Quy định trên cho thấy, thẩm quyền xét xử vụ việc của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực quy định tại BLTTHS năm 2003 bao gồm các loại tội phạm có mức hình phạt cao nhất
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Qúa trình tiến hành giải quyết vụ án hình sự trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, trong đó có thể nói việc xét xử vụ án hình sự có vai trò quan trọng, xác định bị cáo có tội hay không có tội Thẩm quyền xét xử là một trong những nội dung của thẩm quyền
mà pháp luật quy định cho Tòa án với tư cách là một cơ quan xét xử của một quốc
gia Trong đó, thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án là vấn đề có ý
nghĩa quan trọng đối với bất kỳ một vụ án hình sự nào
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ SƠ THẨM CỦA TÒA ÁN.
1 Khái niệm thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Trong luật tố tụng hình sự, thẩm quyền xét xử của Tòa án theo nghĩa rộng bao gồm quyền xem xét và quyền giải quyết vụ án, ra bản án hoặc các quyết định khác như quyết định tạm đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án…Theo đó, thẩm quyền của Tòa án gồm thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung
Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự quy định tại chương XVI của BLTTHS
là thẩm quyền về hình thức Theo đó, có thể định nghĩa như sau: “Thẩm quyền xét xử
sơ thẩm là thẩm quyền do pháp luật quy định cho phép Tòa án được xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đối tượng phạm tội, nơi thực hiện tội phạm hoặc nơi khác theo quy định của pháp luật”.
2 Các căn cứ quy định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án.
Khi quy định thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án cần phải dựa vào các căn cứ sau:
- Căn cứ vào đường lối chính sách của Đảng.
- Căn cứ vào các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự
- Căn cứ vào tính chất nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm
- Căn cứ vào trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người tiến hành tố tụng.
- Căn cứ vào số lượng cán bộ và cơ sở vật chất của các cơ quan tiến hành tố tụng
- Căn cứ vào tình hình tội phạm và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm.
Trang 23 Phân loại thẩm quyền xét xử sơ thẩm
Tòa án nước ta được tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ (trừ Tòa án Quân chúng hải quân tổ chức trong quân đội) Thẩm quyền xét xử sơ thẩm không được quy định riêng cho một cơ quan nào xét xử mà được quy định một cách hỗn hợp như sau:
- Tòa án cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm
- Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu vừa có thẩm quyền xét
xử sơ thẩm, vừa có thẩm quyền xét xử phúc thẩm, xét lại bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
- Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án quân sự trung ương không có thẩm quyền
xét xử sơ thẩm mà chỉ có thẩm quyền xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm
Dựa vào căn cứ phân định thẩm quyền ở trên, thẩm quyền của Tòa án được phân định như sau:
- Thẩm quyền xét xử theo sự việc : là sự phân định thẩm quyển xét xử giữa tòa
án các cấp với nhau căn cứ vào tính chất của tội phạm
- Thẩm quyền xét xử theo đối tượng: là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa tòa
án nhân và tòa án quân sự căn cứ vào đối tượng phạm tội
- Thẩm quyền theo lãnh thổ: là sự phân định thẩm quyền xét xử căn cứ vào nơi
tội phạm được thực hiện và nơi kết thúc điều tra
4 Ý nghĩa của việc phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng.
