ĐẶT VẤN ĐỀXét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn của tố tụng hình sự trong đó tòa án có thẩm quyền tiến hành xem xét và giải quyết vụ án hình sự, ra bản án, quyết định tố tụng the
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn của tố tụng hình sự trong đó tòa án
có thẩm quyền tiến hành xem xét và giải quyết vụ án hình sự, ra bản án, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ chế độ, pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ tài sản của nhà nước, của tập thể; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân góp phần đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Xét xử sơ thẩm là những phán quyết đầu tiên của tòa án đối với một vụ án, nó cũng có thể là phán quyết cuối cùng trong trường hợp không có kháng cáo, kháng nghị Để giải quyết vụ án sơ thẩm thì thẩm quyền thuộc
về nhiều chủ thể khác nhau Trong thực tiễn xét xử hiện nay còn nhiều trường hợp xét
xử sơ thẩm sai thẩm quyền, có sự tranh chấp thẩm quyền khi xét xử Đó là những lỗ hổng trong quy định của bộ luật tố tụng hình sự, là nhận thức sai lệch của một số cá
nhân, cơ quan có thẩm quyền Với đề tài “Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và việc hoàn thiên quy định của pháp luật về vấn đề này ” tôi muốn mọi người hiểu thêm
về vấn đề này và góp phần nhỏ của mình trong việc hoàn thiện bộ luật tố tụng hình sự
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án.
1 Khái niệm, phân loại, ý nghĩa thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
1.1 Khái niệm.
Như chúng ta đã biết, trong LTTHS thẩm quyền xét xử của Tòa án theo nghĩa rộng gồm thẩm quyền xem xét và giải quyết vụ án, ra bản án hoặc các quyết định khác như quyết định đình chỉ, quyết định tạm đình chỉ vụ án…Theo đó thẩm quyền của tòa án bao gồm hai yếu tố liên quan chặt chẽ với nhau là thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền vế nội dung Thẩm quyền về hình thức là thẩm quyền xem xét và phạm vi xem
xét (giới hạn xét xử của Tòa án) Thẩm quyền về nội dung là quyền hạn giải quyết;
quyết định của tòa án vệ những vấn đè được xem xét Trong phạm vi bài này, ta chỉ
nghiên cứu thẩm quyền về hình thức của Tòa sơ thẩm Theo đó: Thẩm quyền xét xử sơ thẩm là quyền mà pháp luât quy định cho phép tòa án được xét xử sơ thẩm vụ án
1
Trang 2hình sự căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nơi thực hiện tội phạm hoặc nơi khác theo quy định của pháp luật.
Việc quy định thẩm quyền xet xử của Tòa án cần dựa vào: đường lối, chính sách của đảng, nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự, tính chất mà mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tính nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của thẩm phán cũng như điều tra viên, kiểm sát viên, biên chế
và cơ sở vật chất, tình hình tội phạm và yêu cầu phòng chống tội phạm
1.2 Phân loại thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Có nhiều cách để xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của vụ án hình sự:
* Căn cứ vào thẩm quyền xét xử theo sự việc thì luật tố tụng hình sự phân thành hai loại: Thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực và Thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp tỉnh, tòa án quân sự cấp quân khu
* Căn cứ vào thẩm quyền xét xử theo đối tượng thì cũng được phân thành hai loại: Thẩm quyền xét xử của TAND và thẩm quyền xét xử của TAQS
* Căn cứ vào thẩm quyền theo lãnh thổ để xác định nơi tội phạm thực hiện hành
vi phạm tôi và nơi kết thúc điều tra
1.3 Ý nghĩa
Xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án có ý nghĩa quan trọng và là cơ sở
để các định thẩm quyền xét xử của Tòa án trong các giai đoạn tiếp theo Khi xét xử, Tòa
án ra bản án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Bản án của tòa án cụ thể hóa đường lối, chính sách, quan điểm của nhà nước đối với việc xử lí người có hành
vi phạm tội Xác định đúng thẩm quyền xét xử là điều kiện để công nhận một bản án có hiệu lực pháp luật hay không? Là cơ sở để bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Xác định thẩm quyền xét xử ta còn coi đó để xem xét trách nhiệm của cá nhân, tổ chức có thẩm quyền trong việc xét xử cũng như khi có các vi phạm khác xảy ra trong quá trình xét xử vụ án hình sự đó
2 Quy định của pháp luật hiện hành vể thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Trang 3Thẩm quyền xét xử sơ thẩm gồm thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung Trong phạm vi của bài này, ta chỉ xem xét thẩm quyền về hình thức Thẩm quyền
này được xác định dựa trên 3 tiêu chí: sự việc, đối tượng và lãnh thổ.
