Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là là một giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó Tòa án
Trang 1Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là là một giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó Tòa án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án, ra bản
án, quyết định tố tụng theo các quy định của pháp luật hiện hành Theo nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử, bản án và quyết định sơ thẩm của Tòa án hoàn toàn có thể bị khánh cáo, kháng nghị theo quy định của luật pháp Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong một khoảng thời gian nhất định thì sẽ có hiệu lực pháp luật, nếu bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm Từ đó ta thấy rằng xét xử
sơ thẩm là xét xử lần đầu do Tòa án có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật Vì đây là lần xét xử đầu tiên nên trong giai đoạn này Tòa án phải giải quyết mọi vấn đề của vụ án trên cơ sở cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố
Pháp luật nước ta quy định rất chặt chẽ và phù hợp về thẩm quyền xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự nhưng do những lý do khách quan và chủ quan vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế xung quanh vấn đề này Chính vì vậy bên cạnh việc tìm hiểu rõ về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án thì người viết cũng xin đưa ra một số ý kiến đóng góp cho việc hoàn thiện hơn các quy định pháp luật về vấn đề này
A Khái niệm thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án:
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS năm 2003) thì: thẩm quyền xét xử sơ thẩm là quyền mà pháp luật quy định cho phép Tòa án được xét xử sơ thẩm vụ án hình sự căn cứ vào tính chất và mức
độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đối tượng phạm tội, nơi thực hiện tội phạm hoặc nơi khác theo quy định của pháp luật
Trang 2Việc quy định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án cần phải dựa vào các căn cứ sau:
- Đường lối chính sách của Đảng
- Nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự
- Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
- Tính nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm
- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của thẩm phán cũng như điều tra viên, kiểm sát viên
- Biên chế và cơ sở vật chất
- Tình hình phạm tội và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm
B Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự:
1 Thẩm quyền xét xử theo sự việc:
Thẩm quyền xét xử theo sự việc là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa Tòa án các cấp với nhau căn cứ vào tính chất của tội phạm
a Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực:
Thẩm quyền này được quy định rõ tại Khoản 1 Điều 170 BLTTHS năm 2003 Nếu thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân
sự khu vực được quy định một cách hợp lý và chặt chẽ thì phần lớn các tội phạm xảy ra sẽ được xử lý kịp thời, phát huy được tác dụng giáo dục răn đe
và góp phần bảo vệ trật tự an toàn cho xã hội Cụ thể như sau:
“Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm sau đây :
Trang 3a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;
b) Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;
c) Các tội quy định tại các điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219,
221, 222, 223, 224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322 và 323 của Bộ luật hình sự”.
Như vậy, Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những tội phạm mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt từ mười lăm năm tù trở xuống, trừ những tội quy định tại điểm a,
b, c Khoản 1 Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Tuy nhiên do trình
độ và năng lực chuyên môn, điều kiện cơ sở vật chất, biên chế của Cơ quan điều tra, viện kiểm sát và Tòa án ở một số huyện chưa đảm bảo yêu cầu, cần tiếp tục bổ sung, kiện toàn mới có thể đảm bảo yêu cầu Nghị quyết số 24/2003/QH11 về việc thi hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 tại mục 3