- Về mặt lý luận: Nghiên cứu thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án có ý nghĩa
rất quan trọng đối với việc tổ chức hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng để thực hiện các hoạt động tố tụng nhằm giải quyết vụ án được khách quan toàn diện và đầy đủ, theo đúng tinh thần của hai cấp xét xử hiện nay Việc phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm là cơ sở để xác định thẩm quyền xét xử phúc thẩm, thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm và cũng là cơ sở để tổ chức bộ máy cơ quan tiến hành tố tụng Do vậy, việc phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm có ý nghĩa quan trọng để tổ chức bộ máy cơ quan tư pháp Từ đó xác định được thẩm quyền của các cấp tiếp theo, hạn chế sự chồng chéo về thẩm quyền xét xử giữa Tòa án các cấp
Trang 3- Về mặt thực tiễn: Trên thực tế, những năm gần đây, những vụ án phức tạp,
nghiêm trọng đang diễn biến theo chiều hướng gia tăng Tình hình an ninh chính trị, an toàn xã hội càng diễn biến phức tạp, việc đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực trong xã hội cũng gặp khó khăn Do đó, để giải quyết kịp thời cần phân định thẩm quyền xét xử của Tòa án phù hợp Vì thực tế có nhiều trường hợp, cấp Tòa án được phân định quyền xét xử vượt quá khả năng và điều kiện thực tế, không đủ khả năng và cơ sở vật chất để tiến hành xét xử Phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm hợp lý giúp việc giải quyết vụ án được kịp thời, đảm bảo yêu cầu công tác đấu tranh phòng chống tội phạm là nhanh chóng và giảm thiểu các chi phí tố tụng, đồng thời tuyên truyền, giáo dục đối với xã hội
II THẨM QUYỀN XÉT XỬ SƠ THẨM CỦA TÒA ÁN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIÊN HÀNH.
1 Thẩm quyền xét xử theo sự việc.
Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo sự việc là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa các cấp Tòa án, căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm Do TANDTC không có thẩm quyền xét xử sơ thẩm, nên thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo
sự việc là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa hai cấp còn lại:
1.1 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án
quân sự khu vực.
Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực là cấp xét xử đầu tiên trong trình tự các cấp xét xử theo quy định của luật TTHS Việt Nam hiện hành Theo
quy định tại Khoản 1 Điều 170 BLTTHS năm 2003: “Tòa án nhân dân cấp huyện và
Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm sau:
a, Các tội xâm phạm an ninh quốc gia
b, Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh
c, Các tội quy định tại Điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222, 223, 224,
225, 226, 263,293, 294, 295, 296, 322 và 323 của Bộ luật hình sự.”
Trang 4Quy định trên cho thấy, thẩm quyền xét xử vụ việc của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực quy định tại BLTTHS năm 2003 bao gồm các loại tội phạm có mức hình phạt cao nhất theo quy định của BLHS năm 1999 là đến 15 năm tù, trừ những tội phạm quy định tại điểm a, b, c Điều 170 BLTTHS
Nghị quyết số 24/2003/QH11 về việc thi hành BLTTHS năm 2003 chỉ rõ tại
mục 3: “ Kể từ ngày Bộ luật tố tụng hình sự có hiệu lực, những Tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Tòa án quân sự có đủ điều kiện thực hiện thì được giao thẩm quyền xét xử mới quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự Những Tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Tòa
án quân sự khu vực chưa đủ điều kiện thì thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm những
vụ án hình sự về tội ít nghiên trọng, tội phạm nghiên trọng, trừ những tội phạm quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, nhưng chậm nhất đến ngày 01/7/2009, tất cả các Tòa án nhân dân huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh, Tòa án quân sự khu vực thực hiện thống nhất thẩm quyền xét xử mới quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự”
Như vậy, thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện đã được
mở rộng Đó là do:
- Các Thẩm phán ở Tòa án cấp huyện đã được nâng cao trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ hơn, có khả năng xét xử các vụ án mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 15 năm tù
- Việc tăng thẩm quyền xét xử sơb thẩm cho Tòa án cấp huyện sẽ tránh được
việc tồn đọng án ở Tòa án nhân dân cấp tỉnh, giành thời gian cho Tòa án cấp tỉnh tập trung giải quyết các vụ án phức tạp khác, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm
- Cơ sở vật chất của Tòa án cấp huyện đã được cải thiện, nâng cấp Số lượng biên
chế Thẩm phán ổn định giúp ngành Tòa án yên tâm công tác, có điều kiện làm việc tốt hơn
- Mở rộng thẩm quyền của Tòa án cấp huyện giúp giảm bớt được chi phí và thời
gian tiến hành tố tụng, tránh được việc trì hoãn phiên tòa do sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng
- Giáo dục quần chúng nhân dân chấp hành pháp luật.
Trang 51.2 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân
sự cấp quân khu.