2.1 Thẩm quyền xét xử theo sự việc.
2.1.1 Thẩm quyền xét xử của tòa án nhân dân cấp huyện và tòa án quân sự khu vực.
Trong hệ thống tòa án của nhà nước ta, TAND huyện và TAQS khu vực (gọi chung là TA cấp huyện) là cấp xét xử thấp nhất Có thể nói kết quả xét xử của tòa án cấp huyện là cơ sở, nền tảng đầu tiên để giải quyết một vụ án hình sự, việc xác định thẩm quyền của TA cấp huyện đúng đắn sẽ tạo điều kiện thuận lơi cho việc xác định thẩm quyền của TA cấp tỉnh và TAND tối cao
Điều 170 bộ luật TTHS năm 2003 quy định về thẩm quyền xét xử của TA các cáp Theo quy định của điều nay, TAND cấp huyện có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và tội phạm rất nghiên trọng trừ những trường hợp sau đây:
- Các tội xâm phạm an ninh quốc gia
- Các tội xâm phạm hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh
- Các tội quy định tại các điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222, 223,
224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322 và 323 của Bộ luật hình sự
Như vậy, so với các quy định về thẩm quyền xét xử trước đây, Bộ luật TTHS mở rộng một bước đáng kể thẩm quyền xét xử của TA cấp huyện Nếu trước đây, các tội xâm phạm ANQG đều không thuộc thẩm quyền xét xử của TA cấp huyện thì hiện nay,
bộ luât TTHS quy định chỉ những tội phạm đặc biệt nguy hiểm xâm phạm ANQG mới không thuộc thẩm quyền xét xử của TA cấp huyện, còn những tội khác xâm phạm ANQG TA cấp huyện vẫn được quyền xét xử
Mặt khác, nếu trước đây TA cấp huyện chỉ được xét xử các tội có khung hình phạt đến 5 năm tù, đến bộ luât TTHS năm 1988 nâng lên mức 7 năm tù thì hiện nay TA cấp huyện còn được xét xử cả những tội rất nghiêm trọng, đến 15 năm tù Tuy vậy, có một số tôi phạm mặc dù hình phạt dưới 15 năm tù TA cấp huyện vẫn không có quyền xét xử như tội vô ý làm lộ bí mật của nhà nước, tội làm mất tài liệu bí mật của nhà nước
3
Trang 4Mặc dù mức cao nhất của khung hình phạt của tội này là 7 năm tù nhưng vẫn không thuộc thẩm quyền xét xử của TA cấp huyện Ngoài ra, còn có các tội quy định tại điếu
93, 95, 96, 172, 216…cũng không thuộc cũng không thuộc thẩm quyền của TA cấp huyên Sở dĩ như vậy là vì việc điều tra, truy tố, xét xử các tội đó có khó khăn do tính chất phức tạp của các tội này, TA cấp huyện khó có thể đảm bảo về mặt trình độ, nhận thức cũng như kinh nghiệm để giải quyết đúng đắn các vụ việc này, do đó pháp luật hiên hành không trao quyền xét xử sơ thẩm cho TA cấp huyện về các tội này Tuy nhiên qua gần 15 năm thực hiện quy định ta điều 145 bộ luật TTHS năm 1988 về thẩm quyền xét
xử của TAND cấp huyện đã mang lại những kết quả nhất định song thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử trong những năm qua cho thấy số vụ án mà TAND cấp tỉnh phải xét xử
vụ án sơ thẩm ngày càng nhiều Do vậy, bộ luật TTHS năm 2003 một lần nữa mở rông thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cấp huyện vì những lí do sau:
Thứ nhất, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của Thẩm Phán ở hầu hết các TA cấp
huyện ngày càng được nâng cao và có khả năng xét xử những vụ án mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là 15 năm tù trở xuống
Thứ hai, số lượng biên chế của TA cấp huyện và cơ sở vật chất đã tương đối ổn
định
Thứ ba, việc tăng thẩm quyền xét xử cho TA cấp huyện sẽ tránh được việc tồn
đọng án ở cấp tỉnh , dành thời gian cho TA cấp tỉnh tập trung xét xử phúc thẩm, giảm đốc thẩm và tái thẩm,
Thứ tư, việc mở rông thẩm quyền xét xử của TA cấp huyện tiết kiệm thời gian và
tránh được việc hoãn tòa vì lí do vắng mặt của những người tham gia tố tụng
Thứ năm, việc xét xử ở TA cấp huyện sẽ phát huy được tác dụng giáo dục,
Thứ sáu, việc xét xử ở TA cấp huyện có hiệu quả kinh tế hơn vì người lảm chứng
nơi xảy ra vụ án sẽ không phải đi xa, TA không phải thanh toán tiền phương tiện đi lại, tiền lưu trú, tiền ở trong trường hợp vụ án phải xét xử nhiều ngày
Một điểm khác cơ bản về thẩm quyền xét xử của bộ luật TTHS năm 2003 là: các văn bản pháp luật trước đây cho phép TA cấp huyện căn cứ vào mức hình phạt mà TA tuyên để xác định thẩm quyền, còn bộ luật TTHS năm 2003 quy định thẩm quyền căn cứ
Trang 5vào mức cao nhất của khung hình phạt do BLHS quy định Theo quy định của bộ luât TTHS, TA chỉ dựa vào khung hình phạt để xác định thẩm quyền xét xử chứ không phải
dự kiến trước hình phạt TA sẽ áp dụng: “Sự thay đổi này chứng tỏ cách nhìn nhận mới của cơ quan lập pháp nước ta đối với hoạt động tố tụng hình sự nói chung và xét xử nói riêng, bảo đảm cho các TA xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, quyết định trên cơ
sở xem xét các chứng cứ tại phiên tòa mà không hề có sự “dư kiến” hình phạt, chỉ đạo
án… vẫn tồn tại trong những năm trước đây” 1
=> Từ sự phân tích trên ta có thể thấy:
* Nếu một điều luật có nhiều khoản thì những trường hợp phạm tội thuộc khoản
có mức hình phạt cao nhất từ 15 năm tù trở xuống là thuộc thẩm quyền xét xử của TA cấp huyện, không phụ thuộc vào khoản thứ mấy của điều luật áp dụng
* TA cấp huyện có thẩm quyền xét xử cùng một lần một người phạm nhiều tội, nếu các tội đó có mức hình phạt do luật định từ 15 năm tù trở xuống (trừ các tội quy định tại các điểm a, b, c, khoản 1 điều 170 bộ luật TTHS năm 2003)
* TA cấp huyện cũng có thẩm quyền xét xử người đang phải chấp hành một bản
án (không kể là bản án của cấp nào đã xét xử ) mà lại bị truy tố về một tội thuộc thẩm
quyền xét xử của TA cấp huyện, không kể là tội phạm được thực hiện trước hay sau khi
có bản án đang phải chấp hành Tuy nhiên đối với những người đã bị phạt tù chung thân hoặc tử hình mà chưa được giảm thời hạn chấp hành hình phạt thì VKSND tỉnh hoặc VKSQS cấp quân khu truy tố tội phạm mới của họ để TAND cấp tỉnh hoặc TA quân sự cấp khu vực xét xử
2.1.2 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cấp tỉnh và TAQS cấp quân khu.
