MỞ BÀI Một trong các nguyên tắc quan trọng của luật Tố tụng hình sự đó là nguyên tắc hai cấp xét xử nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng đồng thời đảm
Trang 2BẢNG TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS : Bộ luật Tố tụng hình sự
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
A MỞ BÀI
Một trong các nguyên tắc quan trọng của luật Tố tụng hình sự đó là nguyên tắc hai cấp xét xử nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng đồng thời đảm bảo việc xét xử vụ án một cách đúng đắn, khách quan, đúng người đúng tội… Pháp luật tố tụng hình sự quy định hai thủ tục xét xử là thủ tục xét xử sơ thẩm và thủ tục xét xử phúc thẩm và giao cho các Tòa án ở các cấp xét xử khác nhau thẩm quyền xét xử theo hai thủ tục xét xử nói trên
Thẩm quyền của Tòa án theo nghĩa chung nhất được hiểu là quyền xem xét và ra các quyết định xét xử theo quy định của pháp luật Khi xét xử, Tòa án
ra bản án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Bản án của Tòa
án cụ thể hóa đường lối, chính sách, quan điểm của Nhà nước đối với việc xử lý người có hành vi phạm tội
Xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án có ý nghĩa quan trọng
và là cơ sở để xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án trong các giai đoạn tiếp theo Do đó, trong phạm vi bài nghiên cứu này, em xin được trình bày về vấn đề
“Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự” của Tòa án với hi vọng cung cấp
cho người đọc những kiến thức cơ bản về vấn đề này…
Trang 3B NỘI DUNG
Nghiên cứu về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của tòa án có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc tổ chức hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng để thực hiện các hoạt động tố tụng nhằm giải quyết vụ án được khách quan toàn diện và đầy đủ, theo đúng tinh thần của nguyên tắc hai cấp xét xử hiện nay
I Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
1 Thẩm quyền xét xử theo sự việc
Thẩm quyền xét xử theo sự việc là thẩm quyền xét xử của Tòa án được phân định bởi tính nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm Xét trên phương diện tổ chức trọng hệ thống Tòa án nước ta, TAND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và Tòa án quân sự khu vực (sau đây gọi chung là Tòa án cấp huyện) là cấp xét xử thấp nhất chỉ có thẩm quyền xét xử sơ thẩm TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, TNQS cấp quân khu (sau đây gọi chung là Tòa án cấp tỉnh) là Tòa án cấp thứ hai và cũng là Tòa án cấp cuối cùng có thẩm quyền xét xử sơ thẩm Vì vậy, thẩm quyền xét xử theo sự việc được nói tới ở đây chính là việc phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm giữa Tòa án cấp huyện và Tòa án cấp tỉnh (Theo pháp luật tố tụng nước ta thì Tòa án nhân dân tối cao không có thẩm quyền xét xử sơ thẩm)
1.1 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án cấp huyện:
Quy định thẩm quyền xét xử sơ thẩm phù hợp cho các Tòa án cấp huyện
sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc quy định và thực hiện thẩm quyền xét xử sơ
Trang 4thẩm của Tòa án cấp tỉnh Theo quy định tại khoản 1 Điêu 170 BLTTHS năm
2003, Tòa án cấp huyện và TAQS khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự
về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm sau đây
a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;
b) Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; c) Các tội quy định tại các Điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219,
221, 222, 223, 224, 225, 226, 293, 294, 295, 296, 322, và 323 của Bộ luật hình sự
1.2 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án cấp tỉnh:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 170 BLTTHS, Tòa án nhân đân cáp tỉnh
và TAQS cấp Quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện và TAQS khu vực hoặc những
vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử
Quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cấp tỉnh và TAQS cấp quân khu được quy định tại BLTTHS hiện hành không hề thay đổi so với quy định của BLTTHS năm 1988 Tuy nhiên, BLTTHS hiện hành vẫn không quy định cụ thể những vụ án hình sự nào mặc dù thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện nhưng Tòa án cấp tỉnh vẫn quyết định lấy lên để xét xử Trước đây, để thực hiện thẩm quyền lấy vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện lên cấp tỉnh để xét xử, trong Thông tư số 02/TTLN ngày 12/01/1989 của TANDTC – VKSNDTC – BTP – BNV hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTHS đã xác định, tùy thuộc năng lực chuyên môn của người tiến hành tố tụng ở cấp huyện, Cơ quan điều tra, VKS và Tòa án cấp tỉnh cần lấy vụ án thuộc thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp huyện lên cho cấp mình điều tra, truy tố và xét xử trong các trường hợp sau:
- Vụ án phức tạp, có nhiều tình tiết khó đánh giá thống nhất về tính chất vụ án hoặc có liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành ở địa phương
Trang 5- Vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Sĩ quan công an, cán
bộ lãnh đạo chủ chốt ở cấp huyện, người có chức sắc cao trong tôn giáo hoặc có
uy tín cao trong dân tộc ít người
Việc Tòa án cấp tỉnh lấy vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện lên để xét xử trong các trường hợp cụ thể nào không chỉ chưa được quy định trong BLTTHS hiện hành mà ngay trong các văn bản hướng dẫn áp dụng các quy định của BLTTHS vấn đề này cũng không được đề cập đến
2 Thẩm quyền xét xử theo đối tượng
Thẩm quyền xét xử theo đối tượng là “thẩm quyền xét xử của Tòa án được xác định bởi đối tượng phạm tội” Thẩm quyền xét xử theo đối tượng là loại thẩm quyền được phân định giữa TAND với TAQS dựa trên tiêu chí là người phạm tội BLTTHS không quy định loại thẩm quyền này, thẩm quyền xét
xử theo đối tượng được phân định gián tiếp qua quy định về thẩm quyền xét xử của TAQS của Pháp lệnh tổ chức TAQS
2.1 Thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự
Theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh tổ chức TAQS năm 2002 thì thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAQS được phân định như sau:
“Các Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự mà bị cáo là:
1 Quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân quốc phòng, quân nhân
dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quan tự vệ phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu và những người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý;
2 Những người không thuộc các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này mà phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc thiệt hại cho quân đội”.
Qua điều luật cho ta thấy, tòa án quân sự xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự mà người phạm tội thuộc hai nhóm đối tượng:
Trang 6- Người phạm tội là quân nhân và những người có nghề nghiệp hoặc nhiệm vụ quân sự bao gồm: quân nhân tại ngũ; công chức quốc phòng; công nhân quốc phòng; quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện, diễn tập hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng động viên, tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ trong thời gian phối hợp với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; những người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý Những người này bị tòa án quân sự xét xử không phụ thuộc vào việc họ phạm tội gì và phạm tội ở đâu
- Người phạm tội không phải là các đối tượng nêu trên (dân thường, trong mối quan hệ so sánh với các chủ thể nêu trên)
Những đối tượng này chỉ thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án quân sự nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp:
+ Liên quan đến bí mật quân sự
Bí mật quân sự là những bí mật của quân đội, bí mật về an ninh quốc phòng được xác định là bí mật quân sự và được quy định trong các văn bản do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành
+ Gây thiệt hại cho quân đội