Theo Khoản 2 Điều 170 BLTTHS năm 2003 quy định Tòa án nhân dân cấp tỉnh
và Tòa án quân sự cấp quân khu có thẩm quyền xét xử sơ thẩm hai loại việc sau:
- Những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án
nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực
- Những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (có mức cao nhất của khung hình phạt là trên 15 năm tù), những vụ án không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện được quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 170 BLTTHS năm 2003; những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện nhưng Tòa án nhân dân cấp tỉnh thấy cần thiết phải lấy lên để xét xử do tính chất đặc biệt của vụ án
BLTTHS hiện hành không có quy định cụ thể những vụ án nào thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện nhưng Tòa án cấp tỉnh lấy lên để xét xử Do vậy, Chánh
án TAND, Viện trưởng Viện kiểm sát và Thủ trưởng cơ quan điều tra cấp tỉnh căn cứ vào tình hình thực tế của các vụ án và năng lực của Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán cấp huyện để quyết định những vụ án nào cần lấy lên để điều tra, truy tố, xét xử ở cấp tỉnh Hiện nay, các cơ quan tiến hành tố tụng vấn đang tiến hành theo
tinh thần của Thông tư số 02/TTLN ngày 12/01/1989 của Tòa án nhân dân tối cao-
Viện kiểm sát nhân dân tối cao- Bộ tư pháp- Bộ nội vụ hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 có quy định về vấn đề này như sau: Tòa án cấp tỉnh có thể lấy vụ án cấp dưới lên để xét xử trong các trường hợp:
- Vụ án phức tạp (có nhiều tình tiết khó đánh giá thống nhất về tính chất vụ án
hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành)
- Vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, kiểm sát viên, sĩ quan Công an, cán bộ lãnh đạo
chủ chốt ở cấp huyện, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín trong dân tộc ít người
Trang 62 Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ
Thẩm quyền theo lãnh thổ là sự phân định thẩm quyền xét xử căn cứ vào những dấu hiệu địa điểm nhất định
2.1 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo nơi thực hiện tội phạm và nơi kết thúc
điều tra:
Về nguyên tắc, vụ án hình sự được xét xử ở Tòa án nơi tội phạm được thực hiện Tuy nhiên, Tòa án quân sự của quân chủng hoặc tổ chức tương đương có tổ chức tòa
án quân sự có thẩm quyền xét xử sơ thẩm không phụ thuộc vào nơi thực hiện tội phạm, nếu người phạm tội thuộc đơn vị của quân chủng hoặc tổ chức tương đương, hoặc tội phạm gây thiệt hại trực tiếp cho quân chủng hoặc tổ chức tương đương
Trong trường hợp tội phạm được thực hiện ở nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi
kết thúc điều tra BLTTHS quy định tại Khoản 1 Điều 171 như sau: “Vụ án hình sự
được xét xử căn cứ vào nơi tội phạm được thực hiện và nơi kết thúc điều tra Trong trường hợp tội phạm được thực hiện ở nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc điều tra”.
Thông tư số 01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA ngày 18/4/2005
của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ quốc phòng, Bộ công
an hướng dẫn về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án quân sự như sau: “Vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự cấp nào xảy ra trên địa bàn quân sự cấp
đó thì do Tòa án quân sự đó xét xử Việc phân định địa bàn trong Quân đội để xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự do Bộ quốc phòng quy định cụ thể Trường hợp không xác định được nơi thực hiện tội phạm hoặc trường hợp có nhiều Tòa án quân sự khác nhau có thẩm quyền xét xử vụ án do trong vụ án có nhiều người phạm tội thuộc nhiều đơn vị khác nhau hoặc do người phạm tội thực hiện tội phạm ở nhiều nơi, nếu Viện kiểm sát quân sự truy tố bị can ra trước Tòa án quân sự nào, thì Tòa án quân sự đó xét xử vụ án”
Các quy định như vậy là cụ thể và tạo được điều kiện thuận lợi hơn cho việc xét
xử như: đảm bảo sự có mặt của những người tham gia tố tụng, xác định vật chứng không thể đưa đến phiên tòa được, xem xét tại chỗ nơi xảy ra tội phạm được dễ dàng
Trang 72.2 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm trong trường hợp bị cáo phạm tội ở nước
ngoài nhưng được xét xử tại Việt Nam:
Khoản 2 Điều 171 BLTTHS năm 2003 quy định đối với trường hợp bị cáo phạm
tội nước ngoài Theo đó:
- Nếu bị cáo thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân thì Tòa án nhân dân
cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo trong nước có thẩm quyền xét xử
- Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước thì tùy
từng trường hợp được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử
- Nếu vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự thì do Tòa án quân khu
trở lên xét xử theo quyết định của Chánh án Tòa án quân sự trung ương
2.3 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm trong trường hợp tội phạm xảy ra trên tàu
bay hoặc tàu biển của Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải Việt Nam:
Điều 172 BLTTHS năm 2003 quy định: “Những tội phạm xảy ra trên tàu bay,
tàu biển của nước CHXHCN Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải Việt Nam thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam, nơi có sân bay bến cảng trở về đầu tiên hoặc nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng ký” Vì theo luật quốc tế thì
tàu bay, tàu biển mang quốc tịch quốc gia nào, dù đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải của quốc gia đó, vẫn được coi là một bộ phận lãnh thổ quốc gia mà nó mang quốc tịch
Tòa án có thẩm quyền xét xử là tòa án nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng ký Tùy vào tội phạm đó là tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng để xác định cấp Tòa án xét xử là cấp tỉnh hay cấp huyện Quy định trên có thể thấy vụ án về tội phạm xảy ra ở nước ngoài, thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh mà không phụ thuộc vào loại tội phạm được thực hiện Điều này thuận lợi cho người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, tiết kiệm thời gian giải quyết vụ án Hơn nữa, việc xử lý vụ án tại nơi tội phạm được thực hiện cũng đảm bảo tốt hơn sự có mặt của những người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử
Trang 8Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT ngày 18/4/1005 còn xác định: Trong trường
hợp bị cáo là quân nhân phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam do Tòa án quân sự quân khu, quân chủng hoặc tương đương xét xử theo quyết định của Chánh
án Tòa án quân sự trung ương
3 Thẩm quyền xét xử theo đối tượng
Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo đối tượng là sự phân định thẩm quyền xét xử
giữa Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự căn cứ vào đối tượng phạm tội (Mục 1 Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA)
3.1 Đối tượng thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án quân sự:
BLTTHS năm 2003 không có quy định cụ thể đối tượng phạm tội nào thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân, đối tượng phạm tội nào thuộc thẩm quyền của Tòa
án quân sự Tuy nhiên trong Điều 3 Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự năm 2002 có
quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự như sau: “Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử những vụ án mà bị cáo thuộc một trong các trường hợp sau:
1 Quân nhân tại ngũ, công nhân viên quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu, dân quân tự
vệ phối hợp chiến đấu với quân đội và những người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý.
2 Những người không thuộc các quy định tại các khoản 1 Điều này mà phạm tội liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội”.
Người phạm tội không phải là các đối tượng nêu trong Khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự 2002 chỉ thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự
nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau:
- Tội phạm mà họ thực hiện có liên quan đến bí mật quân sự: Bí mật quân sự là bí
mật của quân đội, bí mật về an ninh quốc phong được xác định là bí mật quân sự
và được quy định trong các văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
- Tội phạm mà họ thực hiện gây thiệt hại cho quân đội: Gây thiệt hại cho quân đội
là gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự, nhân phẩm của những người được quy định tại Khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự hoặc tài sản của những người này được quân đội cấp phát để thực hiện nhiệm vụ quân