Theo quy định của bộ luật TTHS hiện hành thì thẩm quyền xét xử của TAND cấp
tỉnh và TAQS cấp quân khu (sau đây gọi chung là TA cấp tỉnh) giảm bớt một số lượng
vụ việc đáng kể so với quy định trước đó Thẩm quyền xét xử của TA cấp tỉnh được quy dịnh tại khoản 2 Điều 170 bộ luật TTHS năm 2003 Theo quy định của điều luật, TA có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự không thuộc thẩm quyền của TA cấp
1 Nguyễn Văn Huyên, luận án tiến sĩ luật học “Thầm quyền tòa án các cấp theo luật tố tụng hình sự Việt Nam”, Hà Nội, 2002
5
Trang 6huyện hoăc những vụ án thuộc thẩm quyền của cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử phù hợp với quy định của pháp luật
Như vậy TA cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự về tội đặc biệt nghiêm trọng, tức là những vụ án về những tội mà mức cao nhất của khung hình phạt là trên 15 năm tù; những vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của TA cấp huyện được quy định tại Điểm a, b, c khoản 1 Điều 170 bộ luât TTHS; những vụ án thuộc thẩm quyền của TA cấp huyện nhưng TA cấp tỉnh thấy cần thiết phải lấy lên dể xét xử do tính chất đặc biệt của vụ án
Bộ luật TTHS năm 2003 không có điều luật nào quy định cụ thể về các điều kiện
để TA cấp tỉnh lấy các vụ án thuộc thẩm quyền của TA cấp huyện lên để xét xử Do đó, chánh án TAND cấp tỉnh, viện trưởng VKS và thủ trưởng cơ quan điều tra căn cứ vào tình hình thực tế của vụ án và năng lực điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán cấp huyện để quyết định những vụ án nào cần lấy lên để điều tra, truy tố, xét xử ở cấp tỉnh Hiện nay cơ quan tiến hành tố tụng vẫn đang thực hiện theo tinh thần của thông tư liên nghành số 02/TTLN ngày 12 tháng 1 năm 1989 của TAND tối cao, VKSND tối cao, bộ
Tư pháp, bộ Nội vụ hướng dẫn thi hành một số điều luật của bộ luật TTHS năm 1988 Theo hướng dẫn của thông tư trên thì thông thường TAND cấp tỉnh lấy lên để xét xử những vụ án:
- Những vụ án phức tạp, có nhiều tình tiết khó đánh giá thống nhất về tính chất
vụ án liên quan đến nhiều cấp, nhiếu ngành
- Những vụ án mà bị cáo là thẩm phán, kiểm sát viên, sỹ quan công an, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cấp huyện, người nước ngoài, người có chức sắc cao trong tôn giáo hoặc có uy tín trong dân tộc ít người
Khi xác định những vụ án thuộc loại trên đây mà VKS đã truy tố để xét xử ở TA cấp huyện thì TA trả hồ sơ cho VKS cùng cấp để VKS chuyển hồ sơ lên VKS cấp tỉnh
để truy tố trước TA cấp tỉnh
2.2 Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ.
Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ là sự phân định Thẩm quyền xét xử căn cứ vào tội phạm được thực hiện và nơi kết thúc điều tra Đây là thẩm quyền xét xử được phân
Trang 7định dựa vào dấu hiệu địa diểm thực hiện tội phạm hoặc địa điểm thực hiện hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, nơi cư trú của người phạm tội hoặc địa điểm khác do pháp luật quy định Theo khoản 1 điều 171 bộ luât TTHS năm 2003 về thẩm quyền xét
xử theo lãnh thổ TA có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là TA nơi tội phạm được thực hiện Đối với tội phạm kéo dài hoặc tội phạm liên tục, khi hành vi phạm tội được thực hiện trong những khoảng thời gian khác nhau, địa điểm khác nhau thì một tội phạm được thực hiện được xác định là nơi kết thúc của hành vi phạm tội Trong trường hợp không xác định được nơi thực hiên TP thì TA có thẩm quyền xét xử vụ án là TA nơi kết thúc việc điếu tra
Khoản 2 điều 171 bộ LTTHS quy định bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì do TAND cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử Nếu bị cáo phạm tôi ở nước ngoài và thuộc quyền xét xử của TAQS thì do TAQS cấp quân khu trở lên xét xử theo quy định của Chánh án TAQS Trung ương
Về thẩm quyền xét xử những tội phạm xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải của Việt Nam được quy định tai Điều 172 bộ luật TTHS năm 2003 Điều này quy định thẩm quyền xét xử của TA Việt Nam đối với những tội phạm xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt đông ngoài không phận hoặc lãnh hải của Việt Nam Theo đó, tội phạm được thực hiên trên tàu bay hoặc tàu biển của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam đang hoạt động ngoài không
phận hoặc lãnh hải của Việt Nam (bao gồm lãnh thổ nước ngoài và không phận, hải phận quốc tế) thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp tỉnh, TAQS cấp quân khu
của Việt Nam nơi có sân bay hoặc bến cảng trở về đầu tiên hoặc nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng kí.2