Gây thiệt hại cho quân đội là gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tự
do, danh dự, nhân phẩm của quân nhân hoặc của những người có nghề nghiệp, nhiệm vụ quân sự; gây thiệt hại đến tài sản của quân nhân hoặc của những người
có nghề nghiệp, nhiệm vụ quân sự được quân đội cấp phát để thực hiện nhiệm
vụ quân sự; gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của quân đội; những người đang bị tạm giam, tạm giữ và chấp hành hình phạt tù trong nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam do quân đội quản lý mà lại tiếp tục phạm tội
+ Cùng một vụ án, vừa có người phạm tội hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án quân sự, vừa có người phạm tội hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAND Trong trường hợp này, tòa án quân sự xét xử toàn bộ vụ án (trừ trường hợp tách vụ án)
2.2 Đối tượng thuộc thẩm quyền xét xử của TAND
Trang 7TAND xét xử những người không còn phục vụ trong quân đội mà phát hiện tội phạm của họ được thực hiện trong thời gian phục vụ trong quân đội; những người đang phục vụ trong quân đội mà phát hiện tội phạm của họ được thực hiện trước khi vào quân đội nếu những tội phạm đố không liên quan đến bí mật quân sự hoặc không gây thiệt hại cho quân đội
2.3 Tách vụ án để tòa án quân sự và TAND xét xử sơ thẩm theo thẩm quyền
- Trường hợp tách vụ án
Về nguyên tắc, tòa án quân sự xét xử sơ thẩm toàn bộ vụ án trong trường hợp cùng một vụ án, vừa có người phạm tội hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của tòa án quân sự, vừa có người phạm tội hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAND Tuy nhiên, có thể tách vụ án để TAND và tòa án quân sự xét xử riêng theo thẩm quyền, nếu không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan và toàn diện của vụ án
- Thủ tục tách vụ án
Tòa án quân sự đã thụ lý vụ án trao đổi với viện kiểm sát quân sự có nhiệm vụ thực hành quyền công tố về việc tách vụ án Nếu viện kiểm sát quân
sự thống nhất tách vụ án, tòa án quân sự chuyển hồ sơ vụ án cho viện kiểm sát quân sự để giải quyết theo thẩm quyền Trường hợp viện kiểm sát quân sự không thống nhất tách vụ án, tòa án quân sự đã thụ lý vụ án phải xét xử toàn bộ
vụ án
3 Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ
Thẩm quyên xét xử theo lãnh thổ được hiểu là: Thẩm quyền xét xử của Tòa án căn cứ vào nơi tội phạm được thực hiện hoặc nơi kết thúc điều tra vụ án Theo quy định tại khoản 1 Điều 171 BLTTHS thì: Tòa án có thẩm quyền xét xử
là tòa án nơi tội phạm được thực hiện Trong trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc việc điều tra
Đối với bị cáo phạm tội ở nước ngoài bị đưa về nước xét xử, thẩm quyền xét xử thuộc khoản 2 Điều 171 BLTTHS quy định như sau: Bị cáo phạm
Trang 8tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì do TAND cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì tùy trường hợp, Chánh án TANDTC ra quyết định giao cho TAND thành phố Hà Nội hoặc TAND thành phố Hồ Chí Minh xét xử
Bị cáo phạm tội ở nước ngoài, nếu thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS thì do TAQS cấp quân khu trở lên xét xử theo quyết định của Chánh án TAQS trung ương
Đối với những tội phạm xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải Việt Nam thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam, nơi có sân bay hoặc bến cảng trở về đầu tiên hoặc nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng ký
4 Thẩm quyền xét xử bị cáo phạm nhiều tội thuộc thẩm quyền của các Tòa án khác cấp
Trong trường hợp bị cáo phạm nhiều tội, trong đó có tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp trên, thì Tòa án cấp trên xét xử toàn bộ vụ án Quy định này là hợp lý vì sẽ tiết kiệm được thời gian, chi phí cho hoạt động tố tụng, đảm bảo việc giải quyết vụ án được kịp thời Ngoài ra, trong nhiều trường hợp các tội phạm mà bị cáo thực hiện có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, việc xét
xử cùng một lần tại một phiên tòa sẽ giúp giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện…