đã chỉ rõ: “Kể từ ngày Bộ luật Tố tụng hình sự có hiệu lực, những Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Tòa án quân sự khu vực
có đủ điều kiện thực hiện thì được giao thẩm quyền xét xử mới quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật này Những Tòa án nhân dân huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh, Tòa án quân sự khu vực chưa đủ điều kiện thì thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, trừ những tội phạm quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 170 của Bộ luật này, nhưng chậm nhất đến ngày 01 tháng 7 năm 2009, tất cả Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Tòa án quân sự khu vực thực hiện thống nhất thẩm quyền xét xử mới quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Tố tụng hình sự”
Trang 4Theo tinh thần đó, các cơ quan liên quan trong phạm vi chức năng của mình đã khẩn trương củng cố cơ sở vật chất, kiện toàn đội ngũ cán bộ của cơ quan điều tra, viện kiểm sát và Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, cơ quan điều tra quân sự, viện kiểm sát quân sự, Tòa án quân
sự khu vực để thực hiện thống nhất thẩm quyền xét xử theo quy định mới
b Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu:
Thẩm quyền này được quy định tại Khoản 2 Điều 170 BLTTHS năm
2003 Theo đó, so với những quy định trước đây, thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu được quy định trong Bộ luật TTHS không có gì khác nhau, cụ thể là các vụ việc như sau:
- Những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền cuat Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực
- Những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử
Bộ luật TTHS không quy định cụ thể những vụ án nào thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện nhưng Tòa án cấp tỉnh lấy lên xét xử Vì thế, chánh án tòa, viện trưởng viện kiểm sát và thủ trưởng cơ quan điều tra cấp tỉnh cần căn cứ vào khả năng thực tế của các thẩm phán, kiểm sát viên và điều tra viên ở cấp huyện mà xác định những vụ việc nào cần lấy lên để điều tra, truy tố và xét xử ở cấp tỉnh Những vụ án đó thường là những vụ án như sau:
- Vụ án phức tạp (tình tiết khó, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành)
Trang 5- Vụ án mà bị cáo là thẩm phán, kiểm sát viên, sỹ quan Công an, cán
bộ lãnh đạo chủ chốt ở cấp huyện, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc ít người
2 Thẩm quyền xét xử theo đối tượng:
Thẩm quyền xét xử theo đối tượng là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự căn cứ vào đối tượng phạm tội
Theo Điều 3 của Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự năm 2002 thì:
“Các Toà án quân sự có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự mà
bị cáo là:
1 Quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân quốc phòng, quân nhân
dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ phối thuộc với Quân đội trong chiến đấu, phục
vụ chiến đấu và những người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý;
2 Những người không thuộc các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này mà phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho Quân đội”
Bí mật quân sự là bí mật của quân đội, bí mật về an ninh quốc phòng được xác định là bí mật quân sự và được quy định trong các văn bản do các
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành Gây thiệt hại cho quân đội mà
cụ thể là gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự, nhân phẩm của những người được quy định tại Khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh tổ chức Tòa
án quân sự hoặc tài sản của những người này được quân đội cấp phát để thực
Trang 6hiện nhiệm vụ quân sự thì đó chính là gây thiệt hại đến tài sản và danh dự,
uy tín của quân đội Quân nhân tại ngũ phạm tội trong quân đội và bên ngoài
xã hội đều thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự Trường hợp vụ án vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự và Tòa án nhân dân thì Tòa án quân sự sẽ xét xử toàn bộ vụ án Nếu có thể tách