2.3 Thẩm quyền xét xử theo đối tượng.
Thẩm quyền xét xử theo đối tượng là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa TAND và TAQS căn cứ vào đối tượng phạm tội
2 Bình luận khoa học BLTTHS năm 2003, Võ Khánh Vinh ( chủ biên), Nxb.CAND, Hà Nội
7
Trang 8Điều 3 pháp lệnh tổ chức TAQS năm 2002 quy định: “Các TAQS có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự mà bị cáo là:
1 Quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu và những người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lí;
2 Những người không thuộc các đối tượng quy định tai khoản 1 điều này mà phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội”.
Bí mật quân sự là bí mật của quân đội, bí mật về an ninh quốc phòng được xác định là bí mật quân sự và được quy định trong các văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyên ban hành Gây thiệt hại cho quân đội là gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tự
do, danh dự, tính mạng, nhân phẩm của những người được quy định tại khoản 1 điều 3 pháp lệnh tổ chức TAQS hoặc tài sản của những người này được quân đội cấp phát để thực hiện nhiệm vụ quân sự, gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của quân đội
Pháp lệnh tổ chức TAQS quy định: quân nhân tại ngũ phạm tội trong quân đội và ngòai xã hội đều thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS Trường hợp vụ án vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS, vừa có có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAND thì TAQS xét xử toàn bộ vụ án Nếu có thể tách ra
để xét xử riêng thì TAND và TAQS xét xử những bị cáo thuộc thẩm quyền của mình Những người không còn phục vụ trong quân đội mà phát hiên tội phạm của họ được thực hiện trong thời gian phục vụ quân đội; hoặc những người bị phát hiện là phạm tội trước khi nhập ngũ thì thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS về những tội phạm liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội, còn những tôi phạm khác thì do TAND xét xử Thẩm quyền xét xử đối với thường dân phạm tội có liên quan đến bí mật quân đôi hoặc gây thiệt hại cho quân đội được xác định tùy từng trường hợp cụ thể Nếu
vụ án có những tình tiết cần điều tra liên quan đến bí mật quốc phòng như địa điểm, thiết bị, kế hoạch quân sự… thì TAQS xét xử Những việc phạm tội khác TAQS có thể
Trang 9chuyển vụ án cho TAND Nếu có tranh chấp về thẩm quyền giữa TAND và TAQS thì Chánh án tòa án nhân dân tối cao xem xét và quyết định 3
II.Thực trạng trong quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự hiện nay.
1. Những kết quả đạt được trong quy trình thực hiện thẩm quyền xét xử
sơ thẩm của TA các cấp trong thời gian qua.