Trang 9sự, gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của quân đội Tài sản của quân đội là tài sản do quân đội quản lý, sử dụng, kể cả trường hợp quân đội giao tài sản cho dân quân, tự vệ hoặc bất kỳ người nào khác quản lý, sử dụng để chiến đấu hoặc phục vụ trong quân đội Những trường hợp phạm tội trong khu vực bảo vệ của quân đội, khu vực cấm, khu vực bảo vệ các công trình quan trọng về an ninh quốc phong do quân đội quản lý cũng được coi là gây thiệt hại cho quân đội
Pháp lệnh cũng quy định: quân nhân tại ngũ phạm tội trong quân đội và ngoài xã hội đều thuộc thẩm xét xử của Tòa án quân sự Trong trường hợp vụ án vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự, vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân thì Tòa án quân sự xét xử toàn bộ
vụ án Nếu có thể tách ra để xét xử riêng thì Tòa án quân sự và Tòa án nhân dân xét
xử những bị cáo thuộc thẩm quyền của mình (Điều 4, Điều 5 Pháp lệnh tổ chức Tòa
án quân sự)
Trường hợp trong cùng một vụ án, vừa có người phạm tội hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự, vừa có người phạm tội hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân, trong trường hợp này Tòa án quân sự xét xử toàn bộ vụ án (trừ trường hợp có thể tách vụ án)
Ngay trong thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự cũng có sự phân biệt thẩm quyền theo đối tượng: cấp bậc, chức vụ của quân nhân là căn cứ để xác định thẩm
quyền xét xử của Tòa án quân sự các cấp Theo quy định tại Điều 26, 29 Pháp lệnh
tổ chức Tòa án quân sự thì: các vụ án mà bị can, bị cáo khi phạm tội có cấp bậc từ
Thượng tá trở lên thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự cấp quân khu mà không phụ thuộc vào loại tội phạm thực hiện là loại tội phạm nào Các vụ án còn lại thuộc thẩm quyền xét xử của các Tòa án quân sự khu vực
3.2 Đối tượng thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân
Đối với các Tòa án nhân dân, BLTTHS không đặt ra thẩm quyền xét xử theo đặc điểm nhân thân người phạm tội Tòa án nhân dân xét xử sơ thẩm những đối tượng không thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án quân sự Tòa án nhân dân xét xử những người không còn phục vụ trong quân đội mà phát hiện tội phạm của họ được thực hiện trong thời gian phục vụ trong quân đội; những người đang phục vụ trong quân đội mà phát hiện tội phạm của họ được thực hiện trước khi vào quân đội nếu những
Trang 10tội phạm đó không liên quan đến bí mật quân sự hoặc không gây thiệt hại cho quân đội
Qua các quy định trên, có thể thấy theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự có hai loại đối tượng xét xử cho hai loại hình Tòa án là Tòa án quân sự và Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân có thẩm quyền xét xử rộng hơn so với Tòa án quân sự, cụ thể là xét xử hầu hết các đối tượng phạm tội, trừ những đối tượng thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự đã được quy định trong Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự năm
2002
III THỰC TIỄN VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ SƠ THẨM.
1 Thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án.
Một số thành tưu đạt được:
Từ sau khi BLTTHS năm 2003 quy định tăng thẩm quyền xét xử cho Tòa án nhân dân cấp huyện, số lượng các vụ án được Tòa án nhân dân cấp huyện giải quyết
và xử lý đã tăng lên đáng kể và chất lượng xét xử ngày càng nâng cao
Theo thống kê của các cơ quan chức năng, từ khi thực hiện thẩm quyền mới, số lượng các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền mới mà các Tòa án được giao đầy đủ thẩm quyền tăng bình quân 30 vụ/năm/Tòa án Một số đơn vị có số lượng án mới tăng trên
100 vụ/năm, tập trung chủ yếu ở các Tòa án quân thuộc thành phố Hà Nội, thành phố
Hồ Chí Minh, thành phố Hải Phòng Tính từ khi được giao thẩm quyền mới cho đến ngày 31/12/2007, các Tòa án thụ lý 71 618 vụ án hình sự với 150 212 bị cáo, giải quyết được 69 706 vụ án với 107 314 bị cáo Trong tổng số 107 314 bị cáo mà các Tòa án đã xét xử sơ thẩm, có 9890 bị cáo có kháng cáo kháng nghị, giám đốc thẩm Theo số liệu thống kê từ 01/10/2007 đến 30/9/2008, Tòa án nhân dân cấp tỉnh thụ lý mới 8411 vụ với 17593 bị cáo, xét xử được 7555 vụ với 15205, giải quyết được 96,9% số vụ án với 96,1% số bị cáo Tòa án nhân dân cấp huyện thụ lý mới 54090 vụ
án với 90814 bị cáo, xét xử được 50396 vụ với 82788 bị cáo, giải quyết được 98,1%
số vụ án với 97,5% số bị cáo