ra để xét xử riêng thì Tòa án quân sự và Tòa án nhân dân xét xử những bị cáo thuộc thẩm quyền của mình Những người không còn phục vụ trong quân đội mà bị phát hiện đã thực hiện hành vi phạm tội trong thời gian phục
vụ quân đội, hoặc phạm tội trước khi nhập ngũ thì sẽ thuộc quyền xét xử của Toà án quân sự về những tội phạm liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội Những tội phạm khác là do Tòa án nhân dân xét xử
Nếu vụ án có những tình tiết cần điều tra liên quan đến bí mật quốc phòng như địa điểm, thiết bị, kế hoạch quân sự,… thì Tòa án quân sự sẽ nhận trách nhiệm xét xử Những việc phạm tội khác, Tòa án quân sự có thể chuyển vụ án đến cho Tòa án nhân dân Nếu có xảy ra tranh chấp về thẩm quyền giữa Tòa án quân sự và Tòa án nhân dân thì chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét và quyết định
3 Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ:
Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ là sự phân định thẩm quyền xét xử căn cứ vào nơi tội phạm được thực hiện và nơi kết thúc quá trình điều tra
Thông thường thì vụ án hình sự được xét xử ở Tòa án nới tội phạm được thực hiện Trong trường hợp tội phạm được thực hiện ở nhiều nơi khác nhau hoặc không thể xác định nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm
Trang 7quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc việc điều tra (theo Khoản 1 Điều 171 Bộ luật TTHS năm 2003)
Nếu bị cáo phạm tội ở nước ngoài thì thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân sẽ được xác định như sau: bị cáo mà phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo xết xử Nếu không thể xác định được nơi cư trú cuối cùng thì tùy từng trường hợp chánh án Tòa án nhân dân tối cao sẽ ra quyết định giao cho Tòa án nhân dân thành phố Hầ Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử Nếu vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự thì sẽ do Tòa án quân sự cấp quân khu trở lên xét xử theo quyết định của chánh án Tòa án quân sự Trung ương Nếu vụ án xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của Việt Nam nhưng đang hoạt động ở nước ngoài thì Tòa án nhân dân ở Việt Nam nơi có sân bay, bến cảng mà tàu bay, tàu biển đó trở
về đầu tiên trên lãnh thổ của Việt Nam hoặc nơi tàu bay hoặc tàu biển đó được đăng ký có thẩm quyền xét xử
Thẩm quyền theo lãnh thổ đã được quy định trong Bộ luật TTHS năm
2003 một cách chặt chẽ và hợp lý, rất phù hợp với thực tiễn xét xử Hiện nay, các tranh chấp về thẩm quyền hoặc tình trạng các Tòa án đùn đẩy công việc cho nhau về cở bản đã được khắc phục
C Vấn đề hoàn thiện các quy định pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự:
Bên cạnh những thành công và thành tựu đạt được thì việc áp dụng thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án vẫn còn tồn tại một số
Trang 8điểm bất cập cần phải khắc phục nhằm đảm bảo cho quá trình xét xử được diễn ra một cách thuận lợi và chính xác nhất
Ví dụ như tại Khoản 2 Điều 172 của Bộ luật TTHS năm 2003 có quy định
về việc Toà án cấp tỉnh có quyền lấy vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án cấp huyện lên để xét xử, tuy nhiên, lại không thấy chỉ rõ trong trường hợp cụ thể nào thì Toà án cấp tỉnh lấy vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án cấp huyện lên để xét
xử Hơn nữa việc thủ tục chuyển vụ án cũng không được pháp luật quy định trong Bộ luật TTHS hoặc trong bất kỳ một văn bản hướng dẫn thi hành nào Điều này chắc chắn sẽ gây không ít khó khăn cho việc các Tòa án thực hiện thẩm quyền của mình Một vấn đề nữa, mặc dù trong Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự
có quy định về việc phân biệt thẩm quyền xét xử giữa Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự tuy nhiên đây lại là một văn bản có hiệu lực pháp lý thấp Hơn nữa, việc xác định thẩm quyền xét xử các vụ án có yếu tố liên quan đến nước ngoài cũng đang gây ra không ít khó khăn và lúng túng cho các Tòa án
Sở dĩ còn tồn tại một số bất cập xuất phát từ nhiều lý do Một số nội dung liên quan đến vấn đề này mới chỉ được tìm thấy ở một số văn bản dưới luật, chứ chưa được đưa vào Bộ luật TTHS năm 2003, việc các văn bản dưới luật có hiều lực pháp luật không cao cũng gây cản trở cho việc thực hiện thẩm quyền của các Tòa án Ngoài ra, do pháp luật luôn đi sau cuộc sống nên có một số trường hợp có thể diễn ra trong thực tế nhưng vẫn chưa được quy định trong Bộ luật TTHS năm 2003