II Một số kiến nghị
1 Sửa đổi, bổ sung quy định của BLTTHS vè thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án các cấp.
Quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án các cấp hiện nay tại Điều 170 BLTTHS, theo chúng tội về cơ bản là phù hợp và đã được chứng minh
cụ thể qua thực tiễn xét xử trong thời gian qua Tuy nhiên, quá trình áp dụng các quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án các cấp cũng đã cho thấy một số bất cập
Trang 9Thứ nhất, BLTTHS hạn chế quá nhiều trường hợp vụ án hình sự về tội
phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng mà Tòa án cấp huyện không được xét xử tại điểm c khoản 1 Điều 170 (21 tội phạm
cụ thể) Tuy nhiên, hiện nay những hạn chế về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của các cán bộ các cơ quan tiến hành tố tụng cùng cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp huyện đã dần dần được khắc phục qua thực tiễn nên năng lực của các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và
cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp huyện nói riêng đã được nâng cao rất nhiều so với thời điểm BLTTHS có hiệu lực thi hành Do đó, đối với các tội phạm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 170 BLTTHS, theo em, trong thời điểm hiện tại, các Tòa án cấp huyện đã có khả năng xét xử hầu hết các tội phạm này, và vì vậy chỉ nên quy định Tòa án cấp huyện không được xét xử một số tội phạm quy định
tại 9 điều luật sau thay vì 21 Điều như hiện nay: Điều 172 tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên; Điều 216 tội vi phạm các quy định về điều khiển tàu bay; Điều 217 tội cản trở giao thông đường không; Điều 218 tội đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường không không đảm bảo an toàn; Điều 219 tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường không; Điều 221 tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy; Điều 222 tội điều khiển tàu bay vi phạm các quy định về hàng không của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Điều 223 tội điều khiển
phương tiện hàng hải vi phạm các quy định về hàng hải của nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam và Điều 263 tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước; tội mua bán,
chiếm đoạt hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật nhà nước
Thứ hai: Về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
và Tòa án quân sự cấp Quân khu, chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quy định hiện nay của BLTTHS về việc TAND cấp tỉnh và TAQS cấp Quân khu xét xử những
vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực
Trang 10Tuy nhiên, việc quy định TAND cấp tỉnh và TAQS cấp Quân khu có thể lấy vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp dưới lên để xét xử như hiện nay là chưa hợp lý, vì :
+ nếu quy định một cách chung chung như vậy dễ dẫn đến sự tùy tiện trong áp dụng và trong thực tế sẽ gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án do việc khi chuyển vụ án từ cấp dưới lên sẽ phải làm lại cáo trạng truy tố vì VKS cấp dưới không thể ủy nhiệm cho VKS cấp trên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử được, do đó hồ sơ vụ án sẽ phải chuyển qua lại nhiều lần giữa Tòa án và VKS, mất nhiều thời gian không cần thiết
+ Mặt khác, do không quy định cụ thể và cũng chưa có sự giải thích, hướng dẫn về vấn đề này nên cũng khiến cho việc nhận thức và áp dụng trong thực tiễn sẽ khó có sự thống nhất và không thể tránh khỏi tình trạng mỗi nơi sẽ
có cách vận dụng riêng của mình, có thể ảnh hưởng đến việc giải quyết nhanh chóng vụ án Do vậy, BLTTHS nên bỏ quy định việc TAND cấp tỉnh và TAQS cấp Quân khu có thể lấy vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp dưới lên để xét
xử và bổ sung vào điểm c khoản 1 Điều 170 BLTTHS một số trường hợp vụ án hình sự mà tội phạm do một số đối tượng nhất định thực hiện không thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện (ví dụ: Thẩm phán Tòa án các cấp, KSV VKS các cấp, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cấp huyện, người nước ngoài, người
có chức sắc cao trong tôn giáo, có uy tín cao trong các dân tộc ít người), để ngay khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can, đã giao ngay cho cơ quan điều tra cấp tỉnh điều tra từ đầu để đảm bảo sự thống nhất về thẩm quyền giữa các cơ quan tiến hành
tố tụng, tránh trường hợp sau khi truy tố ra Tòa án cấp huyện, vụ án mới bị lấy lên Tòa án cấp trên xét xử
2 Sửa đổi quy định về thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ và thẩm quyền xét xử đối với tội phạm thực hiện trên tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng Việt Nam.
Theo quy định tại đoạn ba Điều 171 BLTTHS, trường hợp bị cáo phạm tội ở nước ngoài bị đưa về nước xét xử, nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án