Bộ luật TTHS đã được ban hành và thực hiện gần 8 năm Trong 8 năm đó bộ luật TTHS năm 2003 ra đời đã mở rộng thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự cho TAND cấp huyện từ chỗ chỉ xét xử sơ thẩm những vụ án có mức hình phạt được quy định trong bộ luật hình sự đến 7 năm tù lên 15 năm Trên thực tế, trong những năm qua, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ thẩm phán và cơ sở vật chất của TAND cấp huyện đã được nâng lên, đáp ứng với yêu cầu xét xử theo thẩm quyền mới Do tình hình của mỗi địa phương có khác nhau nên việc tăng thẩm quyền phải được tiến hành theo lộ trình gồm nhiều giai đoạn: Ngày 26/11/2003 Quốc Hội ban hành nghị quyết 24/2003/QH 11 về thi hành bộ luật TTHS năm 2003, trong đó đề cập đến việc triển khai thực hiên thẩm quyền xét xử mới cho TA cấp huyện Cũng theo tinh thần của Nghị quyết này, cơ quan tiến hành tố tụng đã tiến hành khẩn trương củng cố cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ để đáp ứng thẩm quyền xét xử mới Ngày 24/4/2004/Ủy ban thường vụ Quốc hội ra nghị quyết số 523/2004/NQ-UBTVQH quyết định giao cho 107 TA được thực hiện thảm quyền xét xử quy định tai khoản 1 Điều 170 bộ luật TTHS từ ngày 1/7/2004, trong đó gồm 21 TAND quận, 9 TAND huyện, 39 TAND thị xã, 21 TAND tỉnh và thành phố, 17 TAQS khu vực
Theo quy định tại khoản 1 Điều 170n bộ luật TTHS năm 2003 thì số lượng vụ án hình sự dồn về TA cấp huyện là rất lớn, khoảng 80% các tội phạm được quy định trong
bộ luật hình sự Để thực hiện tốt nhiệm vụ TANDTC đã đề xuất tăng thẩm quyền đợt 1 cho 90 TAND cấp huyện, 17 TAQS khu vực 4
4 TANDTC, ( 2008) báo cáo số 07/BC-TA vê thực hiện các nghị quyết của Quốc Hội, Ủy ban thường vụ Quốc Hội về tăng thẩm quyền xét xử cho TAND cấp huyện
9
Trang 10Về trình độ, trong những năm gần đây, trình độ của thẩm phán TAND cấp huyện nhìn chung đã được nâng lên một bước, đa số thẩm phấn về cơ bản hoàn thành các tiêu chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ, có kinh nghiệm xét xử, được đào tạo cơ bản và đã qua khóa học về nghiệp vụ xét xử
Việc đổi mới cơ chế quản lí cán bộ và quản lí kinh phí của ngành TAND theo hướng phân cấp mạnh cho Chánh án TAND cấp tỉnh đã tạo sự chủ động cho các TA địa phương trong hoạt động của mình, trong đó có việc bố trí, sắp xếp nguồn lực cho các
TA cấp huyện, đáp ứng yêu cầu giải quyết vụ án theo thẩm quyền mới Công tác phối hợp giữa TA và các cơ quan tiến hành tố tụng khác được đảm bảo chặt chẽ, đúng quy định của pháp luật Đối với các đơn vị đã được tăng thẩm quyền: trong thời gian qua, số lượng cán bộ của các TA này đã tiếp tục được tăng cường một bước, cả về số lượng và chất lượng Tổng biên chế phân bổ cho 486 TA này là 6260 biên chế (2719 thẩm phán,
2879 thư kí, 662 cán bộ khác) Trình độ của đội ngũ cán bộ, thẩm phám của các TA này cũng được nâng lên Trong số 2538 thẩm phấn có 2400 thẩm phán có trình độ đại học Luật, 35 người có trình độ cao đẳng TA, 103 người có trình độ luân huấn.5
Về cơ sở vật chất của TAND cấp huyện: trong 3 năm 2005, 2006, 2007 ngành TA tiến hành đầu tư xây dựng mới 132 trụ sở TAND cấp huyện, trong đó hoàn thành 90 trụ
sở, đồng thơi cải tạo, mở rộng trụ sở làm việc cho 240 TA cấp huyện, đã hoàn thành 178 trụ sở Nhà nước cũng cấp kinh phí để các TA cấp huyện triển khai mua sắm các trang thiết bị như bàn ghế làm việc, hội trường xét xử, máy tính, tài liệu … đáp ứng hoạt động cho các TA cấp huyện.6
theo quy định của bộ luật TTHS hiện hành.
2.1 Bất cập về quy định của pháp luật về thẩm quyền xử.
Thứ nhất, quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cấp tỉnh tại khoản
2 điều 170 bộ luật TTHS trong đó quy định TAND cấp tỉnh có quyền lấy những vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp dưới lên để xét xử ở cấp mình Tuy nhiên,
5 TANDTC, (2008) báo cáo số 07/BC-TA về thực hiện các nghị quyết của Quốc Hội, Ủy ban thường vụ Quốc Hội về tăng cường thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện
6 TANDTC ( 2008), chỉ thị số 01/2008/CT-TA về triển khai, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm công tác của ngành TAND năm 2008, Hà Nội.