Mặt khác, nhận thức pháp luật của một số chủ thể tiến hành tố tụng chưa cao, ý thức trách nhiệm chưa tốt và việc liên tục cập nhật các văn bản mới cũng đang là vấn đề thiếu sót đối với một số chủ thể Sự liên kết, phối hợp giữa các Tòa án vẫn chưa tốt dẫn đến việc xét xử gặp nhiều khó khăn
Trang 9cản trở Để có thể giải quyết được các vấn đề này, dưới đây em xin đưa ra một số ý kiến nhằm hoàn thiện hơn các quy định pháp luật về vấn đề thẩm quyền xết xử sơ thẩm các vụ án hình sự cưa Tòa án
1 Hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003:
Về cơ bản thì Bộ luật TTHS năm 2003 là văn bản pháp luật cơ bản quy định về vấn đề thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án các cấp Việc hoàn thiện các quy định của pháp luật tố về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án được thực hiện theo các hướng mà Nghị quyết số 49/NQ – TW ngày 02/6/2005 của Bộ
Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020:
Hoàn thiện quy định về thẩm quyền xét sử sơ thẩm: Hiện nay ở nước ta đang trong giai đoạn thực hiện cải cách tư pháp với trọng tâm là việc xây dựng một hệ thống Toà án không phụ thuộc vào đơn vị hành chính Vấn đề đặt ra là phải phân định hợp lý thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án gắn với tổ chức Toà
án sơ thẩm
Hoàn thiện quy định của pháp luật về việc chuyển giao vụ án, tạo nên sự thống nhất về nhận thức cũng như thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà
án các cấp
Hoàn thiện quy định về tranh chấp thẩm quyền xét xử giữa Toà án nhân dân và Toà án quân sự Trong thực tế đã có văn bản quy định tuy nhiên cần có sự
bổ sung các quy định này vào trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 nhằm có được hiệu lực pháp lý cao nhất
Hoàn thiện các quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Hiện nay, ở nước ta đang trong quá trình cải cách tư pháp với trọng tâm là việc xây dựng một hệ thống Tòa án không phụ thuộc vào đơn vị hành chính Tòa án nhân dân được phân thành tòa án sơ thẩm khu vực, tòa án phúc thẩm và tòa án nhân dân tối cao
Trang 10Hoàn thiện các quy định về thẩm quyền xét xử, trươc hết là phải phân định hợp lý thẩm quyền xét xử sơ thẩm của tòa án gắn với tổ chức và hoạt động của tòa án các cấp được đề cập đến trong Nghị quyết 49/NQ/TW thì tổ chức hệ thống tòa án với mô hình mới khác với mô hình trước đây, đang đặt ra nhiều vấn đề quan trọng cần phải xử lý, nhất là đối với việc thành lập tòa án sơ thẩm khu vực
Về vấn đề liên quan đến quan điểm chỉ đạo đối với việc thành lập Tòa án
sơ thẩm khu vực: Thành lập tòa án sơ thẩm khu vực phải căn cứ vào các chủ trương, chính sách của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và cải cách tư pháp nói chung về đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án nói riêng
Việc thành lập tòa án sơ thẩm khu vực phải trên cơ sở đảm bảo thực hiện nguyên tắc tổ chức quyền lực Nhà nước ta, phải bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của Tòa án, phải phù hợp với các điều kiện kinh tế
xã hội của đất nước, phải đảm bảo tính đồng bộ với cải cách hành chính, đổi mới công tác lập pháp và gắn với đổi mới phương thức lão đạo của Đảng, đảm bảo thực hiện nguyên tắc Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử là xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm, đặc biệt trong quá trình khi xét xử phẩm và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Việc thành lập Tòa án sơ thẩm nhằm những mục đích sau đây:
Việc thành lập Tòa án sơ thẩm khu vực không được phụ thuộc vào đơn vị hành chính cấp huyện, tạo tiền đề để hoàn thiện toàn bộ hệ thống cơ quan tư pháp
Tạo điều kiện cho việc khắc phục những tồn tại, bất cập hiện nay trong tổ chức và hoạt động của Tòa án
Nguyên tắc thành lập tòa án sơ thẩm khu vực: theo nguyên tắc bảo đảm
sự thành lập của cấp ủy Đảng và sự giám sát của cơ quan dân cử địa phương đối