thì việc phân định thẩm quyền xét xử giữa các cấp lại cũng theo cấp bậc, chức vụ quân nhân (Điều
26, Điều 29 Pháp lệnh)
Ngoài những tội phạm có đối tượng không thuộc thẩm xét xử của tòa án quân sự, Tòa án nhân dân có quyền xét xử những người không còn phục vụ trong quân đội mà phát hiện tội phạm của họ được thực hiện trong thời gian phục vụ quân đội, những người đang phục vụ trong quân đội mà phát hiện tội phạm của
họ được thực hiện trước khi vào quan đội nếu tội phạm đó không liên quan đến
bí mật quân sự hoặc không gây thiệt hại cho quân đội
2 Thực tiễn thi hành và đề xuất hoàn thiện các quy định của pháp luật
về thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
2.1 Những kết quả đạt được.
Sau 6 năm chính thức được thi hành, Bộ luật TTHS Việt Nam đã đóng góp quan trọng cho thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự, đặc biệt là các quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm Có thể điểm qua một số kết quả quan trọng sau đây:
Thứ nhất, việc mở rộng thẩm quyền xét xử sơ thẩm cho tòa án cấp huyện
bước đầu có những kết quả đáng khích lệ Án tồn đọng cũng như khối lượng công việc cho các cơ quan tòa án cấp trên có chiều hướng giảm
Nhờ sự mở rộng thẩm quyền mà đã làm giảm đi áp lực về thẩm quyền xét
xử phúc thẩm không chỉ cho các tòa án nhân dân cấp tỉnh mà còn cho tòa án nhân dân tối cao để tòa án nhân dân tối cao có thể tập trung vào chức năng giám đốc thẩm, tái thẩm cũng như tổng kết kinh nghiệm xét xử, v.v
Thứ hai, Bên cạnh đặt ra chỉ tiêu cho các tòa án cấp huyện , chúng ta cũng
có nhiều biện pháp nâng cao năng lực cán bộ cũng như cơ sở vật chất, đáp ứng yêu cầu cơ bản trang thiết bị thiết yếu phục vụ cho công tác xét xử
Trang 9Ngoài ra, Việc thực hiện chủ trương tăng cường thẩm quyền xét xử cho các
tòa án cấp huyện đã tạo ra sự chuyển biến về nhận thức cho các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương Từ đó, có sự quan tâm hơn đối với hoạt động trọng ngành tòa án nhân dân nói chung và các tòa án nhân dân cấp huyện nói riêng
2.2 Những bất cập, vướng mắc trong việc thực hiện thẩm quyền xét xử Thứ nhất: Bộ luật TTHS hạn chế quá nhiều trường hợp vụ án hình sự về tội
phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng mà Toà án cấp huyện không được xét xử tại điểm c khoản 1 Điều 170 (21 tội phạm
cụ thể) Do đó, án tồn đọng của các vụ việc này vẫn còn tương đối nhiều
Thứ hai, vẫn tồn tại tranh chấp về thẩm quyền và chuyển vụ án giữa các tòa
án Về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân
sự cấp quân khu, Bộ luật TTHS quy định việc Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa
án quân sự cấp quân khu xét xử những vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự cấp khu vực là hợp lý Tuy nhiên,
về vấn đề Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu có thể lấy
vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án cấp dưới lên để xét xử như hiện nay là chưa
rõ ràng Thực tế, các cơ quan này vẫn áp dụng theo tinh thần của Thông tư 02 nhưng hiện nay văn bản này đã hết hiệu lực
Bên cạnh đó, thực tiễn xét xử vẫn có một số trường hợp giữa Viện kiểm sát
và tòa án không thống nhất với nhau về thẩm quyền xét xử , nên vụ án đã không được giải quyết theo đúng thẩm quyền Ví dụ: vụ án thuộc thẩm quyền của tòa án tỉnh nhưng viện kiểm sát tỉnh không truy tố nên phải để cho tòa án huyện xét xử
và như vậy là việc xét xử không đúng thẩm quyền Còn có trường hợp vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án khác cùng cấp (huyện) nhưng khi tòa án không thuộc thẩm quyền chuyển vụ án thì viện kiểm sát cùng cấp đó không thay đổi cáo trạng nên không xét xử được
Trang 10Sở dĩ như vậy là vì việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền pháp luật mới chỉ đề cập đến giải quyết tranh chấp giữa các tòa án theo quy định tại Điều 175
Bộ luật TTHS mà chưa có quy định đối với việc thống nhất thẩm quyền giữa tòa
án và viện kiểm sát
Thứ ba, Bộ luật TTHS 2003 không quy định trực tiếp phân biệt thẩm quyền
xét xử giữa tòa án nhân dân và tòa án quân sự mà việc này chỉ được quy định tại Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự 2002 là một văn bản có hiệu lực pháp lý thấp hơn Từ đó, dẫn tới việc không phân định được rõ ràng mà đặc biệt là đối với các
vụ án liên quan đến cả hai hệ thống tòa án này
Theo Điều 5 của Pháp lệnh trên thì nếu vụ án vừa có tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án nhân dân, vừa có tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án quân sự thì tòa án nhân dân xét xử tội phạm thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân, tòa án quân sự xét xử tội phạm thuộc thẩm quyền của tòa án quân sự Trường hợp không tách được vụ án thì tòa án quân sự sẽ xét xử toàn bộ vụ án
Như vậy, dẫn tới việc mâu thuẫn với chính Điều 117 Bộ luật Tố tụng hình sự:
“chỉ được tách vụ án trong những trường hợp thật cần thiết khi không thể hoàn thành sớm việc điều tra đối với toàn bộ các tội phạm và nếu việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án”.
Thứ tư, hiện tại các cơ quan tiến hành tố tụng cũng đang rất lúng túng đối
với việc xác định thẩm quyền xét xử của các vụ án có yếu tố nước ngoài Bộ luật TTHS chỉ quy định thẩm quyền xét xử trong các trường hợp bị cáo phạm tội ở nước ngoài còn các vụ án liên quan đến yếu tố nước ngoài khác: người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự… là người nước ngoài; tội phạm thực hiện cả nước ngoài và trong nước thì không có quy định Điều này dẫn tới việc các cơ quan tiến hành tố tụng hết sức lúng túng trong việc điều tra, truy tố, xét xử
Có thể nói một trong những nguyên nhân tác động tới việc xét xử còn nhiều vướng mắc chính là do các quy định pháp luật trong Bộ luật TTHS cũng như các